1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kinh tế du lịch ninh bình

129 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 731,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững ngành du lich, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “ Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Văn Thông

Hà Nội – Năm 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 1

Chương 1 : Du lịch ngành Kinh tế quan trọng trong nền KTQD -Những vấn đề lý luận và thực tiễn 6

1.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch 6

1.1.1 Khái niệm về du lịch và lịch sử ngành kinh doanh du lịch 6

1.1.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch 9

1.2.3 Các loại hình du lịch 11

1.2 Vai trò của ngành du lịch trong nền KTQD 15

1.2.1 Du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước 15

1.2.2 Du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển 17

1.2.3 Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động 18

1.2.4 Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ KTQT 19

1.3 Khái quát tình hình phát triển du lịch Việt Nam 21

1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành Du lịch 21

1.3.2 Tình hình phát triển ngành du lịch Việt Nam 24

1.4 Kinh nghiệm phát triển ngành du lịch ở một số địa phương ở nước ta 28

1.4.1 Kinh nghiệm của Thủ đô Hà Nội 28

1.4.2 Kinh nghiệm của Hải Phòng 30

1.4.3 Kinh nghiệm của Quảng Ninh trong phát triển du lịch 31

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình 36

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch Ninh Bình 36

2.1.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên, KT -XH tác động đến sự phát triển du lịch NB 36

Trang 3

2.2 Đặc điểm chung về tình hình phát triển ngành du lịch Ninh Bình 47

2.2.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch 47

2.2.2 Đặc điểm cơ sở vật chất và đầu tư phát triển ngành du lịch 55

2.2.3 Lực lượng lao động tham gia trong ngành du lịch 61

2.3 Thực trạng các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 65

2.3.1 Kinh doanh khách sạn, nhà hàng 65

2.3.2 Kinh doanh du lịch lữ hành 69

2.3.3 Kinh doanh vận chuyển hành khách 73

2.4 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh du lịch Ninh Bình 76

2.4.1 Những kết quả đạt được 76

2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79

2.4.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm phát triển mạnh KTDL Ninh Bình 81

Chương 3: Định hướng và Giải pháp phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 83

3.1 Định hướng phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 83

3.1.1 Các quan điểm cơ bản 83

3.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 84

3.1.2.1 Định hướng chung trong phát triển ngành du lịch Ninh Bình 84

3.1.2.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2010 và 2020 86

3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 88

3.2.1 Về phía Nhà nước 88

3.2.1.1 Công tác quản lý quy hoạch các hoạt động du lịch 88

3.2.1.2 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh doanh du lịch 93

3.2.1.3 Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực 97

Trang 4

3.2.1.4 Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch Ninh Bình 99

3.2.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 1013.2.2.1 Đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và dịch vụ du

lịch 1013.2.2.2 Đẩy mạnh liên kết và hợp tác trong hoạt động kinh doanh du lịch 1053.2.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền và quảng cáo cho các hoạt động

du lịch 106

Kết luận 109 Danh mục TLTK 111

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nướctrên Thế giới Kinh doanh du lịch cũng có lịch sử hơn 150 năm qua Nếu được

tổ chức kinh doanh và phát triển tốt thì đây là một trong những ngành kinh tếnăng động nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho mỗi quốc gia

Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững ngành du lich, Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “ Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ

sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch

sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực”.[42]

Có thể thấy, để phát triển du lịch thì việc khai thác tiềm năng du lịch cóhiệu quả là rất cần thiết Trên thế giới, về lý luận tiềm năng du lịch đã đượcnghiên cứu tương đối cụ thể Các nước có nền công nghiệp du lịch phát triểnnhư Mỹ, Pháp, Thái Lan, Nhật Bản đã có rất nhiều thành công trong việckhai thác tiềm năng du lịch nhằm phát triển du lịch Đối với những nước đangphát triển, nhất là những nước nghèo, nhỏ như Việt Nam thì việc khai tháctiềm năng du lịch tuy đã có cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, dulịch vẫn chưa thực sự trở thành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân

Hoà nhập chung vào xu thế phát triển chung của cả khu vực và thếgiới, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện và sự nghiệp công nghiệp hoá,một hình ảnh Việt Nam hấp dẫn ngày càng thu hút khách du lịch bốn phương,

du lịch đang phấn đấu để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn

Ninh Bình một vùng đất được hình thành từ rất lâu đời, nằm ở phíaNam đồng bằng sông Hồng, nơi tiếp giáp và ngăn cách với phía Bắc miền

Trang 7

Trung bởi dãy núi Tam điệp hùng vĩ đã đi vào lịch sử Ninh Bình có nhiềutiềm năng du lịch: Cùng với cố đô Hoa Lư, Ninh Bình còn có nhiều địa danh

di tích lịch sử văn hoá khác như: núi Dục thuý, chùa Non nước, nhà thờ đáPhát Diệm - một kiến trúc độc đáo; Và hàng loạt thắng cảnh như Tam Cốc -Bích Động, Địch Lộng, Vân Long, rừng Quốc gia Cúc Phương, được gọi làngôi nhà thiên nhiên với nhiều loại động thực vật quý hiếm Với những danhlam thắng cảnh nổi tiếng có tầm cỡ như thế, song đến nay du lịch Ninh Bìnhvẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng phong phú về du lịch của mình,chưa thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh

Điều đó đặt ra cho du lịch Ninh Bình phải đánh giá đúng thực trạng củangành và phải có những giải pháp đúng hướng để khai thác triệt để tiềm năngsẵn có và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, nhằm góp phần thúc đẩyngành du lịch Ninh Bình phát triển bền vững, hoà nhập với trào lưu phát triển

du lịch của khu vực và trên Thế giới, thực hiện đúng vai trò của ngành du lịchtrong xây dựng và phát triển của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đạihoá đất nước

Với những lý do trên Tôi đã chọn đề tài: “Phát triển kinh tế du lịchNinh Bình" làm đề tài luận văn cho mình

2) Tình hình nghiên cứu đề tài:

Ở Việt Nam, hoạt động du lịch trở nên nhộn nhịp vào thập niên 90 củathế kỷ XX trở lại đây Việc nghiên cứu về du lịch cũng phát triển ngày càngđậm nét theo thời gian Cụ thể, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu các hoạt động du lịch dưới nhiều khía cạnh khác nhau như:

- "Kinh tế du lịch và du lịch học"( 2001) của Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình;

Trang 8

- "Kinh tế du lịch" (2006) của GS.TS Trần Văn Đính và TS Trần Thị Minh Hòa ;

- "Thị trường du lịch" (1998) của Nguyễn Văn Lưu;

- " Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch và dịch vụ dulịch chất lượng cao, trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế" (2003) - đề tàinghiên cứu khoa học của Lê Thị Lan Hương;

- " Nghiên cứu thống kê hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch (2005) của TS Trần Thị Kim Thu

Tất cả đều có những giá trị nhất định về lý luận và thực tiễn

Cùng với xu hướng phát triển du lịch của cả nước, ở phạm vi tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch như:

- " Đất ngập nước Vân Long" ( 2004) của GS.TS Vũ Trung Tạng

- " Dự án qui hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình" ( 2005) của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch

- "Tiềm năng khu du lịch sinh thái Vân Long góp phần phát triển du lịch Ninh Bình"(2006) của Sở Du lịch Ninh Bình

- "Mở rộng khu du lịch Tam Cốc - Bích Động để phát triển du lịch khu vực"( 2006) của Võ Quế - Viện nghiên cứu phát triển du lịch

- "Sáng tác mẫu mã thuyền vận chuyển du lịch Ninh Bình" của Sở Du lịch Ninh Bình

- “ Nghiên cứu thử phương tiện vận tải thuỷ đưa đón khách tham quan

du lịch tại các điểm du lịch Ninh Bình” đề tài khoa học của PTS Trịnh QuangHảo

Trang 9

- “ Nghiên cứu quy định tạm thời quản lý khai thác và bảo vệ tàinguyên môi trường du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” đề tài khoa học củaPTS Trịnh Quang Hảo

Tuy nhiên, những đề tài trên mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đóchứ chưa phân tích sâu thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình

Do đó, đề tài được nghiên cứu với mong muốn góp một phần nhỏ bégiải quyết vấn đề khai thác tiềm năng du lịch một cách hợp lý và có hiệu quảnhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình

Việc chọn đề tài luận văn không trùng với các công trình nghiên cứu đãthực hiện trước đó

3) Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu luận văn:

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triển ngành kinh tế

du lịch ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Ninh Bình Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 1995 cho đến nay

Tuy nhiên, luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số tỉnhthành trong nước để làm cơ sở, kinh nghiệm cho quá trình nghiên cứu du lịchcủa Tỉnh

4) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

- Mục đích: Từ việc nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế du lịchNinh Bình tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quảtiềm năng du lịch ở Ninh Bình góp phần thúc đẩy kinh tế du lịch Ninh Bình phát triển trong những năm tới

- Nhiệm vụ của luận văn: Từ mục đích trên, các nhiệm vụ cụ thể được xác định là:

Trang 10

+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch.

+ Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bìnhtrong thời gian qua, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế,nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm khai thác tốt tiềmnăng du lịch Ninh Bình

+ Xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp có khảnăng thực thi nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch Ninh Bình từ nay đến năm

2010 và những năm tiếp theo

5) Phương pháp nghiên cứu:

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của CNDV biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu sự phát triển của một ngành kinh tế

- Luận văn cũng đã sử dụng một cách có hệ thống các phương pháp cụthể trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh,tổng hợp và khảo sát thực tế

6) Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về hoạt động du lịch, từ đó khẳngđịnh được du lịch là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốcdân

- Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở Ninh Bình, luậnvăn đã chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế trong hoạt độngkinh doanh du lịch ở Ninh Bình thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế

du lịch Ninh Bình trong thời gian tới

7) Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Du lịch ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốcdân- Những vấn đề lý luận và thực tiễn.

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành kinh tế du lịchNinh Bình

CHƯƠNG 1: DU LỊCH NGÀNH KINH TẾ QUAN TRỌNG TRONG NỀN KTQD- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch và lịch sử ngành kinh doanh du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sởthích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đãtrở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá của cácnước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tếquan trọng hàng đầu của nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi

là một ngành công nghiệp – “công nghiệp du lịch” và hiện nay ngành “côngnghiệp” này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô Đối với các nước đangphát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu củaquốc gia

Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội Trong qúa trình phát triển, nộidung hoạt động của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú Tuynhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta, khái niệm “du lịch” vẫn chưa thốngnhất Do hoàn cảnh( thời gian, khu vực) khác nhau dưới mỗi góc độ nghiêncứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch cũng khác nhau Đúngnhư giáo sư, Tiến sỹ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế

Trang 12

giới đã nhận định: “ Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì cóbấy nhiêu định nghĩa" [9 Tr 9] Tuy chưa có một nhận thức thống nhất về kháiniệm “du lịch”, song thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế xã hộicũng như trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thốngnhất khái niệm “du lịch” giống như một số khái niệm cơ bản khác về du lịch

là một đòi hỏi cần thiết

Khái niệm “du lịch” đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Từ xa xưa, loài người đã khởihành với nhiều lý do khác nhau như: vì lòng ham hiểu biết về thế giới xungquanh, vì lòng yêu thiên nhiên, vì để học ngoại ngữ Mầm mống đầu tiên củahoạt động kinh doanh du lịch bắt đầu xuất hiện từ cuộc phân chia lao động xãhội lần thứ hai( lúc ngành thủ công nghiệp xuất hiện) và sau đó tách ra khỏingành Nông nghiệp truyền thống Biểu hiện của hoạt động kinh doanh du lịchtrở nên rõ hơn khi ngành thương nghiệp xuất hiện vào thời đại chiếm hữu nô

lệ, tức là vào giai đoạn có sự phân chia lao động lần thứ 3 của xã hội loàingười Vào đầu thế kỷ 17, bắt đầu diễn ra cuộc cách mạng về giao thông trênthế giới - đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi, kim loại ngày càng có mặtnhiều hơn trong ngành đường sắt, đóng tàu và công nghiệp sản xuất ô tô Chỉsau một thời gian ngắn ở Châu Âu và Châu Mỹ mạng lưới đường sắt đã đượchình thành Nhiều tàu lớn nhỏ, hiện đại đi lại khắp các biển và vịnh trên thếgiới Giao thông trở thành nguyên nhân chính và điều kiện vật chất quan trọnggiúp cho việc phát triển các cuộc khởi hành của con người Đến thế kỷ 19khách du lịch chủ yếu đi lại tự túc, ít gây phiền hà cho dân bản xứ Muộn hơn,khi du lịch trở thành hiện tượng đại chúng, bắt đầu nảy sinh ra hàng loạt vấn

đề về việc đảm bảo chỗ ăn, ở, chỗ ngủ cho những người tạm sống ở ngoài nơi

cư trú thường xuyên của họ Lúc này bắt đầu xuất hiện nghề mới trong dânchúng tại các vùng du lịch như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, môi giới,

Trang 13

hướng dẫn du lịch….Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ du lịch như kháchsạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát… cùng các tổ chức du lịch và đội ngũphục vụ du lịch lần lượt ra đời Từ giữa thế kỷ 19 du lịch mới thực sự trởthành một hiện tượng đại chúng và lặp đi lặp lại đều đặn Đó là lý do giảithích tại sao khoa học du lịch ra đời muộn hơn một số ngành khoa học khác.Như vậy, Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến, đã córất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch.

Trong số những học giả đưa định nghĩa nhắn gọn nhất (tuy không phải làđơn giản nhất) phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện Theo Ausher thì "dulịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân", còn viện sỹ Nguyễn Khắc Viện lạiquan niệm rằng "du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người"[31 Tr8] Trong các từ điển Tiếng Việt, du lịch được giải thích là đi chơi chobiết xứ người

Trong cuốn du lịch và kinh doanh du lịch của PTS Trần Nhạn thì "du lịch

là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác vớimục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặcsắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tínhbằng đồng tiền" [16]

Tiếp cận trên giác độ người kinh doanh du lịch thì du lịch là qúa trình tổchức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhucầu của người đi du lịch Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơhội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra, nhằm thoả mãn các nhu cầu củakhách, đồng thời qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hoá lợinhuận

Định nghĩa về du lịch trong từ điển Bách khoa quốc tế về du lịch do việnHàn lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản: “ Du lịch là tập hợp các hoạt

Trang 14

động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một côngnghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch”.

Định nghĩa của hội nghị quốc tế và thống kê du lịch ở Otawa, Canadadiễn ra vào tháng 6/1991: “ Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơingoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảngthời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đikhông phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tớithăm.” [9 Tr19]

Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,khoa du lịch và Khách sạn ( trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội ) đã đưa

ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động dulịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây: " Du lịch làmột ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sảnxuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứngcác nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu các nhu cầukhác của khách du lịch.”

Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại Điều 10 thuật ngữ “Du lịch”được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trúthường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉdưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thànhphần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch cóđặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá xã hội Trênthực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không chỉ đem lại lợi ích kinh tế, màcòn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội…Ở nhiều nước trên thế giới, ngành dulịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong

Trang 15

nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng giá trị sản phẩm xã hội.

1.1.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch

Du lịch là một ngành đặc biệt từ sản phẩm đến phương thức kinh doanh

và tính chất hoạt động Do đó, khi tìm hiểu các khái niệm chung về du lịchchúng ta cũng phải tìm hiểu sản phẩm của du lịch và những nét đặc trưng cơbản của nó

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách đượctạo nên bởi sự kết hợp của viêc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc

sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, mộtvùng hay một quốc gia nào đó

Như vậy, Sản phẩm du lịch bao gồm:

+ Dịch vụ du lịch là một phần của lao động sống trong ngành du lịch đểphục vụ khách như: hướng dẫn tham quan, lưu trú, vận chuyển, chăm lo sứckhoẻ, vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung khác…

+ Các hàng hoá trong du lịch: là nhưng hàng hoá thông thường, tặng phẩm, đồ lưu niệm, và các đặc sản

+ Tiện nghi du lịch: là tổng thể các điều kiện thuận tiện phục vụ chokhách Gồm: tiện nghi trong phòng, phương tiện thông tin liên lạc, chất lượngvận chuyển, thủ tục Hải Quan…Đó là kết hợp cộng đồng trách nhiệm củanhiều cơ quan thuộc các lĩnh vực khác nhau

+ Tài nguyên du lịch: là nhân tố hàng đầu có liên quan sức hấp dẫn với

du khách và là điều kiện cần để có hoạt động trong du lịch, gồm: cảnh quanthiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình laođộng sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch

Trang 16

Với cấu thành sản phẩm rất đặc biệt như vậy, sản phẩm du lịch cũng có những đặc điểm khác với các sản phẩm vật chất hay dịch vụ khác, cụ thể:+ Sản phẩm du lịch được tạo ra bởi sự tổng hợp các nguồn kinh doanh khác nhau: khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, dịch vụ…

+ Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện đồng thời, tại chỗ, không mang đi trưng bày hoặc tiêu thụ ở nơi khác được

Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng trừu tượng, không lưukho lưu bãi được(1 đêm ngủ, 1 chỗ ngồi…) Giống như các sản phẩm dịch vụkhác, sản phẩm du lịch không bán được thì mất giá trị chứ không để dànhtrong kho hoặc cất giữ được Chính đặc điểm này làm cho tính thời vụ tronghoạt động kinh doanh du lịch càng đậm nét

Sản phẩm du lịch thường được bán trọn gói với các loại hình, các tuyếnđiểm với các tiện nghi khác nhau

+ Sản phẩm hàng hoá trên thị trường du lịch khá đa dạng và vượt khỏikhuôn khổ khái niệm hàng hoá Đây là đặc điểm rất đặc biệt của sản phẩmhàng hoá du lịch Ngoài đặc điểm hàng hoá thông thường, còn có cả nhữngthành phần mà bản thân nó không có tính chất hàng hoá hay dịch vụ ( nhưcảnh quan thiên nhiên, bầu không khí, môi trường…); những hàng hoá nàybán rồi mà vẫn còn nguyên giá trị sử dụng hoặc chỉ hao tổn ít; những hànghoá này nếu không được tiêu dùng thì sẽ không có giá trị, tiêu dùng càngnhiều càng có giá trị

Do vậy để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn.Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùngquan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch Việc tiêu dùng sản phẩm dulịch thường diễn ra không đều đặn, mà chỉ tập trung vào những thời gian nhấtđịnh trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần, trong

Trang 17

năm Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính thời

vụ Sự dao động ( về thời gian ) trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc

tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh củacác nhà kinh doanh du lịch Khắc phục tính mùa vụ trong du lịch luôn là vấn

đề bức xúc trong lĩnh vực kinh doanh du lịch

1.1.3 Các loại hình du lich:

Ngành kinh tế du lịch được hình thành và phát triển khi nghề tiểu thủcông được tách khỏi sản xuất nông nghiệp Ở thời Cổ Đại loại hình du lịchphổ biến là du lịch tôn giáo với nhu cầu tín ngưỡng, hàng ngàn người đã hànhhương tới các đền chùa, nhà thờ, thánh địa Đến thời Trung Đại xuất hiện cáchình thức du lịch công vụ, du lịch tham quan của các tầng lớp quí tộc, cácchính khách, thương gia Sang thời kỳ Cận Đại khoa học kỹ thuật đã có nhữngbước phát triển đáng kể thì du lịch cũng phát triển nhanh chóng Song phầnlớn du khách mới chỉ là tầng lớp thượng lưu và trung lưu

Đến thời kỳ khoa học công nghệ phát triển cao, đặc biệt từ sau chiếntranh thế giới thứ 2 đến nay đã thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển nhanhchóng Du lịch đã trở thành phổ biến trong đời sống của con người và ngàycàng phát triển đa dang phong phú Tuy nhiên để có thể đưa ra các định hướng

và chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về du lịchcũng như các nhà quản trị Doanh nghiệp du lịch cần phân du lịch thành cácloại hình du lịch khác nhau Có nhiều tiêu chí để phân chia các loại hình dulịch

* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch Theo tiêu thức này,

du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa

- Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau

Trang 18

- Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.

* Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch thì du lịch được phân thành những loại sau:

- Du lịch chữa bệnh: Đi du lịch để chữa một căn bệnh nào đó, gắn liềnvới nghỉ ngơi tại các trung tâm chữa bệnh bên các nguồn nước khoáng vàkhung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu thích hợp

- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Xuất phát từ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí đểphục hồi sức khoẻ Đây là loại hình có tác dụng thư giãn

- Du lịch thể thao: Xuất phát từ sự ham mê thể thao, gồm du lịch thể thaochủ động tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao như: leo núi, câu cá,bơi thuyền, săn bắn

- Du lịch văn hoá: Đáp ứng nhu cầu hiểu biết thích nâng cao tìm hiểunghiên cứu lịch sử, kiến trúc, danh lam thắng cảnh, chế độ xã hội, kinh tế, vănhoá, phong tục tập quán của nơi đến du lịch

- Du lịch công vụ: Với mục đích chính nhằm thực hiện nhiệm vụ côngtác Tham gia loại hình này là khách đi dự các hội nghị, hội thảo và dự các lễ

- Du lịch theo đoàn: ở loại hình này, các thành viên tham dự đi theo đoàn

và thường có chuẩn bị chương trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽtới thăm, nơi lưu trú và ăn uống

Trang 19

- Du lịch cá nhân: Cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của tổchức du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác Khách du lịch khôngphải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo vàchuẩn bị trước Tuy nhiên, các cá nhân vẫn co thể đi du lịch tự do mà khôngcần thông qua tổ chức du lịch nào.

* Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng, du lịch được phânthành:

- Du lịch bằng xe đạp: loại hình này phổ biến ở các nước phát triển và cóđịa hình khá bằng phẳng như áo, Hà Lan, Đan Mạch Du lịch bằng xe đạpthường tổ chức từ một đến ba ngày, thường tổ chức vào cuối tuần và đếnnhững điểm du lịch gần

- Du lịch bằng tàu hoả: Loại hình này xuất hiện từ giữa thế kỷ trước và

có chi phí giao thông thấp, nên không phù hợp với nhiều tầng lớp xã hội

- Du lịch bằng máy bay: là một trong những loại hình tiên tiến đáp ứngnhu cầu của khách du lịch trong nước, những vùng xa xôi và có mức sốngcao

Tuy nhiên du lịch máy bay có nhược điểm giá thành cao, nên không phù hợp với tầng lớp xã hội có thu nhập thấp

* Căn cứ vào thời gian đi du lịch phân thành:

Trang 20

- Du lịch dài ngày: Diễn ra vào các kỳ nghỉ phép năm, nghỉ hè hoặc nghỉđông và kéo dài một tuần đến vài tuần thực hiện các chuyến đi thăm nhữngđiểm du lịch ở xa, du lịch nghỉ ngơi hay du lịch văn hoá.

- Du lịch ngắn ngày: Thường kéo dài đến 3 ngày và vào cuối tuần, phát triển nhiều ở những nước có chế độ làm việc 5 ngày: Anh, Pháp, Mỹ

* Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch được phân thành:

1.2 Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân

1.2.1 Du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin,

du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng đối với mỗi quốcgia Ngày 3 và ngày 5 tháng 11 năm 1994 tại OSAKA Nhật Bản, Hội nghị Bộtrưởng du lịch thế giới có các đoàn đại biểu của 78 nước và vùng, 18 chínhquyền địa phương và 5 quan sát viên Điểm 2 phần I của tuyên bố du lịchOSAKA khẳng định: " Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm thếgiới, chiếm 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ

Trang 21

thuế liên quan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao Những sự gia tăng nàycùng với các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng mộtcách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trongthế kỷ XXI" [9 Tr 51].

Trước hết, Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốcdân ( sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vậtchất kỹ thuật ) làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội Du lịch mang lại thunhập ngày một lớn cho xã hội và tham gia tích cực vào quá trình phân phối lạithu nhập quốc dân Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phầnkinh tế và mọi tầng lớp nhân dân mang lại thu nhập không chỉ cho những đốitượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà còn gián tiếp đối với các ngành liênquan, tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương Tốc độ tăng nhanh vềthu nhập có thể thấy rõ là năm 1990 thu nhập xã hội của cả nước từ du lịchmới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004 con số đó đã là 26.000 tỷ đồng, gấp

Du lịch còn có tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dânthông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cânthanh toán quốc tế Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàubiển, bưu điện quốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàngnăm đem lại cho các quốc gia nhiều ngoại tệ Đây là vai trò trực tiếp nhất của

Trang 22

du lịch đối với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã thuhàng tỷ USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch.

Du lịch còn là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất trong nền kinh

tế Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, dulịch là một ngành " xuất khẩu tại chỗ " những hàng hoá công nghiệp, hàngtiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, lâm sản theo giá bán lẻ caohơn (nếu như bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn) Được trao đổi thôngqua con đường du lịch các hàng hoá xuất khẩu mà không phải chịu hàng ràothuế quan mậu dịch quốc tế Du lịch còn là ngành "xuất khẩu vô hình" hànghoá du lịch Hai hình thức xuất khẩu này đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn rấtnhiều, do tiết kiệm được đáng kể chi phí đóng gói bao bì, bảo quản và thuếxuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi suất cao do nhu cầu dulịch là nhu cầu cao cấp có khả năng thanh toán

Du lịch còn có vai trò khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Quy luật có tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thếgiới hiện nay, là giá trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổngsản phẩm xã hội và trong số người có việc làm Do vậy các nhà kinh doanh đitìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn sovới nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu

tư vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải

mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp

1.2.2 Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp các sản phẩm du lịch được tạo rakhông đơn thuần là của ngành du lịch mà còn là sự kết hợp của các ngànhkhác Chẳng hạn, muốn có các cơ sở lưu trú thì phải có ngành xây dựng; cóđược các bữa ăn cung cấp cho du khách là phải có ngành nông nghiệp, ngành

Trang 23

công nghiệp chế biến Do đó, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợliên ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành là cơ sở cho các ngành khác (nhưgiao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, hải quan,hàng không ) phát triển, đối với nền sản xuất xã hội du lịch mở ra một thịtrường tiêu thụ hàng hoá Mặt khác, sự phát triển du lịch tạo ra các điều kiện

để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanhtrong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác.Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạnglưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tinđại chúng Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu

đi lại, vận chuyển thông tin liên lạc của khách du lịch, cũng như những điềukiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này pháttriển Tuy nhiên, khách không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà trước đó và sau

đó khách có nhu cầu đi lại giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó ngành giaothông vận tải phát triển

Hoạt động du lịch còn tạo thêm nguồn thu để tôn tạo trùng tu các di tích,

di sản và nâng cao ý thức trách nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hoá vậtthể và phi vật thể; khôi phục lễ hội, làng nghề truyền thống, truyền tải giá trịvăn hoá đến các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế tạo thêm sức hấp dẫnthu hút khách du lịch Thông qua du lịch các ngành kinh tế - xã hội khác pháttriển, mở rộng thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác,thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức xuấtkhẩu tại chỗ thông qua du lịch Các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông,xây dựng, viễn thông nhờ phát triển du lịch mà những năm qua đã có thêmđộng lực phát triển, diện mạo của nền kinh tế - xã hội được cải thiện và nânglên trình độ cao hơn

1.2.3 Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

Trang 24

Du lịch là ngành kinh tế góp phần tích cực giải quyết việc làm cho ngườilao động Do đặc trưng của ngành du lịch là ngành phục vụ và không thể cơgiới hoá được nên đòi hỏi nhiều lao động sống Do vậy, phát triển du lịch sẽtạo thêm nhiều việc làm mới và tạo điều kiện tăng thu nhập cho người dân địaphương.Theo thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làmquan trọng Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra được một việclàm mới, đến năm 2005 cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành dulịch, so với tỷ lệ hiện nay là 1/9 Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thếgiới hiện nay thu hút khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng

5 lao động trong các dịch vụ bổ sung Số lao động dịch vụ bổ sung có thể tănglên nhiều lần, nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú

về chủng loại Theo dự báo của WTO, năm 2010 ngành du lịch sẽ tạo khoảng

150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Ở Việt Nam, ngành du lịch cũng đã giải quyết một phần không nhỏ công

ăn việc làm cho người lao động cả trực tiếp lẫn gián tiếp Năm 1990 toànngành mới có hơn 17.000 lao động trực tiếp, đến nay đã có trên 23 vạn laođộng trực tiếp ( tăng gần 10 lần so với 30 năm trước, phần đông từ các ngànhkhác chuyển sang) và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lao độngtoàn quốc, phần lớn là ở độ tuổi dưới 30 (60%); phân bố trên phạm vi cả nước( Miền Bắc 40%, miền Trung 10%, miền Nam 50%) Lao động quản lý chiếm

tỷ trọng khá cao (25%); lao động trực tiếp ở các ngành nghề chuyên sâuchiếm 75%, trong đó lễ tân là 9%, phục vụ buồng là 14,8%, phục vụ bàn, bar

là 15%, nhân viên nấu ăn là 10,6%, nhân viên lữ hành và hướng dẫn viên là4,9%, nhân viên lái xe, tàu du lịch là 10,6% và 36,5% còn lại là các lao độnglàm nghề khác Có 32% lao động phục vụ trực tiếp bằng tiếng Anh; 3,2% biếttiếng Pháp; 3,6% biết tiếng Trung Quốc ở các mức độ khác nhau Qua số liệu

Trang 25

thống kê ở trên càng thấy rõ vai trò to lớn của du lịch trong nền kinh tế quốcdân, nó như một đòn bẩy trong vấn đề tạo việc làm cho người lao động.

1.2.4 Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Du lịch là một ngành mang yếu tố đối ngoại, không chỉ đơn thuần liênquan đến yếu tố khách quốc tế mà còn là mối quan hệ hợp tác giữa các nước,các tổ chức về lĩnh vực phát triển du lịch Các tổ chức quốc tế mang tínhchính phủ và phi chính phủ về du lịch tác động tích cực trong việc hình thànhcác mối quan hệ kinh tế quốc tế Du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự pháttriển đường lối thông thương quốc tế, tranh thủ được nguồn vốn, kinh nghiệm,công nghệ và nguồn khách Du lịch quốc tế như một đầu mối "xuất- nhậpkhẩu" ngoại tệ, góp phần làm phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI xu hướng toàn cầu hoá kinh tế tạo

ra cơ hội phát triển cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, và du lịch cũngkhông nằm ngoài phạm vi đó Trong xu hướng chung đó, du lịch Việt Namcũng đã chủ động hội nhập và hợp tác với các quốc gia, các tổ chức du lịchtrên thế giới Du lịch Việt Nam đã ký và thực hiện tốt 26 hiệp định hợp tác dulịch song phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâmgiao lưu quốc tế, tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác Ký hiệp địnhhợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; thiết lập và tăng cường hợp tác

du lịch với các nước khác; tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch Tiểuvùng Mê Kông - sông Hằng, hợp tác ASEAN, ASEM, APEC, hiệp tác trongHiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương; có quan hệ bạn hàng với 1000hãng của 60 nước và vùng lãnh thổ Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã trở thànhthành viên thứ 150 của tổ chức Thương Mại Thế giới ( WTO) Sự kiện lớn đó

mở ra cơ hội lớn đối với ngành du lịch Việt Nam, khẳng định vai trò vị thếcủa du lịch Việt Nam thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Namvới các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 26

Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách,đẩy mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn hoạtđộng du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và trên thế giới Một số chính phủ

và tổ chức quốc tế như Luxembourg, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Cu Bacộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU, WTO cam kết và viện trợ khônghoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du lịchViệt Nam; thu hút 6,112 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

239 dự án Ngành du lịch đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài dưới hình thứcliên doanh hoặc đầu tư 100% vốn, chủ yếu là kinh doanh ăn uống với cácnước láng giềng, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Tại Việt Nam, du lịch là cầu nối giao lưu kinh tế có quan hệ chặt chẽ vớichính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Trong kinh doanh du lịch quốc tếkhách du lịch có thể là thương nhân Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền vớităng lượng khách phục vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của kháchthương nhân được trú trọng Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốctế Trong điều kiện lạc hậu, nghèo nàn, thiếu vốn đầu tư, sự cần thiết hiện đạihoá nền kinh tế Việt Nam điều đó có ý nghĩa to lớn Bản thân hoạt động kinhdoanh du lịch cũng phát triển theo hướng quốc tế hoá, vì khách du lịch thườngđến nhiều nước trong một chuyến đi du lịch dài ngày Và hình thức liêndoanh, liên kết ở phạm vị quốc tế trong kinh doanh du lịch là phương thứckinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao Hoạt động kinh doanh du lịch vớilợi nhuận kinh tế cao, đến lượt nó kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch vàtăng cường chính sách mở cửa

Kết quả hoạt động hợp tác, hội nhập kinh tế đa phương và song phươngtrong du lịch; việc đón tiếp gần 3 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm và đẩymạnh tuyên truyền quảng bá du lịch ra nước ngoài đã đóng góp tích cực vàoviệc tuyên truyền về đất nước, con người và du lịch Việt Nam, tranh thủ được

Trang 27

sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới đấtnước, tăng cường ngoại giao nhân dân, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập,

tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng và Nhà nước

1.3 Khái quát tình hình phát triển của du lịch Việt Nam.

1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành du lịch.

Có thể nói, hơn 45 năm hình thành và phát triển, ngành Du lịch luônđược Đảng và Nhà nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của dulịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêucầu cách mạng Từ năm 1990 đến nay, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước,ngành Du lịch đã khởi sắc vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt đượcnhững thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả qui mô và chất lượngdần khẳng định vai trò, vị trí của mình Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban bí thưtrung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã khẳng định " Phát triển dulịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xãhội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Cơ chếchính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, thể chế hoá bằng cácvăn bản qui phạm pháp luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng caohiệu lực quản lý

Ngành Du lịch đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là " Một ngànhkinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"với mục tiêu: " Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trungtâm du lịch tầm cỡ trong khu vực" Quan điểm đó được kiểm nghiệm trongthực tiễn phát triển du lịch Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII và đến Đại hội nhiệm kỳ lần thứ IX được nâng lên: " Pháttriển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn" Nhiều tỉnh,thành phố, tỉnh uỷ, thành uỷ đã có kế hoạch và nghị quyết phát triển du lịch,

Trang 28

xác định vai trò, vị trí của du lịch trong cơ cấu kinh tế, đề ra giải pháp và chỉđạo thực hiện kế hoạch phát triển du lịch của địa phương Việc nâng cao nhậnthức về du lịch và phát triển du lịch đã chuyển hoá thành hành động cụ thể, đểhuy động ngày càng tăng các nguồn lực, khai thác tiềm năng và lợi thế du lịchcủa đất nước cho sự nghiệp phát triển du lịch theo hướng bền vững.

Nhận thức được vai trò, vị trí quan trọng của du lịch, trên cơ sở Nghịquyết của Quốc hội, ngày 17/10/1992, Chính phủ đã có Nghị định số 05/CPthành lập Tổng cục du lịch; tiếp đó là nghị định số 20-CP, ngày 27/12/1992 vàNghị định số 53-CP, Ngày 7/8/1995, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục du lịch Theo đó Tổng cục Du lịch có 5

vụ, thanh tra, văn phòng tổng cục du lịch, 4 đơn vị sự nghiệp và các doanhnghiệp trực thuộc Nhờ có bộ máy tổ chức ổn định, du lịch nước ta đã khởisắc và phát triển

Ngày 18/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2003NĐ-CP vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục du lịch.Theonghị định này, Tổng cục du lịch là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiệnmột số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về du lịch trong phạm vị cảnước Từ chức năng đó, Tổng cục du lịch có 20 nhiệm vụ; cơ cấu tổ chứcgồm 6 vụ, Thanh tra, Cục xúc tiến, văn phòng tổng cục, 8 đơn vị sự nghiệp và

15 doanh nghiệp trực thuộc Cơ quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh

và thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về du lịch đã từng bướcđược quan tâm thành lập, củng cố và phát triển Đến nay bộ máy quản lý nhànước về du lịch ở trung ương có Tổng cục du lịch, ở địa phương có 15 sở

du lịch, 2 sở du lịch - thương mại, 46 sở Thương mại- du lịch và 1 sở Ngoại

vụ - Du lịch, hình thành một hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch từTrung ương đến địa phương Các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổsung, tạo môi trường cho du lịch phát triển Quy hoạch tổng thể phát triển Du

Trang 29

lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt;Quy hoạch các vùng du lịch và các trọng điểm du lịch đã được xây dựng; trên

50 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và một số điểm du lịch, khu du lịch

đã có quy hoạch du lịch, tạo điều kiện để đẩy mạnh quản lý du lịch và xâydựng các dự án đầu tư Hàng trăm dự án quy hoạch chi tiết du lịch và hàngchục dự án quy hoạch du lịch khác đang được khẩn trương thực hiện, tạo điềukiện thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, góp phần quản lý, khai tháctài nguyên du lịch ngày một hiệu quả Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam

2001 - 2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tháng 7/ 2002 Chươngtrình hành động quốc gia về Du lịch được phê duyệt thực hiện có hiệu quảtrong giai đoạn 2001-2005 và Chương trình hành động quốc gia về du lịchgiai đoạn 2006 - 2010 đang trình Chính phủ phê duyệt

Chính sách, thể chế tạo nền tảng thúc đẩy du lịch phát triển đã được hìnhthành và đổi mới phù hợp dần với điều kiện và xu hướng phát triển của dulịch thế giới và trong nước Pháp lệnh du lịch ra đời năm 1999 là khung pháp

lý cao nhất, là bước ngoặt quan trọng khẳng định được vai trò của Ngành dulịch và thể chế hoá đường lối phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước, tạođiều kiện cho hoạt động Du lịch phát triển và có định hướng mục tiêu rõ ràng.Các nghị định thông tư hướng dẫn pháp lệnh Du lịch về các lĩnh vực quản lýchi nhánh, văn phòng Đại diện du lịch ở trong và ngoài nước; lữ hành, lưu trú,hướng dẫn du lịch, thanh tra du lịch đã được ban hành và thực hiện có hiệuquả Năm 2005, quốc Hội đã thông qua luật du lịch để điều chỉnh các quan hệ

du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế của ngành du lịch ViệtNam ngay từ trong đường lối, chính sách

Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như Pháp lệnhxuất nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người Việt Nam, người nước ngoài và các

Trang 30

văn bản khác đã được bổ sung; thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại, hải quanliên tục được cải tiến thuận tiện hơn cho khách và các nhà đầu tư.

Như vậy, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấpphối hợp với sự hưởng ứng của nhân dân, bạn bè quốc tế ủng hộ ngành Dulịch Việt Nam đã có một môi trường phát triển thuận lợi để vững bước tiếnvào thế kỷ XXI với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần vào sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3.2 Tình hình Phát triển ngành du lịch Việt Nam.

Trải qua hơn 45 năm phát triển, một quãng thời gian không dài với sựnghiệp phát triển của một ngành, song có thể thấy được những bước chuyểnbiến mạnh mẽ cả về số lượng và chất của du lịch Việt Nam, là một trongnhững ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc; cótính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, có tốc độ tăng trưởng khá, kể cảtrong điều kiện khủng hoảng kinh tế tại Châu Á, thiên tai dịch bệnh diện rộng,toàn cầu và chiến tranh xung đột và khủng bố ở nhiều nơi trên thế giới nhữngnăm gần đây Theo số liệu thống kê của tổng Cục thống kê, Năm 2006 kháchquốc tế tới Việt Nam đạt 3,585 triệu lượt, tăng 3% so với năm 2005 Khách dulịch nội địa đạt 17,5 triệu lượt, tăng 6,6% so với năm 2005 Mặc dù số lượngkhách du lịch quốc tế tăng trưởng không cao song doanh thu từ du lịch vẫntăng trưởng cao Năm 2006, doanh thu du lịch đạt 51.000 tỷ đồng, trong đódoanh thu từ du lịch quốc tế đạt 44.000 tỷ đồng

Với việc nâng cao nhận thức du lịch và phát triển du lịch, những năm qua

du lịch Việt Nam đã huy động ngày một nhiều nguồn lực để xây dựng cơ sởvật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm Toàn ngành

và các địa phương, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm du lịch, đã phát huynội lực, huy động vốn từ nhiều nguồn để phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật

Trang 31

chất du lịch 5 năm vừa qua Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạtầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm trong cả nước Đã phối với hợp vớicác ngành và địa phương chỉ đạo phát triển các trọng điểm du lịch, các vùng

du lịch mà nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định; khai thác và pháthuy lợi thế về hạ tầng và điều kiện kinh tế - xã hội của các khu kinh tế mở vàvùng kinh tế trọng điểm để phát triển du lịch; gắn kết hoạt động du lịch vớihoạt động các khu kinh tế mở, các vùng kinh tế trọng điểm

Bảng 1.1: Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch

Năm Lƣợng vốn (tỷ đồng)

Số dự án

(1) Năm 2005 vốn đầu tư hạ tầng du lịch được ghi cho 58 tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương, không ghi cho dự án.

(2) Năm 2006 và năm 2007 vốn đầu tư hạ tầng du lịch được ghi cho 59 tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương, không ghi cho dự án.

là TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Khánh Hoà

Bảng 1.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) thời kỳ 1995 -2007

Trang 32

Số dự ánVốn (TriệuUSD)

Đặc biệt ngành du lịch đã tranh thủ được nhiều tổ chức quốc tế các chínhphủ và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch như về các lĩnh vựcquy hoạch phát triển du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch Cùng với dự

án phát triển nguồn nhân lực do Luxenbourg với số vốn trên 10 triệu Euro và

dự án EU tài trợ với số vốn khoảng 12 triệu Euro, Tổng cục du lịch đã tiếpnhận và điều hành dự án "phát triển du lịch Mê Kông" do ADB tài trợ, tậptrung chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tại Đồng bằng sông CửuLong

Đầu tư ra nước ngoài tuy còn mới đối với Du lịch Việt Nam, song bướcđầu cũng được thực hiện với chủ trương dựa vào lợi thế so sánh trong khaithác giá trị văn hoá, ẩm thực, nguyên liệu, lao động rẻ Các dự án đầu tư ranước ngoài được thực hiện dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn,với các hình thức kinh doanh ăn uống tại một số nước láng giềng và các nướcNhật, Đức, Hoa Kỳ Tuy các dự án chưa nhiều, qui mô nhỏ, nhưng đã đạtđược hiệu quả và phù hợp với xu hướng chung của hội nhập kinh tế thế giới.Trong thời gian hơn 10 năm qua, cả nước đã nâng cấp, xây mới 50.000phòng khách sạn (tăng gấp hơn 2 lần của hơn 30 năm trước) Đến nay, cảnước có khoảng 6000 cơ sở lưu trú, với 130.000 buồng trong đó có 2.575 cơ

sở được xếp hạng tự đạt tiêu chuẩn đến 5 sao với tổng số 72.458 buồng (18khách sạn 5 sao với 5.251 buồng; 48 khách sạn 4 sao với 5.797 buồng; 119

Trang 33

khách sạn 3 sao với 8.724 buồng; 449 khách sạn 2 sao với 18.447 buồng; 434khách sạn 1 sao với 10.757 buồng và 923 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểuvới 23.482 buồng).

Phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển đa dạng cả đường ô tô,đường sắt, đường thuỷ và dần được hiện đại hoá Một số khu du lịch nghỉdưỡng, sân golff, công viên được đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu củakhách và nhân dân Năng lực vận chuyển khách du lịch tăng, chất lượng đượcnâng lên Phương tiện vận chuyển khách du lịch chuyên ngành với hàng nghìn

xe ô tô, tàu thuyền các loại, nhiều đội xe taxi ở các điểm du lịch được thànhlập phuc vụ nhu cầu đi lại của du khách; nhiều tuyến du lịch đường biển,đường sông như Hải Phòng - Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh - Vũng Tàu đã

sử dụng tàu cao tốc với trang thiết bị hiện đại Với cơ sở vật chất kỹ thuật nhưhiện nay, ngành du lịch nước ta đã đảm bảo phục vụ cho hàng chục triệu lượtkhách quốc tế và nội địa, tổ chức được các sự kiện, hội nghị quốc tế lớn Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch được tăng cường.Ngành du lịch đã trú trọng xúc tiến quảng bá du lịch ở cả thị trường trongnước và quốc tế, tạo thành những chiến dịch xúc tiến mạnh mẽ và thườngxuyên hơn đã góp phần đưa du lịch Việt Nam vượt qua khủng hoảng khókhăn, đồng thời quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam giàu tiềm năng, mở rộngđược thị trường và mở ra triển vọng phát triển mới, góp phần đẩy mạnh thôngtin đối ngoại của đất nước

Công tác tổ chức đào tạo phát triển nguồn nhân lực đã được trú trọng,chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên một bước, lực lượng lao độngtay nghề cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đã được hình thành; nguồn lực bênngoài được thu hút ngày một tăng, đến nay đã thu hút được trên 30 triệu USDcho đào tạo phát triển nguồn nhân lực

Trang 34

Có thể nói, trong những năm qua Du lịch Việt Nam đã có những khởi sắcmới, phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân.Với việc đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, hình ảnh ViệtNam trở nên gần gũi hơn với bạn bè thế giới

1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số tỉnh thành ở Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm của thủ đô Hà Nội trong phát triển du lịch.

Hà nội thành phố với bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến chứa đựng tiềmnăng du lịch to lớn, vị trí thủ đô của Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt đối với pháttriển du lịch Với nguồn du lịch tiềm năng, trong những năm qua ngành dulịch Hà Nội ngày càng phát triển và đang trở thành một ngành kinh tế mũinhọn của Thủ đô Với sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ của các cơ quan cấptrên từ trung ương đến địa phương ngành du lịch Hà Nội đã đạt được nhữngthành công đáng kể Việc khai thác tiềm năng du lịch Hà Nội đã theo đúngđịnh hướng đề ra trong quy hoạch Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng,phù hợp với định hướng không gian phát triển du lịch Các loại hình du lịchtương đối đặc sắc, có sức hấp dẫn khách du lịch Ngành du lịch Hà Nội đã xâydựng được các chương trình du lịch liên vùng thu hút rất nhiều du khách.Công tác quản lý việc khai thác tài nguyên du lịch Hà Nội đã đi vào kỷ cương,

nề nếp Uy tín của du lịch Hà Nội được nâng cao trong cả nước và quốc tế,nhờ đó Hà Nội đã được bình chọn là 1 trong 10 thành phố du lịch hấp dẫnnhất Châu Á

Với sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ của các cơ quan từ trung ương đếnđịa phương ngành du lịch Hà Nội đã phát triển đúng hướng và đạt đượcnhững kết qủa cụ thể sau:

Năm 2006, lực lượng kinh doanh du lịch tại Hà Nội đã phát triển ở tất cảcác loại hình với 242 doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế

Trang 35

Trong đó có 2 doanh nghiệp ( Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội và Công

ty liên doanh Du lịch Hồ Gươm Diethelm ) đạt danh hiệu Topten công ty lữhành hàng đầu Việt Nam Trong công tác đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và hạtầng du lịch, các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Thành phố cũng tích cựcđầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị góp phần đáng kể vào việc hoànthiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn ngành

Sự tăng trưởng ổn định trong kinh doanh của ngành du lịch Hà Nội còn

là kết quả của hàng loạt các hoạt động trong từng lĩnh vực Ngành du lịch HàNội cũng đã dành sự quan tâm thích đáng đến công tác xúc tiến, tuyền truyền,quảng bá du lịch với nhiều hình thức đa dạng Đặc biệt, công tác tuyên truyềnquảng bá nhân sự kiện Hội nghị cấp cao APEC trong năm 2006 được ngành

du lịch Hà Nội đặc biệt coi trọng, góp phần nâng cao hình ảnh vị thế của thủ

đô Ngoài ra, việc hợp tác phát triển du lịch giữa Hà Nội và các địa phươngcũng đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Tính đến nay, Sở du lịch Hà Nội đã kýthoả thuận hợp tác phát triển du lịch với 19 tỉnh trong cả nước Trong thờigian tới ngành sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương khácnhằm tạo sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy phát triển du lịch của từng địaphương và cả nước

Về hợp tác quốc tế: sở du lịch Hà Nội đã tổ chức các đoàn khảo sát xúctiến các thị trường du lịch trọng điểm như: Mỹ, Nhật Bản, Thuỵ Sỹ ; thamgia hội chợ triển lãm du lịch tại Thái Lan; phối hợp với văn phòng đại diệnhàng không Việt Nam và văn phòng đại diện thương mại Hà Nội tại tokyocung cấp thông tin tư liệu du lịch phục vụ các hoạt động quảng bá xúc tiến tạiNhật Bản và một số thị trường trọng điểm

Có thể khẳng định, những năm qua ngành Du lịch Hà Nội đã có nhữngchuyển biến tích cực cả về chất và lượng, duy trì được tốc độ tăng trưởng cao;

đã xác định đúng hướng đầu tư, phát triển Bước vào thiên niên kỷ mới cùng

Trang 36

với sự cố gắng nỗ lực và đồng lòng của các ngành, các cấp, du lịch Hà Nội sẽcùng với cả nước góp phần đưa "Việt Nam trở thành điểm đến của bạn bè dukhách năm Châu".

1.4.2 Kinh nghiệm của Thành phố Hải Phòng.

Trong những năm vừa qua, ngành Du lịch Hải Phòng cũng đã đạt đượcnhững thành công lớn Cùng với kinh tế cảng biển, du lịch đã đóng góp lớnvào sự phát triển kinh tế của Hải Phòng Do có sự quan tâm chỉ đạo của tổngcục du lịch, của UBND thành phố và sự nỗ lực của ngành, du lịch Hải Phòng

đã hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều dự án du lịch (khu vui chơi giải trí,các khách sạn mới hiện đại), cải thiện môi trường du lịch, đầu tư cơ sở hạtầng Ngành cũng đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh công tác quyhoạch, đầu tư du lịch; nghiên cứu thị trường, sản phẩm, nâng cao khả năngkinh doanh; đẩy mạnh khai thác các tuyến tour du lịch; nâng cao năng lựcquản lý Nhà nước và tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch HảiPhòng trên cả nước và quốc tế nhằm thu hút du khách

Ngành đã xây dựng đề án phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn

2006-2010, định hướng đến năm 2020 nhằm khai thác tiềm năng du lịch của địaphương đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của thành phố Nhữngchiến lược cụ thể mà ngành đã đạt được là:

Đã hoàn chỉnh sớm quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển

du lịch Hải Phòng, trước hết đã hoàn thành quy hoạch chi tiết các trọng điểm

du lịch ở: Cát Bà, Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên kết hợp với vận động nhân dân bảo

vệ, tôn tạo, giữ gìn tài nguyên và môi trường sinh thái các khu du lịch

Ngành du lịch Hải Phòng luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khíchcác thành phần kinh tế trong và ngoài nước hợp tác, đầu tư vào phát triển dulịch, đồng thời tập trung vốn ngân sách đầu tư hạ tầng cơ sở các vùng trọng

Trang 37

điểm du lịch của thành phố: Đồ Sơn, Cát Bà; xây dựng cảng du lịch nội địaquốc tế, nâng cấp sân bay Cát Bi thành sân bay quốc tế, nâng cấp các nhànghỉ, khách sạn Hiện thành phố có 7 doanh nghiệp và 2 chi nhánh có chứcnăng kinh doanh lữ hành quốc tế, 51 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa

và 6 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch Để đưa du lịch thànhngành kinh tế mũi nhọn, Hải Phòng đã tập trung phát triển nhiều loại hình dulịch như: du lịch sinh thái biển kết hợp với nghỉ dưỡng, thể thao, hội thảo.Công tác xúc tiến, quảng bá, tiếp thị du lịch được đẩy mạnh nhằm thu hút dukhách, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế

Như vậy, Với sự nhận thức rõ vai trò, vị trí quan trọng của ngành du lịchtrong cơ cấu kinh tế, Ngành du lịch Hải Phòng đã phát triển mạnh và khôngngừng vươn lên, xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần tích cựctrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đưa du lịch Hải Phòng trởthành trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế

1.4.3 Kinh nghiệm của Quảng Ninh trong phát triển du lịch.

Có thể khẳng đinh rằng, trong những năm qua, du lịch Quảng Ninh đãthực sự có bước chuyển mình đóng góp tích cực vào hoạt động du lịch của cảnước cũng như quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trên cơ sởnắm bắt sâu sát sự chỉ đạo của tổng cục du lịch Việt Nam và các cấp lãnh đạotỉnh, ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã có những hoạch định cụ thể, đạt hiệuquả cao trong từng giai đoạn Với phương châm luôn coi Du lịch là "ngànhkinh tế mũi nhọn", du lịch Quảng Ninh đang phát triển ngày càng mãnh mẽ vàxuất phát từ đặc thù riêng của mình cùng với du lịch cả nước, du lịch QuảngNinh đã thực sự "đi trước" trên chặng đường hội nhập

Từ năm 2001 đến nay, Du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triểnnhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng được đầu tư lớn Nhờ đó mà lượng

Trang 38

khách du lịch trong nước và quốc tế đến Quảng Ninh ngày một đông Tổngkhách du lịch trong giai đoạn này tăng trung bình 14%, trong đó khách quốc

tế tăng trung bình 16%, doanh thu tăng 25% Hoạt động du lịch đã có tácđộng tích cực đến sự phát triển của ngành kinh tế dịch vụ, tạo thêm nhiều việclàm cho người lao động, góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội Bằng việc

ra đời các sản phẩm du lịch mới chất lượng như khu du lịch Tuần Châu, cáptreo Yên Tử, công viên quốc tế Hoàng Gia, từ năm 2001 đến nay du lịchQuảng Ninh đã thực sự mang một diện mạo mới Đặc biệt trong năm 2006cầu Bãi Cháy bắc qua sông Cửa Lục đã chính thức khánh thành mang đến cho

du lịch Quảng Ninh một sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn Với nhiều sự kiệntrọng đại có ý nghĩa của đất nước, của tỉnh, của ngành, năm 2006 du lịchQuảng Ninh đã đón 3,1 triệu lượt khách trong đó khách quốc tế đã vượtngưỡng 1 triệu Kết quả đó khẳng định chủ trương, chính sách của QuảngNinh về phát triển du lịch là: " nhanh - trúng- đúng" Việc ban hành một loạtcác nghị quyết như số 08/NQ-TU của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh vềđổi mới, phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001-2010, Nghị quyết số21/NQ-TU về đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ giai đoạn 2006-2015, Quyếtđịnh về quản lý các hoạt động du lịch trên Vịnh Hạ Long vừa tạo nên đònbẩy đồng thời cũng chính là hành lang pháp lý quan trọng để du lịch QuảngNinh phát triển

Công tác đầu tư, phát triển du lịch có tốc độ tăng trưởng khá Về đầu tư

cơ sở lưu trú tăng trung bình 18%/năm Tính đến nay ở Quảng Ninh đã có 11khách sạn 4 sao Tổng số buồng, phòng được xếp hạng từ 1 đến 4 sao chiếm

tỷ lệ 35% tổng số buồng, phòng Năm 2001 toàn tỉnh mới chỉ có 251 tàu vậnchuyển khách tham quan Vịnh Hạ Long đến nay đã tăng lên 376 tàu, tốc độtăng trung bình 19%/năm Loại tàu nghỉ đêm trên vịnh với tổng số 61tàu đượcđầu tư lớn với 341 phòng đủ tiêu chuẩn chất lượng cao Từ thực tế trên cho

Trang 39

thấy, công tác đầu tư được chú trọng, tỉnh và ngành đã tập trung vào những

mô hình chất lượng, tạo hiệu quả kinh tế xã hội lớn Thời gian qua, QuảngNinh đã có 8 dự án đầu tư bằng nguồn vốn của chương trình phát trỉên hạ tầng

du lịch quốc gia với tổng kinh phí được phê duyệt là 314 tỷ đồng và hiện nay

đã có 4 dự án đưa vào sử dụng

Một trong những thành công lớn của du lịch Quảng Ninh trong nhữngnăm qua là việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch Cùng vớichính sách mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, phát huy lợi thế của địaphương, những năm qua, Quảng Ninh đã không ngừng tăng cường hợp tácquốc tế về du lịch Tỉnh và ngành Du lịch Quảng Ninh đã ký kết nhiều thoảthuận hợp tác phát triển du lịch với các địa phương ở các nước như tỉnhQuảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), Saint- Malo (Pháp) , Udonthaini (TháiLan) Từ tháng 9/2006, Quảng Ninh là thành viên thứ 10 của diễn đàn du lịchĐông Á (EATOF) - Đây là những "cánh cửa " nối dài cánh tay du lịch QuảngNinh vươn tới nhiều thị trường du lịch

Có thể thấy, với những sách lược có tính chất đón đầu, cùng con đường

mở rộng hợp tác quốc tế đã giúp Quảng Ninh sớm hội nhập với khu vực vàquốc tế Theo đó, thương hiệu du lịch Hạ Long - Quảng Ninh đã được khẳngđịnh trên sân chơi chung của du lịch quốc tế Nhận thức rõ vai trò quan trọngcủa du lịch, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII nêu rõ:"Phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch có đẳng cấp khuvực và Châu lục vào năm 2015" Với sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên củacủa Tổng cục du lịch, của lãnh đạo tỉnh cũng như các cơ quan ban, ngànhTrung ương và địa phương cùng sự nỗ lực của chính mình, ngành du lịchQuảng Ninh cũng đã phát triển mạnh mẽ và đang bước vào một giai đoạnthịnh vượng nhằm mang lại hiệu quả cho trung tâm du lịch lớn của đất nước,xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh

Trang 40

* Từ việc phân tích, tổng hợp khái quát một số kết quả đạt được về hoạtđộng du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh - những trung tâm du lịch lớncủa cả nước, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế

du lịch ở Ninh Bình như sau:

1. Công tác qui hoạch được thực hiện một cách khoa học, thực tiễn giúpcho việc định hướng đầu tư, qui mô đầu tư, phương thức đầu tư và hiệu quảđầu tư Công tác qui hoạch nhất thiết phải đi từ qui hoạch tổng thể rồi đến quihoạch chi tiết Đồng thời phải chỉ đạo để kịp thời bổ xung qui hoạch và chỉđạo thực hiện đúng qui hoạch đã được phê duyệt Ngành du lịch phải đi đầulàm nòng cốt trong nghiên cứu, triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơchế, chính sách phát triển du lịch và thể chế hoá thành các luật lệ, biện pháp

và chương trình cụ thể Thường xuyên nghiên cứu thông tin, kinh nghiệm pháttriển du lịch của các địa phương trong nước và thế giới, tổng kết thực tiễn kịpthời để phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn về du lịch của địa phương

2. Phải chú trọng tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch và không ngừngcải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, tăng khả năng cạnhtranh Xúc tiến quảng bá là tiền đề quan trọng cho phát triển du lịch, cần đượctiến hành một cách khoa học, chuyên nghiệp, sâu rộng và thường xuyên.Muốn tăng cường thu hút khách du lịch, với số lượng nhiều, thời gian lưu trúlâu và mức chi tiêu cao, một mặt phải nghiên cứu thị trường tỷ mỷ, hệ thốnglàm cơ sở xây dựng sản phẩm đặc thù, chất lượng cao, đa dạng, giá cả phùhợp khả năng thanh toán của khách Mặt khác, vấn đề quan trọng là phảituyên truyền quảng bá ở tầm vĩ mô và quảng cáo ở tầm doanh nghiệp thật sâu,rộng ở trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức, thành những chiến dịch, qui

mô lớn, tập trung vào những thị trường trọng điểm để phát động, củng cố và

mở rộng thị trường Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng hợp tác, hội nhập

Ngày đăng: 16/10/2020, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w