Ông để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc với vị trí của một nhàchính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao tài ba, một nhà văn hóa lớn, một tác giacủa văn học thời Tây Sơn nói riêng, văn học t
Trang 1TRẦN THỊ LỆ NHẬT
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ NGÔ THÌ NHẬM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
BÌNH ĐỊNH – NĂM 2019
Trang 2TRẦN THỊ LỆ NHẬT
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ NGÔ THÌ NHẬM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đình Thu
Trang 3Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là của riêng tôi Các kết quả,
số liệu nghiên cứu trong luận văn này chưa từng công bố ở bất cứ công trìnhnào
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngô Thì Nhậm là một danh nhân lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷXVIII Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những biến động thăngtrầm của lịch sử Ông để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc với vị trí của một nhàchính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao tài ba, một nhà văn hóa lớn, một tác giacủa văn học thời Tây Sơn nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung.Nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm nói chung, về thơ văn của ông nói riêng vẫnluôn là đề tài đầy tiềm năng và giàu sức hấp dẫn đối với các thế hệ ngườinghiên cứu
Trong cuộc đời hoạt động sôi nổi của mình, Ngô Thì Nhậm để lại một
sự nghiệp văn học đồ sộ, có giá trị nhiều mặt Trong đó, thơ là mảng sáng tácchiếm số lượng lớn nhất, đồng thời đạt được nhiều thành tựu quan trọng ThơNgô Thì Nhậm phản ảnh trọn vẹn về con người, phong cách của ông, đồngthời, có những đóng góp nhất định vào sự vận động, phát triển của văn họcthời Tây Sơn nói riêng, văn học thời trung đại nước ta nói chung Nghiên cứuthơ Ngô Thì Nhậm vì thế sẽ góp phần vào tìm hiểu con người, tài năng, nhâncách và phong cách Ngô Thì Nhậm Bên cạnh đó, nghiên cứu về thơ Ngô ThìNhậm còn góp phần xác lập vị trí của nhà thơ trong bản đồ tác giả, tác phẩmvăn học trung đại Việt Nam
Là một tác giả lớn của văn học trung đại, Ngô Thì Nhậm được chú ýnghiên cứu từ rất sớm Nhiều vấn đề trong thơ văn của ông cũng đã được cácnhà nghiên cứu nhiều thế hệ quan tâm tìm hiểu Tuy vậy, nghiên cứu thế giớinghệ thuật thơ Ngô Thì Nhậm trong tính hệ thống theo hướng thi pháp họcvẫn tiềm năng nhiều phát hiện mới, hứa hẹn những giá trị mới Hơn nữa,nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Ngô Thì Nhậm để thấy được những giá trịđộc đáo cũng như vị trí quan trọng của thơ ông là công việc có ý nghĩa cả về
Trang 5mặt lí luận lẫn thực tiễn, góp phần giảng dạy tác giả - tác phẩm này tốt hơntrong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông.
Xuất phát từ sự ngưỡng vọng, yêu mến đối với danh nhân Ngô ThìNhậm và sáng tác của ông, đồng thời từ mong muốn nghiên cứu để hiểu hơn
về con người và thơ văn tác giả, chúng tôi chọn Thế giới nghệ thuật thơ Ngô
Thì Nhậm làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là danh nhân lỗi lạc, nhà văn hóa lớn của dân tộc, đồng thời là mộttrong những tác giả lớn của văn học trung đại Việt Nam, Ngô Thì Nhậm đượcchú ý tìm hiểu, nghiên cứu từ rất sớm Gần một thế kỷ qua, đã có hàng trămcông trình lớn, nhỏ nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp văn học củaNgô Thì Nhậm Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ xin điểm qua một
số công trình quan trọng nghiên cứu về thơ văn của ông
Năm 1974, nhóm nghiên cứu Văn Tân, Văn Lang, Lê Sĩ Thắng, Chương
Thâu và Ngọc Liên công bố cuốn Ngô Thì Nhậm con người và sự nghiệp [55].
Công trình bước đầu nghiên cứu một cách tổng quan về Ngô Thì Nhậm trên cáclĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học, tư tưởng… Đây được xem làmột trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm
Trong công trình Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, 2 tập, do Nxb Khoa
học xã hội ấn hành năm 1978, có hai bài nghiên cứu tổng quan, đánh giá mộtcách khá toàn diện về cuộc đời, con người, tư tưởng và thành tựu nghệ thuậtcủa Ngô Thì Nhậm Nhiều ý kiến quan trọng về tác gia này đã được đưa ra,chẳng hạn: “Ngô Thì Nhậm là một nhà trí thức quan trọng của nước ta cuốithế kỷ XVIII và là cây bút tiêu biểu của nền văn học rực rỡ thời Tây Sơn” [20;tr.7] Hai bài nghiên cứu trong công trình tuyển tập này là những bài viết xuấthiện sớm trong lịch sử nghiên cứu về danh nhân Ngô Thì Nhậm, có ảnhhưởng nhất định đến những công trình sau
Trang 6Là một tác gia lớn của văn học Tây Sơn, thơ văn Ngô Thì Nhậm trongtổng thể văn học thời Tây Sơn, vì thế, cũng sớm được quan tâm nghiên cứu MaiQuốc Liên là một trong những người đầu tiên nghiên cứu thơ văn Ngô Thì Nhậm
trong văn học Tây Sơn Năm 1985, ông công bố công trình Ngô Thì Nhậm trong
văn học Tây Sơn [29] Với 5 chương dày dặn, công trình đã làm rõ những giá trị
nghệ thuật, đóng góp quan trọng và vị trí của thơ văn Ngô Thì Nhậm trong sựvận động và phát triển của văn học nước ta dưới thời Tây Sơn
Tiếp nối truyền thống nghiên cứu về cuộc đời, con người và sự nghiệpcủa Ngô Thì Nhậm, năm 1987, tác giả Vũ Khiêu cho công bố công trình
Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử Trong công trình này,
Ngô Thì Nhậm được đánh giá là một trong những trí thức tiêu biểu nhất củalịch sử dân tộc Với hơn 30 trang dày dặn, công trình đã đặt người trí thứcNgô Thì Nhậm đứng trước ngã ba của lịch sử để từ đó phân tích cho chúng tathấy được những quyết định dũng cảm, sáng suốt của ông, một trí thức đầytrách nhiệm trước đất nước, nhân dân và thời cuộc Công trình cũng có nhữngđánh giá thật xác đáng về ông: “Qua những trang sách cũ, đọc lại thơ văn ông,chúng ta thấy nổi lên những nét rất đậm đà và rực rỡ về toàn bộ cuộc đời ông
Ta càng hiểu thêm những khát vọng lớn lao, những suy nghĩ thầm kín, nhữngtâm sự đau thương phản ánh từ chiều sâu của tâm hồn” [26; tr.101]
Là một tác giả lớn của nền văn hóa, văn học Việt Nam, Ngô Thì Nhậm
có mặt trong hầu hết những cuốn từ điển tác giả văn hóa, từ điển văn học Hầuhết ở những công trình từ điển này, các nhà biên soạn đều đánh giá cao về con
người và sự nghiệp Ngô Thì Nhậm Chẳng hạn, trong Từ điển tác giả tác
phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, các nhà biên soạn đã khẳng
định: “Thực sự, ông là bậc đại trí, đại tài đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệpTây Sơn và cho dân tộc trên lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, văn hóa, văn học”[44; tr.300]
Trang 7Bên cạnh sự nghiệp chính trị, ngoại giao, Ngô Thì Nhậm còn để lại một
sự nghiệp văn học đồ sộ, giá trị Ông để lại dấu ấn và vị trí quan trọng trongnền văn học nước nhà Là một tác gia lớn của văn học trung đại, ông được đềcập đến trong nhiều công trình văn học sử, giáo trình về văn học trung đại
Chẳng hạn, trong Văn học trung đại Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế
kỷ XIX), tác giả Nguyễn Lộc đã có những nhận định xác đáng về ông, rằng:
“Nhà văn tiêu biểu nhất dưới thời Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm” [36; tr.111]
Thơ văn Ngô Thì Nhậm đạt được thành tựu trên nhiều phương diện,trong đó có phương diện nội dung tư tưởng Do đó, đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về hệ thống tư tưởng trong các sáng tác của ông Chẳng hạn, LêVăn Tấn có bài viết nghiên cứu một cách chuyên sâu về tư tưởng nhập thế
tích cực của nhà nho hành đạo Ngô Thì Nhậm Trong công trình Tư tưởng
hành đạo của nhà nho Ngô Thì Nhậm, tác giả Lê Văn Tấn đã đánh giá một
cách thỏa đáng về tư tưởng hành đạo của Ngô Thì Nhậm được thể hiện quathơ văn ông: “Là một người sống và tham gia vào chính trị, nên những tưtưởng của Ngô Thì Nhậm không nằm ngoài mục đích vì dân vì nước Tưtưởng của ông mang tinh thần hành động và nhập thế tích cực, đáp ứng đượcđòi hỏi của xã hội đương thời Ngô Thì Nhậm là một trường hợp tiêu biểu củamẫu hình nhà nho hành đạo trong văn học trung đại” [58; tr.113]
Hoặc như trong luận văn thạc sĩ Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Ngô
Thì Nhậm, tác giả Phan Thạnh đã chỉ ra những ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng
nhà Phật đến cuộc đời và thơ văn của ông, cũng như vị trí của ông trong văn họctrung đại nói chung, dòng văn học Phật giáo thời trung đại ở nước ta nói riêng:
“Với những đóng góp của mình, Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm xứng đáng
có một vị trí trong nền văn học Việt Nam cũng như trong văn học Phật giáo Ôngxứng đáng là một nhà văn hóa lớn, một nhà trí thức lỗi lạc của thế kỷ XVIII, mộtThiền sư dấn thân nhập thế tích cực” [62; tr.89-90]
Trang 8Qua những công trình vừa điểm qua trên, có thể thấy được phần nàolịch sử nghiên cứu phong phú và đạt được nhiều thành tựu về Ngô Thì Nhậm.Trong các công trình nghiên cứu về ông, nhiều vấn đề về thế giới nghệ thuậttrong thơ ông cũng được các nhà nghiên cứu ít nhiều tiếp cận, khảo sát, đánhgiá Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa, tổng hợp những thành quả nghiêncứu của những người đi trước, đồng thời cố gắng tiếp cận vấn đề một cáchchuyên sâu, hệ thống để mong muốn có được những cái nhìn tổng quát, sâusắc và có tính mới mẻ về thế giới nghệ thuật trong thơ của ông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá những giá trị đặc sắc, độc đáo của thế giới nghệ thuật trong thơ Ngô Thì Nhậm
ở những phương diện cơ bản như hệ thống tư tưởng, hình tượng nghệ thuật,không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật Từ đó, góp phần xáclập vị trí, vai trò của thơ Ngô Thì Nhậm trong tiến trình vận động và phát triểncủa văn học thời Tây Sơn nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôixác định các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau: Tiếp cận, tiếp thu thành quảcủa các công trình đi trước nghiên cứu về con người và thơ Ngô Thì Nhậm; khảosát, phân tích, đánh giá, khái quát các bài thơ, các tập thơ; tìm hiểu hệ thống tưtưởng chi phối thơ Ngô Thì Nhậm qua các giai đoạn sáng tác khác nhau;…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Ngô Thì Nhậm
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề thế giới nghệ thuật trong thơcủa ông Văn bản được chúng tôi sử dụng làm tài liệu khảo sát, nghiên cứu
chính là công trình Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 1, do các nhà
nghiên cứu Cao Xuân Huy và Thạch Can chủ biên, Nxb Khoa học xã hội ấnhành năm 1978 Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi còntham khảo nhiều văn bản khác có liên quan
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
5.1 Phương pháp hệ thống Thơ Ngô Thì Nhậm là một chỉnh thể nghệ
thuật toàn vẹn nằm trong hệ thống các sáng tác của ông Với phương phápnày, chúng tôi đặt thơ Ngô Thì Nhậm trong tính hệ thống để nhìn nhận, phântích những giá trị độc đáo, đặc sắc của chúng trong tương quan với mảng sángtác khác của ông như phú, văn chính luận, nghiên cứu Phật học… cũng nhưnhững sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các mảng sáng tác
5.2 Phương pháp văn học sử Thơ Ngô Thì Nhậm là một bộ phận của
văn học thời Tây Sơn nói riêng, văn hóa - văn học trung đại Việt Nam nóichung, do đó, chúng chịu ảnh hưởng và có sự tác động trở lại đối với văn họcTây Sơn cũng như văn học Việt Nam Sử dụng phương pháp văn học sử,chúng tôi đặt thơ Ngô Thì Nhậm trong tương quan với văn học thời Tây Sơn
và rộng hơn là môi trường văn hóa - văn học trung đại Việt Nam để thấy được
sự kế thừa, tiếp biến, phát triển của thơ Ngô Thì Nhậm, cũng như những tácđộng, đóng góp của thơ ông đối với sự vận động và phát triển của văn họcTây Sơn nói riêng, văn học trung đại nước ta nói chung
5.3 Phương pháp thi pháp học Nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ
Ngô Thì Nhậm, chúng tôi vận dụng những thành quả và phương pháp nghiêncứu của thi pháp học Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu những vấn
đề cơ bản của thế giới nghệ thuật thơ Ngô Thì Nhậm như vấn đề con người,không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ… chủ yếu bằng phương phápnghiên cứu của thi pháp học
5.4 Phương pháp liên ngành Thơ Ngô Thì Nhậm ra đời trong môi
trường văn hóa - văn học trung đại, chịu sử ảnh hưởng của nhiều phương diệncủa đời sống như lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo, … Do đó, nghiêncứu thơ Ngô Thì Nhậm không thể không soi chiếu chúng trong sự tương quan
Trang 10với những lĩnh vực trên Luận văn sử dụng phương pháp liên ngành, nhìnnhận thơ Ngô Thì Nhậm từ cái nhìn lịch sử, văn hóa, chính trị, tôn giáo…nhằm phân tích, nhận diện sâu sắc hơn thế giới nghệ thuật thơ ông.
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những phương diện cơ bản trong thếgiới nghệ thuật thơ Ngô Thì Nhậm, chỉ ra những giá trị độc đáo, tiêu biểu củathơ ông Từ đó, luận văn góp phần đánh giá vai trò, vị trí của thơ Ngô ThìNhậm trong tiến trình vận động của văn học thời Tây Sơn nói riêng, văn họctrung đại Việt Nam nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần các mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận vănđược triển khai gồm 3 chương:
Chương 1 Ngô Thì Nhậm trong tiến trình văn học Việt Nam trung đại Chương 2 Hệ thống tư tưởng và thế giới hình tượng trong thơ NgôThì Nhậm
Chương 3 Ngôn ngữ, giọng điệu, không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Ngô Thì Nhậm
Trang 11CHƯƠNG 1 NGÔ THÌ NHẬM TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC
VIỆT NAM TRUNG ĐẠI1.1 Ngô Thì Nhậm – cuộc đời và sự nghiệp văn chương
1.1.1 Cuộc đời
Ngô Thì Nhậm là nhà chính trị, quân sự, nhà văn hóa kiệt xuất, một tàinăng và nhân cách lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII Cuộc đời đầy thăng trầmcủa ông phản chiếu đậm nét không khí thời đại và để lại dấu ấn khá rõ trong
sự nghiệp văn chương của tác giả
Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746, mất năm 1803 Ông tự là Hy Doãn, hiệuĐạt Hiên, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội Đây làvùng đất không chỉ nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh mà còn có truyềnthống văn hiến lâu đời, cũng là nơi “xuất thân của những nhân vật lớn tronglịch sử” [55; tr.15] Chính quê hương giàu truyền thống văn hóa đã bồi đắpnên những giá trị tinh thần quý báu, góp phần hình thành ở Ngô Thì Nhậmmột tâm hồn giàu xúc cảm cùng tài năng, nhân cách, tư tưởng hơn người
Ngô Thì Nhậm sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thốnggiáo dục, khoa hoạn và văn chương Gia tộc Ngô Thì Nhậm có những bậcdanh sư, những nhà văn, nhà sử học lớn, những người đỗ đại khoa, giữ nhiềutrọng trách của đất nước mà tên tuổi của họ đã trở thành niềm tự hào lớn laokhông chỉ của một dòng họ mà còn của cả một vùng đất, của cả dân tộc Ôngnội Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Ức, tác giả đầu tiên của Ngô gia văn phái Chacủa ông là Ngô Thì Sĩ, làm quan nhà Hậu Lê đến chức Đốc trấn Lạng Sơn, tácgiả của nhiều bộ sử nổi tiếng Chú của ông là Ngô Thì Đạo, thi đỗ Giảinguyên Em của ông là Ngô Thì Chí, thi đỗ Hương tiến, làm quan đến chứcThiêm thư Bình chương Tỉnh sự, là người khởi thảo viết 7 chương đầu của bộ
tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng Hoàng Lê nhất thống chí Một người em khác của
Trang 12ông là Ngô Thì Trí, làm quan đến chức Hộ bộ Hữu thị lang, được phong tướcBính phong hầu, là người có công lớn trong việc khởi xướng và sưu tầm, biênsoạn toàn bộ trước tác của Ngô gia văn phái… Có thể nói, gia tộc họ Ngô “nốiđời đỗ đại khoa, nối đời làm trọng thần, cũng đồng thời làm nên một vănnghiệp lớn, hiếm thấy trong lịch sử văn học Việt Nam” [20; tr.20] Chínhtruyền thống gia đình đã góp phần quan trọng hun đúc nên ý chí, tài năng,nhân cách Ngô Thì Nhậm, đồng thời ảnh hưởng lớn sự nghiệp văn chươngcủa ông.
Thuở nhỏ, Ngô Thì Nhậm đã nổi tiếng thông minh, hiếu học Ông họcchữ Hán và kinh sách trực tiếp với ông nội và cha, trước khi được học tiếp vớicác vị đại khoa nổi tiếng trong vùng Năm 16 tuổi (1761), dưới sự hướng dẫn
của cha, Ngô Thì Nhậm hoàn thành công trình sử học đầu tiên Nhị thập tứ sử
toát yếu Năm 19 tuổi (1765), ông đỗ đầu khoa thi hương Một năm sau, ông
soạn cuốn Tứ gia thuyết phả Đến năm 1769, ông thi đỗ khoa Sĩ vọng, được
bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương Như vậy, “với chức quan hàm chánh thấtphẩm này, Ngô Thì Nhậm chính thức bước vào cuộc đời hoạt động chính trị,mong muốn thực hiện hoài bão làm một hiền thần như Y Doãn” [20; tr,42]
Là một nhà nho được đào tạo bài bản trong môi trường nho học, xuấtthân trong gia đình có truyền thống khoa hoạn lâu đời, Ngô Thì Nhậm hăm hởnhập thế, thực hiện chí nguyện công danh của một nam tử Tuy nhiên, hoạn lộcủa ông không hề bằng phẳng Cuối năm 1771, Ngô Thì Nhậm mắc họa ởNghệ An và bị cách chức Ông nhân cớ đó cáo quan xin về
Năm 1772, Ngô Thì Nhậm dự khảo thí ở Quốc tử giám, đỗ hạng ưu.Đến khoa thi năm Ất mùi (1775), ông thi đỗ hàng thứ năm hàng tiến sĩ giápthân, được bổ chức Hộ bộ cấp sự trung Năm 1776, ông được thăng một bậc,giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam, lại thăng lên Đốc đồng trấn KinhBắc Năm 1778, ông được bổ kiêm chức Đốc đồng Thái Nguyên Đây là giai
Trang 13đoạn đường quan lộ của Ngô Thì Nhậm khá thuận lợi Ông cùng người thântrong gia đình được triều đình giao cho nhiều chức vụ quan trọng Đối vớimột nhà nho hành đạo tích cực như Ngô Thì Nhậm, đây là điều mà ông rất đỗi
tự hào Bởi nó xuất phát từ sâu xa trong thâm tâm của mỗi người học nho làđược đem sở học của mình ra để “thượng trí quân, hạ trạch dân”, hành đạogiúp đời
Tuy nhiên, triều đình mà Ngô Thì Nhậm đang phục sự là nhà Trịnhđang trong thời kỳ suy thoái và thời đại mà ông sống là một giai đoạn lịch sửvới những biến động lớn lao Năm 1782, Trịnh Sâm mất, kiêu binh nổi loạn.Những kẻ cơ hội, ganh tị với Ngô Thì Nhậm đã xin bắt ông Ngô Thì Nhậmlui về quê vợ ở vùng Sơn Nam (nay thuộc Thái Bình) và ở ẩn tại đây tronggần 6 năm
Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, tiêu diệt Võ Văn Nhậm, ra chủtrương “cầu hiền”, xuống lệnh tìm kiếm quan lại cũ của triều Lê, Trịnh NgôThì Nhậm là người đầu tiên ra chấp chính theo lời mời của Bắc Bình Vương
Về điều này, không ít sĩ phu Bắc Hà đã chê trách ông vì làm tôi không giữ đạotrung Nhưng Ngô Thì Nhậm là người thông minh, ông đủ sức nhận ra sự mụcnát của triều đại cũ và sự tiến bộ của nhà Tây Sơn đang trong thời kì đi lên màngười anh hùng áo vải Quang Trung là một lãnh tụ anh minh, nhân nghĩa.Ông ra với nhà Tây Sơn xuất phát từ tinh thần trách nhiệm nhập thế hành đạocủa một nhà nho chân chính Hơn nữa, Nguyễn Huệ cũng tỏ rõ thái độ trọngdụng đối với ông: nhận ra tài năng và tin cậy vào ông Và đúng như nhiều nhànghiên cứu khẳng định, “lòng tin cậy của Nguyễn Huệ đối với Ngô Thì Nhậm
đã mở ra một giai đoạn mới, quan trọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp củaông” [20; tr.46]
Ra phụng sự cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm cónhiều cống hiến to lớn cho phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và nhà Tây Sơn
Trang 14sau này Ông có công lớn trong việc thuyết phục nhiều nhân sĩ, trí thức Bắc
Hà nhận chân thời cuộc, đứng về phía nhân dân, ra phục vụ cho nhà Tây Sơn.Ông cũng là một quân sư, nhà quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao tài năng
đã “đỡ đần” cho Nguyễn Huệ những việc quốc gia đại sự Trong những nămđầu sau đại thắng năm 1789, Ngô Thì Nhậm là người đứng đầu công tác ngoạigiao của triều Tây Sơn Bằng sự khôn khéo, mềm dẻo của mình, ông đã gópphần quan trọng vào những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao đối vớitriều đình nhà Thanh, giữ vững nền độc lập non trẻ của nhà nước mới, tránhđược họa tái xâm lược của phương Bắc đang giận dữ vì liên tiếp đại bại dướiquân Tây Sơn Đúng như Mai Quốc Liên nhận định: “công cuộc bang giaothời Tây Sơn đã đạt những thắng lợi chưa từng có, làm vẻ vang cho đất nước,
đã viết nên những trang sử ngoại giao đẹp nhất bên cạnh những trang sử chiếnthắng huy hoàng, và trong các cống hiến này, có phần đóng góp xứng đángcủa Ngô Thì Nhậm” [20; tr.51-52]
Năm Mậu Tý 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, Quang Toản lênnối ngôi khi chỉ mới 9 tuổi, nội bộ Tây Sơn bắt đầu lục đục “Trong tình hìnhchính trị rối ren của những năm cuối triều đại Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm đãkhông phát huy được tài năng và tâm huyết của mình Mặt khác, con ngườihiểu ông, tin cậy, trọng dụng ông, đã mất” [20; tr.52] Ngô Thì Nhậm cảmthấy mình như “bóng nhạn cô đơn” Trước cảnh triều đình mà người anh hùngNguyễn Huệ cùng ông gây dựng nên ngày càng lục đục, đang đứng trên bờsuy vong, ông vô cùng đau xót Ông tìm lối thoát bằng triết học Ông cho lậpThiền viện Trúc Lâm để nghiên cứu Phật học Những thể nghiện, bài giảng vềđạo Phật của ông trong thời gian này được ghi lại trong tác phẩm lớn cuối
cùng Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh hoàn thành năm 1796.
Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Ngô ThìNhậm bấy giờ đã lùi về trí sĩ Nguyễn Ánh cho gọi nhưng ông không hợp tác
Trang 15Ít lâu sau, ông và người anh em cột chèo, đồng thời là người bạn thân PhanHuy Ích bị đem ra kể tội và đánh đòn tại Văn Miếu Ít lâu sau, ông qua đờivào ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (tức ngày 9 tháng 3 năm 1803), kết thúccuộc đời 57 năm của một tài năng, một nhân cách lớn, một nhà nho nhập thếtích cực một đời chỉ biết nghĩ cho dân, cho nước mà tên tuổi gắn với một giaiđoạn lịch sử oanh liệt của dân tộc.
Có thể khẳng định, Ngô Thì Nhậm là một tài năng, một nhân cách lớn,một nhà nho chân chính với lí tưởng nhập thế tích cực Cuộc đời ông đầy nhữngthăng trầm nhưng những lựa chọn của ông đã thật sự đúng đắn Ông đã đứng vềphía nhân dân đất nước, và đem hết tâm sức của mình để phục vụ đất nước, nhândân “Ông là bậc đại trí, đại tài đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp Tây Sơn vàcho dân tộc trên lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, văn hóa, văn học” [44; tr.300].Tên tuổi ông sẽ còn được ghi nhớ mãi trong lòng dân tộc
Nhìn lại cuộc đời đầy hào hùng và bi thương của Ngô Thì Nhậm, có thểthấy mấy điểm lớn sau Ông sinh ra lớn lên trên quê hương có truyền thốngvăn hóa và trong gia đình có truyền thống khoa hoạn, văn chương Từ nhỏông đã được giáo dục bài bản trong môi trường nho giáo Những yếu tố trên
đã góp phần hình thành trong ông con người nhà nho hành đạo tích cực với lítưởng nhập thế, giúp nước cứu đời, luôn đứng về phía nhân dân Những quyếtđịnh quan trọng, những ngã rẽ của cuộc đời ông sau này đều do con người nhànho nhập thế chân chính trong ông chi phối
Ngô Thì Nhậm lớn lên, thi thố, làm quan trong một thời đại có quánhiều biến động to lớn Xã hội loạn lạc, chính quyền phong kiến mục nát, sơn
hà mấy phen đổi chủ, nước nhà nhiều lần đứng trước nguy cơ xâm lược từ bênngoài Đây chính là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức lớn đối với chí côngdanh, hành đạo của nhà nho Ngô Thì Nhậm Thực tế cho thấy, chính nhữngbiến động thời cuộc đã mang đến cho ông những thành tựu to lớn trên
Trang 16con đường chính trị và văn chương Và cũng chính nó mang lại cho ôngnhững đau buồn, sự dèm pha và kết thúc bi thương.
Những yếu tố về cuộc đời Ngô Thì Nhậm có ảnh hưởng lớn đến sựnghiệp văn học của ông Nền giáo dục nho học và truyền thống quê hương,gia đình để lại dấu ấn lớn trong các sáng tác của ông Những trải nghiệmphong phú trong “hoạn hải ba đào” đã giúp Ngô Thì Nhậm có một gia tàitrước tác đồ sộ, phong phú, giá trị, đạt thành tựu trên nhiều phương diện, có vịtrí quan trọng trong lịch sử văn học Việt nam Có thể nói, không chỉ trênđường làm quan, chỉ riêng gia tài văn chương mà ông để lại cũng đáng để tựhào và phỉ chí tang bồng hồ thỉ, thỏa nợ công danh của một đấng nam tử
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
Không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao kiệt xuất, NgôThì Nhậm còn là một nhà văn hóa lớn của Việt Nam ở thế kỷ XVIII Làm nênđiều này trước hết là bởi di sản văn hóa đồ sộ mà ông để lại cho hậu thế.Đúng như nhận định của các nhà nghiên cứu, “sau Lê Quý Đôn, Ngô ThìNhậm được coi là đại nho uyên bác, ông để lại một di sản văn hóa, văn học rất
đa dạng” [44; tr.299]
Sự nghiệp văn học của Ngô Thì Nhậm hết sức phong phú, trải rộng trênnhiều thể loại Ông sáng tác cả thơ, phú và văn xuôi Ở lĩnh vực nào, Hy Doãncũng có những tác phẩm giá trị, đóng góp nhất định vào văn học Tây Sơn nóiriêng, văn học Việt Nam thời trung đại nói chung
Về thơ, thơ Ngô Thì Nhậm được chia làm hai chặng đường: Thơ sáng
tác trong nước và sáng tác khi đi sứ nhà Thanh Với thơ sáng tác trong nước,
Hy Doãn để lại 06 tập Đó là:
1. Bút hải tùng đàm: gồm có 93 bài thơ thể Đường luật Trong đó, chủ
yếu là tứ tuyệt, thất ngôn, ngũ ngôn Đây là tập thơ tác giả sáng tác trong thời
kỳ làm quan cho nhà Lê - Trịnh
Trang 172. Thủy vân nhàn đàm: gồm 59 bài thơ các thể Đây là tập thơ sáng tác
trong khi tác giả lui về quê lánh nạn sau sự kiện “ba phủ kiêu binh”
3. Ngọc đường xuân khiếu: gồm có 73 bài thơ các thể Căn cứ vào nội
dung tập thơ, có thể biết được tác giả sáng tác từ sau ngày họ Trịnh bị lật đổ,
ít ra là từ sau 1786, năm Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà lần thứ nhất trở đi
4. Cúc hoa thi trận: tập thơ gồm có 50 bài do Ngô Thì Nhậm xướng
họa cùng Phan Huy Ích Nét độc đáo là cả thi tập này gồm các bài thơ chỉ họa
đi họa lại theo một vần: “đường”, “chương”, “dương”, “phương”
5. Thu cận dương ngôn: tập thơ này gồm 109 bài Đây là tập thơ do
Ngô Thì Nhậm sáng tác dưới triều Tây Sơn Ngay đầu tập là bài ghi lại buổitấu nhạc ngày tuần tiết ở lăng vua Quang Trung Bài thứ hai là theo xa giáQuang Toản đi viếng lăng Quang Trung Sau đó là những bài ghi lại nhữnglúc theo hầu vua Quang Trung, lúc đi hành quân, hoặc lúc ở triều đường
6. Cầm đường nhàn thoại: tập thơ gồm có 72 bài, được tác giả sáng
tác trong thời gian làm quan nhà Tây Sơn Cùng với Thu cận dương ngôn, tác
phẩm này khắc họa rõ nhất con người Ngô Thì Nhậm trong thơ văn cũng nhưthể hiện nổi bật phong cách nghệ thuật của ông
Sáu tập thơ này được chép rải rác ở nhiều cuốn sách trong bộ sách Ngô
gia văn phái Ngoài ra, theo bài Liên hạ thi minh thuyết thì trong thời gian ở
Kinh đô Phú Xuân, Ngô Thì Nhậm còn cùng với người em và một người đồnghương sáng tác thơ vịnh hoa sen Tập thơ này gồm khoảng 200 bài nhưng hiệnnay vẫn chưa tìm thấy
Với thơ sáng tác trong thời gian đi sứ nhà Thanh của Ngô Thì Nhậm,hiện nay, giới nghiên cứu đã tìm được 05 tác phẩm Đó là:
1. Cuốn Hy Doãn công thi văn tập Tác phẩm này do con Ngô Thì
Nhậm là Ngô Thì Điền biên tập, gồm 2 phần thơ và văn Phần thơ lấy tên là
Hoa trình gia ấn, chép 105 bài thơ.
Trang 182. Cuốn Hoàng hoa đồ phả Cuốn này phần trên chép thơ, phần dưới
vẽ tranh
3. Cuốn Sứ trình thi họa Căn cứ vào sự khảo sát trên bản Microfilm, ký
hiệu phim số 34, đang lưu trữ tại Thư viện Khoa học xã hội thì bản chính này là
một bản Hoàng hoa đồ phả hoàn chỉnh dưới cái tên khác và có lời tiểu dẫn.
4. Cuốn Hoàng hoa đồ phả Tác phẩm này có có một lời tiểu dẫn viết ở
đầu sách bằng chữ Hán của một người bạn tên là Trần Hàm Tấn, rồi sau đó làtoàn bộ tập thơ, gồm 116 bài, kể cả 2 bài phú
5. Cuốn Yên đài thu vịnh Tập này gồm có 239 bài, do Ngô Thì Nhậm
sáng tác Tác phẩm được một số người khác tham gia biên tập, nhuận sắc như
Hộ bộ tả đồng nghị Trực lượng hầu Tùng Hiên hiệu duyệt, Hộ bộ tả thị langThể dụng hầu Thận Trai biên tập, Thân đệ sử quán biên tu Thì Trí thừa sao
Thơ làm trong thời gian đi sứ của Ngô Thì Nhậm là bộ phận tiêu biểu,đạt được nhiều thành tựu lớn, có vị trí quan trọng trong dòng thơ sứ trìnhnước ta Thơ sứ trình của Hy Doãn không chỉ lớn về dung lượng, phong phú
về đề tài, điêu luyện về hình thức mà còn mang những nội dung tư tưởng caođẹp, thể hiện rõ những phẩm chất cao quý trong nhân cách một nhà nho chânchính, đúng như nhận định của Giáo sư Vũ Khiêu: “Những bài thơ của ônglàm trong thời kỳ đi sứ Trung Quốc đã thể hiện lòng tự hào và lòng yêu nướcsâu sắc của người đại diện một dân tộc anh hùng” [26; tr.102]
Nhìn chung, về thơ Ngô Thì Nhậm, các nhà nghiên cứu đã có nhữngnhận định chính xác: “Thơ Ngô Thì Nhậm, cũng như phú của ông, rất súc tíchnhưng chân thực, hồn hậu, rất gần gũi với người đọc, […] luôn luôn có nhữngcâu, những từ rất tự nhiên, thoải mái, vừa đẹp vừa độc đáo Và bao trùm lênhết thảy, vẫn là tư tưởng hành động vì dân vì nước của ông” [20; tr 36]
Về phú, Ngô Thì Nhậm có 17 bài phú chép ở tập Kim mã hành dư, in
trong bộ Ngô gia văn phái Phú của ông phần nhiều làm theo thể cổ phú, với
Trang 19âm vận, cách điệu đạt trình độ nghệ thuật hết sức điêu luyện Theo các nhànghiên cứu, phú của Ngô Thì Nhậm “vừa đậm đà trữ tình vừa mang nhiều chấttriết lý Trong nhiều bài phú, ông đã đề cập mối quan hệ giữa con người với thiênnhiên, giữa bản thể với hiện tượng và lý giải theo cách của ông” [21; tr.8].
Bên cạnh thơ luật, phú được xem là thể loại văn chương bác học đượccác nho sĩ, trí thức thời phong kiến coi trọng, yêu thích, sử dụng để sáng táctrong thời gian dài và để gửi gắm tâm sự, chí hướng Là một bậc đại nho, NgôThì Nhậm yêu thích phú và do đó, ông sáng tác phú trong cả cuộc đời mình.Phú vì thế xuất hiện trong tất cả các chặng đường sáng tác của ông, từ thời kỳlàm quan dưới thời Lê - Trịnh cho đến những năm tháng cuối đời
Phú của Ngô Thì Nhậm mang nội dung tư tưởng sâu sắc, được thể hiệnbởi hình thức đẹp đẽ, trau chuốt, đạt nhiều giá trị quan trọng, nhiều bài lànhững tác phẩm xuất sắc của phú Việt Nam Đúng như nhận định của MaiQuốc Liên, “về mặt âm luật, cách điệu, tổ chức câu, phú của ông chịu ảnhhưởng của Sở từ, nhưng về nghệ thuật từ ngữ thì rất điêu luyện”, “đẹp đếnmức tuyệt diệu”, có thể “đặt ngang với bất cứ bài phú nào hay nhất từ xưa màchúng ta từng đọc” [Dẫn theo 20; tr.141-142] Có thể kể ra những tác phẩm
tiêu biểu như: Diệu Vũ đình phú, Thiên quân thái nhiên phú, Mộng thiên thai
phú, Lâm trì phú, Tiêu dao du phú, Tuyết nguyệt nghi phú, Đăng Hoàng Hạc lâu phú, Thưởng liên đình phú,…
Về văn xuôi, Ngô Thì Nhậm đã nâng cao vị thế thể loại văn chiếu biểu,thể loại văn học đã suy yếu từ sau sáng tác của Nguyễn Trãi Những tác phẩmvăn xuôi của Ngô Thì Nhậm gắn với những nội dung có tính chất sử thi của thờiđại, thể hiện nhiệt tình và tài năng lớn của người viết Các tác phẩm văn xuôi tiêu
biểu của ông có: Hàn các anh hoa, Kim mã hành dư, Xuân thu quản kiến, Trúc
lâm tông chỉ nguyên thanh, Nhận định về văn chính luận của Hy Doãn, các nhà
nghiên cứu đều thống nhất: đó là “những áng văn ý đẹp, lời hay, biện luận sắc
Trang 20sảo, có giá trị thuyết phục, kết giao tình hòa hiếu lân bang” [44; tr.300] Đâychính là những thành tựu nổi bật của Ngô Thì Nhậm đóng góp vào dòng chảyvăn xuôi Việt Nam thời trung đại Thật không quá khi khẳng định rằng, sauNguyễn Trãi, hiếm có nhà văn chính luận nào xuất sắc như Ngô Thì Nhậm.
Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), nhiều sách vở, tài liệu liên quanđến nhà Tây Sơn đều bị tiêu hủy Chính vì thế mà nhiều trước tác của Ngô ThìNhậm, nhất là các tác phẩm ra đời trong thời gian ông phụng sự triều đìnhTây Sơn bị thất lạc Nhiều tác phẩm không còn được văn bản gốc, do đó dẫnđến tình trạng “tam sao thất bản” Điều này có ảnh hưởng nhất định đến việctìm hiểu, nghiên cứu về hành trang cuộc đời và sáng tác của tác giả
Mặc dù bị tản lạc nhiều, nhưng chỉ với những tác phẩm còn lại cũng đủ
để khẳng định vị trí quan trọng của Ngô Thì Nhậm trong nền văn Việt Namthời trung đại Đúng như nhận định của Mai Quốc Liên, sáng tác của Ngô ThìNhậm là hiện tượng tiêu biểu, “đỉnh cao của văn học yêu nước thời Tây Sơn”[29; tr.116] So với các tác giả cùng thời, “Ngô Thì Nhậm là người viết nhiềunhất […] Ông được xem là tập đại thành, là tổng số, là đỉnh cao của tất cảsáng tác của những người “ra đi từ một chân trời cũ” như Phan Huy Ích, ĐoànNguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn…” [62; tr.29]
Có thể nói, xuất thân từ gia đình giàu truyền thống khoa bảng và vănchương, bản thân là người học rộng biết nhiều, tài cao chí lớn lại mang mộttâm hồn rộng mở, cộng với cuộc đời thăng trầm với những trải nghiệm phongphú, Ngô Thì Nhậm đã đến với văn chương như một lẽ tự nhiên của conđường xuất thế hành đạo giúp đời cũng như thỏa nguyện chí tang bồng hồ thỉ
“phải có danh gì với núi sống” (Nguyễn Công Trứ) Ông để lại một di sản vănhóa đồ sộ với số lượng tác phẩm lớn, sáng tác ở nhiều thể loại, có đóng góplớn vào sự phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầuthế kỉ XIX Ông chính là một nhà văn hóa kiệt xuất, một tác gia văn hóa lớncủa dân tộc Việt Nam
Trang 211.2 Ngô Thì Nhậm – tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại
1.2.1 Đặc điểm chung của văn học Việt Nam trung đại
Theo các nhà nghiên cứu văn học sử, văn học trung đại Việt Nam bắtđầu từ thế kỷ X, kéo dài đến hết thế kỷ XIX Đây là giai đoạn đầu tiên của nềnvăn học viết của nước ta
Văn học trung đại Việt Nam còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như “văn học cổ điển”, “văn học phong kiến”, “văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX”, “văn học Hán Nôm”… Dù các khái niệm này khác nhau nhưng chúng đều có chung một nội hàm, chỉ chung một đối tượng là nền văn học thành văn của Việt Nam diễn ra trong thời trung đại, bắt đầu từ thế kỷ X, kết thúc ở cuối thế kỷ XIX Đây là thời kỳ văn học ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử xã hội riêng, chịu sự chi phối của những hệ tư tưởng riêng, do một đội ngũ sáng tác riêng thực hiện… do đó, mang những đặc điểm riêng so với văn học thời kỳ hiện đại.
Nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam nói chung cũng như nhữngđặc trưng của nó nói riêng là một công việc hết sức lớn lao, đã và đang đượcnhiều thế hệ nhà nghiên cứu tiếp bước thực hiện Trong phạm vi của luận văn,nhằm làm tiền đề cho việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Ngô Thì Nhậm,chúng tôi chỉ trình bày sơ lược những đặc điểm chung của nền văn học viếtnước ta trong thời trung đại Những kết quả mà chúng tôi trình bày dưới đây
là sự kế thừa, tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của những người đi trước
Trải dài trong suốt mười thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam đã có nhữngbước vận động, phát triển liên tục với những diện mạo khác nhau ở từng giaiđoạn Tuy nhiên, trên cái nhìn tổng thể, văn học trung đại nước ta mang nhiềuđặc điểm chung, thể hiện xuyên suốt cả chiều dài mười thế kỷ văn học Dưới đây
là một số đặc điểm chung nổi bật của văn học Việt Nam trung đại
Thứ nhất, khác với văn học hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ (ngoại trừ
một số trường hợp đặc biệt như Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc
Trang 22Kháng… Có một số tác phẩm viết bằng chữ Hán), văn học trung đại Việt Namđược hợp thành từ hai bộ phận: văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằngchữ Nôm “Hai bộ phận đã hình thành vừa song song vừa xen kẽ, vừa độc lậpvừa bổ sung cho nhau, tạo nên một cơ cấu và tính chất riêng của dòng văn họcviết, và cũng lại có những tính chất riêng của mỗi bộ phận” [64; tr.494-495].
- Về bộ phận văn học chữ Hán Bộ phận này được viết bằng chữ Hán,đọc theo âm Hán Việt (tiếng Hán thời Đường), ra đời từ rất sớm, có mầmmống từ thời Bắc thuộc, bắt đầu phát triển và từng bước đạt được nhiều thànhtựu quan trọng sau khi đất nước giành lại được chủ quyền năm 938 và xuyênsuốt cả thời trung đại Về đại thể, văn học chữ Hán chịu ảnh hưởng đậm nétcủa Hán học nói chung, văn học Trung Hoa nói riêng trên mọi phương diện.Trong văn học trung đại Việt Nam, bộ phận văn học chữ Hán chiếm số lượnglớn, được sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau, với phạm vi đề tài rộng lớn.Theo Bùi Duy Tân, “văn học chữ Hán ca ngợi quốc gia phong kiến mà các tácgiả muốn đồng nhất với Tổ quốc; băn khoăn về vận mệnh của chế độ phongkiến mà các tác giả muốn gắn liền với vận mệnh của đất nước; phát biểu lýtưởng chính trị, xã hội của trí thức phong kiến mà các tác giả muốn coi là lýtưởng chính trị, xã hội của toàn dân Phần có giá trị cao của văn học chữ Hán
là chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước này ở những tác giả ưu tú nhất đãvươn tới gần quan điểm của nhân dân Như vậy là văn học chữ Hán vẫn cótính dân tộc, tuy nó không sử dụng ngôn ngữ dân tộc và còn bị hạn chế vềnhiều phương diện” [64; tr.496] Có thể nói, dù vẫn còn một vài hạn chếnhưng văn học viết bằng chữ Hán là bộ phận văn học quan trọng, đạt đượcnhiều thành tựu to lớn với những đỉnh cao như thơ văn chữ Hán thời Lý Trần,thơ văn chữ Hán của Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Cao BáQuát…, góp phần cấu thành và làm nên diện mạo chính của văn học trung đạiViệt Nam, bên cạnh bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm
Trang 23- So với văn học chữ Hán, bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn(từ khoảng cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV) Chữ Nôm là văn tự của ngườiViệt, ghi âm tiếng Việt dựa trên cơ sở chữ Hán Số lượng tác phẩm văn họcchữ Nôm ít hơn so với văn học chữ Hán Trong thời phong kiến, văn học chữNôm chưa được coi trọng như văn học chữ Hán, chưa có vị trí ngang hàngnhư dòng văn học Hán văn, “ngay cả trong thời kỳ mà văn học chữ Nôm đượctriều đình khuyến khích như dưới triều Lê Thánh Tông chẳng hạn thì văn họcchữ Nôm cũng không được đặt ngang hàng với văn học chữ Hán” [25; tr 17].
Tuy nhiên, “do quy luật tất yếu của lịch sử phát triển văn học, do ý thứcxây dựng văn học chữ Nôm của rất nhiều trí thức dân tộc, nhất là những nhàthơ, nhà văn ưu tú, văn học chữ Nôm ngày càng phát triển mạnh mẽ” [64; tr.496] Bộ phận văn học này dùng tiếng nói của dân tộc để miêu tả thiên nhiên,hiện thực đời sống dân tộc, đồng thời đi sâu vào thể hiện mọi biểu hiện tâmhồn người Việt, phản ánh tư tưởng, tình cảm dân tộc một cách chân thành,tinh tế Văn học chữ Nôm phát triển gắn với sự ra đời của những thể loại vănhọc dân tộc (truyện thơ, ngâm khúc, hát nói), đạt được nhiều thành tựu to lớn,
với những đỉnh cao rực rỡ trong văn học trung đại Việt Nam như Truyện Kiều,
Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Truyện Lục Vân Tiên, thơ Nôm
của các tác gia Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, NguyễnCông Trứ, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến,
Nhìn chung, văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm tương đồng ở nhiềunội dung tư tưởng và cách thức phản ánh hiện thực Cả hai bộ phận phát triểnsong song, bổ sung và thống nhất với nhau, đạt được những thành tựu quantrọng trên tiến trình vận động và phát triển, hợp thành nền văn học trung đạiViệt Nam đa dạng, phong phú, giàu bản sắc và giá trị độc đáo
Thứ hai, văn học trung đại Việt Nam “thấm đượm chủ nghĩa yêu nước
nồng nàn và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc” [dẫn theo 63; tr.4] Bởi như chúng
Trang 24ta đã biết, xuyên suốt mười thế kỷ văn học trung đại, biểu hiện đậm nét ở cảhai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm là hai sợi chỉ đỏ: chủ nghĩayêu nước và chủ nghĩa nhân đạo Đây là hai giá trị cốt lõi, hai mạch nguồn giátrị làm nên sức sống lâu bền của văn học trung đại Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước được thể hiện nổi bật trong văn học trung đạichặng đường đầu, tiêu biểu với bộ phận văn học chữ Hán, gắn liền với cảmhứng tự hào về những chiến công oanh liệt trước kẻ thù xâm lược phươngBắc, cảm hứng tự tôn dân tộc, ngợi ca giang sơn xã tắc… Những tác phẩm
tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước có thể nêu ra như: Quốc tộ, Nam quốc sơn
hà, Thuật hoài, Cảm hoài, Dụ chư tì tướng hịch văn, Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập,…
Chủ nghĩa nhân đạo được thể hiện nổi bật ở chặng đường sau của vănhọc trung đại Việt Nam, tiêu biểu với bộ phận văn học chữ Nôm, gắn liền vớingòi bút hướng về những số phận bất hạnh, đồng cảm với nỗi đau của conngười, phê phán những bất công, lên án những thế lực đen tối chà đạp lênquyền sống, quyền hạnh phúc của con người Những thành tựu rực rỡ, đỉnhcao của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam có thể kể đến
như: Đoạn trường tân thanh, Văn chiêu hồn, Chinh phụ ngâm khúc, Cung
oán ngâm khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm, Hoa tiên, Phan Trần, thơ Nôm Hồ
Xuân Hương,…
Dĩ nhiên, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo trong văn học ViệtNam không có sự tách bạch rạch ròi theo từng giai đoạn như vậy Hai mạchnguồn này luôn có sự đan bện, song hành cùng nhau Trong văn học yêunước, văn học chữ Hán, chủ nghĩa nhân đạo vẫn được thể hiện rõ nét vàngược lại Điều này thể hiện rõ ở những tác giả ưu tú với những sáng tác nồngnàn chủ nghĩa yêu nước và thấm đẫm chủ nghĩa nhân đạo, tiêu biểu như: TrầnNhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, NguyễnĐình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Trang 25Có thể nói, hai dòng chủ lưu trong văn học nước ta thời trung đại là chủnghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo Đây là hai cảm hứng chủ đạo quy tụnhững tác giả ưu tú, những tác phẩm xuất sắc là đỉnh cao của văn học trungđại Việt Nam Tiếp cận, tìm hiểu thơ văn Ngô Thì Nhậm, ta cũng sẽ nhận thấy,đây cũng là hai khuynh hướng nổi bật, chi phối các sáng tác, làm nên giá trịđộc đáo cũng như sức sống bền bỉ của thơ văn ông.
Thứ ba, bên cạnh các giá trị văn hóa nội sinh, văn học trung đại Việt
Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của các hệ ý thức du nhập từ nước ngoài, cụ thể
là Nho giáo, Phật giáo và tư tưởng Lão Trang
Phần lớn lực lượng sáng tác của văn học trung đại là các nho sĩ (ngoài
ra, còn có một số ít là tăng lữ, chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn đầu của nền vănhọc viết khi Phật giáo và các nhà sư vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong đờisống chính trị, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng…) Họ là những người được đàotạo bài bản trong môi trường Nho giáo, thấm nhuần tư tưởng của Nho gia, lại
có hiểu biết sâu rộng về Phật, Lão Sáng tác của họ vì thế vừa chịu ảnh hưởngsâu đậm của Nho học từ đề tài, cảm hứng đến phương thức thể hiện; lại vừa
có những gặp gỡ với tư tưởng Phật giáo và Lão Trang Khi nhập thế, họ hăm
hở sáng tác thơ văn dưới sự chi phối mạnh mẽ của đạo Nho Nhưng khi lui về
ở ẩn, vì những lí do khác nhau, họ thường tìm về với đạo Lão, đạo Phật Thơvăn của họ vì thế cũng nhuốm mùi thiền, phảng phất hương ẩn dật Cũng nhưcác tác gia Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,Nguyễn Khuyến,… Ngô Thì Nhậm rất tiêu biểu cho đặc điểm này
Ảnh hưởng của tam giáo, nhất là đạo Nho giáo, đã chi phối sâu sắc vănhọc trung đại Việt Nam trên hầu hết các phương diện, từ sự lựa chọn đề tài,cảm hứng chủ đạo đến bút pháp thể hiện, lựa chọn ngôn ngữ Những tính chấtnổi bật của văn học nước ta thời trung đại như tính trang nhã bác học, tínhước lệ quy phạm… đều bắt nguồn từ ảnh hưởng của những hệ ý thức trên
Trang 26Thơ văn Ngô Thì Nhậm là một trường hợp tiêu biểu cho đặc điểm này Nhậpthế với tư cách một nho sĩ, từng có thời gian về sống cảnh ẩn dật, cuối đờikhoác áo nâu song nghiên cứu về đạo Phật, sáng tác của ông chịu ảnh hưởngđậm nét của Nho giáo nhưng vẫn mang dấu ấn của Phật giáo (đặc biệt là giaiđoạn cuối đời, ông có hẳn một tác phẩm nghiên cứu về Phật học với nhan đề
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh) và phảng phất ý vị của Lão Trang.
Có thể nói, du nhập vào Việt Nam từ khá sớm, Nho, Phật, Lão có ảnhhưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của người Việt, trong
đó có sáng tác văn chương Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam nóichung, trong đó có thơ văn Ngô Thì Nhậm nói riêng, không thể không đề cậpđến sự ảnh hưởng, chi phối này
Thứ tư, sáng tác dưới sự chi phối sâu sắc của nền Hán học, văn học
trung đại Việt Nam mang những quan niệm và tính chất đặc thù
Về quan niệm văn học, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, văn học trung đạinước ta chịu sự chi phối của mệnh đề “văn dĩ tải đạo” (văn dùng để chở đạo)
và “thi dĩ ngôn chí” (thơ dùng để nói chí), thực chất cũng là mệnh đề đầu tiên.Vậy “đạo” là gì? Theo Bùi Duy Tân, “đạo ở đây là đạo đức, lễ giáo, cươngthường của Nho giáo, của các thánh hiền thời cổ đại Trung Hoa đã được Nhogiáo lý tưởng hóa” [64; tr.499] Nó đi vào văn chương, trở thành lí tưởng đểcác nhà văn thể hiện Do đó, trong văn chương trung đại, ta gặp thường xuyênnhững motif “thuật hoài”, “cảm hoài”, “ngôn chí”… mà ở đó “đạo”, cụ thể làchí tang bồng hồ thỉ, lí tưởng “thượng trí quân, hạ trạch dân”, hành đạo giúpđời được khắc họa đậm nét, nhiều khi trở thành khuôn sáo Cũng như sáng táccủa Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu,… thơ văn Ngô ThìNhậm, quan niệm “văn dĩ tải đạo” được thể hiện rất đậm nét Trong nhiều tácphẩm thơ, phú, chiếu, biểu của ông, ta nhận ra một nhà nho hành đạo chânchính với tâm thế nhập cuộc đầy tích cực, với
Trang 27tâm huyết đem tài đức ra giúp đời được tác giả thường xuyên nhấn mạnh Đâychính là phương diện tiêu biểu cho con người nhà nho hành đạo trong thơ văn
Hy Doãn tiên sinh
Có thể nói, quan niệm “văn chở đạo” ảnh hưởng đến đời sống văn học,đến mục đích viết văn, phạm vi đề tài, hình thức thể loại, góp phần tạo nêntính đặc thù của văn học trung đại” [64, tr.500] Tuy nhiên, quan niệm này đãchi phối gần như toàn diện văn học trung đại trong thời gian dài với nhữngmotif, công thức quen thuộc, cũ kĩ Do đó, chính sự sáo mòn trong đề tài, cảmhứng và phương thức thể hiện của nó đã “làm cho văn học nghệ thuật có phần
xa cuộc sống, ức chế tình cảm thực, thiếu khát vọng, thiếu sinh khí, thườngnhạt nhẽo, khô khan, bằng phẳng, ít cách tân, sáng tạo” [64; tr.499] Trongtình trạng ấy, văn học trung đại nước ta đã có những bước vận động, đổi mớicho phù hợp với quy luật phát triển nội tại của văn học Càng về sau, cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của văn học chữ Nôm gắn liền với các thể loại văn họcdân tộc, văn chương dần khước từ lối sáng tác “tầm chương trích cú”, “thuậtnhi bất tác” để trở về với hiện thực đời sống và tâm hồn người Việt Nhữngphạm vi đề tài mới cùng với cảm hứng mới, phương thức thể hiện mới đã thổimột làn gió mới vào văn học Nhiều đỉnh cao, thành tựu mới của văn họctrung đại Việt Nam ra đời từ đây
Về tính chất văn học, do ảnh hưởng từ quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi
dĩ ngôn chí”, trong đó, “đạo”, “chí” là những điều trang trọng, cao đẹp, nênvăn học trung đại mang đậm tính chất phi ngã, tính chất bác học cao quý vàtính chất ước lệ tượng trưng Tính chất phi ngã thể hiện ở việc cái tôi trữ tình
cá nhân của nhà văn thường được giấu đi, thay vào đó là cái ta đạo lý, nhữngvấn đề lớn lao được ưu tiên thể hiện Tính chất cao quý bác học được thể hiện
ở nhiều phương diện, từ việc chọn đề tài, nhân vật cho đến ngôn ngữ cũngphải đảm báo tính chất “cao quý”, “sang trọng” Chính điều này đã
Trang 28khiến văn chương khó đến với mọi lớp độc giả mà chỉ giới hạn trong phạm
vi tầng lớp có học, chủ yếu là vua quan, nho sĩ Thực tế, các tác giả văn họctrung đại sáng tác trước tiên là cho mình, sau đó thường là để đề tặng, ngâmvịnh, thù tạc trong phạm vi rất hẹp Đây là một trong những hạn chế của vănhọc trung đại
Bên cạnh tính phi ngã và cao quý, văn học trung đại còn mang tính chấtước lệ Đó là “tính chất tập cổ, tính quy phạm, tính công thức, sáo ngữ (trìnhthức), nghi thức, tính trang trí, gắn chặt với truyền thống, nệ truyền thống rấtnặng nề Tính tập cổ, mô phỏng các mẫu mực có trước, thích dùng điển là hếtsức phổ biến” [54; tr.60] Tính chất ước lệ của văn học trung đại được thể hiện
rõ qua việc “dùng sáo ngữ, công thức trong trần thuật, miêu tả, định danh; sửdụng chất liệu ngôn ngữ cao quý, đầy hoán dụ, ví von, định ngữ nghệ thuậtlàm cho lời văn được mĩ lệ” [54; tr.60-61] Chẳng hạn, nói đến chí làm trai,các nhà văn thường dùng các điển cố, thi liệu mang tính ước lệ như “tangbồng hồ thỉ”, “mây xanh”; nói về nỗi nhớ quê hương, cha mẹ thì dùng các ngữliệu, điển cố như “phần tử”, “mây trắng”, “cá vượt rau thuần”… Nhìn chung,tính ước lệ làm cho văn học trung đại được tiếp nhận theo một con đườngkhác Đó là con đường giải mã các mã nghệ thuật mang tính ước lệ trước khi
đi vào thế giới nghệ thuật của các tác phẩm
Những tính chất trên dẫn đến tính quy phạm của văn học trung đại.Trong các sáng tác, tính quy phạm “thể hiện trước hết ở tinh thần tôn sùng cổnhân, suy tôn kinh, thánh”, đồng thời còn bắt buộc người viết “phải tuân theokiểu mẫu đã thành công thức, khuôn khổ đã có sẵn Kiểu mẫu, khuôn khổ đó
có thể là đề tài, có thể là loại hình, có thể là thi văn liệu, mỹ từ pháp” [64;tr.502] Chính đặc điểm này, một mặt làm cho văn học trung đại trở nên môphạm, mực thước nhưng đồng thời trở nên “đơn điệu, nghèo nàn trongphương thức diễn đạt, […], xây dựng không phải trên vốn sống và cảm hứng
Trang 29văn học chân thành của tác giả mà dựa vào khuôn khổ định sẵn, tư liệu đúcsẵn, tránh sao khỏi khuôn sáo, trống rỗng”, đúng như nhận định của nhànghiên cứu Bùi Duy Tân [64; tr.503].
Tuy vậy, văn học trung đại luôn vận động, phát triển không ngừng theoquy luật nội tại của nó Bên cạnh những công thức, kiểu mẫu có sẵn, nhiều tácgiả, nhất là các tác giả ưu tú đã vượt ra bên ngoài tính quy phạm, đưa vănchương trở về gần với hiện thực đời sống và tâm hồn dân tộc Nhiều tác phẩm
có biểu hiện phá vỡ tính quy phạm trên nhiều phương diện và mức độ khácnhau đã ra đời, góp phần làm nên diện mạo đa dạng và độc đáo của văn họctrung đại Trong khuynh hướng ấy, nhiều tác phẩm đỉnh cao của văn học trungđại Việt Nam đã ra đời, đưa văn học trung đại phát triển, góp vào di sản vănchương dân tộc nói riêng, văn chương nhân loại nói chung những tác phẩmgiá trị
Nhìn chung, trong mười thế kỷ tồn tại của mình, văn học trung đại ViệtNam đã không ngừng vận động, phát triển qua từng thời kỳ Ở mỗi chặngđường đều có những tác giả, tác phẩm ưu tú, xứng đáng là đỉnh cao của nềnvăn học dân tộc Với những thành tựu to lớn đã đạt được, văn học trung đạikhông chỉ là chặng đường đầu tiên của nền văn học viết Việt Nam mà còn là
bộ phận quan trọng, không thể thiếu cấu thành nên nền văn học dân tộc Vănhọc trung đại vì thế cần được quan tâm sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến hơnnữa, bởi đây là những giá trị tinh thần của bao lớp cha ông ta để lại, là di sảnvăn hóa vô giá của dân tộc
1.2.2 Vị trí của Ngô Thì Nhậm trong tiến trình văn học Việt Nam trung đại
Không chỉ là một nhà quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao kiệt xuất ởthế kỷ XVIII, Ngô Thì Nhậm còn là nhà văn hóa lớn, nhà văn tài năng của vănhọc thời Tây Sơn nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung Trong bài
viết Ngô Thì Nhậm, một “đại tác gia” của văn học Việt Nam đăng trên
Trang 30Tạp chí Văn học, Trần Thị Băng Thanh đã có nhận định rằng: “Ngô Thì Nhậm
là một trí thức lỗi lạc của thế kỷ XVIII, có tài về chính trị, quân sự và ngoạigiao, một người có nhiều công lao trong công cuộc giữ nước và dựng nước.Riêng về văn học, ông là một tác gia lớn của Ngô gia văn phái, cũng là củanền văn học nước nhà” [61; tr.91]
Về mặt khái niệm, so với “tác giả”, “tác gia” có nội hàm hẹp hơn, chỉnhững tác giả lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học nghệ thuật Tương
tự, so với “tác gia”, khái niệm “đại tác gia” lại càng nhấn mạnh hơn Khôngphải tác giả nào cũng được tôn xưng là “tác gia” Cũng vậy, không phải tácgia nào cũng được liệt vào hàng “đại tác gia” Không phải ngẫu nhiên mà nhànghiên cứu Trần Thị Băng Thanh dành khái niệm “đại tác gia” để xác lập vịtrí của Ngô Thì Nhậm trong văn học Việt Nam Có thể nói, với sự nghiệp vănhọc đồ sộ, có giá trị nhiều mặt mà Hy Doãn đã để lại, ông xứng đáng là mộttrong những tác gia lớn của văn học Việt Nam nói chung, văn học thời trungđại nói riêng
Về giá trị của thơ văn Ngô Thì Nhậm cũng như vị trí của ông trong nềnvăn học, không phải đợi đến các nhà nghiên cứu thời hiện đại ghi nhận màngay trong thời của ông, người đương thời đã có nhiều bàn luận, nhận định vềông Tiêu biểu là Phan Huy Ích, tiến sĩ đồng khoa, anh vợ, đồng thời cũng là
người bạn tri âm của Ngô Thì Nhậm Trong bài tựa cho bộ sách Ngô gia văn
phái, Phan Huy Ích đã dành những lời hết sức trân trọng để ca ngợi tài năng
văn chương của Ngô Thì Nhậm cũng như khẳng định vị trí của ông: “Văn ông
có ý tứ diễm lệ, vừa hàm súc vừa phóng khoáng, càng ra nhiều lại càng hay,bao quát được bách gia, khu khiển được cửu lưu, tài uyên bác thông đạt, trởthành ngọn cờ chót vót giữa rừng Nho chúng ta” [26; tr.101-102] Hình ảnh ẩn
dụ “ngọn cờ chót vót giữa rừng Nho” mà Phan Huy Ích đã dùng để chỉ NgôThì Nhậm trong nền văn học Hán văn Việt Nam chính là lời khẳng định
Trang 31về tài văn hơn người cũng như vị trí nổi bật của Hy Doãn trong bộ phận vănhọc chữ Hán nói riêng, văn học trung đại nước ta nói chung.
Về vị trí của Ngô Thì Nhậm trong văn học thời Tây Sơn nói riêng, vănhọc trung đại Việt Nam nói chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập,
đi sâu phân tích Theo quan sát của chúng tôi, hầu hết các nhà nghiên cứu đềuthống nhất ở nhận định Ngô Thì Nhậm là tác giả lớn, có những đóng góp quantrọng cho sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam Ông xứng đáng đượcliệt vào hàng tác gia, bên cạnh những tác gia khác như Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, HồXuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Chúngtôi cũng hoàn toàn thống nhất với nhận định này
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ xin điểm qua một số đónggóp nổi bật làm nên vị trí của Hy Doãn trong nền văn học trung đại nước ta nóichung, văn học Việt Nam thế kỷ XVIII nói riêng Những kết luận dưới đây đượcchúng tôi kế thừa từ kết quả nghiên cứu của nhiều người đi trước
Trước hết, cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Ngô ThìNhậm để lại một di sản văn học đồ sộ với số lượng và dung lượng tác phẩmlớn, hết sức phong phú về thể loại (thơ, phú, chiếu, biểu, thư, ký, bi, văn tế,văn luận thuyết, nghiên cứu tôn giáo,…), đa dạng về đề tài, cảm hứng, bútpháp Trong giai đoạn văn học thời Tây Sơn, ông là người viết nhiều nhất.Trong suốt mười thế kỷ văn học trung đại, ông cũng là một trong những tácgiả sáng tác lớn và đa dạng nhất Đây là lí do mà Phan Thạnh trong công trình
Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Ngô Thì Nhậm khẳng định: “Ông được xem
là tập đại thành, là tổng số, là đỉnh cao của tất cả những sáng tác của nhữngngười “ra đi từ một chân trời cũ” như Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, VũHuy Tấn,…” [62; tr.29]
Trong văn học thời Tây Sơn nói chung, văn học yêu nước giai đoạn nàynói riêng, Ngô Thì Nhậm giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Đó là vai trò
Trang 32người phát động và lĩnh xướng, là người chủ soái của cả một dòng văn học.
Về vị trí này, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã có nhận định xác đáng rằng:
“Giống như Nguyễn Trãi và kế tục Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm là một nhàvăn, một nhà văn hóa Ngô Thì Nhậm, người đứng đầu dòng văn học yêunước thời đại Tây Sơn, nối tiếp chủ nghĩa yêu nước như một dòng sông chảyxuyên suốt qua các thời đại lịch sử của dân tộc, người đã cống hiến trên nhiềuthể loại văn học đặc trưng của thời đại ông” Từ đó, tác giả đi đến kết luận:
“Ngô Thì Nhậm có một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam,trước hết là văn học Việt Nam thế kỷ XVIII” [29; tr.196]
Một vị trí khác không thể không nhắc đến khi nói về Ngô Thì Nhậm đóchính là vị trí của ông trong dòng thơ sứ trình Việt Nam Như đã biết, thơ sứtrình không phải là bộ phận chủ đạo trong văn học Việt Nam nhưng đây lại làdòng thơ độc đáo của văn học dân tộc Ngô Thì Nhậm là tác giả lớn của dòngvăn học này, không chỉ bởi ông có số lượng tác phẩm viết trên đường đi sứlớn, mà còn bởi ở những giá trị đích thực của nó Dù là thơ ngâm vịnh trênđường đi công cán hay thù tạc với nhiệm vụ bang giao thì toát lên trong thơ sứtrình Ngô Thì Nhậm vẫn là cảm hứng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dântộc, phong thái ung dung đĩnh đạc của một nhà ngoại giao kiệt xuất, một vịquan hết lòng vì nước vì dân, một nhà nho chân chính với lí tưởng hành đạotốt đẹp
Đặc biệt, Ngô Thì Nhậm có vị trí quan trọng của nhà văn kế thừa, pháthuy giá trị của các thể loại văn học chức năng, sau đại văn hào Nguyễn Trãi.Đến Nguyễn Trãi, văn chính luận Việt Nam đã đạt được những thành tựu rực
rỡ mà Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập… là những áng “thiên cổ
hùng văn”, đỉnh cao của văn học chính luận nước ta Và ông được xem là nhàvăn chính luận kiệt xuất của văn học Việt Nam Sau Nguyễn Trãi, văn họchành chính không có nhiều bước phát triển Hầu hết các tác phẩm cáo, hịch,
Trang 33chiếu, biểu, bi, ký, tế,… đều quay về với chức năng hành chính của mình mà
ít có giá trị nghệ thuật Phải đến Ngô Thì Nhậm, văn học hành chức mới lại cómột bước phát triển mới Từ những tác phẩm chiếu, biểu, bi, ký, văn tế, luậnthuyết mà Hy Doãn viết dưới thời Tây Sơn, người ta nhận thấy, văn chínhluận của ông giàu tính suy lí, giàu sức hùng biện với văn phong hùng hồn, lậpluận chặt chẽ, ngôn ngữ chính xác, giàu sức thuyết phục Những thành côngtrên phương diện nội chính, ngoại giao mà Ngô Thì Nhậm đạt được một phần
là bởi sức thuyết phục mạnh mẽ từ những tác phẩm chính luận mà ông đã viết
ra Đúng như nhận định của Phan Thạnh, “riêng về thể văn từ mệnh – chínhluận, so với mấy trăm năm chỉ có ngòi bút của Ức Trai tiên sinh Nguyễn Trãi,sau Ngô Thì Nhậm, suốt thế kỷ XIX không có những áng văn kế thừa đượctinh thần và bút pháp ấy” [62; tr.31]
Ngoài ra, thơ và phú của Ngô Thì Nhậm cũng đạt được nhiều thành tựutrên nhiều phương diện, đóng góp nhất định vào tiến trình vận động và pháttriển của thơ, phú chữ Hán trong văn học trung đại Việt Nam Đặc biệt, ở thểloại phú chữ Hán, Ngô Thì Nhậm có những bài phú xuất sắc, được xem lànhững tác phẩm phú tiêu biểu của phú chữ Hán nước ta, đúng như nhận địnhcủa cố học giả Cao Xuân Huy: đó là những tác phẩm phú “đẹp đến mức tuyệtdiệu”, có thể “đặt ngang với bất cứ bài phú nào hay nhất từ xưa mà chúng tatừng đọc” [20; tr.142]
Có thể nói, nghiên cứu, xác lập vị trí của Ngô Thì Nhậm trong văn họctrung đại Việt Nam là vấn đề không hề đơn giản Tuy nhiên, từ những kết quảnghiên cứu đã đạt được, chúng ta có quyền khẳng định rằng, Ngô Thì Nhậm
là một tác giả lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học chữ Hán nói riêng,văn học trung đại Việt Nam nói chung Đây là vị trí trân trọng, xứng đáng màkhông phải người cầm bút nào cũng vinh dự có được
Trang 34Tiểu kết chương 1
Hy Doãn tiên sinh Ngô Thì Nhậm là một nhà quân sự, nhà chính trị, nhàngoại giao tài ba, đồng thời là nhà văn hóa lớn của Việt Nam ở thế kỷ XVIII.Cuộc đời ông nằm trọn trong giai đoạn lịch sử Việt Nam có nhiều biến động dữdội Cũng từ đó mà cuộc đời ông trải qua nhiều bước thăng trầm Những trảinghiệm phong phú trong thời đại đầy ba đào cùng với truyền thống gia đình hunđúc, vốn kiến văn sâu rộng, tâm hồn phóng khoáng,… là những tiền đề quantrọng cho sự nghiệp văn học đồ sộ của nhà văn, đạt những thành tựu to lớn trênnhiều phương diện, đóng góp nhất định vào sự phát triển của văn học thời TâySơn nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung Với di sản văn hóa màNgô Thì Nhậm để lại, ông xứng đáng được xem là nhà văn hóa lớn nhất của thế
kỷ XVIII, nhà văn xuất sắc nhất của văn học Tây Sơn, đồng thời là một trongnhững tác gia lớn của văn học Việt Nam thời trung đại
Trang 35CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG VÀ THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
TRONG THƠ NGÔ THÌ NHẬM2.1 Hệ thống tư tưởng
2.1.1 Tư tưởng Nho giáo
Ngô Thì Nhậm là một bậc đại nho Ông sinh ra trong gia đình có truyềnthống khoa bảng, lớn lên trong môi trường Nho giáo, được đào tạo rất bài bảntrong môi trường Nho học Ngô Thì Nhậm sáng tác bằng chữ Hán, trong môitrường văn chương Hán học Do đó, Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến ông,trong đó biểu hiện rõ nét ở phương diện sáng tác thơ văn
Khảo sát thơ Ngô Thì Nhậm, chúng tôi nhận thấy, tư tưởng Nho giáochi phối khá toàn diện đến thơ ông Điều này thể hiện trước hết ở hệ thống tưtưởng của Nho giáo được phản ánh một cách sinh động trong thơ tác giả
Một trong những tư tưởng của Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời
và thơ văn của nhiều nho sĩ, trong đó có Ngô Thì Nhậm là lí tưởng công danh.Với người nho sĩ trong thuở còn đèn sách, Nho giáo chủ trương xây dựng cho
họ lý tưởng về chí làm trai, về mộng công danh của một nam tử: cụ thể bằngviệc thi thố đỗ đạt, ra làm quan để giúp vua, cứu đời Trong văn học trung đạiViệt Nam đã có không ít nhà nho viết nhiều về chí làm trai mà Nguyễn CôngTrứ là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất Ngô Thì Nhậm cũng là mộtnhà nho nhập thế hăng say với tư tưởng về chí công danh như thế Ông cónhiều bài thơ làm trong thời kỳ mới ra làm quan thể hiện vấn đề này:
“Tang bồng chí khát hà ngôn viễn”
(Chí tang bồng đâu kể gì đường xa)Cũng như bất cứ kẻ sĩ nào, Ngô Thì Nhậm mong ước chí công danhđược toại nguyện để những lí tưởng tốt đẹp mà Nho giáo chủ trương sẽ đượcthi nhân thực hiện, phát huy:
Trang 36“Chuẩn nghĩ công hoàn ưng hậu quyếnTang bồng bất phụ thử khâm kỳ”
(Mong sao công việc được trọn vẹn, được thưởng ơn dày
Để không phụ ước nguyện tang bồng hồ thỉ)
Là kẻ sĩ chọn con đường đèn sách để thi thố, làm quan, hành đạo giúpđời, nhà nho Ngô Thì Nhậm chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng nhập thế tíchcực, lí tưởng công danh của Nho giáo chính là mộng kinh bang tế thế, tâmnguyện “thượng trí quân hạ trạch dân”, ra sức giúp dân giúp nước Trong bài
Hàm Ninh đãi dịch vãn, ông đã nói rõ chí nguyện của mình về tư tưởng này:
“Cần lao thần tử chứcHoàng thiên lưu sàn viThánh chúa hậu phong thựcĐãn nguyện hằng khôn trinhThử sinh đới thiên đức”
(Cần lao vẫn là chức phận của bầy tôi / Trời còn lưu lại tấm thân nhỏ mọn /Thánh chúa có lòng vun trồng / Chỉ mong mãi mãi giữ đức trinh thuận / Kiếpnày đội ân đức nhà vua)
Là một bậc túc nho đọc rộng biết nhiều, Ngô Thì Nhậm am hiểu sâu sắc
về Nho giáo Ông nắm vững hệ thống tư tưởng của Nho giáo và thể hiện nómột cách linh hoạt trong các tác phẩm Chẳng hạn, những vấn đề về thiênmệnh, đạo nghĩa con người mà các kinh sách thánh hiền Nho gia luôn nhấnmạnh, đề cao được nhà thơ thể hiện một cách cô đọng, súc tích trong hai câu
đề của bài Họa thân thúc công:
“Thánh hiền mô huấn tại thiên luân
Dã hữu đôn thiên, dã tự nhân”
(Giáo huấn của thánh hiền ở chỗ sáng rõ đạo lý
Có tôn trọng đạo trời, có thứ tự nghĩa người)
Trang 37Tuy nhiên, phần lớn tư tưởng Nho giáo trong thơ Ngô Thì Nhậm đềuđược tác giả diễn đạt, thể hiện một cách cụ thể, sinh động bằng một hình thứcgiàu hình ảnh, ẩn dụ Chẳng hạn, những vấn đề luân lí “tam cương ngũthường” trong tư tưởng Nho giáo đã được nhà thơ diễn đạt lại một cách đầyhình ảnh và cảm xúc qua những vần thơ viết về vua, cha, vợ con, đồng liêu,bằng hữu,… Qua những bài thơ này, người đọc sẽ nhận ra ở Ngô Thì Nhậmmột con người nhà nho thấm nhuần tư tưởng của đạo Khổng nhưng cũng thậtgiàu tình cảm, tâm hồn Ví như, ông có nhiều bài thơ viết hay và cảm động vềvua Quang Trung Trong đó, có nhiều bài đã thể hiện một cách sâu sắc về đạoquân thần, nghĩa vua tôi gắn bó giữa ông với vị hoàng đế tài năng của dân tộc:
“Nhất tự Kiều Sơn mật bát âmKim liên ngự chúc tuyết hoa trầmCửu công thất đức lưu hoàng vũBách tích quần công ngưỡng hiển lâmThanh miếu đài đầu quân hán nhĩĐan lăng thức mục tử vân thâmChỉ kim pháp khúc trần huyền hối
Lệ lạc hàm ưu dạ dạ tâm”
(Sóc vọng thị tấu nhạc thái tổ miếu cung ký)
(Từ lúc Kiều Sơn bát âm im bặt / Đài sen, nến ngự chìm ngập tuyết hoa / Chíncông, bảy đức còn lưu múa Hoàng vũ / Nơi Thanh miếu ngẩng đầu miền quânhán gần gũi / Chốn Đan lăng, ngước mắt áng tử vân âm u / Gặp nay nhạc phápkhúc trình diễn ngày tuần tiết / Nhỏ nước mắt, tấm lòng đêm đêm ngậm ngùinỗi buồn đau)
Đây là bài thơ Ngô Thì Nhậm viết trong ngày sóc vọng khi vua QuangTrung đã băng hà trong nỗi buồn đau tiếc nhớ Bài thơ tuyệt nhiên khôngdùng những thuật ngữ của Nho giáo để thể hiện cho tư tưởng quân thần nhưng
Trang 38qua những ngữ liệu, điển cố cùng cảm xúc chân thành, sự ngợi ca của nhà thơ,người đọc có thể cảm nhận được một cách sâu sắc, xúc động về nghĩa vua tôi,đạo quân thần mà Nho giáo chủ trương.
Có thể nói, Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời, sự nghiệp chínhtrị và văn học của Ngô Thì Nhậm Trong thơ của ông, Nho giáo để lại dấu ấnđậm nét trên nhiều phương diện, từ việc truyền tải tư tưởng của đạo Khổngđến việc lựa chọn đề tài, sử dụng thi liệu, ngôn từ… Nhiều tư tưởng chủ đạocủa đạo Nho đã được nhà thơ diễn đạt, truyền tải, thể hiện một cách sinhđộng, linh hoạt Nhìn chung, tác giả không đơn thuần “chở đạo”, truyền đạt tưtưởng Nho giáo một cách khô khan, cứng nhắc Phần lớn những tư tưởng củaNho gia được nhà thơ diễn đạt thông qua một hình thức thể hiện giàu hình ảnhcùng nội dung giàu cảm xúc Tư tưởng Nho giáo vì thế hiện lên trong thơ NgôThì Nhậm một cách tự nhiên, sâu sắc, để lại được những ấn tượng sâu đậmtrong lòng người đọc
2.1.2 Tư tưởng Phật giáo
Như đã trình bày, Ngô Thì Nhậm vốn xuất thân từ cửa Khổng sânTrình Ông học hành, vào đời với tư thế một nhà nho nhập thế tích cực Tuynhiên, Ngô Thì Nhậm cũng sống trong một thời đại mà xã hội có quá nhiềubiến động, nhiều giá trị của Nho giáo bị đảo lộn Chí công danh, lý tưởng tu tềtrị bình của ông vì thế cũng không được thực hiện triệt để Nhiều lúc, nhà thơrơi vào bế tắc trong tư tưởng Rồi trên những chặng đường của cuộc đời vàngã rẽ của số phận, ông đã tìm đến với Phật giáo như một lẽ tất yếu
Từ rất sớm, Ngô Thì Nhậm đã được tiếp xúc với Phật giáo Cha ông, cụNgô Thì Sĩ, một người “cư Nho mộ Thích”, là người có ảnh hưởng đến NgôThì Nhậm về nhiều mặt, trong đó có văn chương và tư tưởng Phật học Nhà
nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh đã khẳng định điều này trong bài viết Ngô
Trang 39Thì Nhậm – một tấm lòng thiền chưa viên thành: “Một nét ảnh hưởng đậm
nữa của Ngô Thì Nhậm ở cha là tư tưởng về Phật giáo” [59; tr.10]
Từ khi ra làm quan, Ngô Thì Nhậm đã có tình cảm tốt đẹp với Phậtgiáo Ông từng có những nhận xét xác đáng về vị trí của đạo Phật trong lòngdân tộc Việt, chẳng hạn: “Đạo Phật đó rất gần với người nên người ta yêu mến
mà phụng thờ” [59; tr.12] Tuy nhiên, phải đến khi về Thái Bình lánh nạn, lúc
đã nhận ra được những hủ bại của triều đại phong kiến đương thời cùngnhững hạn chế của Nho học, Ngô Thì Nhậm mới thực sự tìm đến với đạo Phật
và trở thành đệ tử cửa Thiền “Những ngày tháng lánh nạn chính là khoảngthời gian Ngô Thì Nhậm bước chân vào cửa Phật Ông nghiên cứu Phật giáo,đặc biệt là tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã giúp ông thoát khỏinhững bế tắc trong tư tưởng của mình” [62; tr.22]
Ngô Thì Nhậm tìm đến với cửa Phật không chỉ với tư cách một đồ đệ,một Phật tử bình thường Ông còn là một thiền sư, một người nghiên cứu
nghiêm túc và chuyên tâm về Phật học Bộ sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên
thanh là một trong những công trình nghiên cứu về Phật giáo công phu và đạt
được những thành tựu quan trọng, có vị trí nhất định trong lịch sử nghiên cứuPhật giáo ở Việt Nam thời trung đại Rõ ràng, không chỉ có tình cảm tốt đẹpvới Phật giáo, Ngô Thì Nhậm còn am hiểu một cách sâu sắc về giáo lí và tưtưởng nhà Phật Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến quan niệm nghệ thuật
và thực tiễn sáng tác của ông là điều tất yếu
Như vậy, từ một môn đồ cửa Khổng sân Trình, Ngô Thì Nhậm trở thành
đệ tử cửa Phật, từ việc chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, ông đã chấpnhận tư tưởng Phật giáo một cách tự nhiên và nghiên cứu về nó một cách kỹlưỡng Do đó, Phật giáo chi phối lớn đến cuộc đời và sự nghiệp sáng tác củaông Hệ tư tưởng này đã trở thành một trong những mạch nguồn tư
Trang 40tưởng chủ đạo, chảy xuyên suốt hành trình sáng tác của thi nhân, để lại dấu ấnđậm nét trong thơ văn Hy Doãn.
Một trong những tư tưởng Phật giáo trở thành cảm thức và được thểhiện nổi bật trong thơ Ngô Thì Nhậm là tư tưởng về sự vô thường Phật giáoquan niệm, vạn vật trên đời đều nằm trong quy luật “thành - trụ - hoại -không”, mọi thứ rồi sẽ biến đổi, không có gì là vĩnh viễn Từ thực trạng xã hộivới những thịnh suy, thăng trầm của các triều đại, Ngô Thì Nhậm nhận thức
và cảm nghiệm được điều này và thể hiện nó một cách giàu hình ảnh quanhững hình tượng ẩn dụ độc đáo trong nhiều thi phẩm, chẳng hạn trong bài
Cảo thành:
“Xích phục trình phù sự dĩ phi
Cổ thành lao lạc thảo uy diPhú lâu ngõa lịch kim thiên tảiGiáp đệ ca chung bỉ nhất kỳBắc Thượng trần đồ thành cổ kínhĐông Quang đài triện ủy tàn biĐại đô thịnh vãn đương nhiên sựKhước tiễn Đồng Giang bách xích ti”
(Xích phục phù xưa nay còn đâu / Chỉ còn tòa thành tiêu điều dưới cỏ rậm /Chòi canh ngói vụn đã hàng ngàn năm nay / Lầu gác đàn ca chỉ một thời củathuở ấy / Đường bụi trần Bắc Thượng gió thành lối cũ / Rêu phủ chữ triệnĐông Quang giờ còn lại tấm bia tàn / Tóm lại, thịnh suy đều là chuyện đươngnhiên / Đáng khen sợi tơ trăm thước ở Đồng Giang)
Cùng với vạn vật vô thường, đạo Phật cũng chỉ ra rằng kiếp nhân sinhtrong thế cuộc cũng chỉ là huyễn mộng Đời người như ánh chớp, có đó rồi tắt
ngay (Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, thiền sư Vạn Hạnh) “Vũ trụ nằm trong
vòng thành trụ hoại – không, còn con người nằm trong vòng sinh lão