1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường ở tỉnh ninh bình

176 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung kết quả của các công trình đã công bố và những “khoảng trống” cần tiếp tục nghiên cứu 26 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH GẮN VỚI ĐẢM BẢ

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH TÂN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG

Ở TỈNH NINH BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

NGUYỄN THỊ MINH TÂN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG

Ở TỈNH NINH BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Mã số: 931 01 02

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS,TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

2 GS,TS CHU VĂN CẤP

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Tân

Trang 4

1.2 Đánh giá chung kết quả của các công trình đã công bố và những “khoảng

trống” cần tiếp tục nghiên cứu

26

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH

TẾ DU LỊCH GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH GẮN

VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH NINH

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ

DU LỊCH GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG Ở

TỈNH NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2030

116

4.1 Bối cảnh mới và định hướng phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo

an ninh môi trường ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2030

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN 152

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BĐKH : Biến đổi khí hậu BVMT : Bảo vệ môi trường

Trang 6

Trang

Bảng 3.1 : Cơ sở lưu trú du lịch của tỉnh Ninh Bình giai

đoạn 2010 - 2018

83

Bảng 3.2 : Tổng hợp một số khoản thuế, phí liên quan đến bảo

vệ môi trường trên địa bản tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019

105

Bảng 3.3 : Kinh phí sự nghiệp môi trường được phân bổ cho

ngành du lịch giai đoạn 2010 -2019

109

Bảng 3.4 : Thống kê số các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ

bộ vào tỉnh Ninh Bình từ năm 2010 -2017

Biểu đồ 3.3 : Số lượng khách du lịch đến Quần thể danh

thắng Tràng An giai đoạn từ năm 2014-2019

83

Biểu đồ 3.4 : Doanh thu từ hoạt động dịch vụ du lịch của tỉnh

Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2018

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Du lịch là ngành kinh tế có tính tổng hợp, tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Ngoài việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách thì hoạt động của ngành kinh tế này còn đóng vai trò quan trọng trong việc xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã coi kinh tế du lịch (KTDL) là ngành “công nghiệp không khói”, đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước, tạo động lực cho các ngành khác phát triển, góp phần quan trọng vào tạo việc làm và thu nhập, xóa đói giảm nghèo, là phương tiện quảng bá hình ảnh đất nước,

Sau 60 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam ngày càng phát triển

và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Theo Tổng cục Du lịch, năm 2019

số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 18 triệu lượt Khách nội địa đạt 85

triệu lượt Tổng thu đạt 755.000 tỷ đồng (trong đó tổng thu từ khách quốc tế đạt

421.000 tỷ đồng và khách nội địa đạt 334.000 tỷ đồng); đóng góp 9,2% vào

GDP [127], giải quyết khoảng 1,3 triệu lao động phục vụ trong ngành du lịch (chiếm 2,5% tổng số lao động cả nước) [138]

Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập

và biến đổi khí hậu (BĐKH) ngành du lịch đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đó là: ô nhiễm môi trường (ONMT) gia tăng, suy giảm đa dạng sinh học, thời tiết cực đoan Trong khi đó, các nguồn lực cần thiết cho hoạt động du lịch, như: vốn đầu tư cho hoạt động du lịch, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học

- công nghệ đang ở mức thấp đã làm cho hoạt động du lịch chưa hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước Điều này đã hạn chế sự phát triển của ngành du lịch và an ninh môi trường (ANMT) Nhằm khắc phục tình trạng này, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh phát triển ngành du lịch theo hướng bền vững

Ninh Bình là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng có nhiều tiềm năng

để phát triển du lịch, tiêu biểu như: Quần thể danh thắng Tràng An - Di sản văn

Trang 8

hóa và thiên nhiên thế giới; Khu Tam Cốc - Bích Động; Vườn Quốc gia Cúc Phương; Khu du lịch sinh thái (DLST) Thung Nham, Bên cạnh đó, Ninh Bình còn sở hữu nguồn tài nguyên du lịch lịch sử - văn hóa với 1.499 di tích lịch sử văn hóa, trong đó phải kể đến một số di tích lịch sử văn hóa quan trọng, bao gồm: Cố đô Hoa Lư, Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, Đền thờ Vua Lê Đại Hành,

Đền Thái Vy, Đền Trương Hán Siêu, Chùa Bái Đính, Chùa Bích Động Mặt

khác, với vị trí địa lý thuận tiện, giao thông đường bộ, đường sắt và đường biển khá phát triển tạo điều kiện cho KTDL ở Ninh Bình phát huy được lợi thế, thu hút khách du lịch

Trong những năm qua, KTDL của tỉnh Ninh Bình đã có những bước phát triển đáng khích lệ, tăng trưởng du lịch đã có những đóng góp lớn vào phát triển KT-XH của đất nước nói chung và của tỉnh nói riêng Theo số liệu thống kê của

Sở Du lịch, năm 2019 ngành du lịch đạt doanh thu 3.600 tỷ, tạo việc làm cho 21.500 lao động tại địa phương [73, tr.60-61] Từng bước gắn bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững (PTBV) Tuy nhiên, sự phát triển hiện nay của ngành du lịch Ninh Bình chưa thật sự gắn với bảo vệ môi trường (BVMT) nên cũng đã gây ra những tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái, như: làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường; gây sức ép lên hệ sinh thái, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử, v.v

Để góp phần giải quyết vấn đề này, cần có những nghiên cứu cơ bản về lý luận, thực tiễn và có phải có những phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp để ngành du lịch Ninh Bình PTBV Với ý nghĩa

đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an

ninh môi trường ở tỉnh Ninh Bình” làm luận án tiến sĩ kinh tế, ngành kinh tế

chính trị

Nghiên cứu đề tài này nhằm trả lời các câu hỏi:

- Phát triển kinh tế du lịch (PTKTDL) gắn với đảm bảo an ninh môi trường (ĐBANMT) là như thế nào?

Trang 9

- Thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình ra sao?

- Giải pháp nào để PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình trong thời kỳ phát triển mới đến 2030?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019 và đề xuất giải pháp nhằm PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh

Ninh Bình đến năm 2030

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về PTKTDL gắn với ĐBANMT;

- Nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia, địa phương có những nét tương đồng với Ninh Bình trong PTKTDL gắn với ĐBANMT, từ đó rút ra bài học cho tỉnh Ninh Bình;

- Phân tích, đánh giá thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019 trên cơ sở khung lý thuyết đã xây dựng ở chương 2

- Đề xuất định hướng và các giải pháp PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là PTKTDL gắn với ĐBANMT dưới góc độ kinh tế chính trị Tuy nhiên, đề tài luận án chỉ tập trung nghiên cứu PTKTDL gắn với ĐBANMT trên địa bàn cấp tỉnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứng

giữa PTKTDL và ĐBANMT; Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn PTKTDL gắn với ĐBANMT Về môi trường, luận án tập trung nghiên cứu ĐBANMT tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn chỉ được đề cập trong trường hợp cần thiết

- Về không gian: Luận án nghiên cứu PTKTDL gắn với ĐBANMT trên

địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 10

- Về thời gian: Đề tài luận án nghiên cứu thực trạng PTKTDL gắn với

ĐBANMT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019, đề xuất giải pháp PTKTDL gắn với ĐBANMT của tỉnh đến năm 2030

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về PTKTDL gắn với ĐBANMT Đồng thời, luận án kế thừa một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan đến PTKTDL, môi trường, ĐBANMT và PTKTDL gắn với ĐBANMT

4.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Là phương pháp nghiên cứu

đặc thù của khoa học kinh tế chính trị Phương pháp này cho phép gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình và những hiện tượng được nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, hình thành những phạm trù, những quy luật phản ánh bản chất đó

- Phương pháp lôgic với lịch sử: Luận án sử dụng biện pháp nghiên cứu

này, bởi cùng một đối tượng nghiên cứu, nhưng trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau ở các quốc gia khác nhau thì sẽ có sự khác nhau Việc nghiên cứu PTKTDL gắn với ĐBANMT trên địa bàn tỉnh phải có tính động, gắn với quá trình phát triển qua các thời kỳ khác nhau, vừa tuân thủ những vấn đề lý luận chung, vừa phải tính đến tác động của yếu tố lịch sử cụ thể của Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, từ đó có những đề xuất phù hợp và khả thi

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận án sử dụng phương pháp này

trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của mình, trước hết là phân tích rõ nội dung PTKTDL gắn với ĐBANMT trên địa bàn cấp tỉnh Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong PTKTDL gắn với ĐBANMT để tổng hợp thành các bài học đối với tỉnh Ninh Bình Luận án phân tích thực trạng PTKTDL

Trang 11

gắn với ĐBANMT, từ đó tổng hợp, đánh giá những thành tựu, hạn chế làm căn

cứ cho việc đề xuất giải pháp nhằm PTKTDL gắn với ĐBANMT của tỉnh Ninh Bình đến năm 2030

- Phương pháp so sánh: Trên cơ sở các thông tin thu thập được, tác giả

luận án phân tích, xử lý thông tin, so sánh thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT

ở tỉnh Ninh Bình với những yêu cầu mang tính lý thuyết, tham khảo kinh nghiệm, so sánh thực trạng hiện nay với các giai đoạn trước đây … từ đó có những đề xuất phù hợp với lý luận, với thực tiễn tỉnh Ninh Bình, kế thừa được thành tựu của các quốc gia, tỉnh đã tham khảo kinh nghiệm

* Nguồn tài liệu nghiên cứu: Nguồn tài liệu thứ cấp được sử dụng, tổng

hợp, phân tích trong luận án chủ yếu là các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; tài liệu của các cơ quan quản lý tỉnh Ninh Bình, như: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư,… Sau khi thu thập số liệu từ các nguồn, để đưa vào các bảng, biểu đồ minh họa cho các luận giải, phân tích trong luận án

5 Đóng góp mới của luận án

- Đưa ra cơ sở lý luận về PTKTDL gắn với ĐBANMT ở địa bàn cấp tỉnh, với 3 nội dung quan trọng: Khái niệm và sự cần thiết phải PTKTDL gắn với ĐBANMT; Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến PTKTDL gắn với ĐBANMT

- Đánh giá một cách khách quan, trung thực thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019 Từ đó rút ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Đề xuất những giải pháp mang tính toàn diện, khả thi nhằm PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2030

6 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án Các công trình đã đạt được những kết quả nhất định, là cơ sở để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo của luận án

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Những công trình nghiên cứu lý luận về phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế du lịch

Những công trình nghiên cứu lý luận về PTKTDL của các tác giả trong và ngoài nước đã hướng vào các vấn đề giải thích phạm trù phản ánh hoạt động liên quan đến kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch, các hình thức dịch vụ du lịch, cơ chế vận hành hoạt động kinh doanh du lịch,… trong đó, tiêu biểu phải kể đến các công trình sau:

Theo tác giả William Theobald trong cuốn“Global Tourism - The next

decade” (Du lịch toàn cầu - Thập kỷ tới) [157] Nội dung cuốn sách giới thiệu

khái niệm và phân loại du lịch; xác định những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của du lịch; định hướng và kế hoạch PTDL

Trong cuốn“Leisure and Tourism” (Giải trí và Du lịch) của các tác giả

John Ward, Phil Higson và William Campbell [147] Nội dung cuốn sách đi sâu nghiên cứu về ngành công nghiệp du lịch và giải trí được thực hiện thông qua việc phân tích các hình mẫu và xu hướng, các sản phẩm và dịch vụ trong ngành

du lịch và giải trí cũng như các tác động của nó đến kinh tế, xã hội, văn hóa hay môi trường Ngoài ra, nội dung nghiên cứu còn đề cập đến vấn đề tiếp thị, cung cấp các dịch vụ thông tin quản lý, việc lên kế hoạch và đánh giá các sự kiện cũng như các nguồn cơ sở hạ tầng cho các dự án du lịch và giải trí

Tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006) trong cuốn

“Giáo trình kinh tế du lịch” [39] đã đưa ra một số khái niệm như: du lịch,

Trang 13

khách du lịch, sản phẩm du lịch và tính đặc thù của du lịch; lịch sử hình thành,

xu hướng phát triển và tác động của du lịch đến KT-XH, khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của du lịch thế giới; hệ thống hóa những xu hướng phát triển cơ bản của cầu và cung du lịch trên thế giới và phân tích các tác động về KT-XH của du lịch đối với một địa bàn PTDL (dưới góc độ một quốc gia) Cung cấp một số kiến thức về: cầu du lịch, loại hình du lịch và các lĩnh vực kinh doanh du lịch; điều kiện để PTDL; tính thời vụ trong du lịch; lao động trong du lịch; cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch; chất lượng dịch vụ du lịch; hiệu quả KTDL; quy hoạch PTDL; tổ chức và quản lý ngành du lịch

Đặc biệt các tác giả đã đưa ra một số khái niệm liên quan đến KTDL như: Kinh doanh lữ hành, bao gồm: Kinh doanh lữ hành và kinh doanh đại lý lữ hành Kinh doanh khách sạn; Kinh doanh vận chuyển khách du lịch; Kinh doanh các dịch vụ khác

Ngoài ra, các tác giả nêu ra khái niệm hiệu quả KTDL, theo đó:

Hiệu quả kinh tế du lịch thể hiện mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất

và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng lớn nhất các dịch vụ và hàng hóa có chất lượng cao nhất trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch với chi phí nhỏ nhất đạt doanh thu cao nhất và thu lợi nhuận tối đa Nói cách khác, hiệu quả kinh tế du lịch phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất [39, tr.262]

Và đưa ra một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả KTDL như: Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đánh giá sự đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Tổng doanh thu xã hội từ du lịch; tổng doanh thu thuần túy bản thân ngành du lịch; tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch trong GDP của nền kinh

tế quốc dân; doanh thu bình quân đầu người của ngành du lịch; Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch như: kinh doanh lữ hành; kinh doanh lưu trú; kinh doanh ăn uống; kinh doanh vận tải du

lịch; các ngành dịch vụ du lịch khác [39, tr.266-267]

Trong cuốn “Kinh tế du lịch và du lịch học” của hai tác giả Trung Quốc là

Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình [74] Nội dung cuốn sách đề cập đến một số

Trang 14

vấn đề lý luận cơ bản về du lịch và KTDL: khái niệm về du lịch, khái quát về KTDL, sản phẩm du lịch, thị trường du lịch, vai trò của KTDL, quy hoạch xây dựng khu du lịch, v.v

Trong cuốn “Kinh tế du lịch” của tác giả Robert Lanquar [88], đã khẳng

định: KTDL là ngành công nghiệp, vì nó là toàn bộ những hoạt động nhằm khai thác các của cải du lịch, nhằm biến các tài nguyên nhân lực, tư bản và nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm Ngoài ra, tác giả cũng nêu ra những ảnh hưởng của du lịch đến nền kinh tế Yêu cầu về du lịch, sự tiêu dùng của du lịch, sản xuất cho du lịch, đầu tư du lịch Những công cụ và phương tiện phân tích kinh tế học du lịch và kinh doanh du lịch

Trong cuốn “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch Bắc Bộ và tác động

của nó tới quốc phòng - an ninh” của tác giả Nguyễn Đình Sơn, thì

Kinh tế du lịch là một phạm trù phản ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất trong quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán xuất khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cho du khách, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển [100, tr.23]

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đảm bảo an ninh môi trường

Trong cuốn “Giáo trình môi trường đại cương” của tác giả ThS Nguyễn

Thị Phương Thảo [107] đã chỉ ra môi trường sống của con người theo chức năng, được chia thành 3 loại: Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và nhân văn và môi trường nhân tạo Và cho rằng trên thực tế, ba loại môi trường này đều cùng tồn tại, xen kẽ, tương tác lẫn nhau rất chặt chẽ

Trong cuốn “Tài nguyên thiên nhiên môi trường với sự tăng trưởng bền

vững ở Việt Nam” của tác giả Trần Văn Chử [26] và Trần Thị Thanh Huyền

trong bài “Chức năng cơ bản của môi trường” [59] đã chỉ ra môi trường có 5

chức năng cơ bản: Là không gian sống của con người và các loài sinh vật; Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống cũng như sản xuất của con người; Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải do con người

Trang 15

tạo ra trong quá trình sống và lao động sản xuất; Môi trường còn có chức năng

lưu trữ và cung cấp nguồn thông tin cho con người; Môi trường chính là nơi bảo

vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài

Năm 1972, lần đầu tiên vấn đề ANMT được đưa vào Chương trình Nghị

sự quốc tế tại Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và con người ở Stốckhôm Thụy Điển Nhưng phải đến năm 1987, tại Đại hội Liên hợp quốc lần đầu tiên

trong văn bản chính thức đề cập đến khái niệm về ANMT: “Quản lý nguồn tài

nguyên không hợp lý, lãng phí đều uy hiếp đối với an ninh Sự biến đổi tiêu cực của môi trường đang uy hiếp đối với sự phát triển trở thành nguyên nhân của các căng thẳng và tiêu cực xã hội, ảnh hưởng đến nhân loại như đói nghèo, mù

chữ, dịch bệnh ) [111]

Theo Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ANMT được hiểu là “sự khan hiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm họa (môi trường) có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính tri, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh” [49, tr.27]

Theo Báo cáo Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ của Liên hiệp quốc,

có thể hiểu, ANMT là trạng thái hệ thống các yếu tố cấu thành môi trường (đất,

nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác)

cân bằng để đảm bảo điều kiện sống và phát triển của con người cũng như các

loài sinh vật trong hệ thống đó Giữ gìn ANMT là BVMT sống, môi trường tồn tại của con người và xã hội loài người An ninh môi trường không được đảm bảo thì xã hội không có sản xuất vật chất, không có đời sống tinh thần, không có sự

Theo Luật BVMT năm 2014, theo đó “An ninh môi trường là việc bảo đảm

không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia” [85, tr.11]

Trang 16

Cuốn sách “Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững” do

Nguyễn Đình Hòe và Nguyễn Ngọc Sinh biên soạn [48] đã cung cấp cho người đọc những khái niệm mới và và kiến thức hữu ích về vấn đề sống còn của môi trường trong sự PTBV Trọng tâm của cuốn sách trình bày về vấn đề tranh chấp quốc gia và liên quan tới tài nguyên; nguy cơ mất an ninh do thảm họa thiên tai,

sự cố môi trường Đặc biệt, vấn đề ONMT xuyên quốc gia, tệ nạn môi trường, nhiễm loạn sinh thái đề xuất giải pháp ứng phó với các vấn đề ANMT nói chung và đối với từng vấn đề cụ thể đã từng xẩy ra tại Việt Nam nói riêng

Trong cuốn sách “An ninh môi trường” của tác giả Nguyễn Đức Khiển và

Nguyễn Kim Hoàng [61], nội dung cuốn sách được kết cấu thành 7 chương, đề cập đến: An ninh môi trường; mất ANMT; những thách thức về môi trường trên thế giới; Hậu quả của sự cố và ONMT đến an ninh xã hội và sức khỏe cộng đồng; xóa đói giảm nghèo, biện pháp hữu hiệu để BVMT và PTBV và hậu quả

của sự cố và ONMT đến an ninh xã hội và sức khỏe cộng đồng

1.1.1.3 Những công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

Khi bàn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên C.Mác quan niệm: Giới tự nhiên cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó

không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở

lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân

tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên” [70, tr.135]

và “Công nhân không thể tạo ra cái gì khác nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài Đó là vật liệu, trong đó lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm” [70, tr.130]

Trang 17

Với quan niệm “Giới tự nhiên … là thân thể vô cơ của con người”, C.Mác

đã chỉ cho chúng ta thấy rằng: con người chỉ là một bộ phận trên cơ thể của giới

tự nhiên mà thôi, giống như một bộ phận mắt, tai, mũi trên cơ thể của con người Vì vậy, con người không bao giờ có thể sống, tồn tại và phát triển khi bị tách khỏi giới tự nhiên, khỏi môi trường sống của mình, chừng nào mà con người còn tồn tại thì còn phải dựa vào giới tự nhiên, dựa vào môi trường

Khi cho rằng: “ con người là một bộ phận của giới tự nhiên”, C.Mác một lần nữa đã khẳng định con người có nguồn gốc từ giới tự nhiên, từ môi trường Nói cách khác, môi trường tự nhiên là cái có trước con người và xã hội loài người

Con người sống và tồn tại được là do quá trình lao động của con người kết hợp với môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên đã cung cấp cho con người những thứ thiết yếu của cuộc sống (như không khí, ánh sáng, nước, không gian sống ) và những nguyên vật liệu cần thiết cho quá trình lao động

- Trong chương “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ

vượn thành người” [70, tr.641] trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” được

Ph.Ăngghen viết vào những năm 1873-1883, Ông đã nói rất rõ về mối quan hệ giữa con người - môi trường và tính tất yếu phải BVMT của loài người Theo Ph.Ăngghen, con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh

ra được” [70, tr.475], là sản phẩm cao nhất của sự tiến hóa trong nhiều triệu năm của vật chất Và “bản thân con người, là sản vật của giới tự nhiên, một sản vật đã phát triển trong một môi trường nhất định và cùng với môi trường đó” [70, tr.55]

Để tiến hành lao động, con người không thể không nhờ đến môi trường tự nhiên “Lao động bắt đầu cùng với việc chế tạo ra công cụ” [70, tr.648] Công cụ đầu tiên là công cụ săn bắt, đánh cá đến những công cụ hiện đại sau này cũng từ giới tự nhiên Từ đó, con người ngày càng thống trị giới tự nhiên và “bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích của mình”[70, tr.654] Ph.Ăngghen cho rằng việc cải tạo tự nhiên để phục vụ con người là một tiến bộ xã hội nhưng nếu không theo quy luật thì sẽ bị tự nhiên trả thù, gây những tác dụng phá hủy tất cả những kết quả ban đầu

Điều này cho thấy, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều có mối quan

hệ biện chứng thống nhất với nhau “trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra

Trang 18

một cách đơn độc cả Hiện tượng này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại” [70, tr.652] Trong quá trình lao động sản xuất, con người tác động vào môi trường tự nhiên, làm thay đổi các yếu tố cấu thành môi trường, đáp ứng nhu cầu trước mắt của mình, thì sớm hay muộn sẽ ảnh hưởng tới môi trường sống Bởi, không phải chỉ có con người tác động, cải biến môi trường tự nhiên mà môi trường tự nhiên cũng tác động ngược trở lại một cách mạnh mẽ đối với con người Sự tác động ngược trở lại này lại “không lường trước được”, nó có thể

“phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên” mà con người đạt được như Ph.Ăngghen cảnh báo:

chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù chúng ta Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của đó [70, tr.654]

Và vì thế, chúng ta hoàn toàn không thể thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại chúng ta phải nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác

Bên cạnh, việc chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên, Ph.Ăngghen còn chỉ ra mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên được bắt nguồn

từ mâu thuẫn trong quan hệ xã hội Để giải quyết mâu thuẫn này, trước hết giải quyết xung đột giữa con người với con người để giải quyết xung đột giữa con người với tự nhiên và nhờ đó thực hiện hài hòa giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người Theo Ông, “muốn tiến hành sự điều tiết ấy cho được tốt mà chỉ đơn thuần dựa vào nhận thức thôi thì chưa đủ Cần phải có sự chuyển biến hoàn toàn trong phương thức sản xuất đã tồn tại cho đến nay, và đồng thời, trong chế độ xã hội hiện tại” [70, tr.657] Bởi, tất cả các phương thức sản xuất cũ chỉ nhằm đạt được những hiệu quả có ích gần nhất và trực tiếp nhất

mà không chú ý đến những hậu quả xa, sau này mới xuất hiện Điển hình là các

Trang 19

nhà tư bản riêng lẻ sản xuất và trao đổi chỉ để thu lợi nhuận trước mắt đã dẫn đến hậu quả làm cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng kinh tế sau này

Qua nghiên cứu quan điểm của C.Mác và PhĂngghen về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về mối quan hệ này, từ đó gợi mở những cách thức giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nói chung và PTKTDL gắn với ĐBANMT nói riêng:

Một là, KTDL có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH, là

ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia Doanh thu từ hoạt động du lịch có thể ngày một tăng nếu biết PTKTDL hài hòa với ĐBANMT

Hai là, con người là một thực thể của tự nhiên và giới tự nhiên là thành

phần của môi trường đặc biệt quan trọng trong đời sống con người, nó bao quanh con người Vì thế, chúng ta không nên đối lập giữa con người và môi trường tự nhiên

Ba là, trong quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, con người cần nắm

vững quy luật tự nhiên để chinh phục nó một cách hài hòa nhất, đừng tác động vào tự nhiên một cách thô bạo Con người phải biết bảo vệ giới tự nhiên; không

vì lợi ích trước mắt mà tác động xấu đến giới tự nhiên, tất yếu sẽ bị giới tự nhiên tác động ngược trở lại, phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ sự “trả thù” của môi trường tự nhiên

Các công trình nghiên cứu về cơ sở phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

Công trình “The Economics of Leisure and Tourism” (Kinh tế học về Giải

trí và Du lịch) của tác giả John Tribe [148] Nội dung công trình tâp trung vào một số vấn đề về: Tổ chức và quảng bá hoạt động Giải trí và Du lịch; Giải trí và

Du lịch tương quan với môi trường quốc tế; Tác động của Giải trí và Du lịch đối với nền kinh tế quốc gia; Giải trí và Du lịch với các vấn đề về môi trường, sự đầu tư về Giải trí và Du lịch Trong tiểu mục: Sự đầu tư về Giải trí, tác giả đề cập đến các nhân tố tác động đến sự đầu tư các dự án: lợi nhuận, doanh thu, chi phí vận hành v.v…

Tác giả Nguyễn Thế Chinh trong “Giáo trình Kinh tế và quản lý môi

trường” [25], đã phân tích mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, những

Trang 20

vấn đề cơ bản về chất lượng môi trường, đánh giá tác động môi trường và phân tích kinh tế của những tác động môi trường, những vấn đề liên quan giữa khan hiếm tài nguyên, dân số, kinh tế và môi trường và những nội dung cơ bản của quản lý môi trường phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và xu hướng biến đổi môi trường toàn cầu

Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin, năm 1992), đã đưa ra quan điểm: PTBV là trách nhiệm chung của các quốc gia và toàn nhân loại, với nguyên tắc cơ bản bao trùm và chủ yếu là: kết hợp hài hòa các yếu tố tiến bộ xã hội; đáp ứng nhu cầu của mọi người dân; BVMT sinh thái và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Jo Hannesburrg (Cộng hòa Nam Phi, năm 2002) đã khẳng định: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa 3 mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế (PTKT), phát triển xã hội và BVMT nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người trong hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai

Theo Điều 3, khoản 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam, năm 2017, "Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai" [87, tr.8]

Theo Tổ chức Du lịch thế giới, PTBV trong du lịch là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Sự phát triển này quan tâm đến lợi ích kinh tế, xã hội, mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác BVMT và góp phần nâng cao mức sống cộng đồng địa phương

- Trong cuốn “Nhà nước Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông thôn” của Lê Thị Thanh Hà, tác

giả đã chỉ ra vai trò của nhà nước trong việc BVMT: BVMT là nhiệm vụ tất yếu của mọi nhà nước; Những biểu hiện cụ thể về vai trò của nhà nước hiện đại đối

Trang 21

với việc BVMT: Nhà nước xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch BVMT gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Nhà nước xây dựng công cụ pháp lý để BVMT; Nhà nước tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ BVMT; Nhà nước huy động cộng đồng dân cư tự giác tham gia vào việc BVMT và tổ chức giáo dục nâng cao ý thức BVMT trong xã hội [45, tr.tr.40-72]

Cuốn “Một số vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường trong bối cảnh

biến đổi khí hậu ở nước ta” của tác giả Nguyễn Danh Sơn [98], đã chỉ ra một số

nhận thức mới về BVMT như: tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, xã hội cacbon thấp, ANMT, an ninh sinh thái; định nghĩa về vốn tự nhiên như: đất đai, không khí, nước, các sinh vật sống trong sinh quyển cung cấp cho con người các hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái cần thiết để tồn tại và khẳng định phát triển với tính chất xanh không thế cho PTBV mà là một cách thức thực hiện PTBV trong

đó nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tài nguyên và môi trường

Theo tác giả Trần Văn Chử trong cuốn “Tài nguyên thiên nhiên môi

trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam” [26] nội dung cuốn

sách tập trung vào trình bày: Mối quan hệ môi trường tự nhiên, con người và quá trình sản xuất xã hội; Nêu một số điều kiện khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường với PTBV, đó là: sự nhận thức của nhà nước và cư dân,

hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước; Nguyên tắc kết hợp khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường và PTBV như: tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên không tái tạo

Các công trình nghiên cứu về nội dung PTKTDL gắn với ĐBANMT

Theo Inskeep E, “Tourism planning: An Integrated and Sustaible

Development Approach” - Xây dựng kế hoạch du lịch: Cách tiếp cận dưới góc

độ phát triển toàn diện và bền vững [145] tác giả cho rằng, để PTDL bền vững cần phải: Tối ưu hóa các lợi ích KT-XH; Bảo tồn môi trường và tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội và khai thác tốt các giá trị này; Bảo đảm chia sẻ lợi ích kinh tế một cách công bằng cho cộng đồng dân cư và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch

Trang 22

Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến trong cuốn “Quy hoạch du lịch” [143], đã

làm rõ các dẫn luận quy hoạch du lịch, như: lịch sử phát triển, khái niệm, nguyên tắc, tiềm năng và các điều kiện quy hoạch Thực trạng kinh doanh du lịch và cơ

sở khoa học của việc xây dựng bản đồ trong quy hoạch du lịch Dự báo nhu cầu PTDL và các định hướng chiến lược PTDL Tổ chức thực hiện và đánh giá tác động từ các dự án quy hoạch PTDL đến tài nguyên và môi trường Kinh nghiệm của thế giới về quy hoạch ở vùng biển, vùng núi, các vùng nông thôn và ven đô

Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra những khuyến nghị về quy hoạch du lịch vùng nông thôn và ven đô ở Việt Nam, khẳng định PTDL gắn với việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên môi trường đảm bảo sự PTBV; cần có kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp để khai thác có hiệu quả các lợi thế về vị trí, tiềm năng, đẩy mạnh PTDL góp phần vào phát triển KT-XH mà vẫn bảo tồn được giá trị về tự nhiên, văn hóa, xã hội

Bàn về nguyên tắc PTBV đã được một số công trình đi sâu phân tích:

[51], [33] và cho rằng nguyên tắc đó là: Khai thác, sử dụng tài nguyên hạn chế

sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường; Phát triển gắn liền với

nỗ lực bảo đảm tính dạng sinh thái; PTDL phù hợp với quy hoạch chiến lược đề ra; Đảm bảo việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương; Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, thường xuyên tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương, nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT trong PTDL; Tăng cường trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến quảng cáo

Còn theo Hens L, Tourism and Environment - Du lịch và môi trường [144]; Mowforth M and I.Munt, Tourism and Sustainability: New Tourism in the

Third World - Du lịch và bền vững: Du lịch mới trong thế giới thứ ba [150];

Inskeep E, National and Regional Tourism planning: Metholodogies and Case

Studies - Xây dựng kế hoạch quốc gia và khu vực: các phương pháp luận và

nghiên cứu tình huống [146]; cùng chỉ ra nguyên tắc PTDL bền vững thường được dùng trong du lịch gồm: bền vững sinh thái, bền vững văn hóa, bền vững kinh tế, có tính giáo dục, sự tham gia của cộng đồng

Theo TS Đoàn Mạnh Cương trong bài “Bảo vệ môi trường dưới góc nhìn

sức chứa điểm đến du lịch - Bài học từ một số điểm đến du lịch” [27], tác giả đã

đề cập đến bốn nội dung: Đưa ra quan niệm về sức chứa của điểm đến: Sức chứa

Trang 23

điểm đến du lịch có thể được hiểu là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả nhất nhu cầu tối đa của một lượng khách tham quan nhất định, trong giới hạn nguồn tài nguyên và dịch vụ cho phép tại nơi khách đến; Sức chứa điểm đến du lịch và mối quan hệ với môi trường sinh thái: Sức chứa tối đa là số lượng du khách cho phép đến các khu du lịch, điểm đến du lịch trong một thời gian, không gian nhất định, được bao nhiêu thì sẽ không ảnh hưởng đến cảnh quan, các cơ sở hạ tầng

du lịch không bị quá tải Nếu mỗi địa điểm du lịch vượt qua sức chứa tối đa sẽ dẫn đến các mâu thuẫn, xung đột, điển hình như hệ thống xử lý nước thải, rác thải tại chỗ sẽ không xử lý kịp, ảnh hưởng đến môi trường Do đó, khi xây dựng quy hoạch PTDL đều phải tính đến sức chứa tối đa trong các đề án, dự án quy hoạch PTDL Đặc biệt, vấn đề này càng có ý nghĩa hơn đối với những quốc gia điểm đến có ngành du lịch ở giai đoạn đầu hay đang trên đà PTDL Quản trị tốt vấn đề sức chứa, sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho các nhà quản lý điểm đến và các cơ sở dịch vụ du lịch từ khâu định hình được hướng phát triển một cách phù hợp ngay từ ban đầu, cho tới việc lập và triển khai hiệu quả quy hoạch, xây dựng, vận hành, quảng bá xúc tiến ; từ đó phát huy được tối đa những lợi ích kinh tế, xã hội do hoạt động du lịch mang lại, đồng thời tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực trong sản xuất kinh doanh Với nguyên lý cơ bản mang tính định hướng trên, vận dụng tốt, chắc chắn sẽ là cơ sở quan trọng để góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển chất lượng, bền vững, có trách nhiệm; Chỉ ra phát triển DLST - xu hướng tất yếu để BVM; Bài học từ một số điểm đến du lịch

1.1.2 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

Ở hướng nghiên cứu này, từ thực tiễn PTKTDL gắn với ĐBANMT của một số nước trên thế giới và của Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, PTKTDL gắn với ĐBANMT cần phải PTDL xanh, tiết kiệm năng lượng, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến như:

Khi nghiên cứu kinh nghiệm của Singapore, tác giả Duy An trong bài viết

“Khách sạn xanh hơn để hút khách” [2] đã chỉ ra cách thức để làm cho khách

Trang 24

sạn xanh nhằm thu hút du khách như: Trồng cây trên sân thượng khách sạn; Sử dụng công nghệ Cobiax (hệ thống hạn chế dùng bê tông và thay thế bằng nhựa tái chế; Cải thiện nguồn thực phẩm

Với Thái Lan, khi viết về kinh nghiệm PTDL xanh được tác giả Chiến

Thắng đưa ra trong bài “Nghiên cứu trao đổi về du lịch xanh tại Việt Nam hiện

nay - Bài học kinh nghiệm của Thái Lan và triển vọng trong tương lại” [108],

dựa trên 7 khái niệm: Tâm xanh; Vận chuyển xanh; Điểm đến xanh; Cộng đồng xanh; Hoạt động xanh; Dịch vụ xanh; Phương pháp tiếp cận xanh vượt trội Bên cạnh đó, sự thành công trong việc xây dựng mô hình du lịch cộng đồng cũng đã

được tác giả Chiến Thắng nêu ra trong bài viết “Kinh nghiệm quốc tế trong phát

triển du lịch cộng đồng hướng tới phát triển du lịch bền vững - Bài học cho vùng tây Bắc mở rộng” [109] Tác giả chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự thành công

của các mô hình du lịch cộng đồng được dựa trên tiêu chí cùng sáng lập, phương pháp tiếp cận có sự tham gia, và tiếp cận từ dưới lên

Trong bài viết của tác giả Thế Anh “Huế: Tiếp nhận 20 thùng rác thông

minh , biết nói lời “cảm ơn” [5] Với tỉnh Thừa Thiên Huế, để PTKTDL gắn với

ĐBANMT, việc đầu tiên được địa phương phải nâng cao nhận thức, trách

nhiệm của các cơ quan, người dân và doanh nghiệp trong công tác BVMT, thông qua các phong trào “Ngày Chủ nhật xanh”, “Nói không với túi ni lông và sản phẩm nhựa sử dụng một lần”, “Nhặt một cọng rác bạn đã làm Huế sạch hơn" Ứng dụng khoa học công nghệ làm sạch môi trường tại các điểm, khu du lịch và PTDL theo hướng bền vững - tập trung bảo tồn, phát huy giá trị di sản

văn hóa trong mối quan hệ hài hòa với quy hoạch phát triển đô thị gắn với cảnh quan thiên nhiên, các danh lam thắng cảnh

Tác giả Đình Tăng trong bài viết “Quản lý bảo tồn và khai thác di sản câu

chuyện từ Hội An” [103], đã nêu ra một số giải pháp của tỉnh Quảng Nam áp

dụng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường, như: Phân loại và tái chế rác thải từ nguồn; Tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản; Thực hiện đến 06 quy chế quy định từng lĩnh vực liên quan đến hoạt động du lịch như: Quy chế về quản lý, tu bổ, sử dụng khu phố cổ; Quy chế về trật tự kinh doanh; Quy chế về biển hiệu quảng cáo; Quy chế

Trang 25

về tham quan, du lịch; Quy chế về hoạt động du lịch trên sông; Quy chế về các

cơ chế phối hợp quản lý di sản Bên cạnh đó, để góp phần vào thành công của việc PTKTDL gắn với ĐBANMT là phải chia sẻ lợi ích cho cộng đồng, được tác

giả Quang Định đề cập trong bài viết “Phát triển nóng và “chảy máu " di sản ở

Hội An" [39]

Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh đã được tác giả Thu Nguyên nêu trong

bài viết “Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường” [79], để du lịch PTBV,

phát triển thành ngành kinh tế chủ lực của tỉnh, Quảng Ninh cần tăng cường hơn nữa công tác bảo tồn di sản, BVMT sinh thái, coi trọng phát huy các giá trị văn hoá bản địa để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, tăng sự trải nghiệm cho

du khách, xây dựng quy hoạch hạ tầng giao thông đồng bộ, đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ thông tin, internet để quảng bá du lịch, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân và cộng đồng tham gia PTDL PTDL vì chất lượng cuộc sống, du lịch phải gìn giữ được cảnh quan môi trường và mang lại lợi ích cho người dân, cho cộng đồng là những biện pháp mạnh nhằm xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh du lịch

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về giải pháp phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường

Liên quan đến hướng nghiên cứu này, có nhiều công trình trên cơ sở nghiên cứu thực trạng PTKTDL trong bối cảnh, điều kiện khác nhau như: sự tác động của chính sách, của BĐKH đã đưa ra hệ thống các giải pháp Có thể kể

ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

Công trình, Managing Tourism - Quản lý Du lịch của giáo sư S

Medlik [152], nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu ba nội dung chính: Tương lai- Phân tích- Kế hoạch, trong đó tác giả đã: Phân tích và trả lời các câu hỏi về khả năng đóng góp của các nghiên cứu tương lai đối với chính sách về du lịch, vòng đời của khu vực du lịch liệu có thể được kiểm soát?; Cho rằng trong du lịch, các chính sách đưa ra phải dựa trên sự kết hợp chặt chẽ của kinh tế, chính trị, xã hội và các đối tượng về không gian Những đối tượng này phải được đặt vào một khuôn khổ mang tính quyết định mà chức năng chính của nó là việc đạt được mục tiêu với những ý nghĩa cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định; Việc thiết lập

Trang 26

chính sách trong du lịch không phải là một nhiệm vụ phức tạp với chính phủ, mà

là việc phát triển thông qua sự cộng tác với các tổ chức du lịch và ngành công nghiệp du lịch; Đề cập đến khái niệm sản phẩm, sự cạnh tranh trong ngành hàng không, sự quảng bá sản phẩm và điểm đến, sự quản lý du lịch, giới hạn cũng như thách thức đối với ngành du lịch

Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Tú (2006), “Những giải pháp

phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập” [130] Nội dung

luận án đã phân tích làm rõ khái niệm về du lịch, DLST, yêu cầu và nội dung phát triển DLST trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với phát triển DLST trong xu thế hội nhập

Đồng thời, trên cơ sở phân tích những kinh nghiệm phát triển DLST của một số nước như: Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nêpan, Kênia, Êcuađo, Côxta Rica, Pháp, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và xem xét điều kiện của Việt Nam, tác giả luận án đã rút ra 7 bài học kinh nghiệm có thể vận dụng đối với Việt Nam

Đánh giá thực trạng phát triển DLST Việt Nam trong giai đoạn vừa qua

từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu phát triển DLST Việt Nam trong giai đoạn tới bao gồm: Hoàn thiện quy hoạch DLST bền vững theo hướng cộng đồng; Hoàn thiện tổ chức quản lý và cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ phát triển DLST; Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật;

Đa dạng hóa và tạo tính đặc thù sản phẩm DLST; Nâng cao chất lượng sản phẩm DLST; Chú trọng công tác bảo tồn đa dạng sinh học và BVMT; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực DLST; Tăng cường nghiên cứu thị trường, xúc tiến và quảng bá DLST; Tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế trong phát triển DLST; Đẩy mạnh xúc tiến giáo dục nâng cao nhận thức về DLST

Theo TIES (The International Ecotourism Society- Hiệp hội DLST quốc

tế), Definition and Ecotourism Principles - Định nghĩa và Nguyên tắc Du lịch

sinh thái” [154]: Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, đó là: Thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên và các khu bảo tồn nói riêng Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm ) và cố gắng

có lợi cho môi trường; Gần gũi về xã hội và văn hóa Nó không gây hại đến các

Trang 27

cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng nơi chúng được thực hiện Thay vào

đó thì nó lại tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ; Có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn Theo đó, một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du kịch trong nhiều cách có thể không phá hủy các nguồn lực tự nhiên, văn hóa và kinh

tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lực mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hóa và mang lại lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức

Theo Will G., J.Nelson và R.W.Buler (1993), Tourism and sustainable

developoment: Monitoring, planning, mananging, department of geography,

Uninersity of Waterloo, Waterloo, Ontario - Du lịch và PTBV: Giám sát, lên kế

hoạch, quản lý (Khoa địa lý, Đại học Waterloo, Waterloo, Ontario) [156]: Đưa

ra một số chỉ tiêu đánh giá cho PTDL bền vững và đây cũng được xem là các

tiêu chuẩn chung cho sự thành công của PTDL bền vững, bao gồm: Du lịch sinh

thái: hướng đến các điểm thiên nhiên, bảo tồn tài nguyên môi trường và cải

thiện phúc lợi cho người dân địa phương; Du lịch bền vững: không làm giảm nguồn lực thiên nhiên; Du lịch trách nhiệm: làm giảm thiểu các yếu tố tiêu cự của du lịch ảnh hưởng đến môi trường; Du lịch thiên nhiên: các hoạt động du lịch và trải nghiệm tập trung vào thiên nhiên; Du lịch văn hóa: du khách trải nghiệm nền văn hóa tại điểm đến; Du lịch khám phá;

Kreg Lindberg and Donald E.Hawkins “Ecotourism: A Guide for Planners

and Managers - Du lích sinh thái: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” [149] Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra phương pháp (cách thức)

Trang 28

quy hoạch DLST cho các khu bảo tồn thiên nhiên: Đánh giá hiện trạng về tiềm năng du lịch; Khẳng định một trạng thái du lịch mong muốn và xác định các bước để đạt đến trạng thái đó; Viết văn bản chiến lược DLST Đề ra các biện pháp để phát triển và thực hiện nguyên tắc chỉ đạo DLST cho các khu thiên nhiên hoang dã và cộng đồng lân cận

- Te Fu Chen, “Building a sustainable tourism development in international

tourism destination - Xây dựng PTDL bền vững trong điểm đến du lịch quốc tế”

[153] Tác giả đã đề cập đến một số nội dung như: sự bền vững là nền tảng của PTDL, những chỉ dẫn thực tiễn đối với du lịch bền vững như sự lựa chọn của phát triển, trách nhiệm của quản lý điểm đến, công ty lữ hành và du lịch tư nhân, khách lữ hành và dân địa phương, đánh giá tầm ảnh hưởng và quản lý và trong điểm đến du lịch quốc tế, công cụ để giúp quản lý điểm đến bền vững hơn Trên

cơ sở đó, tác giả đã xây dựng mô hình PTDL bền vững trong điểm đến du lịch quốc tế Mô hình du lịch này là tổng hợp các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường mà mỗi quốc gia và địa phương PTDL có thể tham khảo, học tập

Theo Trần Tiến Dũng (2006), “Phát triển du lịch bền vững ở Phong

Nha-Kẻ bàng” [33] Để PTDL bền vững, cần thực hiện các giải pháp sau: Bảo vệ và

khai thác hợp lý môi trường tự nhiên; Bảo vệ và tôn tạo môi trường nhân văn (danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa lịch sử, truyền thống bản sắc dân tộc và địa phương); Xây dựng kế hoạch quy hoạch khu du lịch một cách khoa học và xây dựng tầm nhìn; Tính toán kỹ và quản lý chặt chẽ sức chứa du khách (không lạm dụng và tăng số lượng du khách quá sức chứa); Đào tạo cán bộ và nhân viên

du lịch có tính chuyên nghiệp cao (kể cả ngành hướng dẫn du lịch và ngành khách sạn - nhà hàng - resort); Gắn kết chặt chẽ giữa các tổ chức, hiệp hội du lịch, công ty du lịch và chính quyền địa phương trong việc quản lý DLBV ở các khu du lịch; Nâng cao trách nhiệm BVMT đối với khách du lịch; Đảm bảo phúc lợi xã hội và thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương Giáo dục truyền thống hiếu khách và giao lưu văn hóa; Nâng cao vai trò quản lý giám sát của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đối với các khu du lịch

Trong bài “Thực trạng và các giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi

khí hậu; đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường” của tác giả Trần Quốc

Trang 29

Toản [124, tr.7-26] đã nhìn nhận tổng quát về công tác ứng phó với BĐKH và bảo

vệ tài nguyện, thiên nhiên để đưa ra những vấn đề lớn đang đặt ra và các nhiệm

vụ, giải pháp chủ yếu, thực hiện đồng bộ giữa các lĩnh vực và nhiệm vụ, giải pháp riêng cho từng lĩnh vực ứng phó với BĐKH, BVMT và tài nguyên

Theo United Nations Environment Programent (UNEP) and Word Tourism

Organization (2012), Touris in the green economy - Background reprt UNWTO,

Madrid - Chương trình môi trường Liên hợp quốc và Tổ chức Du lịch thế giới

(2012), Du lịch trong kinh tế xanh - Báo cáo cơ sở, UNWTO [155] Báo cáo

được đã đưa ra các thông điệp: Du lịch có tiềm năng đáng kể như một động lực thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế thế giới; Sự phát triển của du lịch đi kèm với những thách thức không nhỏ: tiêu thụ nước nhiều hơn so với nước dân dụng

sử dụng, xả nước chưa qua xử lý, tạo ra chất thải, thiệt hại cho đất liền địa phương và đa dạng sinh học biển và các mối đe doạn đối với sự tồn tại của các nền văn hóa địa phương, các di sản và truyền thống; Du lịch xanh có tiềm năng tạo ra nhiều việc làm mới, xanh: Theo ước tính một công việc trong ngành du lịch cốt lõi tạo ra khoảng một rưỡi việc làm bổ sung hoặc gián tiếp liên quan đến

du lịch; PTDL có thể được thiết kế để hỗ trợ nền kinh tế địa phương và giảm nghèo; Đầu tư vào việc xanh hóa du lịch có thể giảm chi phí năng lượng, nước

và chất thải và tăng cường giá trị của đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản; Khách du lịch đang yêu cầu xanh hóa du lịch; Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, có thể và phải được huy động đễ hỗ trợ du lịch xanh; Phần lớn tiềm năng kinh tế cho du lịch xanh nằm trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần tiếp cận tốt hơn với nguồn tài chính để đầu tư vào du lịch xanh; Đầu tư và chính sách của chính phủ có thể thúc đẩy các hành động của khu vực tư nhân đối với du lịch xanh Toàn bộ 8 thông điệp trên được trình bày trong 5 chương của báo cáo

- Trong cuốn “Nhà nước Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông thôn” của Lê Thị Thanh Hà, căn

cứ vào vai trò của nhà nước trong việc BVMT, tác giả đề ra 4 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc BVMT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay:

Trang 30

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật BVMT; Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về BVMT các cấp và xây dựng đội ngũ cán bộ BVMT đáp ứng yêu cầu mới; Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển dịch vụ công trong việc BVMT và tăng cường giáo dục ý thức, trách nhiệm BVMT cho nhân dân; Đẩy mạnh đầu tư cho nhiệm vụ BVMT của quốc gia [45, tr.173-217]

Cuốn "Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường" của Nguyễn

Thị Thơm, An Như Hải [115] đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường; quan tâm phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Philippin về

sử dụng chế tài xử phạt vi pháp pháp luật BVMT, xây dựng hệ thống tổ chức

bộ máy quản lý nhà nước về môi trường, sử dụng biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và huy động cộng đồng tham gia và BVMT để rút ra bài học cho Việt Nam; từ đó đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách BVMT, tăng cường chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BVMT, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường các cấp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam thời gian tới

Theo Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc

Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch [18], báo cáo đã tập trung vào một số vấn đề chủ yếu:

Một là, đánh giá các yếu tố nguồn lực và hiện trạng PTDL vùng Bắc

Trung Bộ; xác định cơ hội và thách thức đối với PTDL của vùng

Hai là, quy hoạch PTDL vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến

năm 2030 Trên cơ sở đưa ra quan điểm, mục tiêu và dự báo các chỉ tiêu PTDL,

đã đưa ra một số định hướng phát triển về các mặt như: sản phẩm du lịch, thị trường khách du lịch, xây dựng hình ảnh, phát triển thương hiệu và xúc tiến quảng bá, tổ chức không gian PTDL, đầu tư PTDL, bảo vệ tài nguyên môi trường

du lịch vùng

Ba là, các giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch, trong đó, bao gồm

các giải pháp: nhóm giải pháp đầu tư và huy động vốn đầu tư, giải pháp phát triển nguồn nhân lực; xúc tiến, quảng bá; tổ chức, quản lý; ứng dụng khoa học -

Trang 31

công nghệ; liên kết vùng và hợp tác quốc tế; bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch vùng và ứng phó với BĐKH

Theo tác gia Nguyễn Thế Chinh trong bài "Sử dụng công cụ kinh tế bảo vệ

môi trường nhằm phát triển du lịch" [23], tác giả đã chỉ ra rằng để tăng cường

vai trò kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động BVMT, Việt Nam đã và đang

sử dụng trong quản lý tài nguyên và BVMT và môi trường du lịch như: Thuế tài nguyên; Phí môi trường (phí nước thải và phí rác thải môi trường); Đặt cọc hoàn trả và ký quỹ môi trường (mục đích để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phục hồi môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra theo quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản); Quỹ môi trường (bao gồm: quỹ môi trường quốc gia; quỹ môi trường địa phương; quỹ môi trường ngành); Các cơ chế tài chính khác

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế du lịch gắn với đảm bảo an ninh môi trường ở tỉnh Ninh Bình

Tác giả luận án Nguyễn Mạnh Cường “Vai trò của chính quyền địa

phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình” [28], đã nêu

quan điểm chủ đạo PTBV du lịch hướng tới sự hài hòa của những mục tiêu kinh

tế, xã hội, môi trường, sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian, những quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và sự phát triển của khoa học công nghệ thay đổi cân bằng đó thay đổi theo Ngoài ra, PTBV du lịch đòi hỏi phải phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng cao có khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu cao của khách du lịch, song không gây tổn hại tới môi trường

tự nhiên văn hóa bản địa, đồng thời có trách nhiệm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bản địa Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng khâu yếu kém nhất của quản lý nhà nước ở Ninh Bình là khâu thanh tra, kiểm tra hoạt động du lịch

Trong bài “Để Ninh Bình phát triển nhanh và bền vững Hướng đột phá

phát triển du lịch Ninh Bình trong Vùng Đồng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc” tại Hội thảo khoa học: “Ninh Bình-20 năm đổi mới và phát triển” [51], tác

giả cho rằng để PTBV Ninh Bình cần tháo gỡ một số nút thắt sau: Đa dạng sản phẩm du lịch từ tham quan, giải trí, tâm linh, tìm hiểu lối sống, văn hóa cộng đồng,…; Thúc đẩy đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; Nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch; Về huy động nguồn lực PTDL; Về xúc tiến quảng bá; Về hoạch định chính sách và quản lý; Về bảo tồn, BVMT

Trang 32

Mô hình khách sạn xanh (tiêu dùng xanh): Emeralda Resort Ninh Bình:

phục vụ nước lọc trong những bình thủy tinh thay vì bình nhựa, ống hút giấy được đưa vào phục vụ ẩm thực thay thế cho ống hút nhựa truyền thống, túi sinh học tự phân hủy được sử dụng để thu gom rác thải… [42]

Mô hình kiến trúc xanh thân thiện với môi trường: Những homesay này

đều hòa mình trong không gian xanh tươi được thiên nhiên bao bọc và bầu

không khí trong lành thuần khiết, được thiết kế bằng những vật liệu gần gũi với thiên nhiên và thân thiện với môi trường như mái lá, mái ngói, tre, gỗ, … giúp cho các phòng nghỉ tại đây đều mát về mùa hè và ấm vào mùa đông - đây cũng được coi là một trong những giải pháp tiết kiệm năng lượng của các homestay tại Ninh Bình

Theo Phương - Dung, trong bài Ninh Bình phát triển du lịch gắn với bảo

vệ sinh thái, [84] tác giả chỉ ra những biện pháp để bảo tồn Khu bảo tồn thiên

nhiên đất ngập nước Vân Long (huyện Gia Viễn, Ninh Bình) được Ban quản lý, chính quyền và nhân dân thực hiện: Nêu cao trách nhiệm, chú trọng đến việc thu hút cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học (hiện nay đã thu hút được 30 cộng tác viên kiểm lâm tham gia làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và bảo tồn thiên nhiên cùng với Ban Quản lý rừng Năm 2010 trên địa bàn chỉ có 40 cá thể Voọc mông trắng, nay đã có trên 150 cá thể); Tuyên truyền, giáo dục cho bà con không được chặt cây, phá vỡ cảnh quan môi trường, không được khai thác đá cảnh ở trong khu bảo tồn; mỗi đò đều có thùng đựng rác, tránh tình trạng khách du lịch xả rác ra đầm

Hay như việc làm Hội Liên hiệp phụ nữ xã thường xuyên phối hợp với Ban Quản lý khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long dọn dẹp vệ sinh,

khơi thông dòng chảy, thu gom rác thải…

1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG “KHOẢNG TRỐNG” CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Đánh giá chung

Các công trình và bài viết được công bố trong và ngoài nước nêu trên đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về PTKTDL gắn với ĐBANMT Cụ thể:

Trang 33

- Hướng vào luận giải vấn đề PTKTDL gắn với ĐBANMT và đưa ra khái niệm liên quan từ nhu cầu thực tiễn và góc độ nghiên cứu khác nhau, như: Khái niệm du lịch; khái quát về KTDL, sản phẩm du lịch, thị trường du lịch, vai trò của KTDL, quy hoạch xây dựng khu du lịch, ĐBANMT,…Một số công trình đã chỉ ra chức năng và vai trò của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật; mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong phát triển và chỉ ra mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên trong phát triển Từ đó, các công trình có rằng để giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên trong phát triển thì nhất thiết phải gắn PTKT với BVMT hay nói cách khác là phải phát triển hài hòa kinh tế và môi trường

- Chỉ ra những cơ sở hình thành sự PTKTDL gắn với ĐBANMT như: Tác động của du lịch đến môi trường; vai trò của nhà nước hiện đại đối với việc BVMT; sự nhận thức của nhà nước và cư dân, hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên; những vấn đề liên quan giữa khan hiếm tài nguyên, dân số, kinh tế và môi trường và những nội dung cơ bản của quản lý môi trường phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và xu hướng biến đổi môi trường toàn cầu; Xu hướng phát triển bền vững;

- Nêu ra những hình thức thể hiện sự PTKTDL gắn với ĐBANMT: PTDL phù hợp với quy hoạch chiến lược đề ra; Kết hợp khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường và PTBV; Bảo đảm chia sẻ lợi ích kinh tế một cách công bằng cho cộng đồng dân cư và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch; Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, thường xuyên tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương, nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT trong PTDL; Chỉ ra phát triển DLST - xu hướng tất yếu

để BVMT

- Một số công trình nghiên cứu thực tiễn PTKTDL gắn với ĐBANMT ở một số nước và địa phương đã chỉ ra rằng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, các quốc gia đang phát triển phải chịu áp lực lớn trong PTDL về ONMT, suy giảm dạng sinh học, sức chứa điểm đến…Từ đó, các công trình đã đưa ra khuyến nghị, cần PTDL xanh, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên,……

Trang 34

- Một số công trình đưa ra giải pháp nhằm PTKTDL gắn với ĐBANMT, như: Nâng cao ý thức, trách nhiệm BVMT; Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách BVMT; PTDL phù hợp với quy hoạch chiến lược phát triển KT-XH; Bảo vệ và khai thác hợp lý môi trường tự nhiên; Chú trọng công tác bảo tồn đa dạng sinh học và BVMT; Hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường; Phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường: DLST, Du lịch bền vững, Du lịch thiên nhiên, Du lịch văn hóa, Du lịch khám phá; Đảm bảo việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương; Nâng cao vai trò quản lý giám sát của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đối với các khu du lịch; Thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân đối với du lịch xanh

Những nghiên cứu này là gợi ý cho luận án khi đề xuất các giải pháp PTKTDL gắn với ĐBANMT ở địa bàn cấp tỉnh

Riêng về Ninh Bình, gần đây đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu

liên quan đến PTKTDL gắn với ĐBANMT, như bài: Ninh Bình phát triển bền

vững mô hình du lịch cộng đồng [77]; mô hình khách sạn xanh [46], mô hình

kiến trúc xanh thân thiện môi trường Từ đó đề xuất một số giải pháp để ngành

du lịch của Ninh Bình phát triển, như sự thích ứng với BĐKH trong hoạt động

du lịch, như: Kiến trúc xanh, thân thiên môi trường; phát triển mô hình du lịch cộng đồng, du lịch thân thiên với môi trường, DLST,… Những vấn đề thực tiễn trên là những gợi ý quý giá để luận án nghiên cứu về PTKTDL gắn với ĐBANMT

ở Ninh Bình

Như vậy, các công trình tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn PTKTDL gắn với ĐBANMT Những công trình nêu trên là nguồn tài liệu ban đầu vô cùng quý giá, giúp gợi mở cho nghiên cứu sinh định hướng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình này mới chủ yếu được trình bày dưới góc độ các lát cắt hoặc nghiên cứu dưới

góc độ chuyên ngành kinh tế môi trường, kinh tế phát triển , vẫn còn “khoảng

trống” trong một số vấn đề về PTKTDL gắn với ĐBANMT dưới góc độ kinh tế

chính trị cụ thể như sau:

- Về mặt lý luận: Chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách toàn diện,

chuyên sâu về mặt lý luận PTKTDL gắn với ĐBANMT ở một địa bàn cấp tỉnh

Trang 35

- Về mặt thực tiễn: Cho đến nay, còn ít công trình nghiên cứu đánh giá

một cách toàn diện, sâu sắc thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua Việc tìm tòi, đề xuất các giải pháp chủ yếu PTKTDL gắn với ĐBANMT còn dư địa lớn Vì vậy, đề tài luận án mà nghiên cứu sinh lựa chọn là cần thiết và không trùng lặp với các công trình, luận án đã công bố

1.2.2 Những “khoảng trống” cần tiếp tục nghiên cứu

Để góp phần lấp đầy “khoảng trống” trên và đẩy mạnh PTKTDL gắn với

ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới, nghiên cứu sinh sẽ tập trung vào nghiên cứu các vấn đề sau:

- Về mặt lý luận: Luận án xây dựng khung lý thuyết về PTKTDL gắn với

ĐBANMT, tập trung vào làm rõ lý luận:

+ Khái niệm và sự cần thiết PTKTDL gắn với ĐBANMT

+ Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến PTKTDL gắn với ĐBANMT

- Về thực tiễn:

+ Luận án nghiên cứu kinh nghiệm PTKTDL gắn với ĐBANMT của một

số nước và các địa phương có điều kiện tương đồng với tỉnh Ninh Bình, từ đó rút ra bài học cho PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình;

+ Luận án phân tích, đánh giá thực trạng PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2019 Rút ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp toàn diện, hệ thống và có tính khả thi về PTKTDL gắn với ĐBANMT ở tỉnh Ninh Bình định hướng đến năm 2030

Trang 36

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH

GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH VÀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG

2.1.1 Về du lịch và phát triển kinh tế du lịch

2.1.1.1 Du lịch

* Khái niệm về du lịch: Tại Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 của Việt Nam

nêu quan niệm: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên

du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp trong một khoảng thời gian pháp khác”

[87, tr.6] Hay:

Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiều và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó đem lại lợi ích kinh tế chính trị-xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp [40, tr.19-20]

Du lịch được xem là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ

kinh tế phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc

thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa, xã hội

Hoạt động du lịch đòi hỏi phải có dịch vụ du lịch:

* Dịch vụ du lịch là một bộ phận của KTDL Dịch vụ du lịch là hoạt động

trong đó các đơn vị kinh doanh du lịch cung ứng nhằm thu hút và phục vụ du khách theo mức giá, mức chi phí sản xuất và các biến số kinh tế khác trong một

Trang 37

thời gian nhất định Có thể hiểu, dịch vụ du lịch là “việc cung cấp các dịch vụ về

lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [86, tr.10]

* Đặc điểm của dịch vụ du lịch: Dịch vụ du lịch vừa có những đặc điểm

chung mang tính chất truyền thống của dịch vụ như: không hiện hữu, không tồn tại dưới dạng vật thể; có tính không đồng nhất; sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời; không thể di chuyển và tính không chuyển đổi quyền sở hữu

dịch vụ Đồng thời có tính đặc thù thể hiện như sau: Tính phi vật thể Với đặc

điểm này du khách không thể sử dụng thử trước khi trực tiếp tiêu dùng dịch vụ

du lịch Do đó, khi du khách chưa tiêu dùng dịch vụ du lịch thì nó vẫn là trừu tượng và khó đánh giá dịch vụ Điều này đòi hỏi nhà cung ứng dịch vụ du lịch

cần cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho du khách, đặc biệt phải nhấn mạnh được lợi ích của dịch vụ đối với du khách để họ thấy hài lòng và quyết định mua dịch vụ của mình Bên cạnh đó, công tác quảng bá du lịch phải có nhiều nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện quảng bá rộng rãi đến du khách

để họ có thể định hình trước được những dịch vụ mà nhà cung ứng có để họ sẽ

quyết định tiêu dùng những dịch vụ nào mà họ mong muốn; Tính đồng thời của

sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch Với dịch vụ du lịch thì việc sản xuất và

tiêu dùng thường trùng nhau về “không gian” và “thời gian”; dịch vụ du lịch không thể để lưu kho hay cất đi như các hàng hoá thông thường Chẳng hạn, đối với các khu du lịch vùng ven biển vào mùa đông, số lượng phòng bỏ trống thường rất lớn, nhưng họ cũng không thể để dành phòng nghỉ đến lúc cao điểm vào mùa hè được Chính đặc điểm này dẫn đến tình trạng cung cầu về dịch vụ mất cân đối, gây lãng phí cơ sở vật chất lúc trái vụ và chất lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút vào mùa cao điểm Để khắc phục tình trạng trên, các doanh nghiệp thường có các chương trình khuyến mại đối với khách đi nghỉ trái vụ khi

cầu giảm hoặc tổ chức quản lý tốt chất lượng dịch vụ khi cầu cao điểm; Sự tham

gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ Đặc tính này cho thấy, ở

một chừng mức nào đó du khách đã trở thành nội dung của quá trình sản xuất

Do tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch, nên ở đó khách hàng và người sản xuất gặp gỡ nhau Giữa hai chủ thể này có sự gắn liền và phụ

Trang 38

thuộc lẫn nhau trong việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ Do người tiêu dùng

dịch vụ (khách du lịch) có sự đa dạng về yêu cầu, sở thích, trình độ cũng như

khả năng cảm nhận và đánh giá của họ mà nhà cung ứng dịch vụ du lịch cần sáng tạo trong quá trình sản xuất của mình để thoả mãn nhu cầu của du khách Mức độ hài lòng của của du khách phụ thuộc nhiều vào khả năng, trình độ, nghệ thuật ứng xử của người làm dịch vụ Ở đây, người tiêu dùng không chỉ là người hưởng thụ những lợi ích do nhà cung ứng dịch vụ mang lại mà sự hợp tác cùng với những phản hồi của họ có tác động đến khả năng phục vụ và mức độ hoàn thiện của dịch vụ; họ trở thành người đồng sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch

vụ du lịch; Tính không thể di chuyển: Do cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa

là nơi cung ứng dịch vụ nên nó không thể dịch chuyển được Thực tế cho thấy, nhà cung ứng dịch vụ không thể cung cấp dịch vụ du lịch của mình đến tận tay

du khách được mà du khách muốn tiêu dùng dịch vụ phải đến các cơ sở du lịch

Vì vậy, các nhà kinh doanh du lịch muốn thu hút du khách, cần phải đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch Đây là một trong những nội dung hết sức

quan trọng để PTKTDL; Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ Khác với

việc mua sản phẩm vật chất, người mua có quyền sở hữu đối với sản phẩm đó Nhưng với dịch vụ du lịch thì không phải như vậy Khi du khách mua dịch vụ du lịch thì sự tiêu dùng dịch vụ của họ song song với quá trình sản xuất của nhà cung ứng; do vậy, khách hàng chỉ đang mua quyền hưởng thụ dịch vụ do nhà cung ứng mang lại chứ không thể mua được quyền sở hữu dịch vụ đó của nhà

cung ứng dịch vụ du lịch; Tính không đồng nhất của dịch vụ du lịch Khác với

các hoạt động dịch vụ khoa học - công nghệ, dịch vụ sản xuất, dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn nhu cầu cho tất cả mọi người trong toàn xã hội Dịch vụ du lịch

là một loại hình dịch vụ đời sống thoả mãn nhu cầu cho khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch như: nhu cầu ăn, ở, nghỉ ngơi, tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu lịch sử, văn hoá và các nhu cầu khác Mặt khác, do khách hàng rất muốn được chăm sóc như những con người riêng biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất Với đặc tính này của du khách, doanh nghiệp du lịch rất khó đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ nhằm thoả mãn tất cả các khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thoả mãn ấy phụ thuộc vào sự cảm

Trang 39

nhận của du khách; Tính không đồng đều về sản lượng Do tính đồng thời của

sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch nên sản lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu của du khách Mặt khác, nhu cầu của khách du lịch rất phong phú, đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thời tiết, tình hình chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh, thiên tai, dịch bệnh, v.v Kết quả dẫn đến sự thay đổi về số lượng khách du lịch và sản lượng dịch vụ du lịch theo từng ngày trong tuần, từng tuần trong tháng, từng tháng trong năm và giữa năm này so với năm khác

* Các loại hình du lịch cơ bản

Du lịch là một hoạt động có tính đa dạng và phong phú về loại hình và thể loại Cùng với sự phát triển ngày càng cao về nhu cầu của con người dẫn đến sự xuất hiện nhiều loại hình du lịch

Theo Điều 3, Luật Du lịch năm 2017, có ba loại hình du lịch cơ bản sau đây [87, tr.8]:

Du lịch cộng đồng: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá

trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi

Du lịch sinh thái: Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản

sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục

về BVMT

Du lịch văn hóa: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác

giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại

Từ 3 loại hình du lịch cơ bản có nhiều dạng hình du lịch tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay, đó là:

Du lịch tham quan: Du lịch tham quan di tích lịch sử, thắng cảnh Đây là

hình thức du lịch truyền thống ở Việt Nam

Du lịch văn hóa: Du lịch lễ hội, du lịch hoa

Du lịch ẩm thực: Những bữa tiệc cung đình Huế hay ẩm thực Bắc Trung

Nam,

Trang 40

Du lịch xanh: Gần đây du lịch hướng về thiên nhiên trở thành một xu

hướng không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới Hình thức du lịch này gần

gũi, đồng thời có thể phát huy hết vai trò của yếu tố thiên nhiên, lợi thế tự nhiên

của một quốc gia Bao gồm: DLST, du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh

Du lịch MICE: Loại hình du lịch này theo dạng, gặp gỡ xúc tiến, hội

nghị, hội thảo, du lịch chuyên đề Đây là dạng hình du lịch tập thể dành cho

các công ty, doanh nghiệp

Team building, Teambuiding tour: Kết hợp du lịch tham quan, nghỉ

dưỡng với chương trình Team nhằm xây dựng, tăng cường tinh thần đoàn kết,

tập thể

Đây là các hình thức du lịch phân theo mục đích di chuyển

2.1.1.2 Phát triển kinh tế du lịch

* Kinh tế du lịch

- Khái niệm kinh tế du lịch

Cho đến nay, đã có một số quan niệm khác nhau về KTDL tùy theo cách

tiếp cận, song có điểm chung: KTDL là một loại hình kinh tế có tính đặc thù riêng

biệt của dịch vụ Đây là hoạt động kinh tế có vai trò khai thác các tài nguyên sẵn có

của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới thăm quan

KTDL là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ

thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản

phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và

tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước KTDL là ngành công nghiệp

không khói, ngành sản xuất phi vật chất nhưng mang lại những giá trị vật chất

và tinh thần rất cao

Từ đó, tác giả luận án cho rằng: Kinh tế du lịch là một hệ thống quan hệ

kinh tế trong lĩnh vực cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch, bao gồm: các

quan hệ ngành, nghề là: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch, kinh

doanh vận tải khách du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch khác, nhằm thoả mãn

nhu cầu tinh thần của du khách, đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết

thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp du lịch

Ngày đăng: 24/06/2021, 08:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Duy An - (TBKTSG, 2018), Khách sạn xanh hơn để hút khách, https://ashui.com/mag/congnghe/xuhuong, [truy cập ngày 11/7] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khách sạn xanh hơn để hút khách
2. V.A (2020), Hệ lụy của Covid-19: Du lịch toàn cầu chưa thể cải thiện trong năm 2020, https://baoquocte.vn, [truy cập ngày 11/5] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ lụy của Covid-19: Du lịch toàn cầu chưa thể cải thiện trong năm 2020
Tác giả: V.A
Năm: 2020
3. Lan Anh (2019), Quảng Nam hướng đến du lịch không rác thải nhựa, https://baotainguyenmoitruong.vn, [truy cập ngày 9/9] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam hướng đến du lịch không rác thải nhựa
Tác giả: Lan Anh
Năm: 2019
4. Hoàng Anh (2020), Liên tiếp xâm hại di sản Tràng An, Công ty Doanh Sinh vẫn được khen thưởng, https://taichinhdoanhnghiep.net.vn, [truy cập ngày 01/05] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên tiếp xâm hại di sản Tràng An, Công ty Doanh Sinh vẫn được khen thưởng
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2020
5. Thế Anh (2018), Huế: Tiếp nhận 20 thùng rác thông minh , biết nói lời “cảm ơn”, http://moitruong24h.vn, [truy cập ngày 25/12] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huế: Tiếp nhận 20 thùng rác thông minh , biết nói lời “cảm ơn
Tác giả: Thế Anh
Năm: 2018
6. Hải Âu, Hội VHNT Ninh Bình (2019), Ninh Bình tập trung trồng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, làm theo lời Bác, https://baoninhbinh.org.vn, [truy cập ngày 15/8] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình tập trung trồng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, làm theo lời Bác
Tác giả: Hải Âu, Hội VHNT Ninh Bình
Năm: 2019
7. Ban Truyền thông (2018), Tăng cường công tác quản lý môi trường tại chùa Bái Đính mùa lễ hội, http://trangangroup.vn, [truy cập ngày 8/3] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý môi trường tại chùa Bái Đính mùa lễ hội
Tác giả: Ban Truyền thông
Năm: 2018
8. Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long (2002), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2002
9. Thái Bá (2019), Du khách không nên ở homestay trái phép trong di sản Tràng An https://dulich.dantri.com.vn/du-lich, [truy cập ngày 5/1] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du khách không nên ở homestay trái phép trong di sản Tràng An
Tác giả: Thái Bá
Năm: 2019
10. Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Ninh Bình (2017), Nghị quyết số 12-NQ/BCĐ ngày 15/02/2017 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch và quy hoạch, khai thác có hiệu quả để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch và quy hoạch, khai thác có hiệu quả để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Ninh Bình
Năm: 2017
11. Không rõ tác giả (2011), Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững, http://baochinhphu.vn, [truy cập ngày 31/5] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
Tác giả: Không rõ tác giả
Năm: 2011
12. Không rõ tác giả (2017), Bảo vệ môi trường du lịch vì sự phát triển bền vững: Hiệu quả từ Ninh Bình, https://vietnamtourism.gov.vn, [truy cập ngày 04/08] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường du lịch vì sự phát triển bền vững: Hiệu quả từ Ninh Bình
Tác giả: Không rõ tác giả
Năm: 2017
13. Trần Thanh Bình (2006), Chủ động ứng phó với biến đổi đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động ứng phó với biến đổi đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Bộ chính trị (1998), Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tăng cường công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 1998
15. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004, về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Các quy định pháp luật về môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
18. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2013
19. Nguyễn Bá Bồng (CB, 2013), Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai ứng phó với biến đổi khí hậu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai ứng phó với biến đổi khí hậu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
20. Chu Văn Cấp (2012), "Phát triển xanh- phát triển bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, Giai đoạn 2011-2020". Tạp chí Phát triển và hội nhập, (4/14), tr.3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển xanh- phát triển bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, Giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w