1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải hà

157 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 215,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa trong cơ chế thị trường cácdoanh nghiệp đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vịthế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng ca

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-Trần Thị vinh

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG

TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ

Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trần Thị vinh

-NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60 34 05 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG ……… ……… ……… i DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ…….……… ……… …… iii

MỞ ĐẦU……… ……… ……… ………… 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

DOANH NGHIỆP……… ……….……… ………… 6

1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……….…… ………6

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh……… 6 1.1.2 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp………

…… 11

1.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………13

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……16

1.3.1 Môi trường kinh tế……… ………… ………17 1.3.2 Môi trường luật pháp, chính

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải

Hà………

…… 47

2.2.1 Đặc điểm về sản phẩm bánh kẹo ……… ……

Trang 4

2.2.3 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải

ii

Trang 5

Hà……….52 2.2.4 Đặc điểm về khách hàng……… 70 2.2.5 Đặc điểm về đối thủ cạnh

tranh……… 75

2.2.6 Đặc điểm về tài chính……… ……… 79

2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà……….

…… 81

2.3.1 Về sản phẩm……… 81

2.3.2 Về hoạt động Marketing……… 83 2.3.3 Về thời gian và không

3.1 Thách thức đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……… ………90 3.2 Định hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty

cổ phần bánh kẹo Hải Hà ……….…….91

3.2.1 Mở rộng liên kết với các công ty trong nước……… 92 3.2.2 Định hướng chiến lược kinh doanh lâu dài đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà ……….……….94 3.2.3 Nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ người lao động……….…… 99 3.2.4 Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh của Công ty cổ phần bánh

kẹo Hải Hà……….103

3.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

Trang 6

3.3.2 Hoàn thiện công tác phát triển đại lý, chiến lược phân phối sản

iii

Trang 7

3.3.3 Nâng cao năng lực công nghệ……….

……….116

3.3.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm……… 117

3.3.5 Hiện đại hoá hệ thống tổ chức, quản lý của doanh nghiệp………118

3.3.6 Tài chính doanh nghiệp……….119

3.3.7 Tăng cường công tác quảng cáo, xúc tiến bán hàng và các loại dịch vụ để kích thích sức mua của thị trường ……… ……….120

3.3.8 Phát triển thị phần của doanh nghiệp……….121

3.3.9 Kiến nghị đối với nhà nước……… 122

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……….…….……… 126

KẾT LUẬN……….……… 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………… 130

Trang 8

iv

Trang 9

Bảng 2.4 Hệ thống đại lý của công ty bánh kẹo Hải Hà 55Bảng 2.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở các tháng từ năm 2007-2009 58

Bảng 2.7 Giá bán một số mặt hang của công ty so với đối thủ cạnh tranh 61

Bảng 2.12 Thị phần của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 3 67Bảng 2.13 Mức trợ giá cho các đại lý của công ty năm 2009 68Bảng 2.14 Đặc điểm tiêu thụ bánh kẹo ở từng khu vực của thị trường 70Bảng 2.15 Đặc điểm tiêu dùng của từng đối tượng khách hàng 71Bảng 2.16 So sánh thị phần của các công ty trong cả nước 74

Trang 10

Số hiệu

bảng

Bảng 2.18 So sánh giá của một số bánh kẹo của công ty khác nhau 78Bảng 2.19 Thời gian kế hoạch giao hàng cho các đại lý của công ty (tính

82

cả cấm đường )

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Số hiệu

Hình 2.3 Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kem xốp 44Hình 2.4 Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh Cracker 44Hình 2.5 Hệ thống kênh phân phối của Công ty cổ phần bánh 64

kẹo Hải Hà

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năng lực cạnh tranh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu tác độngcủa nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; là quá trình lâu dài,phức tạp và thường xuyên, liên tục; là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bên cạnh các cơ hội kinhdoanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏicác tổ chức, doanh nghiệp phải nhận thức đúng cạnh tranh để từ đó nâng caonăng lực cạnh tranh và giành thắng lợi trong kinh doanh Để từng bước vươn lêngiành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính

là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam

Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước như vũ bão đồngthời với việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là việc gianhập WTO, mọi thành tựu khoa học công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãivào sản xuất hàng hoá và dịch vụ, năng suất lao động trong sản xuất tăng nhanh,hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều thì mức độ cạnh tranh giữa các doanhnghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt Hơn nữa trong cơ chế thị trường cácdoanh nghiệp đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vịthế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uytín của doanh nghiệp đối với khách hàng Sản phẩm hàng hoá có thể cạnh tranhđược trên thị trường phải là những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng cao, mẫu

mã đẹp và điều quan trọng không thể thiếu đó là giá bán phải phù hợp với nhucầu người tiêu dùng Mặt khác, trong các doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn là mụctiêu là sự phấn đấu và là cái đích cần đạt tới Như vậy để doanh nghiệp hoạt

Trang 13

sản xuất phải đảm bảo mà đầu vào cũng phải được ổn định Nghĩa là sản phẩmcủa doanh nghiệp phải được mọi người tiêu dùng chấp nhận, đòi hỏi doanhnghiệp phải luôn phấn đấu và tìm mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giáthành, nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa ra được giá bán phù hợp, có nhưvậy mới tồn tại và phát triển được Chính vì lý do đó mà vấn đề chiếm lĩnh thịtrường, nâng cao năng lực cạnh tranh luôn có tầm quan trọng và có tính thờicuộc đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào.

Thực tiễn tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo chiếm một tỷtrọng rất lớn trên tổng số doanh nghiệp và có xu hướng ngày càng tăng Do đó,

sự tồn tại và phát triển của những doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sựtăng trưởng và phát triển của nền kinh tế của Việt Nam Đứng trước thực tế đó,việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh kẹo ở Việt Nam trở thànhmột yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Công ty cổ phần bánh kẹo Hải

Hà là một trong những công ty có truyền thống, uy tín, phát triển lâu dài và làmột công ty lớn của Miền bắc Trong những năm qua, do sự biến động của thịtrường với sự cạnh tranh gay gắt của một số công ty cùng ngành nên tình hìnhsản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường của công ty gặp nhiều khó khăn vàtrở ngại Để có thể đứng vững hiện nay trên thị trường bánh kẹo, công ty cầnthực hiện nhiều biện pháp cấp bách cũng như lâu dài để nhằm đẩy mạnh hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững uytín và vị thế của công ty trên thị trường Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài

“ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà ” được

chọn để nghiên cứu nhằm định hướng cho chiến lược nâng cao năng lực cạnhtranh sản phẩm bánh kẹo của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp đồng bộ đểthực hiện

Trang 14

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp đã được khá nhiều đề tài trong vàngoài nước nghiên cứu nhưng ở phạm vi và hoàn cảnh khác nhau như một số đềtài sau:

- Đề tài: “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thươngmại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ” - Chủ nhiệm: TS Lê Hùng; Phó Chủ nhiệm: CN Lê Thanh Hải; Thành viên tham gia: TS.Nguyễn Văn Hà, ThS Lê Nguyễn Hải Đăng, ThS.Lê Nguyễn Quỳnh, ThS.Trần Anh Tuấn, Trần Đình Cường, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Đức Lệch, Nguyễn Hữu Nghĩa, Đỗ Xuân Trung, Lê Phan Thanh Hoà, Phạm Thị Thanh Hiền.

- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ” - Nguyễn Vinh Thanh, Tạp chí nghiên cứu thế giới

- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế ” - PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa

- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ” - PGS.TS Phạm Văn Phúc.

Tuy nhiên với phạm vi của từng doanh nghiệp cụ thể thì còn rất tản mạn.Chính vì vậy mà trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống,toàn diện ở một doanh nghiệp thuộc ngành lương thực - thực phẩm với các đặcđiểm đặc thù riêng có

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo củaCông ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà hiện nay và đề xuất các chính sách giải phápnhằm nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm trên thị trường nội địa, cụ thể:

 Nghiên cứu hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hàtrong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu

 Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh choCông ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

 Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến năng lực cạnhtranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp của triết học Mác - Lê Nin, quan điểmđổi mới của Đảng, các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia và một số phương pháp khác để làm rõ kết quả nghiên cứu

Trang 16

6 Những đóng góp mới của luận văn

 Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh ở một doanh nghiệp

 Phân tích những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

 Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpChương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong giai đoạn vừa qua

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 17

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh

1.1.1.1 Cạnh tranh

Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, ; thường xuyênđược nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phươngtiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc

độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thểnhư sau:

- Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất củacạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trungbình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợinhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm

đi ”[4]

- Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp với cácđối thủ trong cùng một ngành Cạnh tranh có vai tró rất quan trọng và là một trongnhững động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phảinăng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa họccông nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh

tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền ở đó hoạt động sản xuất, thịthường trì trệ và kém phát triển

Trang 18

- Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữanhững chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhấtcho mình Cạnh tranh cụ thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng(người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùngvới nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiệntốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ.

- Theo từ điển kinh doanh: (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh là sựganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuấtcùng một loại hàng hoá về phía mình [23]

- Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người khác,song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chấtlượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn v.v.)

- Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể trongviệc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giànhđiều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [18]

Từ những định nghĩa trên có thể rút ra nhận định chung sau đây:

Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh

là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.

Trang 19

Cạnh tranh là quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Cácdoanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luônkhông ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợinhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanhthì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách cóhiệu quả cao nhất nhắm thu được lợi nhuận tối đa Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏđược các doanh nghiệp yếu kém và giúp phát triển làm ăn có hiêu quả Ở ViệtNam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh được thừa nhận là một quyluật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chứcđiều hành kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một sốkết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sảnphẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại vàlàm nảy sinh thị trường mới

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế củadoanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, năng lực canh tranhcủa doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đấy

là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêuchí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cáchriêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùnglĩnh vực, cùng một thị trường

Trang 20

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với

ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường

Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nónắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinhdoanh,…

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trongđiều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định.Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thựclực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranhkhốc liệt như hiện nay

Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụngthực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụhấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càngcao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”

Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (cácđối thủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua cáchành vi chiến lược, được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành

để tác động tới môi trường nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng như bằngnhững công cụ marketing khác Nó cũng đạt được thông qua việc nâng cao chấtlượng sản phẩm mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng củaquá trình cạnh tranh

Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình

so với các chủ thể khác Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều

Trang 21

năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó

là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh.Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựatrên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận Những tiêu chí này chỉ đánhgiá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thờiđiểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi phântích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác nhưmức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời sản phẩmv.v Trên cơ sở phân tích đó, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những chiến lượckinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế của mình trên thịtrường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra Một chủthể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra lợi thế để thu được lợinhuận cao hơn so với các chủ thể khác

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc phântích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành đồng thờibằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, giá cả, sựtiện ích, mẫu mã v.v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh số bán, thị phần,tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v.), (3) điều tra xã hội học, chủ yếuqua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm,

sự trung thành với nhãn hiệu v.v.) Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩmcủa đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường, tại cùng thời điểm để xác định nănglực cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác độngvào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so

Trang 22

với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh chosản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêuthụ Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một

số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảmsức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tínhtrội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên sovới thị phần của đối thủ cạnh tranh

1.1.2 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác,song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực Cạnhtranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường, khi cung một hàng hoá nào

đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảmxuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹthuật, phương thức quản lý và hạ giá thành sản phẩm mới có thể tồn tại Với ýnghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học,công nghệ tiên tiến trong sản xuất

Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếmtrên thị trường, giá cả tăng lên tạo lợi nhuận cao hơn mức bình quân, khi đóngười sản xuất kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặcnâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lựcquan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nângcao năng lực sản xuất trong toàn xã hội Điều quan trọng là động lực đó hoàntoàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nàocủa cơ quan quản lý Nhà nước [9]

Trang 23

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò vô cùng quantrọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, điều đó được thể hiện ở cácnội dung cơ bản sau:

- Nâng cao năng lực quản lý điều hành, trình độ tổ chức quản trị kinh doanhcủa các doanh nghiệp đáp ứng đòi hỏi của cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển sản phẩmmới, khắc phục tình trạng chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định và giá thành cao,khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh

doanh và cạnh tranh bằng giá

- Đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng nhucầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm đặc thù, có kiểu dáng, tính năng riêng biệtđáp ứng những nhu cầu mới của khách hàng

- Đẩy mạnh hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại, nghiên cứu thịtrường, kể cả các quy định pháp luật của từng thị trường cụ thể Hiện tại, hoạt độngnày của các doanh nghiệp đang ở trình độ thấp, chưa có hiệu quả Có rất ít doanhnghiệp xây dựng được chương trình quảng bá và xúc tiến thương mại để giới thiệusản phẩm cho khách hàng

- Có chiến lược liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam để tạonên sức mạnh cộng đồng, khắc phục tình trạng tranh mua tranh bán trên thị trường và

sự yếu kém về quy mô nhỏ bé của mình Các doanh nghiệp cũng cần liên kết chặt chẽvới nhau thông qua những hợp đồng xác lập quan hệ thương mại ổn định, tạo nênnhững hệ thống phân phối ổn định và rộng khắp, tạo điều

Trang 24

kiện để sản phẩm hàng hóa Việt Nam lưu thông thông suốt Tham gia các hiệphội ngành hàng để bảo vệ quyền lợi của mình.

1.2 CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

DOANH NGHIỆP

Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vựckhác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy,vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanhnghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói;kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại;năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình

độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vịthế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp Vì vậy, để đánh giánăng lực cạnh tranh sản phẩm cần sử dụng các tiêu chí định lượng và định tínhdưới đây nhằm phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm trên phạm vi quốc gia.Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng giá cả, sự tiện ích, mẫu

mã v.v.)

- Tính năng sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu khách hàng hay không:

Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn

- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đốithủ cạnh tranh Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng

thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu

Trang 25

và thị hiếu của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác

về sản phẩm

- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh,giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh tranh của sảnphẩm Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm nào có giáthấp hơn

- Mức chênh lệch về chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại củađối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm hàng đầu,sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản phẩm đó vượttrội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường Yếu tố này có thể đánh giá thôngqua so sánh hai sản phẩm với

nhau về chất lượng, độ bền, tiện ích trong sử dụng … đây là một trongnhững yếu tố tương đối để so sánh đối với đa số những sản phẩm đơngiản Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng không thể đánh giángay được chất lượng sản phẩm, do đó khách hàng sẽ đánh giá chất lượngsản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sản xuất, của nước sảnxuất

(1) Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối…)

- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh

cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường nội địa Nếusản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnhtranh chứng tỏ sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, chỉ tiêu này thể hiệnkhả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

Trang 26

- Thị phần của sản phẩm trên thị trường nội địa: Tuỳ theo loại mặt hàng,thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem xét năng lực cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần của sản phẩm đó Một sản phẩmđược coi là có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường khi chúng chiếm thị phần lớn

so với sản phẩm cùng loại được nhập khẩu và bán trên thị trường, tuy nhiên cũng phảivận dụng tiêu chí này một cách linh hoạt Với một số sản phẩm mới ra đời, chưachiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lựccạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai lệch nhấtđịnh

- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm có thể so sánh theo tính lịch sử, tức là

năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm.Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnhtranh cao và ngược lại, nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng chậmhơn thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnhtranh

- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thìthị phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn, hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý

so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác,

cùng với việc đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnhtranh của sản phẩm do đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường về sốlượng và chất lượng - Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lướicác cơ sở giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọihình thức bán buôn, bán lẻ vừa thích hợp với phong tục,tập quán địa

Trang 27

phương, tiện lợi cho người tiêu dùng đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.

- Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà

sản xuất dễ dàng hơn như dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

(2) Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sự thoả mãn nhucầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.v.)

- Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoátoàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy, chúng ta phảikết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh thực sự củasản phẩm hàng hoá trên thị trường Nếu như trước kia hai yếu tố chất lượng, giá cả cótính quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì ngày nay cùng với quá trìnhtoàn cầu hoá, phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phảiđược mở rộng hơn Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tínhkhác như hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia,lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sảnphẩm, thương hiệu của sản phẩm

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA DOANH NGHIỆP

Có thể hiểu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố

tự nhiên, xã hội, chính trị, tổ chức và kỹ thuật cùng các tác động và các mối quan

hệ bên trong, bên ngoài liên quan đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Vìvậy nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:

Trang 28

+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanhchóng và sâu sắc đối với quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất làtrong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá các doanh nghiệp trong nước

sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài Vì khi đó giá bán của hàng hóatính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa khi đồng nội tệ lên giá

sẽ khuyên khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm và như vậy khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trong thị trường trong nước.Còn khi đồng nội tệ giảm giá, có thể khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng

cả trên thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, vì khi đó giá bán của doanhnghiệp nhỏ hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hóa do nước khác sảnxuất, tuy nhiên bên cạnh đó thì giá nguyên vật liệu, đầu vào cũng tăng lên

+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp thiếu vốn phải vayngân hàng Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh

Trang 29

nghiệp tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp sẽ kém đi, nhất là đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn.

1.3.2 Môi trường luật pháp, chính trị

Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảmbảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnhtranh có hiệu quả Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiệncạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

và trên mọi lĩnh vực Hay chính sách của chính phủ về xuất nhập khẩu cũng ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước Mọi sựbiến động về môi trường luật pháp, chính trị của một nước trên thế giới đều cókhả năng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước Trongđiều kiện đó, sự thấu hiểu thông lệ và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng giúpdoanh nghiệp tránh được những tổn thất không đáng có trong nỗ lực chiếm lĩnhthị trường [l]

1.3.3 Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn

Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường thực chất làm tăng tính chấtquy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lượngsản xuất trong ngành Trong quá trình vận động của thị trường, ở từng giai đoạnthường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trườngvà những đối thủ yếuhơn rút lui khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn cácdoanh nghiệp thường thực hiện những chiến lược như phân biệt sản phẩm, khôngngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm của mình có nhữngđặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phísản xuất, kinh doanh Ngoài ra có thể lựa chọn địa điểm thích hợp nhằm khai

Trang 30

thác sự hỗ trợ của chính phủ và chọn đúng đắn thị trường nguyên vật liệu và thịtrường sản phẩm.

1.3.4 Nhân tố các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nhiệp

Đối với từng ngành và từng doanh nghiệp khác nhau, người cung ứng cónhững sức tác động khác nhau tới khả năng tiêu thụ sản phẩm và thu lợi nhuận.Các nhà cung cấp của doanh nghiệp có khả năng gây ảnh hưởng đến tìnhhình biến động về giá cả, sản lượng, chất lượng nguyên vật liệu và các yếu tốđầu vào, từ đó sẽ tác động đến chi phí, khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường củadoanh nghiệp và tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp và như vậy sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, doanh nghiệpchỉ phải chịu sức ép từ các cung cấp trong các trường hợp:

- Đầu vào của doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc một vài Công ty độc quyềncung cấp, hoặc đầu vào của doanh nghiệp thuộc loại hàng hoá khan hiếm và chỉ có số

ít các nhà cung cấp có thể đáp ứng được

- Các nhà cung cấp có khả năng về nguồn lực để khép kín sản xuất có hệthống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì họ sẽ có thế lực đáng kể vớidoanh nghiệp là khách hàng

1.3.5 Nhân tố khách hàng

Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn thành công trên thị trường thì họ phảiluôn hướng tới khách hàng của mình, phải luôn nỗ lực để thoả mãn nhu cầukhách hàng Do vậy, khách hàng có vị trí vô cùng quan trọng đối với doanhnghiệp, họ gây ra sức ảnh hưởng lớn nhất tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

Trang 31

Sức mạnh của khách hàng thể hiện ở chỗ họ có khả năng buộc các nhà sảnxuất phải không ngừng sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoặc phải giảmgiá bán sản phẩm thông qua hành động tiêu dùng ít sản phẩm hơn.Đặc biệt, nếukhách hàng mua với khối lượng lớn, tính tập trung của khách hàng cao thì sẽcàng gây ra ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp Những biến động tâm lý kháchhàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen, làm cho số lượng sảnphẩm được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi Việc định hướng hoạt động sản xuấtkinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan chodoanh nghiệp, tạo thói quen và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánhđúng vào tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thu hút được nhiều khách hàngmới có được kết quả kinh doanh cao.

1.3.6 Nhân tố cạnh tranh nội bộ ngành

Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loạihàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệpchiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, nhữngdoanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản

1.3.6.1 Các nhân tố bên trong

 Khả năng về tài chính của doanh ngiệp: đây là nhân tố quan trọng quyếtđịnh khả năng sản xuất cũng như là chỉ tiêu hàng đầu đánh giá quy mô của doanhnghiệp Bất kỳ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu hayphân phối, quảng cáo đều phải được tính toán dựa trên thực lực tài chính của doanhnghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị cácdây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo chất

Trang 32

lượng, hạ giá thành, tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyến mãi mạnh mẽ,nâng cao sức cạnh tranh Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, doanhnghiệp cũng có khả năng chấp nhận lỗ một thời gian ngắn, hạ giá sản phẩmnhằm giữ và mở rộng thị phần sau đó tăng giá và thu được nhiều lợi nhuận nhiềuhơn.

 Các yếu tố sản xuất: Đó là những yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trìnhsản xuất, nó bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn, cơ cấu, cơ sở hạ tầng…Cácyếu tố sản xuất đựoc chia thành hai loại là các yếu tố chủ yếu và những yếu tố khôngchủ yếu: Những yếu tố chủ yếu như: lao động có tay nghề, vốn, công nghệ, cơ sở hạtầng đây là những yếu tố được do con người tạo ra Những yếu tố không chủ yếu haynhững yếu tố thông dụng như lao động phổ thông và những nguyên liệu mà mọingành đều có thể sở hữu, do đó không thể tạo nên một năng lực cạnh tranh bền vữngđược, vì vậy những yếu tố chủ yếu cần phải được đầu tư và duy trì

 Kinh nghiệm của người lao động hoặc trình độ chuyên môn của họ sẽ quyết định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm

 Đầu tư vào công nghệ: Nếu đầu tư vào công nghệ cao sẽ tạo ra những sảnphẩm có chất lượng phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng hiện tại, đây là mộtphương pháp hữu hiệu để sản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng trên phạm virộng

 Đầu tư vào con người: Con người được đầu tư cùng lúc với đầu tư côngnghệ sẽ tăng khả năng sáng tạo, nâng hàm lượng chất xám làm cho sản phẩm có tínhđộc đáo, chiếm lĩnh thị trường ở mức độ cao hơn Nói cách khác nếu đầu tư vào conngười sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Trang 33

 Hoạt động marketing: Hệ thống bán hàng và các hoạt động marketing đưasản phẩm đến với khách hàng, thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng Sức mạnh cạnhtranh được tạo ra bởi hoạt động marketing và bán hàng hết sức quan trọng Chấtlượng lao động phục vụ khách hàng góp phần không nhỏ tới việc nâng cao chất lượngsản phẩm dịch vụ, nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng kháchhàng, giữ khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp.

 Hoạt động nghiên cứu và phát triển: đóng vai trò quan trọng trong việcphát triển và ứng dụng những công nghệ mới kịp thời tạo lợi thế cạnh tranh trên thịtrường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượngsản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí hoạt động này còn

phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng của sản phẩm, nguồn nhân lực, nguồnvốn, sự trợ giúp của Chính phủ

 Giá bán sản phẩm: Việc tiêu thụ sản phẩm chịu tác động rất lớn của nhân

tố giá cả sản phẩm Về nguyên tắc, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá

và giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá Theo cơ chế thị trường hiện nay, giá cả đượchình thành tự phát trên thị trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán

Do đó, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng giá cả như một công cụ sắc bén để đẩymạnh tiêu thụ sản phẩm nâng cao thị phần của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đưa

ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm được đông đảo người tiêu dùngchấp nhận, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình Ngược lại, nếu địnhgiá quá cao, người tiêu dùng không chấp nhận thì doanh nghiệp khó có thể cạnh tranhvới các doanh nghiệp khác

Trang 34

 Chất lượng sản phẩm: Chất lượng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặckìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sảnphẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ cạnh tranhcùng ngành Vì vậy, các chương trình quảng cáo khi nói về sản phẩm của doanhnghiệp, nhiều sản phẩm đưa ra tiêu chuẩn chất lượng lên hàng đầu: “Chất lượng tốtnhất”, “Chất lượng vàng”…

Chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút được khách hàng làm tăng khốilượng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện nâng cao uy tín cho doanh nghiệp,đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hútđược khách hàng Ngược lại chất lượng sản phẩm thấp thì việc cạnh tranh sẽ rấtkhó khăn, nếu chất lượng sản phẩm quá thấp thì ngay cả khi bán giá rẻ vẫnkhông được người tiêu dùng chấp nhận Đặc biệt trong ngành công nghiệp thựcphẩm, nông nghiệp thì chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp

 Việc tổ chức bán hàng của doanh nghiệp:

+ Hình thức bán hàng: Một doanh nghiệp nếu kết hợp tổng hợp các hìnhthức: Bán buôn, bán lẻ tại kho, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm, thông qua cácđại lý… sản phẩm sẽ bán được nhiều hơn một doanh nghiệp chỉ áp dụng đơnthuần một hình thức bán hàng nào đó Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường cácdoanh nghiệp còn tổ chức mạng lưới các đại lý phân phối sản phẩm Nếu các đại

lý này được mở rộng và hoạt động có hiệu quả sẽ nâng cao doanh thu cho doanhnghiệp, còn nếu thu hẹp hoặc thiếu vắng các đại lý, hoặc các đại lý hoạt độngkém hiệu quả sẽ làm giảm sút doanh thu tiêu thụ sản phẩm

Trang 35

+ Tổ chức thanh toán: Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi áp dụngnhiều phương thức thanh toán khác nhau như: thanh toán bằng tiền mặt, thanh toánchậm, thanh toán ngay… như vậy khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thứcthanh toán tiện lợi nhất, hiệu quả nhất Để thu hút đông đảo khách hàng đến vớidoanh nghiệp thì doanh nghiệp nên áp dụng nhiều hình thức thanh toán đem lại sựthuận tiện cho khách hàng, làm đòn bẩy để kích thích tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnhđược thị trường, thắng thế trong cạnh tranh.

+ Dịch vụ kèm theo sau khi bán: Để cho khách hàng được thuận lợi và cũnglàm tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp cần tổ chức các dịch vụkèm theo sau khi bán: dịch vụ vận chuyển, bảo quản, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm và

có bảo hành, sửa chữa… Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác này sẽ làm

cho khách hàng cảm thấy thuận lợi, yên tâm, thoải mái hơn khi sử dụng sản phẩm có uy tín của doanh nghiệp

 Quảng cáo giới thiệu sản phẩm: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,quảng cáo giới thiệu sản phẩm sẽ cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết

và cô đọng, đặc trưng nhất về sản phẩm để khách hàng có thể so sánh với những sảnphẩm khác trước khi đi đến quyết định là nên mua sản phẩm nào Đối với những sảnphẩm mới, quảng cáo sẽ giúp cho khách hàng làm quen với sản phẩm, hiểu đượcnhững tính năng, tác dụng của sản phẩm, từ đó khơi dậy những nhu cầu mới để kháchhàng tìm đến mua sản phẩm của doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu Quảng cáo lànguồn thông tin để khách hàng và doanh nghiệp tìm đến nhau vì có thể sản phẩm củadoanh nghiệp chưa có mặt ở thị trường nơi đó

[5]

Trang 36

1.3.6.2 Các nhân tố bên ngoài

Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm nhữngyếu tố bên ngoài như nhu cầu thị trường, liên kết ngành, môi trường cạnh tranh

và những công cụ tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các biệnpháp nhằm xây dựng “sức mạnh” hay “tính vượt trội” cho hàng hoá so với đốithủ khác

Thị trường nội địa khó tính sẽ là nhân tố quan trọng tạo nên năng lực cạnhtranh, những sản phẩm tồn tại trên thị trường này sẽ có chất lượng cao hơn so vớinhững thị trường xuất khẩu dễ tính hơn Khi thị trường trong nước khó tính cácdoanh nghiệp sẽ tiếp xúc với những khách hàng khó tính từ đó hiểu rõ hơn vềnhu cầu và sở thích người tiêu dùng Nếu những giá trị riêng biệt của sản phẩmtrên thị trường nội địa được các thị trường nước ngoài chấp nhận thì các sảnphẩm sản xuất trong nước sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuấtkhẩu

Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp sản xuất cần phảitrực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khó tính Phân tích và nghiên cứu đầy

đủ về quy mô và thị phần của nhu cầu nội địa, những khách hàng thông thạoInternet, những người mua hàng di động trong nước phải có năng lực quan sát vàđáp ứng xu hướng thị trường trong nước để từ đó làm cơ sở để xuất khẩu ra nướcngoài

Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm nhữngnhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn là cảnước Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày càng lớn đối

Trang 37

hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vị thế cạnhtranh của các sản phẩm của các nước đang phát triển ngày càng xoay quanh khảnăng thiết lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp và các ngành Quy môcủa các doanh nghiệp trong nước thường nhỏ hơn rất nhiều so với các công tyxuyên quốc gia do vậy sẽ có năng lực thấp hơn các công ty xuyên quốc gia, đaquốc gia, nên khi chế độ thương mại được tự do hoá và các nền kinh tế mở cửacho cạnh tranh nước ngoài, nếu các ngành, các doanh nghiệp trong nước khôngthực hiện tốt việc liên kết với các công ty nước ngoài thì sản phẩm của họ sẽ mấtnăng lực cạnh tranh trên thị trường.

Môi trường cạnh tranh: Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản phẩmchịu ảnh hưởng bởi các chính sách của Chính phủ Chính phủ đóng vai trò thenchốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh Cụ thể là tác độngđến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về môitrường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia… Các chính sách vàbiện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đang pháttriển Cần xác định các chương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình.Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xét các điều kiện

và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng của các nhân tốnhư ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại và chế độ đầutư

Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của các

cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ quốcgia Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ trợ

Trang 38

sản phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình tíndụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại, tìm kiếmkhách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài.

Năng lực tổ chức tiếp thị ở tầm vi mô: Phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ, khảnăng thu thập và phân tích thông tin của nhân viên nghiệp vụ marketing Khảnăng khám phá thị trường và tiếp cận thị trường với phí tổn thấp nhất Cách thứclựa chọn các chiến lược, kỹ thuật phù hợp với loại sản phẩm để áp dụng vàocông tác tiếp thị như quảng cáo, phân phối tài liệu, hội chợ, khuyến mãi… nhằmtăng thị phần hàng hoá

Sản phẩm sẽ có giá trị, có năng lực cạnh tranh khi bản thân nó có thươnghiệu, vì trong thực tế khách hàng thường chọn một loại sản phẩm mang thươnghiệu thoả mãn với mong muốn của họ trong hàng trăm thương hiệu của các sảnphẩm cùng loại trên thị trường Do nhãn hiệu này đã in đậm trong tâm trí của họtạo nên sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm Vì vậy, với những sảnphẩm mới mang ra thị trường chưa có uy tín, tiếng tăm thường áp dụng chiếnlược “sản xuất dán nhãn” hay “mượn” thương hiệu của những hàng hoá mangđẳng cấp quốc tế để “dán” vào hàng hoá do mình sản xuất nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh [2]

Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, việc xác định, đo lường năng lựccạnh tranh quốc tế của sản phẩm đang ngày càng thu hút được sự quan tâm củacác ngành kinh tế, đặc biệt trong việc phân tích kinh tế quốc tế Tuy nhiên dotính phức tạp, đa phương diện, đa chiều của lĩnh vực nghiên cứu, cho nên rất khó

có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu kinh tế ngay từ các khái niệm về nănglực cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế Vì vậy trên thực tế có rất

Trang 39

nhiều cách tiếp cận khi tiến hành phân tích, đo lường năng lực cạnh tranh sản phẩm theo các góc độ khác nhau

1.3.6.3 Khả năng tác động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản

phẩm bánh kẹo

Chất lƣợng sản phẩm:

Chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng củacác doanh nghiệp trên thị trường Chất lượng sản phẩm càng cao mức độ thoảmãn nhu cầu càng cao, do đó sẽ đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khả năng và

có lợi thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, mứcsống của người dân ngày càng được nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanhtoán của người tiêu dùng ngày càng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và

sẽ có xu hướng nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng Rõ ràng là cuộccạnh tranh giá cả đang chuyển dần sang cạnh tranh chất lượng nâng cao chấtlượng sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tăng khả năng cạnh tranh,chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng, tăng được khối lượnghàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm, mở rộng được thị trường, tăng doanhthu, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Do chất lượng sản phẩm có tính chất ảnh hưởng trực tiếp đến quyết địnhchọn mua của khách hàng, nên để có thể thành công thì các nhà quản lý doanhnghiệp cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp mình

Cụ thể, cần phải có sự theo sát, kiểm tra việc thực hiện ở từng khâu của quá trìnhsản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm có thể phù hợp với yêucầu thị trường Muốn vậy, từng bộ phận phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình,chẳng hạn:

Trang 40

 Bộ phận Marketing phải cung cấp những thông tin chính xác về thị hiếu người tiêu dùng, vạch ra những chiến lược Marketing hợp lý

 Bộ phận sản xuất phải đảm bảo việc đưa sản phẩm ra thị trường đúng tiến

độ, đúng với các thông số thiết kế về mẫu mã, màu sắc, kích thước,

 Bộ phận bán hàng phải đảm bảo tổ chức kênh phân phối hợp lý nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng kịp thời, tiện lợi

Bên cạnh đó, các bộ phận cần phải liên kết chặt chẽ với nhau để đảm bảomọi hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành đồng bộ, ăn khớp, tạo ra đượcnhững sản phẩm có chất lượng cao Hơn thế nữa, cần phải có các chuyên viênkiểm tra đánh giá chất lượng đúng với hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của nhànước, không ngừng nâng cao uy tín với khách hàng

Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng sản phẩm đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Khách hàng luôn là hướng đích của tất cả các doanh nghiệp, mà chấtlượng sản phẩm được nâng lên sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, do đó sẽtăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần

- Nâng cao chất lượng đi đôi với đa dạng hoá sản phẩm, sẽ tạo chokhách hàng cảm nhận được sự đổi mới của doanh nghiệp, kéo dài chu kỳ sốngcủa sản phẩm Đa dạng hoá sản phẩm cần dựa trên cơ sở đã thiết lập được uy tíncủa nhãn hiệu sản phẩm với khách hàng, sẽ tăng khả năng hấp dẫn khách hàngtiêu dùng các sản phẩm của doanh nghiệp

Tóm lại với tất cả các doanh nghiệp, trước khi muốn được thành công trên thị trường cần phải quan tâm trước hết đến chất lượng sản phẩm của mình

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w