1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới nghệ thuật thơ nguyễn trọng tạo

139 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 165,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình, các thể loại nghệ thuật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ROÃN VĂN HIẾU

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ

NGUYỄN TRỌNG TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ROÃN VĂN HIẾU

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số : 60 22 32

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 9

3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 14

3.1 Đối tượng nghiên cứu 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu 14

3.3 Mục đích nghiên cứu 15

4 Phương pháp nghiên cứu 15

4.1 Phương pháp hệ thống 15

4.2 Phương pháp so sánh - phân tích 16

4.3 Phương pháp tổng hợp liên ngành 16

4.4 Phương pháp hệ thống hóa 16

5 Cấu trúc của công trình nghiên cứu 16

B NỘI DUNG 17

Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 17

1.1Thế giới nghệ thuật 17

1.1.1 Thế giới nghệ thuật trong thơ 17

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật thơ 19

1.2 Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo 20

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thơ 20

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo 21

1.3 Hình tượng cái tôi trữ tình 22

1.3.1 Khái niệm cái tôi trữ tình 22

1.3.2 Vai trò cái tôi trữ tình trong thơ 23

1.3.3 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 25

1.3.3.1 Cái tôi cá nhân 27

1.3.3.2 Cái tôi cô đơn, buồn 31

1.3.3.3 Cái tôi trong tình yêu nồng nàn, tha thiết - khát khao sống 40

Trang 4

Chương 2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ

NGUYỄN TRỌNG TẠO

2.1 Không gian nghệ thuật

2.1.1 Không gian nghệ thuật trong văn chương

2.1.2 Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo

2.1.2.1 Không gian hiện thực

2.1.2.2 Không gian tâm linh

2.2 Thời gian nghệ thuật

2.2.1 Thời gian nghệ thuật trong văn chương

2.2.2 Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo

2.2.2.2 Thời gian tâm tưởng

Chương 3: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO

3.1 Ngôn ngữ

3.1.1.Ngôn ngữ thơ trong tác phẩm văn học

3.1.2 Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo

3.1.2.1 Ngôn ngữ thơ mới lạ

3.1.2.2 Ngôn ngữ giầu tính nhạc

3.2 Giọng điệu

3.2.1 Giọng điệu trong tác phẩm văn học

3.2.2 Giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo

3.2.2.1 Giọng thơ triết lí suy tư

3.2.2.2 Giọng thơ gần gũi tâm tình đằm thắm

3.3 Biểu tượng

3.3.1 Biểu tượng trong văn chương

3.3.2 Biểu tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo

3.3.2.1 Cỏ- cây- hoa- lá

3.3.2.2 Gió

3.3.2.3 Trăng

C KẾT LUẬN

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng luôn mang trong mình sứcmạnh tiềm ẩn, không ngừng lôi cuốn người sáng tạo và thưởng thức nó Quamỗi chặng đường lịch sử, thơ ca đều để lại những dấu ấn riêng Thơ vốn làthể loại thuộc phương thức trữ tình, thơ ra đời từ rất sớm trong lịch sử pháttriển của nhân loại, từ khi con người có nhu cầu tự biểu hiện Trong đời sốngtâm hồn con người không thể phủ nhận tầm quan trọng của nghệ thuật thơ ca,lại càng không thể phủ nhận niềm yêu thích thơ ca của con người Việt Nam.Thơ đem đến cho con người những yếu tố xúc cảm không dễ dàng đoán định,những xúc cảm đó có thể từ bên trong, bên ngoài, từ niềm vui, nỗibuồn….đến tinh thần lạc quan, ý trí và nghị lực Thơ ca ra đời từ rất sớm,đồng hành cùng con người, gắn liền với những đổi thay và bước tiến của lịch

sử phát triển loài người nhưng cho tới tận thời điểm này người ta vẫn băn

khoăn đi tìm một định nghĩa cho thơ Giáo Sư Hà Minh Đức cho rằng: “Ví thơ với một con sông đang chảy qua nhiều phong cảnh khác nhau với lịch sử,

và mỗi thời điểm mà nó đi qua đã cho con sông thơ ấy một sắc thái riêng Nó

có thể là mặt hồ yên tĩnh nơi này, mà lại là gào thét nơi khác, tùy theo địa hình, tùy theo lịch sử, Nếu là con sông thì con sông thơ Việt Nam đã chảy qua quá dài thời gian, qua bao địa hình khác lạ Điều ấy giúp rất nhiều các nhà lí luận vẽ bản đồ con sông nọ không dễ, đơn giản, xuôi chiều” [18, tr 13-14]

Dòng thời gian không ngừng trôi đi Thơ ca đã khắc lên dấu thời gian

đó những mốc son của bao thế hệ nghệ sĩ, cùng với đó là những sáng tác mớicủa các thi sĩ, thơ Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX đến nay đã có nhữngnhịp đi và bước tiến Tiếp nối dòng chảy của lịch sử văn học, thơ Việt Namsau những năm 1975 diễn ra những thay đổi đáng kể trong quan niệm nghệ

thuật, đặc biệt trong đời sống tâm hồn Từ thời kì đổi mới- 1986 “Đảng

Trang 6

khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình, các thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” (Bộ chính trị-

BCHTW Đảng, Nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ, 1987) nền văn học nước

ta có những thay đổi lớn trong đó có thơ với những cây bút như: Trần ĐăngKhoa, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Lê Đạt, Trần Dần, NguyễnTrọng Tạo, Lâm Thị Mĩ Dạ…trước đó giọng thơ chủ đạo là nói về khángchiến nhưng giờ đây thi sĩ đã đem vào thơ một quan niệm thẩm mỹ mới mẻ,phong phú góp phần hiện đại hóa thơ ca Việt Nam Nguyễn Trọng Tạo là mộttrong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ xuất hiện nhữngnăm chiến tranh chống Mĩ Tuy nhiên, nhà thơ lại chủ yếu khẳng định bút lựccủa mình trong thời hậu chiến và đặc biệt là thời kì đổi mới, góp mặt trongnhững cây bút của nền thơ đương đại Việt Nam Ông cũng như bao nhà thơđương đại khác, đã và đang trên con đường tìm tòi, cống hiến hết mình chonghệ thuật thơ ca đương đại Việt Nam Là một người đa tài, thử sức mình ởmọi khía cạnh nghệ thuật, là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà văn, nhà phê bình nhưngnhắc đến Nguyễn Trọng Tạo, trước tiên phải nhắc đến một thi sĩ tài hoa, một

hồn thơ thân mật hồn hậu “đượm chất quê” đằm thắm, mặn mà và sâu lắng,

đượm sắc mầu cuộc sống

Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể với những quy luật vận động nộitại Đi vào Thế giới nghệ thuật ấy là một cấu trúc có tổ chức bên trong, có sựthống nhất bên trong của các mặt đối lập, có sự hài hòa nội dung và hình thức

Thế giới nghệ thuật “chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả

về thế giới như một quy luật tuyệt đối” và do đó nó có tính ước lệ so với thế

giới thực tại Khám phá một thế giới nghệ thuật của một tác giả cụ thể là mộthướng nghiên cứu đã và đang được quan tâm hiện nay Đây là hướng nghiêncứu khám phá vẻ đẹp của văn học từ phương diện bản thể của nó, từ cấu trúc,

Trang 7

cách biểu hiện nội dung Với quan niệm của Thi Pháp học cho rằng: “Hình thức nào cũng mang nội dung nhất định và nội dung nào cũng tồn tại trong

một hình thức cụ thể”, chúng tôi nghiên cứu đề tài này trên phương diện Thế giới nghệ thuật trong thơ Thế giới nghệ thuật thơ từ hướng ngoại bắt đầu

chú ý đến hướng nội, thơ không còn những kiểu dàn trải của dòng tâm tình

mà bắt đầu đi vào những khúc gấp của tâm trạng, của cuộc đời, mạch thơxoay chiều theo mạch tư duy phức hợp của con người Xuất phát từ sự đổimới văn học nghệ thuật, thơ đang có sự vận động cân bằng trở lại trong cácmối quan hệ của đời sống Thơ ưu tiên thể hiện con người cá thể mang nặngtâm tình về đời tư, thế sự và những suy tư mang tính triết lí… thơ không nétránh những vấn đề cá nhân, những boăn khoăn về thân phận con người Nổibật lên với phong cách độc đáo, Nguyễn Trọng Tạo như một luồng gió lạ đem

lại cho thơ đương đại một sinh khí mới “Người đọc thấy ở anh một tư duy thơ sắc sảo, trẻ trung, đầy dự cảm” Đi vào Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn

Trọng Tạo, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về thơ ông, có thể cắt nghĩađược hiện thực cuộc sống qua những trải nghiệm suy ngẫm; hiểu hơn nỗi

niềm ưu tư, khắc khoải luôn đau đáu trong “trái tim mẫn cảm” của thi nhân

góp phần mở ra những khám phá mới về thơ đương đại Việt Nam trong sự đốisánh với nét đẹp dĩ vãng và khát vọng hướng đến một nền thơ rực rỡ trongtương lai

Mỗi thi nhân là một nhà sáng chế, mở ra cánh cửa của họ là ta đangbước vào một thế giới khác Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn TrọngTạo là một cách để chúng ta nhận diện được những đặc sắc của nhà thơ, trên

cơ sở đó ghi nhận những đóng góp của ông vào thơ ca đương đại Việt Nam

Chọn đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo cho luận văn của

mình, người viết mong muốn xây dựng chân dung đầy đủ nhất về một nhà thơ

Trang 8

đương đại Việt Nam Qua đó làm nổi bật mối quan hệ giữa thời đại và thi ca,giữa cái mới và cái cũ, giữa tiếp thu và sáng tạo.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trong quá trình nghiên cứu văn học các nhà nghiên cứu có thể sử

dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ những thành phần thuộc bộ phận thế giới

nghệ thuật nào đó “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới

ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một cách ước lệ có sáng tác nghệ thuật” [32, tr 302- 303] Với cách quan niệm như vậy, ở mỗi sáng

tác nghệ thuật của mỗi tác giả, mỗi trào lưu… đều có tính chỉnh thể riêng vàmỗi thế giới nghệ thuật đều có đặc điểm riêng Trong đó tiểu sử tác giả, lịch

sử xã hội, thời đại… có sự chi phối đến sự hình thành một thế giới nghệ thuậthoàn chỉnh Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việcphản ánh thế giới Văn học phản ánh thế giới khách quan nhưng thế giới nghệthuật do văn học tạo ra không đồng nhất với thế giới mà nó phản ánh Do vậy,khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật không nên đối chiếu hình tượng trong thếgiới với sự thực đơn lẻ ngoài đời để đánh giá tính chân thực Hình tượng nghệthuật chỉ có ý nghĩa trong một thế giới nhất định, theo quan niệm như vậy thìđặc trưng quan trọng trong thế giới nghệ thuật là tính chỉnh thể, mỗi thế giới

có đặc điểm cấu tạo, có ý thức biểu hiện, có ý thức thẩm mỹ riêng Các nhànghiên cứu tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của mình mà có thể nghiêncứu đầy đủ các yều tố của mỗi thế giới nghệ thuật với những phương thứcbiểu hiện hay đi sâu nghiên cứu một hình thức biểu hiện nào đó

Trang 9

2.2 Nguyễn Trọng Tạo sinh ra ở làng Tràng Khê, Diễn Hoa, Diễn

Châu, Nghệ An Trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật nào ông cũng để lại dấu

ấn riêng với những thành tựu đáng trân trọng Nguyễn Trọng Tạo bước vào

làng nghệ thuật từ khá sớm, ông “…yêu sách, rồi tập làm thơ” Những câu thơ lục bát đầu tiên viết năm ông 14 tuổi “Không hiểu sao lúc đó lại có thể viết những câu thơ già dặn đến thế” (Nguyễn Trọng Tạo) Quả là, thi nhân có

tài không đợi tuổi, các thi sĩ như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận,

Nguyễn Khoa Điềm… từng khiến làng văn phải “kinh ngạc” với những sáng

tác ở tuổi thiếu thời Nguyễn Trọng Tạo đã cho xuất bản tập thơ đầu tiên Tình yêu sáng sớm năm 1974 Tính cho tới năm 2008,ông đã xuất bản gần 20 đầu

sách gồm thơ, văn, nhạc, phê bình, tiểu luận và một số sáng tác nghệ thuậtkhác

Nguyễn Trọng Tạo khẳng định mình ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật Ở ông

là tổng hợp một tâm hồn nghệ sĩ đa tài, bởi ông bước vào nghệ thuật vớinhiều phương diện: là một người viết truyện ngắn, làm thơ, trường ca, họa sĩ,phê bình, nhà báo, nhạc sĩ… Với sự nỗ lực nghiêm túc của bản thân trong laođộng nghệ thuật, tài năng của ông đã được ghi nhận:

 Giải thưởng thơ Nghệ An 1969, thơ hay báo Văn nghệ (độc giả bìnhchọn) năm 1978, Nhân dân 1978, thơ hay tạp chí Văn nghệ quân đội 1978,

Giải thưởng đặc biệt của UBND tỉnh Hà Bắc năm 1981 cho ca khúc Làng Quan Họ quê tôi, 2 giải thưởng văn học Nghệ thuật Cố đô (Huế) cho tập truyện Miền quê thơ ấu, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Xuân Hương (1997-2000) cho ca khúc Đôi mắt đò ngang.

 8 giải thưởng âm nhạc của Hội nhạc sĩ Việt Nam, 2 giải thưởng của

Bộ Văn hóa và Thông tin cho bìa sách đẹp, giải thưởng của Hội Nông dân

Việt Nam năm 2001 cho ca khúc Cánh đồng ở giữa hai làng…Những ca

khúc hát về Nông Nghiệp và Nông thôn Việt Nam (1945-2010) của Bộ Nông

Trang 10

Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho 2 ca khúc Làng Quan Họ quê tôi và Khúc hát sông quê.

Đối với thi sĩ, người mà “đã đi tìm thơ gần trọn cuộc đời”, thì thơ đối

với họ chính là lẽ sống, là đứa con tinh thần mà họ nâng niu, trân trọng nhất

Và đối với Nguyễn Trọng Tạo, thì “thơ chính là cái bóng của ông, ông là cái bóng của thơ” ông dành tình yêu cho thơ ca nhiều nhất Thơ Nguyễn Trọng

Tạo chính là sự kết hợp hài hòa giữa nét thi ca truyền thống, hòa quyện với

hiện đại “Nguyễn Trọng Tạo là một thương hiệu đa năng suốt mấy chục năm

nay” [93] từ tập thơ lần đầu đến tập Em đàn bà (tác phẩn in gần đây nhất)

người đọc nhận thấy rõ sự đổi mới trong bút pháp thơ, quan niệm thơ, ngônngữ thơ đặc biệt là sự đổi khác về đề tài và sự điêu luyện của ngòi bút đangtiến dần đến độ chín

“Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” - Lamactin [47, tr 7-8] Khi nào tâm

hồn thi sĩ lĩnh trọn những rung cảm sâu sắc nhất về cuộc sống, con người mới

có thể phát khởi và tỏa sáng Nghệ sĩ là những người mang thiên chức cao cả

để chuyển tải bức thông điệp của cuộc sống đến với mọi người Con ngườithời nào chẳng vui, buồn, sung sướng, đau khổ hay tuyệt vọng…

Những trạng thái cảm xúc ấy là cố hữu Nhưng ở mỗi thời, mỗi nhà thơ lạichọn cho mình cách cảm nhận, cách thể hiện riêng Người nghệ sĩ chân chính

là người luôn biết hướng tâm hồn mình vào những điều giản dị mà cao cả củacuộc sống - phát hiện và đề cao nó Không đi theo vết dấu của những thi sĩcùng thời hay những nhà thơ trẻ đương đại miệt mài theo đuổi những cáchtân, mong muốn bứt phá khỏi cái nền truyền thống, Nguyễn Trọng Tạo vẫnung dung nhẹ nhàng với con đường thơ muôn thuở của mình

Trang 11

Tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài Nguyễn Trọng Tạo - Chớp mắt với ngàn năm đã đưa ra nhận định: “Mặc dù thập kỉ 80 của thế kỷ XX có sự

nỗ lực đổi mới của nhiều nhà thơ nhưng cần ghi dấu ba giọng điệu đáng chú ý: Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo, Dư Thị Hoàn” Nguyễn Đăng Điệp rất tinh tế

khi đưa ra những cảm nhận của ông về Nguyễn Trọng Tạo: một con người côđơn, u uẩn trong cõi nhớ, một thi nhân luôn có ý thức đổi mới các thủ pháp

nghệ thuật như âm nhạc và giọng điệu, cách tổ chức điệp khúc “Người ta biết đến Tạo với một giọng thơ tưng tửng ngu ngơ ngỡ như người chơi vơi nhưng thực chất chứa nhiều ngẫm ngợi Một chất giọng mà đọc kĩ ta mới thấy cái da diết bên trong” [30] Đặc biệt Nguyễn Đăng Điệp còn chỉ ra một Nguyễn Trọng Tạo mang đậm hồn cốt của văn hóa xứ Huế, của âm hưởng ví

dặm quê hương Nguyễn Đăng Điệp khẳng định phần hay nhất của thơNguyễn Trọng Tạo nằm ở phần hậu chiến với những góc nhìn đời tư vànhững dằn vặt cá nhân được quan tâm thể hiện Nguyễn Đăng Điệp đã giúpngười đọc thấy rõ hơn một thi sĩ đa tài với những đóng góp đáng kể trong quátrình đổi mới thơ ca của dân tộc

Sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo không ngần ngại nói lên sự thật, đi sâu,

đi sát mọi vấn đề “mang tính thời sự” của cuộc sống và “những yêu ghét giận hờn, những buồn vui sống chết… không có gì thuộc về con người lại xa lạ với thơ Thơ nhẹ nhàng dạo gót tới những chỗ tối tăm tận cùng của cõi người”

(Nguyễn Trọng Tạo - Tựa - tập thơ Nương thân) Tản mạn thời tôi sống là một trong những bài thơ tiêu biểu rất rõ thái độ sống thẳng thắn, không che dấu sự thực như thế Hoàng Phủ Ngọc Tường với lời tựa ngắn cho tập Đồng dao cho người lớn đã tiếp cận phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc nhìn

“Người ham chơi” đưa ra nhận định rằng: “Bài thơ đó làm nhiều người khó chịu, bởi nó đã động đến nhiều thứ ngụy tín dầm dề của một thời Riêng tôi, tôi thích thú giọng bông đùa tưởng như rất dễ dàng của nhà thơ

Trang 12

lính hơn chục năm chiến trận này, để nói những điều nghiêm trọng khiến

những người không thích đùa phải nghiêm mặt” Hoàng Cầm với “Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo” là sự đồng cảm của hai tâm hồn nghệ sĩ, nói về tập thơ Đồng giao cho người lớn ông cho rằng: “Tập thơ này của Nguyễn Trọng Tạo

là một trong vài ba tập đứng hàng đầu trong một tâm tưởng thơ chân thực, gợi ra cái Đẹp, điều Lành và sự thật” và “cũng vì sự chân thực ấy mà cả tập thơ Đồng giao cho người lớn, không một bài nào giả tạo, vay mượn hoặc làm điệu bộ, làm duyên dáng Mỗi bài mỗi câu đều có sức đi vào chiều sâu của ý thức, tâm thức, đôi khi bật ra từ vô thức như một khám phá bất ngờ” Những

sáng tác sau đó của Nguyễn Trọng Tạo đã ghi nhận sự chuyển đổi mạnh mẽ

trong hành trình thơ ông Với tập thơ Thư trên máy chữ và tản mạn thời tôi sống, ông tâm sự: “Đây là tập thơ tôi viết khác hẳn hệ thống thơ thời chống

Mĩ” (Trả lời phỏng vấn nhà báo Lê Mĩ Ý) Có thể nói giai đoạn này ông chủ

trương hướng ngòi bút của mình tới những con người đời thường, thơ ônggần gũi hơn với con người, những buồn vui nhân thế được đề cập sâu sắchơn Sức sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Trọng Tạo rất đáng trân trọng vớicác tập thơ liên tục ra đời theo thời gian

Với những đóng góp của mình, Nguyễn Trọng Tạo dành được sự quantâm yêu mến của nhiều thế hệ bạn đọc đặc biệt là người yêu thơ Tuy nhiên, trênthực tế thì Nguyễn Trọng Tạo chưa xuất hiện nhiều so với các nhà thơ khác cùngthời Những sáng tác của Nguyễn Trọng tạo đã xuất hiện trên các phương tiệntruyền thông đại chúng: sách, báo, Internet… ngày một tăng theo thời gian,xong những sáng tác đó của ông vẫn chưa nhận được sự chú ý rộng rãi của giớinghiên cứu và phê bình Viết về ông ngoài những người bạn, người quen như:Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Cầm, Ngô Minh, Nguyễn Đình Thi….thì cònmột số cây bút chuyên về nghiên cứu văn học như Nguyễn Đăng Điêp, HoàngNgọc Hiến, Thụy Khuê… có những bài viết, phê bình về thơ ông

Trang 13

Nghiên cứu về thơ Nguyễn Trọng Tạo đã có những công trình khảo cứutrên các phạm vi và phương thức khác nhau của các tác giả: Trần Thị HồngHải, Nguyễn Hữu Công, Bùi Thị Huyền với việc tiếp thu, phát triển ý kiếnnhững người đi trước, chúng tôi mạnh dạn đóng góp một phần nhỏ vào việcnghiên cứu, đánh giá về một trong những gương mặt thơ quan trọng trongdòng văn học đương đại Việt Nam.

3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu này người viết tập trungkhảo sát thơ và quan niệm nghệ thuật về thơ của Nguyễn Trọng Tạo Qua đótìm hiểu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về thơ của tác giả

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Công trình nghiên cứu của chúng tôi theo hướng hệ thống về thế giớinghệ thuật thơ trên cả hai mặt nội dung và hình thức, đồng thời qua đó ngườiviết góp thêm ý kiến về thế giới nghệ thuật thơ ở phạm vi một tác giả cụ thểcủa văn học đương đại Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉgiới hạn phạm vi nghiên cứu những thành tố quan trọng làm nên Thế giớinghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo qua những tập thơ của ông:

+ Tình yêu sáng sớm (In chung)

+ Gương mặt tôi yêu (In chung)

+ Sóng thủy tinh

+Thơ trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống

+ Nương thân

+ Gửi người không quen

+ Thơ với tuổi thơ

+ Đồng giao cho người lớn

+ Thơ trữ tình

Trang 14

+ Thế giới không còn trăng

3.3 Mục đích nghiên cứu.

Trên tinh thần tiếp thu những nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận

văn đặt ra nhiệm vụ tập trung làm rõ Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo Qua đó chúng tôi hi vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu nghệ

thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, chỉ ra những thành công, những hạn chế vàkhẳng định những đóng góp của tác giả vào tiến trình phát triển của nền thơđương đại Viêt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên lí thuyết về thi ca, về phương pháp luận nghiên cứu văn họcnói chung Để làm sáng tỏ đề tài được nghiên cứu chúng tôi sử dụng một sốphương pháp chính như:

4.1 Phương pháp hệ thống

Sử dụng phương pháp này, người viết có thể hệ thống được sự hìnhthành, vận động và phát triển của các yếu tố cấu thành thế giới thơ NguyễnTrọng Tạo: thế giới nghệ thuật, cái tôi trữ tình, không gian, thời gian nghệthuật, các phương thức biểu hiện…

Trang 15

4.2 Phương pháp so sánh - phân tích

Để làm nổi bật đề tài cần nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu chúngtôi tiến hành so sánh, đối chiếu giữa hình tượng, ngôn ngữ, không gian… củathơ Nguyễn Trọng tạo với các nhà thơ khác cùng thời và khác thời Đồng thời

để công trình nghiên cứu có được hiệu quả tối ưu nhất, chúng tôi tiến hànhphân tích, bình thơ, tổng hơp kết quả và đưa ra nhận định về nội dung hìnhthức liên quan đến thế gới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo

4.3 Phương pháp tổng hợp liên ngành

Với quan niệm, thế giới nghệ thuật mang tính chỉnh thể có mối quan hệnội tại chặt chẽ và chịu sự ràng buộc chi phối của các yếu tố bên ngoài Vìvậy để lí giải, cắt nghĩa các hiện tượng cụ thể thế giới nghệ thuật đó, chúngtôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: Nghiên cứu văn học sử,ngôn ngữ học, thi pháp học…

4.4 Phương pháp hệ thống hóa

Từ các kết quả hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, liên ngành đốichiếu lại thành các luận điểm, sắp xếp, hệ thống hóa một cách khoa học

5 Cấu trúc của công trình nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn triển

Trang 16

B NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 1.1 Thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ có tính chất mở với nội hàm khárộng Gọi là thế giới vì nó cũng có những nét giống với thế giới nói chungnhư: có sự thống nhất giữa các mặt, có quy luật vận động nội tại…

1.1.1 Thế giới nghệ thuật trong thơ

Thế giới nghệ thuật trong văn học nói chung là thế giới được nghệ sĩ

tạo ra bằng những phương tiện ngôn ngữ “Nó hoàn toàn khác thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí con người dù nó phản ánh thế giới ấy” [76, tr 54] Để hiểu và đánh giá một nhà văn nhất thiết phải “giải mã” được thế giới

nghệ thuật ấy Ở thế giới ấy chưa từng tồn tại trong thế giới vật chất nhưng

nó mang sự sống và tâm hồn chân thực của một người, của một thế hệ, của

một thời đại “Mỗi thế giới nghệ thuật như một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, ứng với một cách quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới” [32, tr.251] Theo tác giả Nguyễn Đăng Mạnh thì trên “con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, dựa vào hệ thống hình tượng

“ám ảnh” ta sẽ rút ra quy luật nghệ thuật nội tại của thế giới nghệ thuật.

Phong cách nghệ thuật riêng, độc đáo cùng với tư tưởng nghệ thuật của nhàvăn cũng toát từ đấy Tìm hiểu một nhà thơ phải tiếp cận thế giới nghệ thuậtcủa anh ta trên tính thống nhất toàn vẹn Nhưng nếu thế giới nói chung đượchiểu là vũ trụ toàn cầu, là toàn bộ những gì thuộc về tự nhiên và xã hội đang

tồn tại thì “thế giới nghệ thuật” là “sản phẩm sáng tạo của con người” Theo

nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì khái niệm thế

giới nghệ thuật: “thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng, sáng tác nghệ thuật là

Trang 17

một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng,… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác tác nghệ thuật… Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không,

mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó”.

Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung về tư duynghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóachung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ Trong thế giới nghệthuật thì đặc trưng quan trọng nhất là tính chỉnh thể Mỗi thế giới nghệ thuật

có đặc điểm cấu tạo, có phương thức biểu hiện, có ý nghĩa thẩm mỹ riêng.Các nhà nghiên cứu tùy vào mục đích của mình mà có thể nghiên cứu đầy đủcác yếu tố của mỗi thế giới nghệ thuật với những phương thức biểu hiện haychỉ đi sâu nghiên cứu một vài khía cạnh nào đó Giáo sư Trần Đình Sử là mộttrong những nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề này Trong cuốn

Những thế giới nghệ thuật thơ tác giả Trần Đình Sử đã tập hợp các bài viết

về các loại hình thơ (Thơ cổ điển, thơ lãng mạn, thơ tượng trưng, thơ cáchmạng…), về sáng tác của một số nhà thơ, về một số tác phẩm thơ trong nhàtrường, và về tác phẩm ưu tú nhất của văn học dân tộc - Truyện Kiều TheoTrần Đình Sử: phê bình, phân tích thơ hôm nay phải bắt đầu từ văn bản, coi

trọng văn bản Có thể nói rằng, tập tiểu luận Những thế giới

Trang 18

nghệ thuật thơ của Giáo sư Trần Đình Sử đã có những đóng góp quan trọng

trong việc mở ra một hướng nghiên cứu thơ với tư cách là những thế giớinghệ thuật

Thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ vừa là biểu hiện của tư tưởng và thipháp học, thế giới ấy cũng vận động theo sự chuyển biến của tư tưởng nghệthuật Trên tinh thần tiếp thu những quan niệm và làm sáng tỏ dần từng vấn đềcủa lí thuyết chúng tôi đi vào khảo sát, nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơNguyễn trọng Tạo để làm rõ vấn đề đặt ra

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật thơ

Đối với người nghệ sĩ, sáng tác thơ là nhu cầu sáng tạo, là phản ánhquá trình tư duy nghệ thuật, là để tự thể hiện mình với cuộc sống thông qua

hình tượng thơ Hình ảnh luôn gắn liền với thơ “hình tượng nghệ thuật chính

là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật” [32, tr.122] hoặc “hình tượng văn học nghệ thuật

là một bức tranh sống động nhất của đời sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ” [14, tr.125] Như vậy tâm trạng sáng tác của nhà thơ phải được thể hiện bằng hình

ảnh tương ứng

Hình tượng thơ không đơn thuần chỉ là những hiện tượng đời sống màcòn khách thể hóa những rung cảm nội tại để người nghệ sĩ nhìn thấy chính

mình "Hình tượng thơ là một bức tranh sống động và tương đối hoàn chỉnh

về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vấn cộng với trí tưởng tượng, sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ" [7, tr 127] Như vậy hình tượng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ

phận của câu thơ để phản ánh đối tượng bằng những rung động tình cảm vàcách đánh giá riêng của từng nhà thơ Chính vì thế khi phân tích hình tượngthơ ta có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau, điều quan trọng khi cảm nhận là

Trang 19

phải chú ý ở khả năng tiềm tàng và ở khả năng hiện thực của ngôn ngữ để làmsáng tỏ nội dung và quan niệm của người sáng tác Thế giới hình tượng trongthơ Nguyễn Trọng Tạo là một thế giới đa dạng, có cái thực, có cái ảo và nóchính là một trong những biểu trưng cho mục đích nghệ thuật của tác giả.

1.2 Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thơ

Thế giới nghệ thuật thơ là một chỉnh thể thống nhất bao hàm các thành

tố và quy luật cấu trúc riêng, thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thếgiới khách quan bằng tưởng tượng của mình Một mặt thế giới nghệ thuật ấygắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của chủ quan nhàthơ, mặt khác nó phản ánh trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, mộtthời đại Chúng ta có thể thấy, trong thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực -đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà vănhay chủ thể nghệ thuật, nhận thức nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật Bởi lẽ đóquan niệm nghệ thuật cuả nhà văn chứa đựng cách hiểu, cách đánh giá, chứađựng cả những dự định, những mong muốn, những chủ trương, chủ đích, cảnhững chuẩn mực nghệ thuật khi anh ta dấn thân vào con đường nghệ thuật

Vì vậy quan niệm nghệ thuật được xem như một cương lĩnh, thậm chí nhưmột kim chỉ nam đối với cả một đời văn, chi phối hành trình nghệ thuật của

một nhà văn “Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” Nó được giới thuyết như là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống”, là hệ quy chiếu tồn tại dưới dạng “ẩn chìm trong mô hình nghệ thuật về thế giới” [32, tr 229] Do đó chúng ta có cơ sở khẳng định quan niệm nghệ thuật của một nhà văn chi phối đến toàn thế giới nghệ thuật mà anh

ta xây dựng nên, từ hình tượng con người, hình tượng không gian, thời gian,cho đến ngôn ngữ giọng điệu…

Trang 20

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo

Nguyễn trọng Tạo - một gương mặt thơ tiêu biểu với những nét độc

đáo, giàu cá tính của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Ông chia sẻ “Tôi nương thân vào chính thơ tôi Thơ lại nương láu trong từng con chữ và điệu nhạc vang lên từ cõi tâm linh nào xa thẳm Thơ là cái bóng của tôi hay tôi là cái bóng của thơ, tôi nào có biết” Ông khẳng định rõ “không ai muốn làm thơ

cũ, phải làm thơ mới”, và ông bộc bạch: “Tôi là mẫu người sáng tác không nhạt nhẽo… tôi chấp nhận mọi sự sáng tạo Tôi chấp nhận tất cả, nếu trong

đó chứa một điều gì đó, một mầm mống của sự mới mẻ”.

Sức mạnh văn chương là sức mạnh siêu vật chất, theo Heghen: “nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ” Nguyễn Trọng Tạo - một người nghệ

sĩ có khát vọng cách tân nghệ thuật, đã đưa ra tuyên ngôn “Nhà thơ không chỉ

là công dân của một quốc gia mà phải là công dân của thời đại… Nhà thơ phải biết biến hiện tại, tương lai thành quá khứ để tạo ra kinh nghiệm sống và cảm xúc mới” Là một nghệ sĩ không chỉ biết đến thơ mà đã khắc dấu ấn theo

cách riêng của mình trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau Người nghệ

sĩ đa mang đó luôn miệt mài tìm kiếm sự sáng tạo mới, ông không chấp nhận

bất kì sự lặp lại nào trong tư duy nghệ thuật Nhà thơ thổ lộ: “Tôi kính nể các nhà thơ cổ điển Những lớp nhà thơ sau không nên hướng tới họ mà nên hướng tới chính mình” [55] Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ của "những cái chớp mắt ngàn năm trôi" Người đọc cảm được cái hồn thơ thân mật, hồn hậu với sự gần gũi, ân tình của thơ ông giữa cuộc đời.

Thơ Nguyễn Trọng Tạo không phải là sự miêu tả ngợi ca hay đả kích,lên án những hiện tượng xã hội nóng bỏng mặc dù ông chủ trương làm thơ

gắn với đời thật: “Thơ là sự đối diện với sự thật được chưng cất… Làm thơ là hoá giải thời đại vào ngôn từ Thơ tôi không bao giờ thoát khỏi những xung

Trang 21

đột thời đại, dù đó là những bài thơ tưởng như riêng tư nhất Tôi muốn thơ tôi là thơ của đương đại” (Nguyễn Trọng Tạo) Ông cũng cho rằng, thơ phải nói lên được những ước mơ, niềm tin và khát vọng về cuộc đời và tình yêu.

Thơ còn là sự cứu rỗi, là đôi cánh để nâng đỡ, xoa dịu lòng người khi chốngchếnh, hụt hẫng tìm lại sự bình an nơi lòng mình Nhưng đồng thời, thơ phảithuyết phục người đọc thích ứng với cái lạ bằng lí lẽ, ngôn ngữ riêng củamình để họ không cảm thấy chơi vơi, huyễn hoặc Nguyễn Trọng Tạo cho

rằng: “chủ thể sáng tạo có tài luôn hướng tới cái mới lạ Không mới lạ thì không thể gọi là sáng tạo” Trong hành trình sáng tạo thơ ca, Nguyễn Trọng Tạo luôn luôn với những tìm tòi về nội dung và hình thức “…tạo ra kinh nghiệm sống và cảm xúc mới” Đó là thiên chức đồng thời là bổn phận cao cả

của người cầm bút - phải thức tỉnh, hướng thiện con người đến những điềutốt đẹp nhất

1.3 Hình tượng cái tôi trữ tình

1.3.1 Khái niệm cái tôi trữ tình

Trước hết phải khẳng định cái tôi là một trong những khái niệm triếthọc cổ nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại để nhận

ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể khác với ngườikhác Vấn đề cái tôi từ lâu đã trở thành khởi điểm của nhiều tư tưởng, nhà

triết học R Đê- các (1569 - 1650) đã đưa ra một định nghĩa rất hay: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, tức là cái tôi thuộc về thực thể biết tư duy, nó khẳng

định được tính độc lập của mình, trở thành chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức

của mình về mọi sự vật, sự việc Theo C.Mác định nghĩa về cái tôi: “Cái tôi

là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình Cái tôi có thể xem xét là cấu trúc phần tự giác”

[58,

Trang 22

tr 66] Như vậy, cái tôi vừa mang bản chất xã hội vừa có quan hệ gắn bókhăng khít với hoàn cảnh, vừa mang bản chất cá nhân độc đáo Cái tôi thểhiện các bước tiến hóa về nhận thức con người và sự phong phú đa dạng của

tư duy con người về chính bản thân nó Nói về cái tôi là nói về bản chất chủthể trong nhận thức và sáng tạo, quan niệm về cái tôi với cái tôi trữ tình trongnghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng có mối quan hệ chi phối lẫn nhau

Vậy “thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình Trong đó cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sư thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [32, tr 317]

1.3.2 Vai trò cái tôi trữ tình trong thơ

“Cái làm thành nội dung của thơ trữ tình không phải là diễn biến của một hành động khách quan mở rộng đến mức độ của thế giới trong tất cả sự phong phú và các liên hệ qua lại của nó…” (G.V.Hegel) Trung tâm của thế giới nghệ thuật là hình tượng cái tôi trữ tình “Đó là thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính và cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo, mang thẩm mỹ nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến cho người đọc” Sự hiện diện của cái tôi trữ tình

trong thơ là một trong những biểu hiện để chúng ta có thể nhận ra chân dungcủa tác giả, góp phần tạo nên phong cách của mỗi nhà thơ Thế giới tinh thầnbộc lộ trong tác phẩm để thể hiện nhận thức, quan niệm và hoạt động cải tạođời sống thế giới của con người Cái tôi trữ tình là tập hợp của rất nhiều quan

hệ trong mối quan hệ với chính nó

Trang 23

Trong mọi thời đại thi ca, cái tôi trữ tình luôn chiếm vị trí hàng đầu, tuynhiên không phải khi nào và đối với bất kì nhà thơ nào sự bộc lộ của cái tôi ấycũng giống nhau Nếu như trong thơ cổ cái tôi trữ tình không có cơ hội để bộc

lộ thì sự ra đời của phong trào thơ mới chính là sự khẳng định mạnh mẽ cáitôi cá nhân, mở ra một trang mới cho đời sống cái tôi trữ tình phát triển - đó là

“một thời đại thi ca” (Hoài Thanh)

Đại thi hào L.Tonxtoi đã nói: “nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong tác phẩm của nhà văn đều quý giá đối với chúng ta chỉ là cái hoạt động bên trong của tâm hồn nhà văn” Bằng lăng

kính cá nhân của mình, thi sĩ nhận thức và cảm xúc trước thế giới và conngười đồng thời thông qua tổ chức các phương diện của trữ tình để tạo ra mộtthế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo góp phần tạo nên phong cách của nhà

thơ Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “thơ trữ tình thực chất là chiếm lĩnh bằng nghệ thuật các loại kinh nghiệm đời sống qua một cá nhân” như vậy sự

bộc lộ trực tiếp của chủ thể sáng tạo trong thơ chính là nhân vật trữ tình, là sựhóa thân của tác giả vào từng sáng tác của mình

Cái tôi trữ tình là sự ý thức của cái tôi trong nghệ thuật, cái tôi của hành

vi sáng tạo, là quan điểm về cái tôi được thể hiện thông qua phương tiện trữtình Nếu trong tác phẩm văn xuôi tự sự cái tôi nghệ thuật được bộc lộ gián tiếpqua những hình tượng khách quan, trong kịch tác giả hoàn toàn giấu mình thìtrong tác phẩm trữ tình cái tôi được bộc lộ một cách trực tiếp Heghen đã nói:

“nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang nội dung” Bieelinxki cũng cho rằng: “toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của trữ tình nhưng với điều kiện là phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể, là bộ phận cảm giác của chủ thể, gắn liền với sự hoàn chỉnh bản chất của chủ thể” Cái tôi trữ tình luôn tự nhận thức, tự đánh giá bộc lộ

Trang 24

giá trị bản thân trong đời sống Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng: “cái tôi trữ tình là cái tôi tác giả được nghệ thuật hóa, lí tưởng hóa, điển hình hóa” Cái

tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Trongthơ trữ tình, cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ nó còn là cái tôi thứhai cái tôi được khách thể hóa điển hình hóa, cái tôi được thăng hoa trongnghệ thuật bằng nghệ thuật Vì vậy cái tôi trữ tình có thể là cái tôi trữ tìnhnhập vai hoặc cũng có thể là xuất hiện trong thơ với tư cách như một nhân

vật trữ tình Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “hãy bỏ cái tư thế đứng từ bản thân mình, cái tư thế lấy mình ra chịu trách nhiệm mà nói Tức thì bài thơ hiện thực dường như không thực nữa và sẽ mất đi rất nhiều sức chấn động, ngân vang Khác nào ta nghe một tiếng nói giữa trời mà không biết tiếng của ai cả” vai trò của người nghệ sĩ là một nhân tố chủ đạo của toàn bộ sáng tạo thơ Hình tượng cái tôi trong thơ trữ tình chủ yếu thể hiện nên thông

qua tâm trạng và bằng tâm trạng Có thể nói cái tôi trữ tình là biểu hiện tậptrung của tính chủ quan trọng trong thơ trữ tình

1.3.3 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo

Trong suốt hành trình sáng tác từ thời chiến đến thời bình, tiếp đó làthời kì đổi mới chúng ta nhận thấy cái tôi trữ tình trong thơ mang tiếng nóicủa tinh thần hiện đại, khác biệt với cái tôi cá nhân trước đó, đặc biệt là cái

tôi trong “thơ mới” Cái tôi là cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ trước cuộc đời,

trước sự ngân rung của thế giới khách quan mà nhà thơ thu nhận được để từ

đó chuyển thành lời Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là cái tôimang nhiều dáng vẻ và sắc thái, nó luôn vận động và biến đổi, đó là hìnhtượng trung tâm trong thơ trữ tình, là chủ thể sáng tạo thơ ca Cái tôi trữ tình

xuất hiện trong thơ ông đó là "tôi", là "anh", là "gã", hay là "em" Thế giới nhân vật này không đi ra trực tiếp từ sân khấu rạng rỡ ánh đèn mà từ cõi đời thực, mạnh mẽ, tự tin, cụ thể… hơn những gì chúng ta nghĩ.

Trang 25

Thơ là “vương quốc của chủ quan” là “biểu hiện và cảm thụ của chủ thể”(Heghen) Sáng tạo là một hoạt động chủ quan tồn tại trở thành trung tâm

quy tụ của mọi yếu tố khác Một giọng thơ cất lên - đó là một chủ thể nhấtđịnh nào đó, đó là một thế giới riêng, là người duy nhất mang nội dung Qua

đó thấy rằng, cái tôi của mỗi nhà thơ hay nói cách khác cái tôi trữ tình là mộtnhân tố khởi sự và hoàn tất quá trình sáng tạo Nó thể hiện được những suynghĩ của họ về thiên nhiên, cuộc sống con người, đồng thời thấy được đặctrưng cơ bản mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ Cũng theo Heghen nguồn

gốc điểm tựa của nó là “ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang nội dung” cũng chình vì lẽ đó cái tôi trữ tình giữ vị trí đặc biệt trong thơ

ca, đó là sự thể hiện một cách trực tiếp từ tư duy người nghệ sĩ trước cáchiện tượng đời sống Trong văn học dân gian Việt Nam với những câu ca dao,tục ngữ cái tôi thể hiện rất nhẹ nhàng thiết tha gửi gắm nỗi niềm của mìnhthông qua cái tôi trữ tình:

Ước gì sông rộng một gangBắc cầu dải yếm để chàng sang chơi

Nguyễn Trọng Tạo - một người nghệ sĩ đa tài “Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ tài ba” (Lê Huy Mậu), ở ông là một tâm hồn lang thang lưu lạc phiêu du, tự

do trước ngã ba cuộc đời Trong một bài viết về tập thơ Thế giới không

Trang 26

còn trăng tác giả Trịnh Thanh Sơn đã gọi giọng thơ của Nguyễn Trọng Tạo là

“sự giễu nhại và nỗi đau buồn sâu thẳm” Thơ Nguyễn Trọng Tạo được độc

giả nhớ đến nhiều, có lẽ bởi vì thơ ông rất giàu hình ảnh, giàu nhạc tính vàcũng mới nữa Nguyễn Trọng Tạo thổ lộ lòng mình bằng những trạng thái vàhình ảnh rất khác nhau, cái tôi trữ tình được thể hiện cũng không theo mộtphương định rõ ràng nào cả Cái tôi trữ tình trong thơ ông ở giữa cảm giác bềbội, giữa ảo và thực, giữa tĩnh lặng và ồn ào, giữa ý thức và vô thức… bên

cạnh cái tôi sắc sảo, triết lý là cái tôi dân dã, gần gũi, bên cạnh cái “tưng tửng ngu ngơ” là cái ngọt ngào êm dịu.

1.3.3.1 Cái tôi cá nhân

Như chúng ta biết cái tôi là một khái niệm có nội hàm rộng đến nỗi khóxác định được toàn bộ ý nghĩa của nó Theo từ điển triết học cái tôi có nghĩa

là cái cá nhân, cá thể, cái riêng lẻ của một người Cái tôi đó làm nên sự đadạng, phong phú, phức tạp cho mỗi con người Thơ văn phản ánh hiện thựctâm hồn của con người, do đó cũng thể hiện cái tôi đó dưới muôn màu, muôn

vẻ khác nhau

Thơ là sự hội tụ và nở hoa của cái tôi trữ tình rất đa dạng, phong phúgiàu màu sắc thẩm mĩ Khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ, điều đáng lưu ýkhông chỉ là tính chất độc đáo của tiếng nói thi ca mà còn là mối quan hệ giữacái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình Nếu cái tôi nhà thơ là toàn bộ con người nhàthơ trong cuộc sống thực tế thì cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ được nghệthuật hóa, là sự biểu hiện cụ thể của những phẩm chất tâm hồn của nhà thơ

trong tác phẩm thi ca “rõ ràng hai cái tôi ấy không phải là một, không hề có một sự đồng nhất, nhưng luôn có mối quan hệ thống nhất” Cái tôi trữ tình

gắn bó mật thiết với tính cách và cuộc đời nhà thơ Cái tôi trữ tình trong thơNguyễn Trọng Tạo chính là hình tượng tác giả với những hình thức bộc lộ

Trang 27

khác nhau Cái tôi là hình ảnh rất quen thuộc trong văn học - đó là cái tôi khao

khát sống của Xuân Diệu trong “phong trào Thơ mới”:

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

(Vội Vàng) Rồi “cái tôi” của rất nhiều điều muốn của nhà thơ Tố Hữu trong thơ

cách mạng:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa lá Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm cù bất cù bơ

(Từ Ấy)

Và cái tôi trữ tình được Bằng Việt thể hiện một tấm lòng đôn hậu:

Ta bắt đầu bằng đôi mắt yêu thương

Yêu thương lớn đến không gì phá nổi

đây trong cái tâm hồn “đa đoan” Nguyễn Trọng Tạo đã cho thấy một “cái tôi” rất khác lạ:

tôi trở lại cơ quan gặp nụ cười ẩm mốcchuột quá nhiều chuột chẳng chịu giảm biên Tôi trở lại dòng sông bờ Cỏ Thi xanh mướt

(Tái diễn)

Trang 28

Cái tôi nghệ thuật có nhu cầu tự biểu hiện với thế giới xung quanh, nóđòi hỏi biểu hiện những phương diện khác nhau của tâm hồn Nguyễn TrọngTạo thể hiện cái tôi của mình rất rõ không có sự né tránh:

tôi về khép lại căn phòngthấy trong lòng ngực như không có gì

(Gửi )

“Thấy” là “không có gì” nhưng cái tôi đó dường như đang trải qua đầy

những cảm xúc Không có nhưng lại có tất cả cảm xúc trong lòng đang bị kìmkẹp, dồn nén trong tầm hồn để rồi cuối cùng bộc lộ ra:

“trái tim đã bỏ đi rồi

ai mà nhặt được gửi về giùm tôi”

(Gửi)

Cái tôi trữ tình trong thơ ca là một sự tập hợp của nhiều mối quan hệvới chính nó, là sự thể hiện của thế giới chủ quan, là sự tự nhận thức, tự biểuhiện của chính tác giả Cái tôi của Nguyễn Trọng Tạo đôi lúc khiến người đọclạc mất phương định:

sẽ dở hơi nếu là tôi đứng khócnhưng cười vui thì tôi sẽ còn gìcòn Rock Rap hay còn đêm cổ điểnđiên cuồng ơi mơ mộng bỏ tôi rồi

Trang 29

Thực tại không như mong muốn, tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình thật da diết :

mọi sự giản đơn đều bất lực

ta thèm bài thơ tấm ảnh bức tranh không hiểu

hết (Sonnê không định trước)

Trong tình cảm bạn bè ta bắt gặp một cái tôi tha thiết với tiếng nói tâm tình, xúc động :

bạn bè tôi, nếu mà không các bạnnhững lúc lang thang ta về đâu( )

trái tim bạn giữ cho ta đâyniềm vui bạn giữ cho ta đâynước mắt bạn giữ cho ta đây

(Cõi nhớ) Rồi cái tôi đó bất ngờ „„lục vấn‟‟ lại để chiêm nghiệm trong cái tôi:

Rồi có lúc ta buồn ra lục vấn chính taRồi có lúc câu thơ thay đổi chủ nhà

(Điều bình thường lạ lẫm)

Lục vấn lại rồi sau đó đi với tâm hồn mộng du của đêm dài:

Ta đi qua đêm dài đèn mờ vẫn đỏnhững tòa nhà thiên nhiên vẫn còn bày

đó (Phố đỏ)

Rồi thể hiện một cái tôi nhỏ bé nhẹ

nhàng: Dẫu nhỏ nhoi tôi có một cái tên trong li ti lá thẫm

khi ngập nước và khi thì ngập nắnghoa li vàng mùa hạ - chính là tôi

(Hoa li vàng)

Trang 30

Đó là sự thu nhỏ nhẹ nhàng của cái tôi nhỏ nhoi, về cái tôi trước khônggian rộng lớn Có thể nói cái tôi trữ tình Nguyễn Trọng Tạo rất đa dạng vàphong phú, nó giống như một hồn thơ đa tài với nhiều lĩnh vực Cái tôi trongthơ biểu hiện nguyên tắc, khám phá lí giải, đánh giá tiếp cận các vấn đề đờisống thông qua ý thức của con người Nó chính là sự thể hiện chủ quan củamỗi tác phẩm thơ trữ tình Cái tôi bộc lộ trong giá trị bản thân trước thời gian

và cảm thấy ngại ngùng với chính nó:

Tôi giờ ngại cả bóng tôi

Ý thơ chưa cạn, ngó lời đã khô

Cũng như mọi sự tồn tại trong cuộc sống này, cái tôi cá nhân luôn luôn

có sự vận động Sự thể hiện cái tôi trong thơ Nguyễn Trọng Tạo rất đa dạngnhưng dù ở bình diện nào, vui buồn, cô đơn, thất vọng, yêu ghét thì cái tôi đóchính là phương thức biểu hiện của người nghệ sĩ thông qua sáng tác

1.3.3.2 Cái tôi cô đơn, buồn

Cô đơn là một từ Hán Việt, chỉ trạng thái tâm lí của con người, chỉ sự lẻloi, không nơi nương tựa Hay nói cách khác, cô đơn là hiện tượng trái ngược

Trang 31

với tập thể hay với cộng đồng xã hội Cô đơn chính là ý thức về bản ngã củatừng cá nhân khi cảm thấy bị tách khỏi cộng đồng Cái tôi trữ tình cô đơn hiện

lên qua tâm trạng và bằng tâm trạng “thơ trữ tình là hình thức rõ rệt nhất của

sự biểu hiện cá tính nhà văn” (Lixevich) Trong thơ trữ tình giai đoạn đổi mới

(1986) có những bước đổi mới rõ rệt có thể khẳng định đây là giai đoạn bừngtỉnh về ý thức cái tôi, đó là sự thay đổi - một sự thay đổi cần thiết để khẳng

định giá trị trong mỗi cái tôi thi sĩ “Nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong các tác phẩm của nhà văn điều quý giá đối với chúng ta chỉ là hoạt động bên trong của một tâm hồn nhà văn”

(L.Tonxtoi) Quả thực cái tôi giai đoạn sau đổi mới là sự ý thức cái tôi cá nhânrất rõ Không giống như chủ nghĩa cá nhân thuộc quan niệm đạo đức trongthơ cổ và cũng khác với những số phận cá nhân có phần lạc lõng và riêng lẻ

của “Phong trào Thơ mới”, mà ở đây là sự khám phá thể hiện con người cá

nhân như một hướng đi tích cực về mặt xã hội, về mặt thẩm mĩ văn học “Tư duy nghệ thuật đang trở về với con người cá nhân nhưng ở một trình độ mới với xuất phát điểm cao hơn Tư duy nghệ thuật dường như đi giáp một vòng chôn ốc trên con đường tri thức thể hiện con người Nó đang đi chặng đường vừa qua, kế thừa sâu sắc nhất và mở ra những chân trời sáng tạo mới cho nền văn học xã hội chủ nghĩa” [69, tr 7].

Nguyễn Trọng Tạo là một thi sĩ sớm ý thức đổi mới Cái tôi trong thơông cũng được thể hiện ở nhiều điểm nhìn được đặt trong nhiều mối quan hệ,nhiều bối cảnh khác nhau của đời sống Thơ ông không chỉ giúp người đọchiểu về cái riêng, cái độc đáo của nhà thơ mà còn thấy được những trảinghiệm mới mẻ muôn màu của cuộc sống Trong lời tựa tập thơ Nương Thân

Nguyễn Trọng Tạo viết: “…đời là cõi tạm, tôi thấy mình chỉ là kẻ nương thân Trong vũ trụ vô tận này, đời người chớp mắt Ta là ai ta nào kịp trả

Trang 32

lời” Quan niệm của Nguyễn Trọng Tạo mang cảm quan của triết lí đạo Phật

-theo quy luật luân hồi về cuộc sống xung quanh, nhìn cuộc sống nghiêng vềphía trầm lắng, nhỏ nhoi, mong manh hơn là sự náo nhiệt tươi vui Ở đó là sự

cô đơn và nỗi buồn đồng hành với nhau bởi niềm vui không trọn vẹn:

Niềm vui rồi dễ phai nhanhCuộc đời lắng lại long lanh nỗi buồn

(Sonê buồn)

Phải chăng đó là quy luật vô thường luôn bất biến mà tạo hóa lập trìnhsẵn trước ngổn ngang bề bộn ở cuộc sống con người Nỗi buồn và sự cô đơncủa Nguyễn Trọng Tạo còn là sự ngỡ ngàng, sự ngơ ngác không biết vì lẽ gìgiữa dòng chảy thời gian:

ngơ ngác giọt nước mắt cuối năm không rõ buồn vui

gì xe bộ chạy trên đường không rõ về chốn nào

(Sô nê không định trước)

Dù là buồn đấy nhưng thi sĩ lại níu kéo, cố giữ lại nỗi buồn một cáchrất đặc biệt:

Buồn đừng đi! Buồn đừng tanmất buồn còn lại tro tàn mà thôiBuồn ơi buồn có thương tôiđừng làm tôi phải mồ côi nỗi buồn

(Sô nê buồn)

Nỗi buồn và sự cô đơn là điều có thật và bất kì ai cũng đều phải trải quatrạng thái đó khi con người ta hiểu về mình, hiểu về đời, hiểu về mọi thứ củathế giới xung quanh thì có lẽ lại càng thêm buồn thêm đau đớn xót xa Nỗibuồn cô đơn khiến con người rơi nước mắt, nỗi cô đơn không biết mình là ai,

Trang 33

mình về đâu? Vì cuộc sống bởi lí do này hay lí do kia mà con người khôngbiết làm thế nào dẫn đến tâm trạng mất niềm tin và cái tôi trống rỗng Chúng

ta bắt gặp cái tôi cá nhân, trống vắng cũng là điều dễ hiểu, cùng thời vớiNguyễn Trọng Tạo nỗi buồn trong thơ Lâm Thị Mĩ Dạ còn tái tê đến lịmngười đó là cái chết trong nỗi buồn:

Em chết trong nỗi buồnChết như từng giọt sương sươngRơi không thành tiếng

(Viết tặng nỗi buồn riêng)

Với Nguyễn Trọng Tạo dường như nỗi buồn, nỗi cô đơn không chỉ làmột tâm trạng mang tính thời đại, là những ảnh hưởng, dư chấn của cuộcsống thời kinh tế thị trường với quá nhiều thay đổi: về niềm tin, đạo đức, lẽsống - khó có thể định hình được rõ ràng:

ngày vung vãi đức tinđêm thấy mình cô độcranh khôn giữa muôn nghìntrở về thành thằng ngốc

(Tự vấn)

Cô đơn là trạng thái chung của nhiều nhà thơ và không phải đến thờiNguyễn Trọng Tạo cô đơn mới xuất hiện, mà đó là tâm trạng xuyên suốt chiềudài tiến trình văn học Việt Nam Sự cô đơn xuất hiện từ thơ Hồ Xuân Hương,Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương…

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữHồng sơn sơn hạ Quế Giang thâm

Trang 34

mà là cái tôi cao cả, tĩnh lặng, tự đắc, tự tại, dù ở trong nghịch cảnh vẫn luôncảm thấy gắn bó với một cái gì thiêng liêng, bền chặt không di dịch.

Chỉ đến thơ mới cái tôi cô đơn, cái tôi cá nhân tự ý thức mới xuất hiện,mới dám bộc lộ hết mình, phô bày một cách công khai khi mà cái cá nhândám vượt lên hệ thức phong kiến trói buộc kìm hãm Cái tôi cô đơn chính làphương diện của cái tôi trữ tình trong thơ Những cái tôi cô đơn đã góp phần

tạo lên những gương mặt riêng nổi bật và “đượm chút bâng khuâng của thời đại” (Hoài Thanh) Cô đơn là trạng thái tình cảm chung của nhiều nhà thơ

trong phong trào thơ mới Huy Cận với nỗi cô đơn:

Một chiếc linh hồn nhỏMang mang thiên cổ sầu

(Ê chề)

Và Xuân Diệu qua tiếng nói của thiên nhiên tạo vật:

Tôi là con nai bị chiều đánh lướiKhông biết đi đâu đứng sầu bóng tối

(Khi chiều giăng lưới)

Trang 35

Rồi Phạm Hầu là nỗi cô đơn trống vắng trải

dài… Tôi theo tư tưởng vô cùngChỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hưu

Sự cô đơn của con người khi đi xa quê hương rồi lưu lạc giữa dòng

chảy của cuộc đời- đó là nỗi cô đơn của một “người nhà quê” Nguyễn Trọng Tạo tâm sự: “càng lớn tuổi tôi càng nhớ rõ ràng hơn những kỉ niệm thời thơ

ấu càng xa làng lâu, nỗi nhớ làng càng trở nên sâu thăm thẳm Đôi khi tôi thấy mình ngơ ngác giữa phố phường” [79, tr 333] Nỗi nhớ và sự thổn thức

nhớ thương nơi sinh thành được kẻ lưu lạc thổ lộ:

ngơ ngác giữa phốmột thằng nhà quênhớ thương Mộ Tổbiết bao giờ về

(Lưu lạc)

Hình ảnh quê hương là sự gần gũi và sự chân thành, quê hương gợi tanhớ về hình bóng người thân, cảnh vật, ruộng đồng Dù đi tha hương lưu lạctới bất kể nơi nào thì trong cõi nhớ của mỗi người luôn gắn mãi hình bóng

quê hương và giờ đây “người ham chơi” là một trong số đó, không cô đơn

sao được khi lang thang xứ người Trong ca dao xưa chúng ta cũng bắt gặp:

Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

(Ca dao)

Cô đơn có thể là phần sâu nhất trong bản ngã của Nguyễn Trọng Tạo.Cuộc đời mỗi nhà thơ đâu chỉ chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời đại mà còn biếtbao nỗi niềm riêng tư… Nguyễn Trọng Tạo đã thể hiện cái tôi trữ tình trên

Trang 36

mỗi trang thơ Đó là sự cô đơn tê tái, trống trải không ở trong hiện thực cuộcsống nữa mà nằm cả trong… giấc mơ:

trong giấc mơ ta thấy ta lang thang đường phố cây thả xuống ta lá vàng

(Mộng du)

Cô đơn dường như trở thành một nét riêng, một triết lí trong cuộc sống

và trong nghệ thuật, ta cũng bắt gặp sự cô đơn của nhà thơ cùng thời vớiNguyễn Trọng Tạo cũng có chung tâm trạng ấy:

Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn

(Xuân Quỳnh)

Dường như Nguyễn Trọng Tạo lo sợ một vẻ đẹp tinh thần suy giảm ưu

tư trước sự mong manh của kiếp người Nhà thơ Vũ Cao gọi ông là “nhà thơ

lẻ loi” Lẻ loi cô đơn bởi Nguyễn Trọng Tạo có những bước chân lang bạc đi

nhiều nơi và được chứng kiến nhiều cảnh đời, nhiều cảnh sống với nhữngkiếp người khác nhau để rồi ông lựa chọn cho mình một giá trị sống riêng.Cuộc sống là muôn màu với những bức tranh sáng tối, thật giả, lẫn lộn xô bồ:

Trang 37

“trộm cắp đâm nhau dưới đèn mờ/ xích lô máu me cấp cứu‟‟ (Mộng du) Rồi

có khi Nguyễn Trọng Tạo với nỗi cô đơn…khó diễn thành lời…

anh cô đơn như quan chẳng có dânanh trống trải như ngai vàng vắng chủ

(Cổ tích tìm thơ)

…để rồi nó như cái bóng gắn với anh không rời:

hắn là hắn chính là chiếc bóngkhông âm thanh không màu sắc không buồn vui thế mà suốt đời hắn kề sát tôi

không xóa được tôi đành chào thua hắntôi đã chào khối người như chiếc bóng

(Bóng)

Trong thời cuộc xoay chuyển nhiều chiều mỗi con người có những sự

cô đơn, trống vắng, nỗi buồn riêng Trước bước chuyển mình mạnh mẽ củathời đại con người cũng chịu nhiều áp lực của sự thay đổi đó: cô đơn vì địa

vị, tiền tài, danh vọng… còn nhân vật tôi ở đây thì cô đơn với:

ta lạc ngoài ta

đi hoài không đến

(Lưu lạc) Hàn Mặc Tử đã từng nói: “nhà thơ phong vận như thơ ấy” Nỗi cô đơn

càng thấm đẫm trên trang thơ thì càng chứng tỏ Nguyễn Trọng Tạo đã biết lắnglại và tự giác ngộ mình trước cõi tham- sân- si trần tục Ông đã lưu lạc, đã đi tận

cùng khắp chốn và đã thổ lộ sự trải nghiệm trong “cái chớp mắt ngàn năm”- đó

là người nghệ sĩ hiểu được mình, thấu được đời thì càng thấy cô đơn để rồi

hướng lòng mình về với những điều gần gũi thân thương với nỗi nhớ:

Trang 38

Tết nơi thành thịnặng người nhớ quêtôi thành trẻ nhỏthung thăng đường về

(Nhớ tết)

Xuân về Tết đến đó là hình ảnh quen thuộc gợi cảm xúc dâng trào đặcbiệt là với những người con lưu lạc xa xứ- Nguyễn Trọng Tạo là một trong số

đó Nơi đó là quê hương, là người thân và đặc biệt là hình ảnh người mẹ:

Mẹ tôi tóc bạc răng đenNhớ thương xanh thẳm một miền nhà quê

ngoại lệ, “người ham chơi đã đi và trải nghiệm nhiều nơi với nhiều sắc thái

và cuộc sống khác nhau để rồi thể hiện những sự cô đơn sự buồn đó vào thơ như một cách để trải nỗi niềm của mình” Trong cuộc sống thay đổi nhanh đến chóng mặt con người cần phải có những khoảng thời gian để “soi lại”

Trang 39

mới nhận ra được giá trị trong cuộc sống Những cung bậc cô đơn trong thơ

Nguyễn Trọng Tạo “…vừa nhẹ nhàng vừa thanh thoát nhưng cũng đủ khơi sâu thức đọng đến nao lòng tâm tư người đọc” Nguyễn Trọng Tạo đã tâm sự: “bây giờ ít lĩnh vực huý kị hơn trước Nhà văn có thể múa bút vào nhiều đề tài, nhiều vấn đề Nhiều đề tài trước dấu đi văn chương có thể khai thác Như vấn đề cuộc sống cô đơn‟‟ [2] Cô đơn và buồn không phải chỉ là tâm trạng của Nguyễn

Trọng Tạo mà có lẽ là đặc trưng của nhiều nhà thơ Tuy nhiên muốn lí giải nỗibuồn và sự cô đơn không chỉ dựa váo cá tính của nhà thơ, mà còn phải dựa vàotác động của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội đương thời Cái tôi cô đơn làmột phương diện của cái tôi trữ tình Nó tạo ra những vần thơ buồn nhưng trongsáng thanh bạch, đặc biệt có những giá trị thẩm mĩ đích thực và mang tính nhânvăn sâu sắc Do vậy, cái tôi cô đơn không chỉ khái quát được những giá trị tinhthần của cá nhân mà còn của thời đại

1.3.3.3 Cái tôi trong tình yêu nồng nàn, tha thiết - khát khao sống Nguyễn Trọng Tạo quan niệm rằng: “con người không có thơ thì chỉ là cái máy bằng xương thịt Thế giới không có thơ ca thì chỉ là cái nhà hoang”

[41] Thơ xuất phát từ tâm hồn và trái tim của người nghệ sĩ, thi sĩ tự mình đitìm con đường riêng, cá tính riêng cho thơ Thơ ca ngày càng gắn bó gần gũithân mật hơn với chính con người thông qua sự tìm tòi, sáng tạo của ngườinghệ sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một trong những người nghệ sĩ ấy, ông đi vàophản ánh mọi chiều kích và bản thể của con người trong đa chiều của cuộcsống Ông là một thi sĩ tài hoa, đa tình, một hồn thơ thân mật gần gũi với cuộcsống Tâm hồn nghệ sĩ ấy đã và đang mang cho thi ca một nhịp đập trái timgiàu men say cuộc đời với những thi phẩm tình yêu chứa đựng sắc màu cảmxúc qua cái tôi trữ tình

Nhân vật trữ tình không phải là cái tôi mang tính đại diện, mà là cái tôi

cá nhân của nhà thơ Những cảm xúc, suy tư cũng vì thế mà đời thường hơn,chân thực hơn, gần gũi hơn:

Trang 40

Anh trót để ngôi sao bay khỏi cátbiếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời.

Điều có thể hóa thành không thểbiển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi

(Không đề).

Với Nguyễn Trọng Tạo, thơ tình yêu của ông đã nâng lên thành một

triết lí, thành một quan niệm rõ ràng giữa cái thật- giả, hợp- tan Ở ông, mộttâm hồn thi sĩ không lúc nào vơi cạn tình yêu dù là niềm vui hay nỗi buồnhạnh phúc hay khổ đau, sáng hay tối Qua những bài thơ tình của ông chứachất tâm trạng cô đơn buồn cay đắng, hờn giận nhưng ở đó chính là cái tôiyêu nồng nàn, tha thiết Qua những bài thơ người đọc nhận thấy chân dungmột nhà thơ đa tình, lãng mạn, tài hoa, một tâm hồn yêu mãnh liệt không kểthời gian, năm tháng và cả… chết - sống

Ta không sống khi yêu

Ta chết khi yêu

(Tội đồ của thời gian)

Đó là một sự hiến dâng trọn vẹn tất cả cuộc đời cho tình yêu, tình yêukhông kể chi bến bờ, tuổi tác, sống chết nữa Cũng có lúc Nguyễn Trọng Tạotrầm ngâm suy tư, chiêm nghiệm về tình yêu:

đi nhiều chân mỏingồi nhiều lung xiênghét nhiều cỗi mặtyêu nhiều đau tim

(Không đề)

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w