Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững ngành du lich, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “ Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-**** - MAI THỊ THANH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Văn Thông
Hà Nội – Năm 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chương 1 : Du lịch ngành Kinh tế quan trọng trong nền KTQD - Những vấn đề lý luận và thực tiễn .6
1.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch 6
1.1.1 Khái niệm về du lịch và lịch sử ngành kinh doanh du lịch 6
1.1.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch 9
1.2.3 Các loại hình du lịch 11
1.2 Vai trò của ngành du lịch trong nền KTQD 15
1.2.1 Du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước 15
1.2.2 Du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển 17
1.2.3 Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động 18
1.2.4 Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ KTQT 19
1.3 Khái quát tình hình phát triển du lịch Việt Nam 21
1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành Du lịch 21
1.3.2 Tình hình phát triển ngành du lịch Việt Nam 24
1.4 Kinh nghiệm phát triển ngành du lịch ở một số địa phương ở nước ta 28
1.4.1 Kinh nghiệm của Thủ đô Hà Nội 28
1.4.2 Kinh nghiệm của Hải Phòng 30
1.4.3 Kinh nghiệm của Quảng Ninh trong phát triển du lịch 31
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình 36
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch Ninh Bình 36
2.1.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên, KT -XH tác động đến sự phát triển du lịch NB 36
Trang 32.2 Đặc điểm chung về tình hình phát triển ngành du lịch Ninh Bình 47
2.2.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch 47
2.2.2 Đặc điểm cơ sở vật chất và đầu tư phát triển ngành du lịch 55
2.2.3 Lực lượng lao động tham gia trong ngành du lịch .61
2.3 Thực trạng các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 65
2.3.1 Kinh doanh khách sạn, nhà hàng 65
2.3.2 Kinh doanh du lịch lữ hành 69
2.3.3 Kinh doanh vận chuyển hành khách .73
2.4 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh du lịch Ninh Bình 76
2.4.1 Những kết quả đạt được .76
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79
2.4.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm phát triển mạnh KTDL Ninh Bình 81
Chương 3: Định hướng và Giải pháp phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 83
3.1 Định hướng phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 83
3.1.1 Các quan điểm cơ bản 83
3.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 84
3.1.2.1 Định hướng chung trong phát triển ngành du lịch Ninh Bình 84
3.1.2.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2010 và 2020 86
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch Ninh Bình 88
3.2.1 Về phía Nhà nước 88
3.2.1.1 Công tác quản lý quy hoạch các hoạt động du lịch 88
3.2.1.2 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh doanh du lịch 93
Trang 43.2.1.4 Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch Ninh Bình 99
3.2.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 101
3.2.2.1 Đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và dịch vụ du
lịch 101 3.2.2.2 Đẩy mạnh liên kết và hợp tác trong hoạt động kinh doanh du lịch 105 3.2.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền và quảng cáo cho các hoạt động
du lịch 106
Kết luận 109 Danh mục TLTK 111
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên Thế giới Kinh doanh du lịch cũng có lịch sử hơn 150 năm qua Nếu được
tổ chức kinh doanh và phát triển tốt thì đây là một trong những ngành kinh tế năng động nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho mỗi quốc gia
Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững ngành du lich, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “ Phát triển du lịch thật sự trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ
sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch
sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực”.[42]
Có thể thấy, để phát triển du lịch thì việc khai thác tiềm năng du lịch có hiệu quả là rất cần thiết Trên thế giới, về lý luận tiềm năng du lịch đã được nghiên cứu tương đối cụ thể Các nước có nền công nghiệp du lịch phát triển như Mỹ, Pháp, Thái Lan, Nhật Bản đã có rất nhiều thành công trong việc khai thác tiềm năng du lịch nhằm phát triển du lịch Đối với những nước đang phát triển, nhất là những nước nghèo, nhỏ như Việt Nam thì việc khai thác tiềm năng du lịch tuy đã có cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, du lịch vẫn chưa thực sự trở thành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân
Hoà nhập chung vào xu thế phát triển chung của cả khu vực và thế giới, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện và sự nghiệp công nghiệp hoá, một hình ảnh Việt Nam hấp dẫn ngày càng thu hút khách du lịch bốn phương,
du lịch đang phấn đấu để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn
Ninh Bình một vùng đất được hình thành từ rất lâu đời, nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, nơi tiếp giáp và ngăn cách với phía Bắc miền
Trang 7Trung bởi dãy núi Tam điệp hùng vĩ đã đi vào lịch sử Ninh Bình có nhiều tiềm năng du lịch: Cùng với cố đô Hoa Lư, Ninh Bình còn có nhiều địa danh
di tích lịch sử văn hoá khác như: núi Dục thuý, chùa Non nước, nhà thờ đá Phát Diệm - một kiến trúc độc đáo; Và hàng loạt thắng cảnh như Tam Cốc - Bích Động, Địch Lộng, Vân Long, rừng Quốc gia Cúc Phương, được gọi là ngôi nhà thiên nhiên với nhiều loại động thực vật quý hiếm Với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng có tầm cỡ như thế, song đến nay du lịch Ninh Bình vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng phong phú về du lịch của mình, chưa thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh
Điều đó đặt ra cho du lịch Ninh Bình phải đánh giá đúng thực trạng của ngành và phải có những giải pháp đúng hướng để khai thác triệt để tiềm năng sẵn có và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, nhằm góp phần thúc đẩy ngành du lịch Ninh Bình phát triển bền vững, hoà nhập với trào lưu phát triển
du lịch của khu vực và trên Thế giới, thực hiện đúng vai trò của ngành du lịch trong xây dựng và phát triển của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Với những lý do trên Tôi đã chọn đề tài: “Phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình" làm đề tài luận văn cho mình
2) Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở Việt Nam, hoạt động du lịch trở nên nhộn nhịp vào thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây Việc nghiên cứu về du lịch cũng phát triển ngày càng đậm nét theo thời gian Cụ thể, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu các hoạt động du lịch dưới nhiều khía cạnh khác nhau như:
- "Kinh tế du lịch và du lịch học"( 2001) của Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình;
Trang 8- "Kinh tế du lịch" (2006) của GS.TS Trần Văn Đính và TS Trần Thị Minh Hòa ;
- "Thị trường du lịch" (1998) của Nguyễn Văn Lưu;
- " Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch và dịch vụ du lịch chất lượng cao, trình độ cao phục vụ hội nhập quốc tế" (2003) - đề tài nghiên cứu khoa học của Lê Thị Lan Hương;
- " Nghiên cứu thống kê hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch (2005) của TS Trần Thị Kim Thu
Tất cả đều có những giá trị nhất định về lý luận và thực tiễn
Cùng với xu hướng phát triển du lịch của cả nước, ở phạm vi tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch như:
- " Đất ngập nước Vân Long" ( 2004) của GS.TS Vũ Trung Tạng
- " Dự án qui hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình" ( 2005) của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch
- "Tiềm năng khu du lịch sinh thái Vân Long góp phần phát triển du lịch Ninh Bình"(2006) của Sở Du lịch Ninh Bình
- "Mở rộng khu du lịch Tam Cốc - Bích Động để phát triển du lịch khu vực"( 2006) của Võ Quế - Viện nghiên cứu phát triển du lịch
- "Sáng tác mẫu mã thuyền vận chuyển du lịch Ninh Bình" của Sở Du lịch Ninh Bình
- “ Nghiên cứu thử phương tiện vận tải thuỷ đưa đón khách tham quan
du lịch tại các điểm du lịch Ninh Bình” đề tài khoa học của PTS Trịnh Quang Hảo
Trang 9- “ Nghiên cứu quy định tạm thời quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” đề tài khoa học của PTS Trịnh Quang Hảo
Tuy nhiên, những đề tài trên mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó chứ chưa phân tích sâu thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình
Do đó, đề tài được nghiên cứu với mong muốn góp một phần nhỏ bé giải quyết vấn đề khai thác tiềm năng du lịch một cách hợp lý và có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình
Việc chọn đề tài luận văn không trùng với các công trình nghiên cứu đã thực hiện trước đó
3) Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu luận văn:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triển ngành kinh tế
du lịch ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Ninh Bình Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 1995 cho đến nay
Tuy nhiên, luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số tỉnh thành trong nước để làm cơ sở, kinh nghiệm cho quá trình nghiên cứu du lịch của Tỉnh
4) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Mục đích: Từ việc nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch ở Ninh Bình góp phần thúc đẩy kinh tế du lịch Ninh Bình phát triển trong những năm tới
- Nhiệm vụ của luận văn: Từ mục đích trên, các nhiệm vụ cụ thể được xác định là:
Trang 10+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch
+ Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình trong thời gian qua, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm khai thác tốt tiềm năng du lịch Ninh Bình
+ Xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp có khả năng thực thi nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch Ninh Bình từ nay đến năm
2010 và những năm tiếp theo
5) Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của CNDV biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu sự phát triển của một ngành kinh tế
- Luận văn cũng đã sử dụng một cách có hệ thống các phương pháp cụ
thể trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh,
tổng hợp và khảo sát thực tế
6) Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về hoạt động du lịch, từ đó khẳng định được du lịch là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân
- Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở Ninh Bình, luận văn đã chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế trong hoạt động kinh doanh du lịch ở Ninh Bình thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế
du lịch Ninh Bình trong thời gian tới
7) Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 3 chương:
Trang 11Chương 1: Du lịch ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân- Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành kinh tế du lịch
Ninh Bình
CHƯƠNG 1: DU LỊCH NGÀNH KINH TẾ QUAN TRỌNG
TRONG NỀN KTQD- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch và lịch sử ngành kinh doanh du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá của các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu của nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi
là một ngành công nghiệp – “công nghiệp du lịch” và hiện nay ngành “công nghiệp” này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của quốc gia
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội Trong qúa trình phát triển, nội dung hoạt động của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta, khái niệm “du lịch” vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh( thời gian, khu vực) khác nhau dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch cũng khác nhau Đúng như giáo sư, Tiến sỹ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế
Trang 12giới đã nhận định: “ Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa" [9 Tr 9] Tuy chưa có một nhận thức thống nhất về khái niệm “du lịch”, song thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế xã hội cũng như trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất khái niệm “du lịch” giống như một số khái niệm cơ bản khác về du lịch
là một đòi hỏi cần thiết
Khái niệm “du lịch” đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Từ xa xưa, loài người đã khởi hành với nhiều lý do khác nhau như: vì lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên, vì để học ngoại ngữ Mầm mống đầu tiên của hoạt động kinh doanh du lịch bắt đầu xuất hiện từ cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ hai( lúc ngành thủ công nghiệp xuất hiện) và sau đó tách ra khỏi ngành Nông nghiệp truyền thống Biểu hiện của hoạt động kinh doanh du lịch trở nên rõ hơn khi ngành thương nghiệp xuất hiện vào thời đại chiếm hữu nô
lệ, tức là vào giai đoạn có sự phân chia lao động lần thứ 3 của xã hội loài người Vào đầu thế kỷ 17, bắt đầu diễn ra cuộc cách mạng về giao thông trên thế giới - đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi, kim loại ngày càng có mặt nhiều hơn trong ngành đường sắt, đóng tàu và công nghiệp sản xuất ô tô Chỉ sau một thời gian ngắn ở Châu Âu và Châu Mỹ mạng lưới đường sắt đã được hình thành Nhiều tàu lớn nhỏ, hiện đại đi lại khắp các biển và vịnh trên thế giới Giao thông trở thành nguyên nhân chính và điều kiện vật chất quan trọng giúp cho việc phát triển các cuộc khởi hành của con người Đến thế kỷ 19 khách du lịch chủ yếu đi lại tự túc, ít gây phiền hà cho dân bản xứ Muộn hơn, khi du lịch trở thành hiện tượng đại chúng, bắt đầu nảy sinh ra hàng loạt vấn
đề về việc đảm bảo chỗ ăn, ở, chỗ ngủ cho những người tạm sống ở ngoài nơi
cư trú thường xuyên của họ Lúc này bắt đầu xuất hiện nghề mới trong dân chúng tại các vùng du lịch như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, môi giới,
Trang 13hướng dẫn du lịch….Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ du lịch như khách sạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát… cùng các tổ chức du lịch và đội ngũ phục vụ du lịch lần lượt ra đời Từ giữa thế kỷ 19 du lịch mới thực sự trở thành một hiện tượng đại chúng và lặp đi lặp lại đều đặn Đó là lý do giải thích tại sao khoa học du lịch ra đời muộn hơn một số ngành khoa học khác Như vậy, Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch
Trong số những học giả đưa định nghĩa nhắn gọn nhất (tuy không phải
là đơn giản nhất) phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện Theo Ausher thì
"du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân", còn viện sỹ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng "du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người" [31 Tr8] Trong các từ điển Tiếng Việt, du lịch được giải thích là đi chơi cho biết xứ người
Trong cuốn du lịch và kinh doanh du lịch của PTS Trần Nhạn thì "du lịch
là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền" [16]
Tiếp cận trên giác độ người kinh doanh du lịch thì du lịch là qúa trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra, nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách, đồng thời qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hoá lợi nhuận
Định nghĩa về du lịch trong từ điển Bách khoa quốc tế về du lịch do viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản: “ Du lịch là tập hợp các hoạt
Trang 14động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch”
Định nghĩa của hội nghị quốc tế và thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991: “ Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm.” [9 Tr19]
Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, khoa du lịch và Khách sạn ( trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội ) đã đưa
ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây: " Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu các nhu cầu khác của khách du lịch.”
Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại Điều 10 thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá xã hội Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không chỉ đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội…Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong
Trang 15nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản phẩm xã hội
1.1.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch
Du lịch là một ngành đặc biệt từ sản phẩm đến phương thức kinh doanh
và tính chất hoạt động Do đó, khi tìm hiểu các khái niệm chung về du lịch chúng ta cũng phải tìm hiểu sản phẩm của du lịch và những nét đặc trưng cơ
Như vậy, Sản phẩm du lịch bao gồm:
+ Dịch vụ du lịch là một phần của lao động sống trong ngành du lịch để phục vụ khách như: hướng dẫn tham quan, lưu trú, vận chuyển, chăm lo sức khoẻ, vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung khác…
+ Các hàng hoá trong du lịch: là nhưng hàng hoá thông thường, tặng phẩm, đồ lưu niệm, và các đặc sản
+ Tiện nghi du lịch: là tổng thể các điều kiện thuận tiện phục vụ cho khách Gồm: tiện nghi trong phòng, phương tiện thông tin liên lạc, chất lượng vận chuyển, thủ tục Hải Quan…Đó là kết hợp cộng đồng trách nhiệm của nhiều cơ quan thuộc các lĩnh vực khác nhau
+ Tài nguyên du lịch: là nhân tố hàng đầu có liên quan sức hấp dẫn với
du khách và là điều kiện cần để có hoạt động trong du lịch, gồm: cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du
Trang 16Với cấu thành sản phẩm rất đặc biệt như vậy, sản phẩm du lịch cũng có những đặc điểm khác với các sản phẩm vật chất hay dịch vụ khác, cụ thể: + Sản phẩm du lịch được tạo ra bởi sự tổng hợp các nguồn kinh doanh khác nhau: khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, dịch vụ…
+ Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện đồng thời, tại chỗ, không mang đi trưng bày hoặc tiêu thụ ở nơi khác được
Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng trừu tượng, không lưu kho lưu bãi được(1 đêm ngủ, 1 chỗ ngồi…) Giống như các sản phẩm dịch vụ khác, sản phẩm du lịch không bán được thì mất giá trị chứ không để dành trong kho hoặc cất giữ được Chính đặc điểm này làm cho tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch càng đậm nét
Sản phẩm du lịch thường được bán trọn gói với các loại hình, các tuyến điểm với các tiện nghi khác nhau
+ Sản phẩm hàng hoá trên thị trường du lịch khá đa dạng và vượt khỏi khuôn khổ khái niệm hàng hoá Đây là đặc điểm rất đặc biệt của sản phẩm hàng hoá du lịch Ngoài đặc điểm hàng hoá thông thường, còn có cả những thành phần mà bản thân nó không có tính chất hàng hoá hay dịch vụ ( như cảnh quan thiên nhiên, bầu không khí, môi trường…); những hàng hoá này bán rồi mà vẫn còn nguyên giá trị sử dụng hoặc chỉ hao tổn ít; những hàng hoá này nếu không được tiêu dùng thì sẽ không có giá trị, tiêu dùng càng nhiều càng có giá trị
Do vậy để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường diễn ra không đều đặn, mà chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần, trong
Trang 17năm Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính thời
vụ Sự dao động ( về thời gian ) trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc
tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch Khắc phục tính mùa vụ trong du lịch luôn là vấn
đề bức xúc trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
1.1.3 Các loại hình du lich:
Ngành kinh tế du lịch được hình thành và phát triển khi nghề tiểu thủ công được tách khỏi sản xuất nông nghiệp Ở thời Cổ Đại loại hình du lịch phổ biến là du lịch tôn giáo với nhu cầu tín ngưỡng, hàng ngàn người đã hành hương tới các đền chùa, nhà thờ, thánh địa Đến thời Trung Đại xuất hiện các hình thức du lịch công vụ, du lịch tham quan của các tầng lớp quí tộc, các chính khách, thương gia Sang thời kỳ Cận Đại khoa học kỹ thuật đã có những bước phát triển đáng kể thì du lịch cũng phát triển nhanh chóng Song phần lớn du khách mới chỉ là tầng lớp thượng lưu và trung lưu
Đến thời kỳ khoa học công nghệ phát triển cao, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay đã thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển nhanh chóng Du lịch đã trở thành phổ biến trong đời sống của con người và ngày càng phát triển đa dang phong phú Tuy nhiên để có thể đưa ra các định hướng và chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về
du lịch cũng như các nhà quản trị Doanh nghiệp du lịch cần phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau Có nhiều tiêu chí để phân chia các loại hình du lịch
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch Theo tiêu thức này,
du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa
- Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau
Trang 18- Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
* Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch thì du lịch được phân thành những loại sau:
- Du lịch chữa bệnh: Đi du lịch để chữa một căn bệnh nào đó, gắn liền với nghỉ ngơi tại các trung tâm chữa bệnh bên các nguồn nước khoáng và khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu thích hợp
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Xuất phát từ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ Đây là loại hình có tác dụng thư giãn
- Du lịch thể thao: Xuất phát từ sự ham mê thể thao, gồm du lịch thể thao chủ động tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao như: leo núi, câu cá, bơi thuyền, săn bắn
- Du lịch văn hoá: Đáp ứng nhu cầu hiểu biết thích nâng cao tìm hiểu nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, danh lam thắng cảnh, chế độ xã hội, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán của nơi đến du lịch
- Du lịch công vụ: Với mục đích chính nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác Tham gia loại hình này là khách đi dự các hội nghị, hội thảo và dự các lễ
- Du lịch theo đoàn: ở loại hình này, các thành viên tham dự đi theo đoàn
và thường có chuẩn bị chương trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ tới thăm, nơi lưu trú và ăn uống
Trang 19- Du lịch cá nhân: Cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của tổ chức du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác Khách du lịch không phải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo
và chuẩn bị trước Tuy nhiên, các cá nhân vẫn co thể đi du lịch tự do mà không cần thông qua tổ chức du lịch nào
* Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng, du lịch được phân thành:
- Du lịch bằng xe đạp: loại hình này phổ biến ở các nước phát triển và có địa hình khá bằng phẳng như áo, Hà Lan, Đan Mạch Du lịch bằng xe đạp thường tổ chức từ một đến ba ngày, thường tổ chức vào cuối tuần và đến những điểm du lịch gần
- Du lịch bằng tàu hoả: Loại hình này xuất hiện từ giữa thế kỷ trước và
có chi phí giao thông thấp, nên không phù hợp với nhiều tầng lớp xã hội
- Du lịch bằng máy bay: là một trong những loại hình tiên tiến đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước, những vùng xa xôi và có mức sống cao
Tuy nhiên du lịch máy bay có nhược điểm giá thành cao, nên không phù hợp với tầng lớp xã hội có thu nhập thấp
* Căn cứ vào thời gian đi du lịch phân thành:
Trang 20- Du lịch dài ngày: Diễn ra vào các kỳ nghỉ phép năm, nghỉ hè hoặc nghỉ đông và kéo dài một tuần đến vài tuần thực hiện các chuyến đi thăm những điểm du lịch ở xa, du lịch nghỉ ngơi hay du lịch văn hoá
- Du lịch ngắn ngày: Thường kéo dài đến 3 ngày và vào cuối tuần, phát triển nhiều ở những nước có chế độ làm việc 5 ngày: Anh, Pháp, Mỹ
* Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch được phân thành:
1.2 Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1 Du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước
Trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin,
du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia Ngày 3 và ngày 5 tháng 11 năm 1994 tại OSAKA Nhật Bản, Hội nghị Bộ trưởng du lịch thế giới có các đoàn đại biểu của 78 nước và vùng, 18 chính quyền địa phương và 5 quan sát viên Điểm 2 phần I của tuyên bố du lịch OSAKA khẳng định: " Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm thế giới, chiếm 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ
Trang 21thuế liên quan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao Những sự gia tăng này cùng với các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI" [9 Tr 51]
Trước hết, Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân ( sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật ) làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội và tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà còn gián tiếp đối với các ngành liên quan, tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương Tốc độ tăng nhanh về thu nhập có thể thấy rõ là năm 1990 thu nhập xã hội của cả nước từ du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004 con số đó đã là 26.000 tỷ đồng, gấp
Du lịch còn có tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàng
Trang 22du lịch đối với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã thu hàng tỷ USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch
Du lịch còn là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất trong nền kinh
tế Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, du lịch là một ngành " xuất khẩu tại chỗ " những hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, lâm sản theo giá bán lẻ cao hơn (nếu như bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn) Được trao đổi thông qua con đường du lịch các hàng hoá xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế Du lịch còn là ngành "xuất khẩu vô hình" hàng hoá du lịch Hai hình thức xuất khẩu này đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn rất nhiều, do tiết kiệm được đáng kể chi phí đóng gói bao bì, bảo quản và thuế xuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi suất cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp có khả năng thanh toán
Du lịch còn có vai trò khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Quy luật có tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay, là giá trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội và trong số người có việc làm Do vậy các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu
tư vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải
mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp
1.2.2 Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp các sản phẩm du lịch được tạo ra không đơn thuần là của ngành du lịch mà còn là sự kết hợp của các ngành khác Chẳng hạn, muốn có các cơ sở lưu trú thì phải có ngành xây dựng; có được các bữa ăn cung cấp cho du khách là phải có ngành nông nghiệp, ngành
Trang 23công nghiệp chế biến Do đó, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành là cơ sở cho các ngành khác (như giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, hải quan, hàng không ) phát triển, đối với nền sản xuất xã hội du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hoá Mặt khác, sự phát triển du lịch tạo ra các điều kiện
để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại, vận chuyển thông tin liên lạc của khách du lịch, cũng như những điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này phát triển Tuy nhiên, khách không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà trước đó và sau đó khách có nhu cầu đi lại giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó ngành giao thông vận tải phát triển
Hoạt động du lịch còn tạo thêm nguồn thu để tôn tạo trùng tu các di tích,
di sản và nâng cao ý thức trách nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hoá vật thể và phi vật thể; khôi phục lễ hội, làng nghề truyền thống, truyền tải giá trị văn hoá đến các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế tạo thêm sức hấp dẫn thu hút khách du lịch Thông qua du lịch các ngành kinh tế - xã hội khác phát triển, mở rộng thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác, thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch Các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông, xây dựng, viễn thông nhờ phát triển du lịch mà những năm qua đã có thêm động lực phát triển, diện mạo của nền kinh tế - xã hội được cải thiện và nâng lên trình độ cao hơn
Trang 24Du lịch là ngành kinh tế góp phần tích cực giải quyết việc làm cho người lao động Do đặc trưng của ngành du lịch là ngành phục vụ và không thể cơ giới hoá được nên đòi hỏi nhiều lao động sống Do vậy, phát triển du lịch sẽ tạo thêm nhiều việc làm mới và tạo điều kiện tăng thu nhập cho người dân địa phương.Theo thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra được một việc làm mới, đến năm 2005 cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành du lịch, so với tỷ lệ hiện nay là 1/9 Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hút khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng
5 lao động trong các dịch vụ bổ sung Số lao động dịch vụ bổ sung có thể tăng lên nhiều lần, nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú
về chủng loại Theo dự báo của WTO, năm 2010 ngành du lịch sẽ tạo khoảng
150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Ở Việt Nam, ngành du lịch cũng đã giải quyết một phần không nhỏ công
ăn việc làm cho người lao động cả trực tiếp lẫn gián tiếp Năm 1990 toàn ngành mới có hơn 17.000 lao động trực tiếp, đến nay đã có trên 23 vạn lao động trực tiếp ( tăng gần 10 lần so với 30 năm trước, phần đông từ các ngành khác chuyển sang) và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lao động toàn quốc, phần lớn là ở độ tuổi dưới 30 (60%); phân bố trên phạm vi cả nước ( Miền Bắc 40%, miền Trung 10%, miền Nam 50%) Lao động quản lý chiếm
tỷ trọng khá cao (25%); lao động trực tiếp ở các ngành nghề chuyên sâu chiếm 75%, trong đó lễ tân là 9%, phục vụ buồng là 14,8%, phục vụ bàn, bar
là 15%, nhân viên nấu ăn là 10,6%, nhân viên lữ hành và hướng dẫn viên là 4,9%, nhân viên lái xe, tàu du lịch là 10,6% và 36,5% còn lại là các lao động làm nghề khác Có 32% lao động phục vụ trực tiếp bằng tiếng Anh; 3,2% biết tiếng Pháp; 3,6% biết tiếng Trung Quốc ở các mức độ khác nhau Qua số liệu
Trang 25thống kê ở trên càng thấy rõ vai trò to lớn của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, nó như một đòn bẩy trong vấn đề tạo việc làm cho người lao động
1.2.4 Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Du lịch là một ngành mang yếu tố đối ngoại, không chỉ đơn thuần liên quan đến yếu tố khách quốc tế mà còn là mối quan hệ hợp tác giữa các nước, các tổ chức về lĩnh vực phát triển du lịch Các tổ chức quốc tế mang tính chính phủ và phi chính phủ về du lịch tác động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế Du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối thông thương quốc tế, tranh thủ được nguồn vốn, kinh nghiệm, công nghệ và nguồn khách Du lịch quốc tế như một đầu mối "xuất- nhập khẩu" ngoại tệ, góp phần làm phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI xu hướng toàn cầu hoá kinh tế tạo
ra cơ hội phát triển cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, và du lịch cũng không nằm ngoài phạm vi đó Trong xu hướng chung đó, du lịch Việt Nam cũng đã chủ động hội nhập và hợp tác với các quốc gia, các tổ chức du lịch trên thế giới Du lịch Việt Nam đã ký và thực hiện tốt 26 hiệp định hợp tác du lịch song phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác Ký hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; thiết lập và tăng cường hợp tác
du lịch với các nước khác; tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch Tiểu vùng Mê Kông - sông Hằng, hợp tác ASEAN, ASEM, APEC, hiệp tác trong Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương; có quan hệ bạn hàng với 1000 hãng của 60 nước và vùng lãnh thổ Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương Mại Thế giới ( WTO) Sự kiện lớn đó
mở ra cơ hội lớn đối với ngành du lịch Việt Nam, khẳng định vai trò vị thế của du lịch Việt Nam thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam
Trang 26Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn hoạt động du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và trên thế giới Một số chính phủ
và tổ chức quốc tế như Luxembourg, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Cu Ba cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU, WTO cam kết và viện trợ không hoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du lịch Việt Nam; thu hút 6,112 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
239 dự án Ngành du lịch đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn, chủ yếu là kinh doanh ăn uống với các nước láng giềng, Nhật Bản, Hoa Kỳ
Tại Việt Nam, du lịch là cầu nối giao lưu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Trong kinh doanh du lịch quốc tế khách du lịch có thể là thương nhân Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với tăng lượng khách phục vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách thương nhân được trú trọng Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốc tế Trong điều kiện lạc hậu, nghèo nàn, thiếu vốn đầu tư, sự cần thiết hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam điều đó có ý nghĩa to lớn Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch cũng phát triển theo hướng quốc tế hoá, vì khách du lịch thường đến nhiều nước trong một chuyến đi du lịch dài ngày Và hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vị quốc tế trong kinh doanh du lịch là phương thức kinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao Hoạt động kinh doanh du lịch với lợi nhuận kinh tế cao, đến lượt nó kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mở cửa
Kết quả hoạt động hợp tác, hội nhập kinh tế đa phương và song phương trong du lịch; việc đón tiếp gần 3 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm và đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch ra nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền về đất nước, con người và du lịch Việt Nam, tranh thủ được
Trang 27sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, tăng cường ngoại giao nhân dân, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng và Nhà nước
1.3 Khái quát tình hình phát triển của du lịch Việt Nam
1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành du lịch
Có thể nói, hơn 45 năm hình thành và phát triển, ngành Du lịch luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng Từ năm 1990 đến nay, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, ngành Du lịch đã khởi sắc vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả qui mô và chất lượng dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban bí thư trung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã khẳng định " Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, thể chế hoá bằng các văn bản qui phạm pháp luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý
Ngành Du lịch đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là " Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước" với mục tiêu: " Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực" Quan điểm đó được kiểm nghiệm trong thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và đến Đại hội nhiệm kỳ lần thứ IX được nâng lên: " Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn" Nhiều tỉnh, thành phố, tỉnh uỷ, thành uỷ đã có kế hoạch và nghị quyết phát triển du lịch,
Trang 28xác định vai trò, vị trí của du lịch trong cơ cấu kinh tế, đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển du lịch của địa phương Việc nâng cao nhận thức về du lịch và phát triển du lịch đã chuyển hoá thành hành động cụ thể, để huy động ngày càng tăng các nguồn lực, khai thác tiềm năng và lợi thế du lịch của đất nước cho sự nghiệp phát triển du lịch theo hướng bền vững
Nhận thức được vai trò, vị trí quan trọng của du lịch, trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, ngày 17/10/1992, Chính phủ đã có Nghị định số 05/CP thành lập Tổng cục du lịch; tiếp đó là nghị định số 20-CP, ngày 27/12/1992 và Nghị định số 53-CP, Ngày 7/8/1995, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục du lịch Theo đó Tổng cục Du lịch có 5
vụ, thanh tra, văn phòng tổng cục du lịch, 4 đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp trực thuộc Nhờ có bộ máy tổ chức ổn định, du lịch nước ta đã khởi sắc và phát triển
Ngày 18/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2003NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục du lịch.Theo nghị định này, Tổng cục du lịch là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về du lịch trong phạm vị cả nước Từ chức năng đó, Tổng cục du lịch có 20 nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức gồm 6 vụ, Thanh tra, Cục xúc tiến, văn phòng tổng cục, 8 đơn vị sự nghiệp và
15 doanh nghiệp trực thuộc Cơ quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh
và thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về du lịch đã từng bước được quan tâm thành lập, củng cố và phát triển Đến nay bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương có Tổng cục du lịch, ở địa phương có 15 sở
du lịch, 2 sở du lịch - thương mại, 46 sở Thương mại- du lịch và 1 sở Ngoại
vụ - Du lịch, hình thành một hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương Các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, tạo môi trường cho du lịch phát triển Quy hoạch tổng thể phát triển Du
Trang 29lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt; Quy hoạch các vùng du lịch và các trọng điểm du lịch đã được xây dựng; trên
50 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và một số điểm du lịch, khu du lịch
đã có quy hoạch du lịch, tạo điều kiện để đẩy mạnh quản lý du lịch và xây dựng các dự án đầu tư Hàng trăm dự án quy hoạch chi tiết du lịch và hàng chục dự án quy hoạch du lịch khác đang được khẩn trương thực hiện, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, góp phần quản lý, khai thác tài nguyên du lịch ngày một hiệu quả Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam 2001 - 2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tháng 7/ 2002 Chương trình hành động quốc gia về Du lịch được phê duyệt thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn 2001-2005 và Chương trình hành động quốc gia về
du lịch giai đoạn 2006 - 2010 đang trình Chính phủ phê duyệt
Chính sách, thể chế tạo nền tảng thúc đẩy du lịch phát triển đã được hình thành và đổi mới phù hợp dần với điều kiện và xu hướng phát triển của du lịch thế giới và trong nước Pháp lệnh du lịch ra đời năm 1999 là khung pháp
lý cao nhất, là bước ngoặt quan trọng khẳng định được vai trò của Ngành du lịch và thể chế hoá đường lối phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho hoạt động Du lịch phát triển và có định hướng mục tiêu rõ ràng Các nghị định thông tư hướng dẫn pháp lệnh Du lịch về các lĩnh vực quản lý chi nhánh, văn phòng Đại diện du lịch ở trong và ngoài nước; lữ hành, lưu trú, hướng dẫn du lịch, thanh tra du lịch đã được ban hành và thực hiện có hiệu quả Năm 2005, quốc Hội đã thông qua luật du lịch để điều chỉnh các quan hệ
du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế của ngành du lịch Việt Nam ngay từ trong đường lối, chính sách
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như Pháp lệnh xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người Việt Nam, người nước ngoài và các
Trang 30văn bản khác đã được bổ sung; thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại, hải quan liên tục được cải tiến thuận tiện hơn cho khách và các nhà đầu tư
Như vậy, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp phối hợp với sự hưởng ứng của nhân dân, bạn bè quốc tế ủng hộ ngành Du lịch Việt Nam đã có một môi trường phát triển thuận lợi để vững bước tiến vào thế kỷ XXI với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3.2 Tình hình Phát triển ngành du lịch Việt Nam
Trải qua hơn 45 năm phát triển, một quãng thời gian không dài với sự nghiệp phát triển của một ngành, song có thể thấy được những bước chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng và chất của du lịch Việt Nam, là một trong những ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc; có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, có tốc độ tăng trưởng khá, kể cả trong điều kiện khủng hoảng kinh tế tại Châu Á, thiên tai dịch bệnh diện rộng, toàn cầu và chiến tranh xung đột và khủng bố ở nhiều nơi trên thế giới những năm gần đây Theo số liệu thống kê của tổng Cục thống kê, Năm 2006 khách quốc tế tới Việt Nam đạt 3,585 triệu lượt, tăng 3% so với năm 2005 Khách
du lịch nội địa đạt 17,5 triệu lượt, tăng 6,6% so với năm 2005 Mặc dù số lượng khách du lịch quốc tế tăng trưởng không cao song doanh thu từ du lịch vẫn tăng trưởng cao Năm 2006, doanh thu du lịch đạt 51.000 tỷ đồng, trong
đó doanh thu từ du lịch quốc tế đạt 44.000 tỷ đồng
Với việc nâng cao nhận thức du lịch và phát triển du lịch, những năm qua
du lịch Việt Nam đã huy động ngày một nhiều nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm Toàn ngành
và các địa phương, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm du lịch, đã phát huy nội lực, huy động vốn từ nhiều nguồn để phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật
Trang 31chất du lịch 5 năm vừa qua Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm trong cả nước Đã phối với hợp với các ngành và địa phương chỉ đạo phát triển các trọng điểm du lịch, các vùng
du lịch mà nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định; khai thác và phát huy lợi thế về hạ tầng và điều kiện kinh tế - xã hội của các khu kinh tế mở và vùng kinh tế trọng điểm để phát triển du lịch; gắn kết hoạt động du lịch với hoạt động các khu kinh tế mở, các vùng kinh tế trọng điểm
Bảng 1.1: Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 1 2006 2 2007 2 Tổng số Lƣợng vốn
(1) Năm 2005 vốn đầu tư hạ tầng du lịch được ghi cho 58 tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, không ghi cho dự án
(2) Năm 2006 và năm 2007 vốn đầu tư hạ tầng du lịch được ghi cho 59 tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, không ghi cho dự án
là TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Khánh Hoà
Bảng 1.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) thời kỳ 1995 -2007
Trang 32án phát triển nguồn nhân lực do Luxenbourg với số vốn trên 10 triệu Euro và
dự án EU tài trợ với số vốn khoảng 12 triệu Euro, Tổng cục du lịch đã tiếp nhận và điều hành dự án "phát triển du lịch Mê Kông" do ADB tài trợ, tập trung chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long
Đầu tư ra nước ngoài tuy còn mới đối với Du lịch Việt Nam, song bước đầu cũng được thực hiện với chủ trương dựa vào lợi thế so sánh trong khai thác giá trị văn hoá, ẩm thực, nguyên liệu, lao động rẻ Các dự án đầu tư ra nước ngoài được thực hiện dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn, với các hình thức kinh doanh ăn uống tại một số nước láng giềng và các nước Nhật, Đức, Hoa Kỳ Tuy các dự án chưa nhiều, qui mô nhỏ, nhưng đã đạt được hiệu quả và phù hợp với xu hướng chung của hội nhập kinh tế thế giới Trong thời gian hơn 10 năm qua, cả nước đã nâng cấp, xây mới 50.000 phòng khách sạn (tăng gấp hơn 2 lần của hơn 30 năm trước) Đến nay, cả nước có khoảng 6000 cơ sở lưu trú, với 130.000 buồng trong đó có 2.575 cơ
sở được xếp hạng tự đạt tiêu chuẩn đến 5 sao với tổng số 72.458 buồng (18 khách sạn 5 sao với 5.251 buồng; 48 khách sạn 4 sao với 5.797 buồng; 119
Trang 33khách sạn 3 sao với 8.724 buồng; 449 khách sạn 2 sao với 18.447 buồng; 434 khách sạn 1 sao với 10.757 buồng và 923 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 23.482 buồng)
Phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển đa dạng cả đường ô tô, đường sắt, đường thuỷ và dần được hiện đại hoá Một số khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golff, công viên được đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu của khách và nhân dân Năng lực vận chuyển khách du lịch tăng, chất lượng được nâng lên Phương tiện vận chuyển khách du lịch chuyên ngành với hàng nghìn
xe ô tô, tàu thuyền các loại, nhiều đội xe taxi ở các điểm du lịch được thành lập phuc vụ nhu cầu đi lại của du khách; nhiều tuyến du lịch đường biển, đường sông như Hải Phòng - Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh - Vũng Tàu đã
sử dụng tàu cao tốc với trang thiết bị hiện đại Với cơ sở vật chất kỹ thuật như hiện nay, ngành du lịch nước ta đã đảm bảo phục vụ cho hàng chục triệu lượt khách quốc tế và nội địa, tổ chức được các sự kiện, hội nghị quốc tế lớn Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch được tăng cường Ngành du lịch đã trú trọng xúc tiến quảng bá du lịch ở cả thị trường trong nước và quốc tế, tạo thành những chiến dịch xúc tiến mạnh mẽ và thường xuyên hơn đã góp phần đưa du lịch Việt Nam vượt qua khủng hoảng khó khăn, đồng thời quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam giàu tiềm năng, mở rộng được thị trường và mở ra triển vọng phát triển mới, góp phần đẩy mạnh thông tin đối ngoại của đất nước
Công tác tổ chức đào tạo phát triển nguồn nhân lực đã được trú trọng, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên một bước, lực lượng lao động tay nghề cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đã được hình thành; nguồn lực bên ngoài được thu hút ngày một tăng, đến nay đã thu hút được trên 30 triệu USD cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Trang 34Có thể nói, trong những năm qua Du lịch Việt Nam đã có những khởi sắc mới, phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Với việc đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, hình ảnh Việt Nam trở nên gần gũi hơn với bạn bè thế giới
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số tỉnh thành ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của thủ đô Hà Nội trong phát triển du lịch
Hà nội thành phố với bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến chứa đựng tiềm năng du lịch to lớn, vị trí thủ đô của Hà Nội có ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển du lịch Với nguồn du lịch tiềm năng, trong những năm qua ngành du lịch Hà Nội ngày càng phát triển và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô Với sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ của các cơ quan cấp trên từ trung ương đến địa phương ngành du lịch Hà Nội đã đạt được những thành công đáng kể Việc khai thác tiềm năng du lịch Hà Nội đã theo đúng định hướng đề ra trong quy hoạch Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, phù hợp với định hướng không gian phát triển du lịch Các loại hình du lịch tương đối đặc sắc, có sức hấp dẫn khách du lịch Ngành du lịch Hà Nội đã xây dựng được các chương trình du lịch liên vùng thu hút rất nhiều du khách Công tác quản lý việc khai thác tài nguyên du lịch Hà Nội đã đi vào kỷ cương, nề nếp Uy tín của du lịch Hà Nội được nâng cao trong cả nước và quốc tế, nhờ đó Hà Nội đã được bình chọn là 1 trong 10 thành phố du lịch hấp dẫn nhất Châu Á
Với sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ của các cơ quan từ trung ương đến địa phương ngành du lịch Hà Nội đã phát triển đúng hướng và đạt được những kết qủa cụ thể sau:
Năm 2006, lực lượng kinh doanh du lịch tại Hà Nội đã phát triển ở tất cả các loại hình với 242 doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Trang 35Trong đó có 2 doanh nghiệp ( Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội và Công
ty liên doanh Du lịch Hồ Gươm Diethelm ) đạt danh hiệu Topten công ty lữ hành hàng đầu Việt Nam Trong công tác đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng du lịch, các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Thành phố cũng tích cực đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn ngành
Sự tăng trưởng ổn định trong kinh doanh của ngành du lịch Hà Nội còn
là kết quả của hàng loạt các hoạt động trong từng lĩnh vực Ngành du lịch Hà Nội cũng đã dành sự quan tâm thích đáng đến công tác xúc tiến, tuyền truyền, quảng bá du lịch với nhiều hình thức đa dạng Đặc biệt, công tác tuyên truyền quảng bá nhân sự kiện Hội nghị cấp cao APEC trong năm 2006 được ngành
du lịch Hà Nội đặc biệt coi trọng, góp phần nâng cao hình ảnh vị thế của thủ
đô Ngoài ra, việc hợp tác phát triển du lịch giữa Hà Nội và các địa phương cũng đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Tính đến nay, Sở du lịch Hà Nội đã ký thoả thuận hợp tác phát triển du lịch với 19 tỉnh trong cả nước Trong thời gian tới ngành sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy phát triển du lịch của từng địa phương và cả nước
Về hợp tác quốc tế: sở du lịch Hà Nội đã tổ chức các đoàn khảo sát xúc tiến các thị trường du lịch trọng điểm như: Mỹ, Nhật Bản, Thuỵ Sỹ ; tham gia hội chợ triển lãm du lịch tại Thái Lan; phối hợp với văn phòng đại diện hàng không Việt Nam và văn phòng đại diện thương mại Hà Nội tại tokyo cung cấp thông tin tư liệu du lịch phục vụ các hoạt động quảng bá xúc tiến tại Nhật Bản và một số thị trường trọng điểm
Có thể khẳng định, những năm qua ngành Du lịch Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực cả về chất và lượng, duy trì được tốc độ tăng trưởng cao;
Trang 36với sự cố gắng nỗ lực và đồng lòng của các ngành, các cấp, du lịch Hà Nội sẽ cùng với cả nước góp phần đưa "Việt Nam trở thành điểm đến của bạn bè du khách năm Châu"
1.4.2 Kinh nghiệm của Thành phố Hải Phòng
Trong những năm vừa qua, ngành Du lịch Hải Phòng cũng đã đạt được những thành công lớn Cùng với kinh tế cảng biển, du lịch đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của Hải Phòng Do có sự quan tâm chỉ đạo của tổng cục du lịch, của UBND thành phố và sự nỗ lực của ngành, du lịch Hải Phòng
đã hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều dự án du lịch (khu vui chơi giải trí, các khách sạn mới hiện đại), cải thiện môi trường du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng Ngành cũng đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh công tác quy hoạch, đầu tư du lịch; nghiên cứu thị trường, sản phẩm, nâng cao khả năng kinh doanh; đẩy mạnh khai thác các tuyến tour du lịch; nâng cao năng lực quản lý Nhà nước và tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch Hải
Phòng trên cả nước và quốc tế nhằm thu hút du khách
Ngành đã xây dựng đề án phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006-
2010, định hướng đến năm 2020 nhằm khai thác tiềm năng du lịch của địa phương đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của thành phố Những chiến lược cụ thể mà ngành đã đạt được là:
Đã hoàn chỉnh sớm quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển
du lịch Hải Phòng, trước hết đã hoàn thành quy hoạch chi tiết các trọng điểm
du lịch ở: Cát Bà, Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên kết hợp với vận động nhân dân bảo
vệ, tôn tạo, giữ gìn tài nguyên và môi trường sinh thái các khu du lịch
Ngành du lịch Hải Phòng luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước hợp tác, đầu tư vào phát triển du lịch, đồng thời tập trung vốn ngân sách đầu tư hạ tầng cơ sở các vùng trọng
Trang 37điểm du lịch của thành phố: Đồ Sơn, Cát Bà; xây dựng cảng du lịch nội địa quốc tế, nâng cấp sân bay Cát Bi thành sân bay quốc tế, nâng cấp các nhà nghỉ, khách sạn Hiện thành phố có 7 doanh nghiệp và 2 chi nhánh có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế, 51 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa
và 6 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch Để đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hải Phòng đã tập trung phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái biển kết hợp với nghỉ dưỡng, thể thao, hội thảo Công tác xúc tiến, quảng bá, tiếp thị du lịch được đẩy mạnh nhằm thu hút du khách, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
Như vậy, Với sự nhận thức rõ vai trò, vị trí quan trọng của ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế, Ngành du lịch Hải Phòng đã phát triển mạnh và không ngừng vươn lên, xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần tích cực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đưa du lịch Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế
1.4.3 Kinh nghiệm của Quảng Ninh trong phát triển du lịch
Có thể khẳng đinh rằng, trong những năm qua, du lịch Quảng Ninh đã
thực sự có bước chuyển mình đóng góp tích cực vào hoạt động du lịch của cả nước cũng như quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trên cơ sở nắm bắt sâu sát sự chỉ đạo của tổng cục du lịch Việt Nam và các cấp lãnh đạo tỉnh, ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã có những hoạch định cụ thể, đạt hiệu quả cao trong từng giai đoạn Với phương châm luôn coi Du lịch là "ngành kinh tế mũi nhọn", du lịch Quảng Ninh đang phát triển ngày càng mãnh mẽ và xuất phát từ đặc thù riêng của mình cùng với du lịch cả nước, du lịch Quảng Ninh đã thực sự "đi trước" trên chặng đường hội nhập
Từ năm 2001 đến nay, Du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng được đầu tư lớn Nhờ đó mà lượng
Trang 38khách du lịch trong nước và quốc tế đến Quảng Ninh ngày một đông Tổng khách du lịch trong giai đoạn này tăng trung bình 14%, trong đó khách quốc
tế tăng trung bình 16%, doanh thu tăng 25% Hoạt động du lịch đã có tác động tích cực đến sự phát triển của ngành kinh tế dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội Bằng việc
ra đời các sản phẩm du lịch mới chất lượng như khu du lịch Tuần Châu, cáp treo Yên Tử, công viên quốc tế Hoàng Gia, từ năm 2001 đến nay du lịch Quảng Ninh đã thực sự mang một diện mạo mới Đặc biệt trong năm 2006 cầu Bãi Cháy bắc qua sông Cửa Lục đã chính thức khánh thành mang đến cho
du lịch Quảng Ninh một sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn Với nhiều sự kiện trọng đại có ý nghĩa của đất nước, của tỉnh, của ngành, năm 2006 du lịch Quảng Ninh đã đón 3,1 triệu lượt khách trong đó khách quốc tế đã vượt ngưỡng 1 triệu Kết quả đó khẳng định chủ trương, chính sách của Quảng Ninh về phát triển du lịch là: " nhanh - trúng- đúng" Việc ban hành một loạt các nghị quyết như số 08/NQ-TU của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh về đổi mới, phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001-2010, Nghị quyết số 21/NQ-TU về đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ giai đoạn 2006-2015, Quyết định về quản lý các hoạt động du lịch trên Vịnh Hạ Long vừa tạo nên đòn bẩy đồng thời cũng chính là hành lang pháp lý quan trọng để du lịch Quảng Ninh phát triển
Công tác đầu tư, phát triển du lịch có tốc độ tăng trưởng khá Về đầu tư
cơ sở lưu trú tăng trung bình 18%/năm Tính đến nay ở Quảng Ninh đã có 11 khách sạn 4 sao Tổng số buồng, phòng được xếp hạng từ 1 đến 4 sao chiếm
tỷ lệ 35% tổng số buồng, phòng Năm 2001 toàn tỉnh mới chỉ có 251 tàu vận chuyển khách tham quan Vịnh Hạ Long đến nay đã tăng lên 376 tàu, tốc độ tăng trung bình 19%/năm Loại tàu nghỉ đêm trên vịnh với tổng số 61tàu được đầu tư lớn với 341 phòng đủ tiêu chuẩn chất lượng cao Từ thực tế trên cho
Trang 39thấy, công tác đầu tư được chú trọng, tỉnh và ngành đã tập trung vào những
mô hình chất lượng, tạo hiệu quả kinh tế xã hội lớn Thời gian qua, Quảng Ninh đã có 8 dự án đầu tư bằng nguồn vốn của chương trình phát trỉên hạ tầng
du lịch quốc gia với tổng kinh phí được phê duyệt là 314 tỷ đồng và hiện nay
đã có 4 dự án đưa vào sử dụng
Một trong những thành công lớn của du lịch Quảng Ninh trong những năm qua là việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch Cùng với chính sách mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, phát huy lợi thế của địa phương, những năm qua, Quảng Ninh đã không ngừng tăng cường hợp tác quốc tế về du lịch Tỉnh và ngành Du lịch Quảng Ninh đã ký kết nhiều thoả thuận hợp tác phát triển du lịch với các địa phương ở các nước như tỉnh Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), Saint- Malo (Pháp) , Udonthaini (Thái Lan) Từ tháng 9/2006, Quảng Ninh là thành viên thứ 10 của diễn đàn du lịch Đông Á (EATOF) - Đây là những "cánh cửa " nối dài cánh tay du lịch Quảng Ninh vươn tới nhiều thị trường du lịch
Có thể thấy, với những sách lược có tính chất đón đầu, cùng con đường
mở rộng hợp tác quốc tế đã giúp Quảng Ninh sớm hội nhập với khu vực và quốc tế Theo đó, thương hiệu du lịch Hạ Long - Quảng Ninh đã được khẳng định trên sân chơi chung của du lịch quốc tế Nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII nêu rõ:" Phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch có đẳng cấp khu vực và Châu lục vào năm 2015" Với sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của của Tổng cục du lịch, của lãnh đạo tỉnh cũng như các cơ quan ban, ngành Trung ương và địa phương cùng sự nỗ lực của chính mình, ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã phát triển mạnh mẽ và đang bước vào một giai đoạn thịnh vượng nhằm mang lại hiệu quả cho trung tâm du lịch lớn của đất nước,
Trang 40* Từ việc phân tích, tổng hợp khái quát một số kết quả đạt được về hoạt động du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh - những trung tâm du lịch lớn của cả nước, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế
du lịch ở Ninh Bình như sau:
1 Công tác qui hoạch được thực hiện một cách khoa học, thực tiễn giúp cho việc định hướng đầu tư, qui mô đầu tư, phương thức đầu tư và hiệu quả đầu tư Công tác qui hoạch nhất thiết phải đi từ qui hoạch tổng thể rồi đến qui hoạch chi tiết Đồng thời phải chỉ đạo để kịp thời bổ xung qui hoạch và chỉ đạo thực hiện đúng qui hoạch đã được phê duyệt Ngành du lịch phải đi đầu làm nòng cốt trong nghiên cứu, triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch và thể chế hoá thành các luật lệ, biện pháp
và chương trình cụ thể Thường xuyên nghiên cứu thông tin, kinh nghiệm phát triển du lịch của các địa phương trong nước và thế giới, tổng kết thực tiễn kịp thời để phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn về du lịch của địa phương
2 Phải chú trọng tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, tăng khả năng cạnh tranh Xúc tiến quảng bá là tiền đề quan trọng cho phát triển du lịch, cần được tiến hành một cách khoa học, chuyên nghiệp, sâu rộng và thường xuyên Muốn tăng cường thu hút khách du lịch, với số lượng nhiều, thời gian lưu trú lâu và mức chi tiêu cao, một mặt phải nghiên cứu thị trường tỷ mỷ, hệ thống làm cơ sở xây dựng sản phẩm đặc thù, chất lượng cao, đa dạng, giá cả phù hợp khả năng thanh toán của khách Mặt khác, vấn đề quan trọng là phải tuyên truyền quảng bá ở tầm vĩ mô và quảng cáo ở tầm doanh nghiệp thật sâu, rộng ở trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức, thành những chiến dịch, qui
mô lớn, tập trung vào những thị trường trọng điểm để phát động, củng cố và
mở rộng thị trường Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng hợp tác, hội nhập