Luận văn tập trung nghiên cứu khách quan quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với vấn đề phát triển du lịch; tái hiện lại những kết quả đạt được của du lịch tỉnh Ni
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIẢO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIẢO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo, ThS Trần Thị
Chiên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi ừong suốt quá trình nghiên cứu,
thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn sinh viên
Tôi xỉn chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Lương Thị Thuận
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS.
Trần Thi Chiên.■
Tôi xin cam đoan rằng: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Lương Thị Thuận
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦ U 1
Chương 1 ĐẢNG B ộ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 7
1.1 Tình hình phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình trước năm 2001 7
1.2 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kỉnh tế du lịch trong những năm 2001 - 2010 20
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 ĐẢNG B ộ TỈNH NINH BÌNH TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 35
2.1 Chủ trương mới của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch 35
2.2 Quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 2010 đến năm 2015 42
Tiểu kết chương 2 49
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NG H IỆM 50
3.1 Một số nhận xét 50
3.2 Một số kinh nghiệm 59
KÉT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại phiên họp làn thứ 21 Đại hội đồng Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) được tổ chức tại Medellin, Colombia ngày 12 - 17/09/2015 đã
tổng kết: "Năm 2014, vượt qua nhiều thách thức, du lịch quốc tế đã chạm mốc
kỷ lục 1.133 triệu lượt khách, đem lại doanh thu xuất khẩu lên đến 1,5 tỷ đô la
Mỹ, chỉ tiêu du lịch cũng tăng trưởng tương ứng, đạt 1,246 tỷ USD Du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các ngành sản xuất ô - tô, xe máy, kinh doanh vải vóc và thiết bị điện tử"
Chính vì vậy, không ít quốc gia đã thành lập Bộ Du lịch, hoặc gắn Du lịch trong những bộ kinh tế lớn Đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết, là yêu cầu tất yếu đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển ừong quá trình CNH, HĐH đất nước
Có thể nói rằng, phát triển du lịch hiện nay đang là một trong những định hướng phát triển quan trọng của Việt Nam Với một bề dày văn hóa qua hàng nghìn năm lịch sử, ưu đãi do thiên nhiên ban tặng với đày đủ các loại hình cảnh quan, sinh vật đa dạng, Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển
kinh tế du lịch Nghị quyết số 92/NQ-CP về Một số giải pháp đẩy mạnh phát
triển du lịch Việt Nam trong thời kỉ mới ngày 08/12/2014 của Thủ tướng
Chính phủ đã khẳng định:
Ngành du lịch đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào phát triển kỉnh tế - xã hội; góp phàn chuyển dịch cơ cấu kỉnh tế; thu hút đàu tư; tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam năng động, thân thiện và hòa bình [7, tr 1]
Vì vậy, Việt Nam cần khai thác, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên du lịch của đất nước Đồng thời, tận dụng cơ hội thuận lợi ừong nước
Trang 7và quốc tế, tạo bước phát triển đột phá cho ngành du lịch trong thời kỳ mới, đưa phát triển kinh tế du lịch thực sự trở thảnh ngành kinh tế mũi nhọn.
Ninh Bình là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, có nhiều tiềm năng phát triển du lịch đa dạng và phong phú với nhiều danh hiệu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đưa Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch cấp quốc gia và thành phố du lịch ttong tương lai
Trong thời gian vừa qua, với sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, hoạt động kinh tế du lịch đã đạt được rất nhiều thành tựu quan ừọng Tỉ trọng du lịch không ngừng tăng, vấn đề quy hoạch các hoạt động du lịch đã bước đầu đạt được hiệu quả Đồng thời, công tác tổ chức và quản lý của Ban tỉnh ủy, Sở văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình về các hoạt động
du lịch cũng chặt chẽ hơn và họp lý hơn Trên cơ sở đó, góp phần bảo tồn, phát huy các giá tri văn hóa nghệ thuật truyền thống của tỉnh và khai thác một cách hiệu quả tiềm năng phát triển của Ninh Bình; phát triển kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp ổn định và nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì cũng còn không ít hạn chế về hoạt động đầu tư, phát triển du lịch, về chất lượng du lịch, Đặc biệt, sự kết họp hài hòa giữa phát triển du lịch với môi trường vẫn chưa được chú trọng Do đó, tình ừạng ô nhiễm môi trường ở một số điểm du lịch chưa được khắc phục Trong vấn đề quy hoạch, tổ chức và triển khai thực hiện phát triển kinh tế du lịch chưa đặt trong một tàm nhìn dài hạn Một số công trình văn hóa, kiến trúc đang có tình trạng xuống cấp, đòi hỏi phải có sự bảo tồn và phát huy giá trị,
Trang 8Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Đảng bộ tình Ninh Bình
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề du lịch và kinh tế du lịch, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình và Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam (2010), Địa chỉ Ninh Bình Tác phẩm chỉ ra một cách khá rõ ràng về vị
trí, tiềm năng phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Bình
- Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Bình (2013), Phát triển bền vững du
lịch Ninh Bình, in tại công ty TNHHTM&DV Hà Phương, Ninh Bình.
Cuốn sách cung cấp những thông tin, tư liệu, nhận thức cập nhật và một
số kinh nghiệm ừong và ngoài nước về phát triển du lịch bền vững Đánh giá thực trạng phát triển của du lịch Ninh Bình, từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch bền vững càn quán triệt
- Đinh Trung Kiên (2006), Một sổ vẩn đề về du lịch Việt Nam, Nxb Đại
học quốc gia, Hà Nội Tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về du lịch Đồng thời phân tích về các thành tựu, hạn chế, các tiềm năng và thế mạnh của
du lịch Việt Nam ừong giai đoạn hiện nay
- Phạm Văn Khoản (2013), “Đảng bộ Ninh Bình lãnh đạo phát triển du
lịch giai đoạn từ 2001 - 2010”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Luận văn tập trung nghiên cứu khách quan quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với vấn đề phát triển du lịch; tái hiện lại những kết quả đạt được của du lịch tỉnh Ninh Bình từ năm 2001 - 2010; bước đầu đúc kết một số bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh trong quá trình đẩy mạnh phát triển du lịch Ninh Bình hiện nay
Trang 9- Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan về du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Tác giả đã trình bày khái quát các vấn đề du lịch: định nghĩa du lịch, các loại hình du lịch, các yếu tố ảnh hưởng tới du lịch, Qua đó, giúp chúng ta có những hiểu biết cơ bản nhất về ngành du lịch
- Sở Du lịch Ninh Bình (2004), Non nước Ninh Bình Tác phẩm đã giới
thiệu một cách khá đầy đủ về đất và người Ninh Bình Đặc biệt là các điểm dừng chân du lịch nổi tiếng nơi đây
- Bùi Thị Hải yến (2009), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội Trong đó, tác giả đã giới thiệu và liệt kê các địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam Trong đó có các thắng cảnh của tỉnh Ninh Bình
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ đi nghiên cứu khái quát,
ở một số góc độ nhất định về du lịch và kinh tế du lịch chứ chưa đi phân tích chi tiết, đày đủ và một cách có hệ thống về kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2015 Các kết quả nghiên cứu đi trước là cơ sở, nguồn tài liệu cho tác giả triển khai đề tài:
"Đảng bộ tình Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2015".
3 Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong phát triển kinh tế du lịch của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015 Tìm hiểu về công tác tổ chức thực hiện, chủ trương phát triển và thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
3.2 Phạm vỉ nghiên cứu
v ề nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tinh Ninh Bình
Trang 10v ề thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2001 - 2015
v ề không gian: Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Ninh Bình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình triển khai chủ trưomg của Đảng về phát triển kinh tế du lịch của tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2015 Trên cơ sở đó, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình trong thời gian tới
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đi làm rõ những vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình trước năm 2001, các chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tinh Ninh Bình về phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005
- Tìm hiểu về chủ trương mới của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 2010 đến năm 2015 và quá trình đẩy mạnh phát triển kinh
tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
- Đưa ra một số nhận xét về thành tựu và hạn chế đã đạt được trong quá trình triển khai thực hiện phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình ừong giai đoạn 2001 - 2015 Qua đó, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu
5 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu là phép biện chứng duy vật; các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; những quan điểm của các nhà nghiên cứu về du lịch ừong và ngoài nước Ngoài ra, tác giả còn kết họp với một số phương pháp khác: lịch sử - logic, phân tích, tổng hợp, liệt kê,
Trang 116 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phàn làm rõ hơn chủ trương, quan điểm và thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triển kinh tế du lịch hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế du lịch của tỉnh trong giai đoạn sau
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khác có liên quan tới vấn đề kinh tế du lịch
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phàn mở đàu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 12Chương 1 ĐẢNG B ộ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH NINH BÌNH TRƯỚC NĂM 2001
1.1.1 Khái niệm du lịch, phát triển kinh tế du lịch
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, ừải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngoi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành
mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Trong thông điệp của Ngày Du lịch thế giới 2014, ông Taleb Rifai, Tổng thư ký UNWTO đã nói: “Dm lịch là một hoạt động kinh tế cơ bản của
con người được hình thành bởi tương tác xã hội và chỉ thành công nếu giúp
cư dân địa phương thông qua việc đóng góp cho các giá trị xã hội như tham gia, giáo dục và hỗ trợ chính quyền địa phương Đồng thời, sẽ không có một ngành du lịch phát triển đích thực nểu sự phát triển đó đe dọa đến các giả trị
và nền văn hóa của cộng đồng địa phương, hay các lợi ích kinh tế xã hội được tạo ra bởi ngành du lịch không đến được với cộng đồng ”
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, mục 1, điều 4 có quy định:
"Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyển đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
Trang 13hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định" Khái niệm
rộng nhất và đầy đủ hơn cả, có lẽ được thể hiện trong Tuyên bố Ô-sa-ka của
Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới: "Du lịch là con đẻ của hòa bình, là
phương tiện củng cổ hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán
là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh Hiện nay, du lịch đang có
ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, là một hoạt động
cơ bản tạo sự phát triển bền vững của một quốc gia Đây được coi là ngành công nghiệp không khói, có tác dụng giải trí, tạo ra công ăn việc làm cho con người, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo sự gắn kết giữa con người với nhau
Du lịch có nhiều loại hình khác nhau Dựa ừên các căn cứ khác nhau
mà có các cách phân chia khác nhau
Thứ nhất, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyển đi du lịch, du lịch
được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ quốc gia khác nhau Ở hình thức này, khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch Du lịch nội địa là hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của quốc gia
Thứ hai, căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch Trên cơ sở
này, du lịch được phân chia thành những loại hình như du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn h ó a,
Trang 14Thứ ba, căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi Theo đó, du lịch được
phân thành du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân Dù là loại hình nào trong hình thức tổ chức du lịch theo chuyến đi thì các điều kiện ăn ở, sinh hoạt noi lưu trú giữ vai ừò quan trọng ừong việc thu hút lượng khách du lịch ở các vùng miền du lịch
Ngoài các cơ sở trên, các loại hình du lịch rất phong phú và đa dạng, loại hình du lịch còn căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng, phương tiện lưu trú và các nhu cầu của con người: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa
1.1.1.2 Khái niệm kinh tể du lịch và phát triển kỉnh tế du lịch
Kỉnh tể du lịch là một loại hình kinh tế đặc thù mang tỉnh dịch vụ, được xem như một ngành “công nghiệp không khói ”, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước; có chức năng, nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên
và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, vãn hoá, lịch sử ) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hoá và dịch vụ cho khách du lích Là một ngành công nghiệp dịch vụ thu ngoại tệ, góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập quốc dân [11, tr.586]
Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng họp có liên quan mật thiết đến nhiều ngành kinh tế khác, trước hết là kinh tế đối ngoại, với nhiều ngành văn hoá, xã hội và mang tính nhân bản, văn hoá, tính dân tộc ngày càng cao Kinh tế du lịch có nhiều nội dung và hình thức phong phú đa dạng, như du lịch thắng cảnh, du lịch nghỉ dưỡng sức, du lịch thể thao, du lịch hội nghị, du lịch nghiên cứu khoa học, tìm hiểu nền văn hoá dân tộc, văn minh thế giới Cũng như các ngành kinh tế khác, kinh tế du lịch chịu sự chi phối của quy luật kinh tế, song do đặc thù của ngành, nên nó cũng có những cơ chế vận hành riêng
Trang 15Khái niệm phát triển, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là một phạm trù cơ bản của triết học, dùng để chỉ sự vận động và phát triển theo chiều hướng tiến lên của các sự vật, hiện tượng Quá trình phát triển đó đi từ trình độ thấp tới trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ tới hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, ừải qua cả những bước thụt lùi tạm thời.
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển kinh tể du lịch ”
là “quá trình biến đỗi kỉnh tế du lịch bằng một sự gia tăng sản xuất và nâng
cao mức sống của dân cư ” [ 11, tr.425].
Từ những luận giải nói trên, có thể quan niệm: Phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình là quá trình không ngừng gia tăng cả về số lượng và chất lượng các
bộ phận cấu thành kỉnh tế du lịch của tỉnh ừên cơ sở kiện toàn, củng cố, tôn tạo cái đã có, xây dựng và phát triển mới những cái chưa có, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh để phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đưa kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế phát triển mạnh của tỉnh
Đối với một quốc gia nói chung, các hoạt động kinh tế du lịch có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Điều đáng nói là du lịch trở thành ngành xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả và đầy triển vọng, đã tạo ra gần một triệu việc làm, góp phàn tích cực xóa đói, giảm nghèo và giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế đối ngoại (theo TS Phạm Từ - “Du lịch- nhìn từ góc
độ kinh tế và lịch sử”, Tạp chí Cộng sản) Kinh tế du lịch phát triển kéo theo
sự phát triển của viễn thông, vận tải, cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, Qua
đó, thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế nói chung của tỉnh Ninh Bình
1.1.2 Khái quát về tính Ninh Bình
1.1 2 . 1 về điều kiện tự nhiên
Vừng đất Ninh Bình xưa là kinh đô của Việt Nam giai đoạn (968 - 1010) với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và cũng là địa bàn quan trọng về
Trang 16quân sự qua các thời kỳ lịch sử Tháng 12/1991, Quốc Hội khoá VIII kỳ họp thứ 10 quyết định tách tỉnh Ninh Bình ra khỏi tính Hà Nam Ninh Ninh Bình trở lại tỉnh cũ khi này gồm 7 đơn vị hành chính Đen nay, tính tới năm 2015 - theo số liệu của Tổng cụ thống kê tỉnh Ninh Bình, Ninh Bình có 2 thành phố
và 6 huyện (145 đơn vị hành chính cấp xã gồm 121 xã, 17 phường và 7 thị trấn) Bao gồm Thành phố Ninh Bình và Tam Điệp, các huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh và Kim Sơn
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực Nam miền Bắc Việt Nam, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng Giáp vói các tỉnh: Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa và giáp với vịnh Bắc Bộ Vị trí giói hạn từ 19°50 đến 20°26 vĩ độ Bắc, từ 105°32 đến 106°20 kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 90
km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.400 km2, chiếm 0,42% diện tích cả nước
Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình được chia làm 3 vùng địa hình khá rõ: Vùng núi chiếm 40% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, bao gồm các huyện ở phía Tây Bắc: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp; còn lại đồng bằng và vùng ven biển chiếm 60%, gồm hai huyện Kim Sơn và Yên Khánh ở phía Đông Nam Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp
Ninh Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu
ven biển Nhiệt độ trung bình hàng năm khảng 23,5°c Độ ẩm tương đối trung
bình: 80-85% Đá vôi là nguồn tài nguyên lớn nhất của Ninh Bình Với những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, tới tận biển Đông Nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn
Trang 17Ngoài ra, Ninh Bình còn có đất sét và than bùn phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp.
1.1.2.2 Điều kiện kinh tể - xã hội
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch Trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng, xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, Ninh Bình còn có 22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha Các dự án thuộc khu công nghiệp lớn như: Nhà máy đạm Ninh Bình, Công ty Phân lân Ninh Bình, Nhà máy xi măng The Vissai, Nhà máy sản xuất và lắp ráp ô tô Thành Công, Nhà máy xi măng Tam Điệp
v ề nông nghiệp, Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa
dạng nhiều thành phần Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm; vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản; khu vực làng hoa Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch
v ề thương mại và dịch vụ, Ninh Bình rất thuận lợi cho phát triển lưu
thông hàng hóa, phát triển đa dạng các loại hình du lịch: sinh thái - nghỉ dưỡng, văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch mạo hiểm, thể thao Ninh Bình đang có nhiều nỗ lực kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ Tỉnh coi đây là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn
v ề giao thông, Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng, có 5
quốc lộ dàn đều ừên tất cả các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh: quốc lộ 1A, 12B, 10, 38B, 45 Hiện đang có 3 dự án đường cao tốc đi qua Ninh Bình được triển khai là: đường cao tốc Ninh Bình - cầu Giẽ; Ninh Bình - Thanh Hóa và Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh Mạng lưới giao thông tỉnh lộ
khá thuận tiện với những tuyến xe buýt nội tính, v ề giao thông đường sắt,
Trang 18Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp - Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt
Bắc-Nam v ề giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông hồ dày đặc
Hệ thống đường thuỷ gồm 22 tuyến sông trong đó Trung ưomg quản lý 4 tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều dài gần 364,3 km Có 4 cảng chính do trung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng Ninh Phúc, cảng ICD Phúc Lộc và cảng càu Yên
v ề con người, dân số của tỉnh Ninh Bình có hơn 940.000 người (năm
2014), hầu hết là người dân tộc Kinh, có khoảng 2 vạn người dân tộc Mường phần lớn sống tập trung ở một số xã miền núi huyện Nho Quan và Tam Điệp Đại bộ phận nhân dân theo tín ngưỡng dân gian (thờ cúng tổ tiên, cha mẹ), một bộ phận theo đạo Công giáo, đạo Phật Đồng bào Công giáo chiếm khoảng 16% số dân trong tỉnh, nhiều nhất là ở Kim Sơn chiếm 43,4% dân số toàn huyện
v ề văn hóa, Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây
Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động Thế kỷ XVI - XVII, đạo Công giáo được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáo Phát Diệm Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình khá đa dạng gắn liền với tín ngưỡng thờ Vua, thờ Thánh, thờ Thần Là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử nên ừên địa bàn tỉnh có nhiều di tích được xếp hạng với 1 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 79 di tích cấp quốc gia, 235 di tích cấp tỉnh,
có 7 khu du lịch chính và 228 lễ hội
Đặc biệt, tỉnh nổi tiếng với nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc như: Lễ hội cố
đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, đền Thánh Nguyễn, lễ hội đền Trần Ninh Bình những trung tâm hát chầu văn, xẩm, ca trù ở đền Dâu, phủ Đồi Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, ca
Trang 19trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn, đan lát mây tre ở Nho Quan, Gia Viễn
Như vậy, với những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội kể trên, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng lớn về du lịch, có thể phát triển các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, , tạo nên sức hấp dẫn riêng của
du lịch địa phương trước tình trạng trùng lặp sản phẩm du lịch với một số địa phương phụ cận Tuy nhiên, bên cạnh đó, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa diễn biến thất thường, địa hình bị chia cắt cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế du lịch cũng như việc quản lý một số điểm du lịch Điều đó đòi hỏi các cấp ủ y Đảng, chính quyền tỉnh Ninh Bình cần có các giải pháp khai thác, bảo tồn tài nguyên du lịch họp lý trước sự phát triển của kinh tế - xã hội
1.13 Thạc trạngphát tiiển kinh tế du lịch tình Ninh Bình truớc năm 2001
Từ sau khi đất nước được giải phóng (1975), nền kinh tế Việt Nam vẫn còn rất nghèo nàn và lạc hậu Những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại khiến cho đời sống nhân dân thêm khó khăn Đe khắc phục khó khăn của đất nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, năm 1986, Đảng ta đã đưa ra chính sách đổi mới toàn diện Trong đó, bắt đầu đề cập tới vấn đề phát triển du lịch
Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tể - xã hội đến năm 2000, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên,
di sản vẫn hóa phong phú và các lợi thể khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch” [9, tr.350].
Ngày 14/10/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 46- CT/TW về lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới, trong
đó nêu lên quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế du lịch đến năm 2000 Coi phát triển kinh tế du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Có thể nói,
Trang 20Chỉ thị 46 - CT/TW của Đảng đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế du lịch được xác định là
"ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kỉnh tế - xã hội của đất nước” (Nghị quyết số 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ) Vì vậy, Việt
Nam phải "Phát triển mạnh du lịch, hình thành ngành công nghiệp du lịch có
quy mô ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của nước ta" mà
Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đề ra
Ngày 24/05/1995, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 307-
TTg về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ
1995 - 2010 dựa ừên việc phê duyệt tờ trình số 377/TCDL ngày 24/04/1995
của Tổng cục Du lịch Việt Nam Theo đó, đưa ra các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cần đạt và một số các giải pháp thực hiện
Ngày 27 tháng 12 năm 1975 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Nam Hà (hiện nay là Hà Nam và Nam Định) và Ninh Bình Tỉnh Hà Nam Ninh được thành lập Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hà Nam Ninh để tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình Tỉnh Ninh Bình lúc này gồm 2 thị xã Ninh Bình (tỉnh lị), Tam Điệp và 5 huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Hoàng Long, Kim Sơn, Tam Điệp
Trong bối cảnh đất nước còn có nhiều khó khăn nên nhìn chung kinh tế
du lịch ở Ninh Bình trong thời kì này chưa được quan tâm, chú trọng Bởi lẽ,
để giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho nhân dân mà thời gian này lãnh đạo tỉnh chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Ninh Bình là địa phương có tài nguyên du lịch phong phú Tuy nhiên từ những thập niên trước đến khi tái lập tỉnh (năm 1992), du lịch và các hoạt động du lịch phần lớn chỉ được xem là những hoạt động công cộng phục vụ
Trang 21đời sống văn hoá, tinh thần, vui chơi, giải trí và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Đây có thể gọi là giai đoạn sơ khai của du lịch Ninh Bình.
Năm 1995, Sở Du lịch Ninh Bình được thảnh lập đã bước đầu hình thành và phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Qua đó, phát huy những tiềm năng
du lịch vốn có ừong tỉnh Cơ sở ban đàu chỉ có khách sạn Hoa Lư ở cạnh núi
Kỳ Lân (đường Trần Hưng Đạo, thị xã Ninh Bình) Tổng số cán bộ, nhân viên
là 150 người Nguồn vốn đầu tư cho du lịch cũng vô cùng eo hẹp; cơ sở hạ tầng, vật chất yếu kém Ngoài khách sạn Hoa Lư, chỉ có một xí nghiệp sản xuất dịch vụ du lịch và 2 nhà hàng thuộc công ty Khách sạn Hoa Lư có 32 phòng ngủ, trong đó có 5 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, 3 phòng ăn, 1 quầy Bar và 1 phòng lễ tân Nhu cầu về hệ thống khách sạn phục vụ du lịch đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện
Tháng 12/1992, Đại hội đảng bộ tỉnh Ninh Bình làn thứ XII họp đã triển khai việc thực hiện phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Theo đó, hệ thống
các điểm du lịch Ninh Bình được quy hoạch thành 3 cụm: Cụm du lịch trung
tâm, Cụm du lịch vùng rừng, Cụm du lịch Kim Sơn Ngoài ra còn một số điểm
rải rác khác núi Non Nước; phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn; động Tam Giao; bãi săn bắn Ghềnh (Tam Điệp)
Tháng 04/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIII
đã họp từ ngày 25/04 đến 27/04/1996 về Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
và các giải pháp chủ yếu đến năm 2000 đã chỉ rõ ngành du lịch phải "tạo bước chuyển biến thực sự mạnh mẽ, toàn diện, có hiệu quả, tương xứng với tiềm năng, thể mạnh và vị tri của một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh" [18,
tr.47] Đây là một chiến lược hoàn toàn đúng đắn và phù họp của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, dù trong lúc này ừên địa bàn tỉnh chưa có đủ điều kiện đầu tư
để phát triển du lịch
Trang 22Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ tính Ninh Bình lần thứ XIII (08/1996), ƯBND tỉnh Ninh Bình đã đua ra kế hoạch 19/KH-UBND về việc
Thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm
2000 với mục tiêu đua hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh hoạt động ừong
khuôn khổ và có hiệu quả hon
Từ năm 1995 - 2000, Đảng bộ tỉnh đã tích cực triển khai dự án Quy
hoạch tăng thu du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1995 - 2010 đã được ƯBND
tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 949/QĐ-UB ngày 22/09/1995 Coi đây là công cụ đắc lực và hữu hiệu cho công tác quản lý và phát triển du lịch Ninh Bình trong thời gian tới Theo dự án này, quy hoạch du lịch Ninh Bình bao gồm các điểm du lịch (khu vực Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, Phát Diệm và VQG Cúc Phưong), 4 cụm du lịch, 6 tuyến du lịch và 8 dự án đầu tư theo lãnh thổ.Ngày 20/12/1997, UBND tỉnh ra Quyết định số 1713/QĐ-UB phê
duyệt dự án Quy hoạch phát triển khu du lịch Tam Cốc - Bích Động nhằm
đưa khu vực này ừở thành một ừong những ừọng điểm du lịch của tỉnh UBND tỉnh cũng phê duyệt các dự án đầu tư vào khu du lịch sinh thái Vân Long, cụm du lịch nhà thờ đá và các cơ sở du lịch ven sông Kim Sơn, dự án
du lịch Cồn Thoi - Hòn Nổi Đây là những lợi thế đối với sự phát triển du lịch Ninh Bình trong giai đoạn mới
Năm 2000, toàn ngành có 5.500 lao động do Sở du lịch Ninh Bình trực tiếp quản lý Trong đó, có 338 lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp do Sở trực tiếp quản lý, với số đó gồm 23 lao động có trình độ đại học
và cao đẳng, 121 lao động có trình độ trung cấp, 79 lao động có trình độ ngoại ngữ Thu nhập bình quân tháng của mỗi lao động đạt trung bình 400.000 đồng/tháng So với thời kì trước thì đây là bước tiến có ý nghĩa rất lớn dối với
sự phát triển vững chắc của du lịch Ninh Bình giai đoạn sau này
Trang 23Ngành du lịch đã tăng cường đàu tư cơ sở hạ tàng ở một số điểm du
lịch: Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc, Dự án Quy hoạch chi tiết khu du lịch Tam
Cốc - Bích Động năm 1997 được phê duyệt đã xác định đầu tư đường bộ từ
quốc lộ 1A vào Tam Cốc - Bích Động và tiếp tục dự án đầu tư, cải tạo bến
thuyền và nạo vét sông Ngô Giang Năm 1999, UBND tỉnh phê duyệt Định
hướng phát triển không gian du lịch Tam Cốc - Bích Động đến năm 2010
Mạng lưới điện cũng có sự phát triển, 100% số xã, phường, thị ừấn đã có điện sinh hoạt Quy mô các điểm du lịch được mở rộng, các điểm danh lam thắng cảnh được tôn tạo thêm
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình cũng quan tâm, đầu tư và phát triển hệ thống các cơ sở lưu trú Hệ thống các khách sạn và nhà nghỉ được xây dựng và nâng cấp hơn, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi của cả du khách trong nước và quốc tế Tiêu biểu như khách sạn Thùy Anh, Kinh Đô, Hòa Bình, Thanh Bình, Thanh Thủy, Tháng Tám Nhìn chung, số lượng khách du lịch lưu trú đã tăng lên đáng kể Năm 1995, toàn tính đã có 25 cơ sở lưu trú với 240 phòng Năm
2000, toàn tỉnh có 35 cơ sở lưu trú và 500 phòng nghỉ Trong đó có 18 khách sạn, 10 nhà nghỉ, nhà khách, 7 khu du lịch và 1 làng du lịch; 12 cơ sở đạt chuẩn, 1 cơ sở sếp hạng 2 sao Tuy nhiên, về cơ bản, quy mô các cơ sở lưu trú trên địa bàn tinh còn nhỏ, ừang thiết bị còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch thương mại
Các cơ sở phục vụ ăn uống ừong tỉnh cũng được nâng cấp Theo thống
kê của Sở du lịch tỉnh Ninh Bình, năm 2000 cả tỉnh Ninh Bình có 13 cơ sở phục vụ ăn uống với 2.134 ghế
Bên cạnh đó, Đảng bộ cũng đẩy mạnh công tác quảng bá qua báo Ninh Bình, báo Nhân dân, tạp chí Du lịch, Tổ chức các hội chợ, hội thảo để quảng
bá du lịch Từng bước sửa chữa, nâng cấp, hoàn chỉnh các biển chỉ dẫn, các biển quảng cáo du lịch Hàng năm, phối họp với Sở văn hóa thông tin và các
Trang 24ban ngành tổ chức thành công lễ hội Trường Yên, nhà thờ đá Phát Diệm, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch về Ninh Bình hơn.
Năm 2000, Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình đã tổ chức các lớp tập huấn, học tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức và khảo sát kinh nghiệm thực tế tại các tỉnh miền Trung, tham gia triển lãm các gian hàng của Hội chợ Xuân Du lịch - văn hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đạt 5 giải toàn quốc
Trong 5 năm 1995 - 2000, du lịch Ninh Bình đã đón được gần 1,8 triệu lượt khách, số lượng khách quốc tế ngày một tăng Doanh thu du lịch đạt
119,83 tỉ đồng Trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ phát triển kỉnh tế - xã
hội được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII của BCH Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình đã chỉ rõ: "Ngành du lịch đã xây dựng được quy hoạch tổng thể
1995 - 2010, hình thành và bước đầu đi vào khai thác một sổ điểm du lịch trong tỉnh, sổ khách đến du lịch ngày càng đông, doanh thu ngày càng tăng”.
Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Việc đàu tư cơ sở hạ tàng mới chỉ bắt đàu, dàn trải, việc thu hút đầu tư du lịch còn hạn chế Hoạt động du lịch đa phần mới chỉ dừng lại ở du lịch tự nhiên, chưa tạo ra được sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách Môi trường và cảnh quan du lịch tự nhiên có tình trạng bị xâm hại do không quy hoạch hợp lý Các cơ sở lưu trú chưa đạt chất lượng cao Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch còn thiếu và yếu hiểu biết về pháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch trong tình hình mới
Có thể nói, mặc dù chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, đồng bộ song với một số chính sách ban đầu, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã tạo ra được môi trường thuận lợi cho sự phát triển du lịch (1995 - 2000) Bước đầu khai thác có hiệu quả hơn những thế mạnh và tiềm năng vốn có của tỉnh, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển du lịch trong những năm tiếp theo, hoàn thành
Trang 25mục tiêu mà Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh đã đề ra đến năm
2000: "Phẩn đẩu để tình ta sớm trở thành một trong những trung tâm du lịch
của đất nước" [18, tr.47].
Như vậy, có thể thấy rằng, số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch hạn chế; sự nghèo nàn về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật cũng như sự yếu kém cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ừong hoạt động kinh tế du lịch chính là những hạn chế cơ bản của kỉnh tế du lịch Ninh Bình thời kì trước năm 2001
Trước tình hình đó đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Ninh Bình cần phải kịp thời đứa ra các biện pháp tích cực để tháo gỡ những khó khăn này Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình trong thời kì mới, đặc biệt trong giai đoạn 2001 - 2015; góp phần vào phát triển kinh tế du lịch của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
1.2 ĐẢNG BÔ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐAO PHÁT TRIỂN KINH TÉ DU LICH• • •
- xã hội Đại hội nhấn mạnh: phải ‘Phát triển và đa dạng các loại hình và các
điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch ” [9, tr.805].
Ngày 22/07/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
97/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
2001 - 2010 Bao gồm các mục tiêu phát triển và phát triển một số lĩnh vực,
Trang 26phát triển vùng du lịch Quyết định cũng nêu rõ các giải pháp cụ thể càn thực hiện Ngày 25/12/2002, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc
Cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.
Ngày 29/04/2003, Thủ tướng Chính phủ đưa ra Quyết định số
82/2003/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch Tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy
giá trị khu di tích lịch sử - văn hóa c ổ đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Để đáp ứng
yêu cầu phát triển du lịch trong thòi kỳ mới, ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7,
Quốc hội khóa X đã thông qua Luật du lịch sổ 44/2005/QH11 thay thế Pháp
lệnh Du lịch năm 1999 Ngày 29/7/2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ra Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy chế bảo vệ môi trường trong lmh vực du lịch
Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ X của Đảng (tháng 4/2006) xác định:
“Khuyến khích đầu tư phát triển và năng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch" [10, tr.201-202].
Ngày 21/09/2007, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra Quyết định
số 564/QĐ-BVHTTDL về việc Ban hành Chương trình hành động của ngành
du lịch Việt Nam Tiếp đó, ngày 25/12/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 63/2008/QĐ-TTg Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cẩu tổ chức của Tổng cục du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Năm 2009, để hạn chế những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu, tận dụng thời cơ thúc đẩy tăng trưởng du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch đã triển khai chương trình kích cầu du lịch mang tên “Ẩn tượng Việt
Nam” Theo đó, tất cả du khách các nước và vùng lãnh thổ vào Việt Nam du
lịch theo chương trình “Ân tượng Việt Nam” sẽ được miễn lệ phí thị thực từ
trung tuần tháng 5 đến hết tháng 9/2009 Chương trình được triển khai trên thực tế đã góp phần đáng kể thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển
Trang 27Ngày 08/09/2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra Quyết định số
3146/QĐ-BVHTTDL về việc Phê duyệt nội dung đề cương Đề án Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030
Giai đoạn 2001 - 2010 là thời kì bắt đầu một thiên niên kỉ mới của đất nước Xu thế hội nhập đang phát triển ngày càng mạnh mẽ trên thế giới là điều kiện căn bản để Việt Nam hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của thời kì đổi mới
Đại hội đại biểu tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV (tháng 01/2001) đã tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII Đồng thời, thảo luận, quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các
giải pháp chủ yếu giai đoạn (2001 - 2005) Từ đó, đề ra phương hướng: "Tiếp
tục sự nghiệp đối mới, đấy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khai thác, phát huy nội lực, tiềm năng và thế mạnh của địa phương xây dựng Ninh Bình ngày càng giàu đẹp" [19, tr.42]
Ngày 18/12/2001, Ban thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Ninh Bình đã đưa ra
Nghị quyết số 03/NQ-TƯ về việc Phát triển du lịch từ nay đến năm 2010
.Khẳng định mục mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Đánh giá hoạt động du lịch của tỉnh trong những năm qua, Nghị quyết đưa ra những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển du lịch ừên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010
Ngày 04/12/2001, ƯBND tỉnh ra Quyết định số 2682/2001/QĐ-ƯB về
việc thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch Ninh Bình nhằm
tăng cường công tác việc xúc tiến đầu tư phát triển du lịch tại địa phương; tổ chức các dịch vụ thông tin tuyên truyền, tiếp thị quảng cáo, nghiên cứu và tư vấn đầu tư, kinh doanh du lịch
Trang 28UBND tỉnh Ninh Bình đã đưa ra Nghị quyết số 1811/NQ-UB ngày
09/10/2002 về việc phê duyệt Chương trình hành động du lịch tỉnh Ninh Bình
giai đoạn 2002 - 2005 Theo chương trình này, toàn tỉnh bố trí đầu tư, khai
thác các khu du lịch tập trung từ 2001 đến năm 2010
Tháng 12/2005, Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX diễn ra với nôi dung cơ bản là tổng kết tình hình 5 năm xây dựng và phát triển Ninh Bình theo các chương trình, phương hướng, kế hoạch phát triển giai đoạn
2001 - 2005 Đại hội cũng tiếp tục khẳng định chủ trương "Coi kinh tể du lịch
là ngành mũi nhọn, xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tể đầu tư, phát triển du lịch, phẩn đẩu đến năm 2010, doanh thu du lịch đạt 350 tỉ đồng" [22, tr.66] Chính vì vậy, ngày 13/09/2006, Tỉnh
ủy Ninh Bình đã đưa ra kế hoạch số 19-KH/TƯ thực hiện Chương trình phát
triến du lịch, dịch vụ và xuất nhập khấu đến năm 2010 Quan điếm chỉ đạo
là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, dứt điểm, tạo ra các tuyến du lịch liên kết giữa các khu du lịch trong nước và nước ngoài Với mục tiêu kêu gọi đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch ừọng điểm, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo phục vụ khách du lịch; nâng cao hiệu quả công tác quảng bá du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.Ngày 31/08/2007, UBND tinh Ninh Bình cũng đưa ra quyết định số
2025/QĐ-UBND về Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu núi chùa
Bái Đỉnh thuộc khu du lịch sinh thái Tràng An Tiếp đó, ngày 17/12/2007,
ƯBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Quyết định số 2845/QĐ-UBND về việc
Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh bình đến năm
2010, định hướng đến năm 2015 Nhằm quy hoạch lại du lịch Ninh Bình sao
cho phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và các mục tiêu kinh tế xã hội chung của quốc gia Phấn đấu đến năm 2010, doanh thu du lịch đạt 435,6 tỉ đồng (39,6 triệu USD), năm 2015 đạt 1.518 tỉ đồng (138 triệu USD)
Trang 29Đặc biệt, ngày 13/07/2009, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX đã
ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU vv Phát triển du lịch Ninh Bình đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 Qua đó, đánh giá quá trình thực hiện phát
triển du lịch trong thời gian trước và đưa ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ
và các giải pháp cụ thể phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020 định hướng tới năm 2030
Như vậy, chủ trương đưa kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn luôn là mục tiêu xuyên suốt của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong suốt thời kì đổi mới Chính vì vậy, Đảng bộ tính không ngừng đổi mới và hoàn thiện các chính sách pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý cho công tác quản lý hoạt động du lịch, thu hút mọi nguồn lực để phát triển du lịch Việc ban hành các nghị quyết phát ừiển kỉnh tế du lịch là những đinh hướng quan trọng thúc đẩy du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế chủ chốt, tạo sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu kinh tế của tỉnh
lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Trên cơ sở tiếp tục thực hiện các chủ trương trong Nghị quyết tại Đại hội Đảng lần thứ IX, X của TW Đảng và Chương trình hành động quốc gia về
du lịch, quy định của Luật Du lịch năm 2005, trong những năm 2001 - 2010
du lịch Ninh Bình tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu mà Đảng đã đề ra
1.2.2.1 Quản ỉỷ Nhà nước về kinh tể du lịch
Tỉnh ủy và UBND tỉnh Ninh Bình đã quan tâm tới việc đổi mới, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế du lịch; các chính sách quản lý hoạt động kinh doanh tại các điểm du lịch một cách hiệu quả hơn
Ngay từ năm 2001, ƯBND tỉnh đã ra quyết định sáp nhập phòng Nghiêp vụ với phòng Kế hoạch Năm 2002, Sở Du lịch Ninh Bình chính thức đưa Trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đi vào hoạt động và bước
Trang 30đầu đạt kết quả tốt Củng cố và sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc Sở Du lịch Sáp nhập Công ty Khách sạn Non Nước với Công ty du lịch Ninh Bình, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả.
Ngày 18/08/2005, căn cứ vào Thông tư số 48/2005/TT-BNV, UBND
tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định số 1806/2005/NĐ-UBND vv Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cẩu, tổ chức và biên chế của Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình.
Ngày 03/08/2006, UBND tỉnh ra Quyết định số 1584/2006/QĐ-UBND
về việc Ban hành quy chế làm việc của Ban chỉ đạo Nhà nước về kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình Thông qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh du lịch Ninh Bình ngang tầm với các địa phương khác ừên cả nước.Ngày 03/03/2008, UBND tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định số 422/NQ- UBND, họp nhất Sở Thể dục thể thao, Sở Du lịch và Sở Văn hóa, thông tin thành Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch
Ngày 16/10/2009, UBND tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 399/QĐ-CT
W Thành lập Hiệp hội Du lịch Ninh Bình Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Ninh Bình cũng đã phối họp với ƯBND tỉnh từng bước xây dựng hệ thống quản lý nhà nước về du lịch địa phương, tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng trong việc thực hiện các dự án du lịch, tạo điều kiện để các chủ dự án du lịch thực hiện đúng tiến trình đầu tư UBND tỉnh cũng chỉ đạo các đơn vị kinh doanh du lịch đẩy mạnh công tác bảo đảm an ninh, môi trường và văn minh du lịch tại các điểm du lịch cũng như các sở lưu trú Đặc biệt, ngành du lịch Ninh Bình đã quan tâm hơn tới xây dựng cơ chế quản lý
và mô hình quản lý các khu du lịch lớn: Tam Cốc - Bích Động, núi chùa Bái Đính,
Trang 31Việc thiết lập cơ chế thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và đầu tư vào du lịch, khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tăng cường đầu tư trong các khu du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Bên cạnh đó, ƯBND tỉnh còn thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc triển khai đầu tư xây dựng cơ sở kinh doanh du lịch của các dự án đã được chấp thuận, việc sử dụng đất của các dự
án, thẩm định chất lượng của các công trình Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh cũng thường xuyên tổ chức thẩm định các cơ sở lưu trú du lịch
Nhìn chung ừong những năm 2001 - 2010, quản lý nhà nước về du lịch
đã được điều chỉnh hợp lý, chính sách thông thoáng, hiệu quả
7.2.2.2 Công tác quảng bá du lịch
Với việc hiện Nghị quyết 03-NQ/TU (2001) của Sở Du lịch Ninh Bình giai đoạn này đã không ngừng hợp tác với các tỉnh, thành phố ừong việc trao đổi kinh nghiệm, công tác quản lý nhà nước, quy hoạch các điểm du lịch thông qua các hội thảo, hội nghị ừong nước và quốc tế
Năm 2004, Ninh Bình hợp tác với khoa Khách sạn du lịch (trường Đại học Kinh tế quốc dân), Viện ASIA Nhật Bản, Vụ Lữ hành - Tổng cục Du lịch nghiên cứu chương trình phát triển du lịch làng nghề dọc hành lang Đông - Tây tại làng nghề truyền thống thêu ren Ninh Hải
Năm 2005, phối họp với Ban Tuyên truyền đối ngoại VTV4 - Đài
Truyền hình Việt Nam xây dựng bộ phim “Du lịch Ninh Bình - thức dậy tiềm
n ă n g hợp tác với Nhà xuất bản Thế giới xây dựng Sa bàn du lịch điện tử, sử
dụng công nghệ 3D với nhiều lớp giao diện, kết họp với loại hình quảng cáo CDROM truyền thống Lần đầu tiên ngành du lịch Ninh Bình đã xuất bản tập
“Thông tin du lịch Ninh Bình” - là tiếng nói của ngành để kịp thòi thông tin
những thông tin cần thiết về hoạt động du lịch trong và ngoài tỉnh
Trang 32Từ cuối năm 2006, Sở Du lịch tỉnh đã xây dựng, hoàn thiện và đưa vào
sử dụng ừang Website Du lịch Ninh Bình để giới thiệu tiềm năng và sản phẩm du lịch Ninh Bình đến với du khách trong nước và trên toàn thế giới Ngày 01/09/2009, trang thông tin điện tử du lịch Ninh Bình đã được cấp phép
trở thảnh Trang thông tin điện tử tổng hợp du lịch Ninh Bình Đây là cổng
thông tin chính thức của ngành văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình, là nơi cung cấp và cập nhật thông tin tin cậy cho du khách, các hãng lữ hành, các nhà nghiên cứu và các nhà đầu tư, đồng thời còn là cầu nối trung gian, hỗ ừợ, quảng bá các sản phẩm dịch vụ cho trên 40 doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ trong tỉnh
Hàng năm, Sở Du lịch Ninh Bình cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng tiếng Anh cho các cán bộ công nhân viên du lịch Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình chỉ đạo Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Ninh Bình phối hợp với Hiệp hội du lịch Ninh Bình và trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn
Hà Nội tổ chức khai giảng lớp bồi dưỡng kĩ năng quản lý khách sạn du lịch cho cán bộ quản lý tại các khu, điểm du lịch, chủ doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch Ninh Bình phát triển nhanh, bền vững
Ngành du lịch còn thường xuyên phối họp với các đơn vị liên quan tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, hướng dẫn viên, thuyết minh viên, các lớp ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp cho cán bộ quản lý, nhân viên ở các Ban, Trạm quản lý các khu, điểm du lịch ừên địa bàn như Ban quản lý khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, Trạm quản lý khu du lịch Vân Long, Khu
di tích Cố đô Hoa Lư; mở các lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng đồng về xây dựng nếp sống văn minh văn hoá ừong du lịch cho người dân các địa
Trang 33phương tham gia hoạt động bán hàng, chụp ảnh, chèo đò, lễ tân ở các danh lam thắng cảnh, các nhà hàng, khách sạn.
Năm 2010, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Ninh Bình đã phối họp với Đài truyền hình Ninh Bình thực hiện 12 chuyên mục du lịch tuyên truyền, quảng bá tiềm năng du lịch và phản ánh các hoạt động tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC thực
hiện chương trình “Khám phá Việt Nam” tại khu du lịch Kênh Gà - Vân
Trình, khu du lịch sinh thái Vân Long, Địch Lộng Tham gia tuyên truyền quảng bá hình ảnh du lịch Ninh Bình tại Hội chợ Du lịch Hải Phòng, liên hoan du lịch quốc tế Thăng Long - Hà Nội, liên hoan văn hóa ẩm thực các
tỉnh bắc Miền Trung tại thành phố Vinh, Lễ hội c ố đô Hoa Lư.
Phối hợp vói Sở Công thương Ninh Bình tổ chức Hội chợ Quốc tế thương mại du lịch Ninh Bình năm 2010 với 40 gian hàng triển lãm du lịch; tham gia tuyên truyền quảng bá du lịch tại Liên hoan văn hoá ẩm thực du lịch các tỉnh miền Trung với 2 gian hàng triển lãm hình ảnh du lịch Ninh Bình, 2
gian hàng giói thiệu "Thịt dê - Cơm cháy - Rượu Kim Sơn" Cung cấp thông
tin, tư vấn cho các đoàn khách đến tham quan, tìm hiểu về Ninh Bình, các công ty lữ hành thông qua điện thoại, thư điện tử và hướng dẫn trực tiếp
“Cung cấp hơn 9000 ấn phẩm quảng bá du lịch Ninh Bình cho các công ty lữ hành, khách sạn, các cơ quan trong và ngoài tỉnh; biên tập, thiết kế và phát hành 300 bản tin Văn hoá, Thể thao và Du lịch chào mừng 50 năm thành lập ngành du lịch Việt Nam, 600 bản tin Văn hóa, Thể thao, Du lịch số đặc biệt chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội” [32, tr.l]
Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cũng tổ chức thành công cuộc thi sáng tạo biểu tượng và tiêu đề du lịch Ninh Bình Hoàn thành thiết kế mẫu và ký họp đồng làm huy hiệu gắn biểu tượng du lịch Ninh Bình
để làm quà tặng cho các quan khách, du khách, các công ty du lịch, công ty lữ
Trang 34hành Làm móc khoá có gắn biểu tượng (logo) và hình ảnh du lịch Ninh Bình để tuyên truyền, quảng bá nhân các sự kiện lễ hội, hội chợ và liên hoan
du lịch
Bên cạnh việc tích cực tuyên truyền, quảng bá rộng rãi hình ảnh du lịch của địa phương, Ninh Bình cũng đặc biệt chú trọng đến nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tổ chức các hội thi hướng dẫn viên, thuyết minh viên; xây dựng nếp sống văn minh ở các khu, điểm du lịch nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mang đặc trưng Ninh Bình Sở Du lịch đã tiến hành nghiên cứu,
triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp khai thác
tiềm năng hang động Karst phục vụ phát triển du lịch Ninh Bình” để xây
dựng và đưa vào khai thác các tuyến tham quan du lịch mới
Ngành du lịch Ninh Bình cũng đẩy mạnh quan tâm đến các sản phẩm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch như đá mỹ nghệ, thêu ren, cói, rượu Kim Sơn Ngành chức năng đã tổ chức điều tra, khảo sát về hoạt động của các làng nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn; xét chọn công nhận danh hiệu làng nghề, nghệ nhân cấp tỉnh; vận động các doanh nghiệp, các làng nghề truyền thống tham gia các triển lãm làng nghề truyền thống trong và ngoài tỉnh
1.2.2.3 về cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ du lịch
♦♦♦ Cơ sở lưu trú du lịch
Cùng với đó, du lịch Ninh Bình đã không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ nhằm kịp thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách du lịch Vì vậy hệ thống nhà nghỉ, khách sạn trên địa bàn tỉnh tăng nhanh cả về số lượng lẫn quy mô
Neu như năm 2001, cả tỉnh mới chỉ có 28 cơ sở lưu trú, trong đó có 1 khách sạn 2 sao thì đến năm 2010, toàn tỉnh đã có 126 cơ sở lưu trú với 2.377 phòng nghỉ tương đương 4.227 giường Trong đó có 22 cơ sở lưu trú được
Trang 35công nhận đạt loại hạng từ 1 đến 2 sao, chiếm 17,46% tổng số cơ sở lưu trú hiện có [13, tr.82].
♦♦♦ Hệ thống cơ sở ăn uổng phục vụ du lịch
Công tác phục vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh có sự cải tiến, chú trọng đưa ẩm thực quê hương vào phục vụ du khách, tạo dựng ấn tượng đối với khách du lịch về Ninh Bình Ví dụ các đặc sản: thịt dê, cơm cháy, cá rô Tổng Trường, nem chua Yên Mạc, Đến năm 2010, toàn tỉnh có 140 cơ sở phục vụ
ăn uống với hơn 9000 chỗ ngồi
Nhà hàng phục vụ ăn uống tăng nhanh cả về quy mô và số lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo hơn trước Để đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho các hoạt động dịch vụ du lịch, Sở Nông nghiệp
và phát triển nông thôn đã lập đề cương, dự toán quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn, rà soát bổ sung quy hoạch vùng cây ăn quả ừên địa bàn tỉnh đến năm 2020, quy hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi, thuỷ sản
♦♦♦ Khu vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ trợ
v ề các khu vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ trợ, ở Ninh Bình, các
khu vui chơi - giải trí - thể thao chưa phong phú Đó là một nguyên nhân chính không giữ được khách lưu lại dài ngày Năm 2010, Ninh Bình đã có 8
bể bơi, 1 sân golf, 48 sân tennis, 82 phòng xông hơi - massage - vật lí trị liệu Một số cơ sở vui chơi giải trí mới thành lập như: Club Number One City, Trung tâm giải trí Newstar, Massage Kinh Đô, Massage Hương Trà, Khu nghỉ dưỡng tắm ngâm nước khoáng Kênh Gà, đã bước đầu đã đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
1.2.2.4 Lao động trong tham gia vào các hoạt động kinh tể du lịch
Nếu năm 2001 toàn tỉnh thu hút được 5.510 lao động trong hoạt động kinh doanh du lịch thì tới năm 2009 đã có hơn 6.350 lao động tham gia và hoạt động kỉnh doanh du lịch Trong đó, lao động trực tiếp trong ngành là
Trang 361000 người, lao động gián tiếp là 5.350 người Năm 2005, có 85 lao động năm 2010 tăng lên hon 200 lao động Năm 2001, toàn ngành có 90 lao động
có trình độ ngoại ngữ, năm 2010 đã có 8.850 lao động, bước đầu đáp ứng yêu cầu của phát triển du lịch Tỉ lệ lao động được đào tạo nghề, nghiệp vụ du lịch chiếm 72% trong tổng số tỉ trọng lao động của ngành [13, tt.75]
Nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do chính sách mở cửa, khuyến khích của TW Đảng nói chung và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình nó riêng Đáng chú
ý, trình độ lao động du lịch được nâng lên rõ rệt
♦♦♦ Đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng du lịch
Việc quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tàng du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đang được đầu tư xây dựng tích cực, có sự hỗ trợ hiệu quả giữa nguồn vốn từ trung ương với nguồn vốn của địa phương đã góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho phát triển du lịch
Sở Công thương cũng xây dựng xong đề cương, đề án quy hoạch hệ
thống thương mại, quy hoạch hệ thống làng nghề phục vụ du lịch, v ề việc
quy hoạch hệ thống cấp nước, đường điện, hệ thống xử lý rác thải tại các khu
du lịch
Sở Xây dựng đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cho các điểm dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện Hoa Lư, Gia Viễn, trong đó có định hướng quy hoạch hệ thống cấp nước, đường điện, hệ thống
xử lý rác thải
UBND tỉnh Ninh Bình đã phê duyệt quy hoạch phát triển giao thông vận tải; quy hoạch chi tiết giao thông đô thị thành phố Ninh Bình, mạng lưới bến xe, giao thông đường thuỷ nội địa, quy hoạch các điểm đầu mối và các tuyến Quốc lộ trên địa bàn Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc nhà thầu thi công khẩn trương xây dựng các dự án, hạng mục,
Trang 37Đến nay cơ bản hoàn thành giai đoạn I của dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Ninh Bình; tập trung nâng cấp cải tạo Quốc lộ 10 đoạn Ninh Phúc - cầu Điền Hộ; dự án ĐT 477 và cầu Trường Yên.
Có nhiều dự án đang được triển khai đúng tiến độ, trong đó có một số hạng mục, công trinh đã được đưa vào sử dụng như: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch Tam Cốc - Bích Động,
dự án khu die tích cố đô Hoa Lư, Dự án xây dựng cơ sở hạ tàng khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long Ngoài ra, cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường thủy Bích Động- Hang Bụt, Thạch Bích - Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch các làng nghề truyền thống dăng đang được gấp rút hoàn thiện để đưa vào khai thác
♦♦♦ Đầu tư của các doanh nghiệp vào các khu du lịch
UBND tính Ninh Bình đã ban hành và áp dụng các Quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các khu du lịch trên địa bàn tỉnh để thu hút thêm các nhà đàu tư, đặc biệt là xây dựng các khu vui chơi, giải trí hiện đại, các trung tâm dịch vụ du lịch
Hiện nay, khu dịch vụ khách sạn cao cấp có một số dự án được tỉnh chấp thuận đầu tư như: Dự án xây dựng khu nhà hàng ẩm thực và vui chơi giải trí cao cấp của Công ty TNHH xây dựng và Thương mại Du lịch Minh Thiết, tổng vốn đầu tư 177 tỷ đồng, quy mô công suất phục vụ 350 nghìn lượt người/năm; Dự án xây dựng khu dịch vụ du lịch cao cấp Thanh Hải, tổng vốn đầu tư trên 209 tỷ đồng; Dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng của Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Toàn cầu với tổng vốn đàu tư 579 tỷ đồng
Riêng đối với khu vực thành phố Ninh Bình, ngày 12/12/2008, Hội
đồng nhân dân tỉnh ra Nghị quyết số 13/2008/NQ-HĐND về việc ban hành
cơ chế, chính sách thu hút đầu tư vào Khu dịch vụ khách sạn trung tâm thành phố Ninh Bình Nhờ đó, tính đến năm 2010 trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Trang 38đã kêu gọi được 4 dự án nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao, tổng mức trên 780 tỷ đồng.
Đặc biệt, tỉnh đã tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện ngay quy hoạch khu dịch vụ khách sạn cao cấp tại thành phố Ninh Bình Điều này giúp nâng cao khả năng lưu trú, đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách đến tham quan, tăng nguồn thu du lịch và giải quyết việc làm cho nhiều lao động
Các cơ sở kinh doanh theo hình thức siêu thị cũng ngày càng phát triển, góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, tạo tiền đề xây dựng ngành dịch vụ văn minh, hiện đại
Như vậy, trong 10 năm (2001 - 2010), những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế du lịch của Tỉnh ủy, ƯBND tỉnh Ninh Bình được triển khai hiệu quả đã và đang tạo ra diện mạo mới cho Ninh Bình Kinh tế du lịch đang
vươn lên mạnh mẽ số lượng khách du lịch không ngừng tăng từ năm 2001
với 510.700 lượt khách lên tới 3,3 triệt lượt khách năm 2010 Doanh thu du lịch năm 2010 đạt 500 tỷ đồng, gấp 18,5 làn so với năm 2001 Cơ cấu khách
du lịch cũng có sự thay đổi rõ nét Khách quốc tế đến Ninh Bình chiếm trung bình khoảng trên 30% so với tổng lượng khách, tốc độ tăng trưởng trung bình
từ 2001 đến 2010 đạt trên 21% [13, tr.86]
Hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch được đầu tư nâng cấp Nhiều điểm du lịch mới, hấp dẫn đang được xây dựng
và đưa vào khai thác Hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch được
mở rộng Đó là thành quả của việc thực hiện thắng lợi các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình Góp phần hình thành nhanh chóng một mạng lưới du lịch và dịch
vụ du lịch rộng khắp trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, trong thực tế công tác quy hoạch du lịch còn có những bất cập Công tác quản lý nhà nước tại các khu, điểm du lịch còn nhiều yếu kém,