1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu

145 612 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay trong cơ chế thị trường doanh nghiệp sản xuất đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm,

Trang 1

Nguyễn Thị Kim Dung

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh

kẹo Hải Châu

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà nội - 2008

Trang 2

Nguyễn Thị Kim Dung

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần

bánh kẹo Hải Châu

Luận văn Thạc sĩ

Mã Số: 60 34 05

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn

Hà nội - 2008

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH 6

1.1.1.1 CẠNH TRANH 6

1.1.1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH: 8

1.1.2 VAI TRÒ CỦA NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 9

1.1.3 CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 11

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1 MÔI TRƯỜNG KINH TẾ: 17

1.2.2 MÔI TRƯỜNG LUẬT PHÁP, CHÍNH TRỊ: 18

1.2.3 KHẢ NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TIỀM ẨN 18

1.2.4 NHÂN TỐ CÁC ĐƠN VỊ CUNG ỨNG ĐẦU VÀO CHO DOANH NGHIỆP 19

1.2.5 NHÂN TỐ KHÁCH HÀNG 19

1.2.6 NHÂN TỐ CẠNH TRANH NỘI BỘ NGÀNH 20

1.2.6.1 CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG 20

1.2.6.2 CÁC NHÂN TỐ BÊN NGOÀI 24

1.2.6.3 CÁC KHẢ NĂNG TÁC ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM BÁNH KẸO 27

Trang 4

CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN

VỪA QUA 38

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 38

2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 40

2.2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 43

2.2.1.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ SẢN PHẨM BÁNH KẸO 43

2.2.1.2 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG BÁNH KẸO VIỆT NAM 44

2.2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 45

2.2.2.1 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THEO CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM 45 2.2.2.2 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM THEO KHU VỰC THỊ TRƯỜNG 61

2.2.2.3 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THEO THỜI GIAN 69

2.2.2.4 CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 72

2.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU SO VỚI CÁC CÔNG TY BÁNH KẸO KHÁC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83

2.3.1 CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM KINH ĐÔ 83

2.3.2 CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 85

2.3.3 CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN 88

2.3.4 ƯU THẾ 90

2.3.5 HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 91

Trang 5

CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

96

3.1 THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 96

3.2 NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 97

3.2.1 MỞ RỘNG LIÊN KẾT VỚI CÁC CÔNG TY BÁNH KẸO KHÁC Ở VIỆT NAM ĐỂ HỖ TRỢ NHAU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 98

3.2.2 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH LÂU DÀI ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 100

3.2.2.1 CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM 100

3.2.2.2 CHIẾN LƯỢC GIẢM THIỂU CHI PHÍ 100

3.2.2.3 CHIẾN LƯỢC CHUYÊN BIỆT HOÁ SẢN PHẨM 101

3.2.2.4 CHIẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG NGÁCH VỚI CÁC NHÓM KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU CÓ THỂ NẮM BẮT VÀ PHÂN TÍCH ĐƯỢC ĐỘNG THÁI CỦA SỰ THAY ĐỔI 101

3.2.2.5 CHIẾN LƯỢC MARKETING 101

3.2.2.6 CHIẾN LƯỢC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 102

3.2.2.7 CHIẾN LƯỢC CON NGƯỜI 102

3.2.2.8 CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ QUẢNG CÁO CHO THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM 102

3.2.2.9 CHIẾN LƯỢC VỐN 102

Trang 6

THẾ CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 103 3.2.4 NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THÔNG QUA ĐỔI

MỚI CÔNG NGHỆ VÀ NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NGƯỜI LAO ĐỘNG 105 3.2.4.1 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG CỦA

DOANH NGHIỆP 105 3.2.4.2 CHÚ TRỌNG TỚI VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT

ĐỘNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VỚI CHI PHÍ THẤP 108 3.2.5 ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO KINH DOANH

TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 109 3.2.5.1 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 109 3.2.5.2 ỨNG DỤNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT

ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 111 3.2.5.3 PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở CÔNG TY CỔ

PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 112 3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU 116 3.3.1 ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC 118 3.3.2 NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 121 3.3.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 122 3.3.4 HIỆN ĐẠI HOÁ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CỦA

DOANH NGHIỆP 124 3.3.5 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 125

Trang 7

3.3.7 PHÁT TRIỂN THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP 126 3.3.8 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 127 3.3.8.1 HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP 127 3.3.8.2 XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THUẬN LỢI VÀ

BÌNH ĐẲNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP 129 KẾT LUẬN 125

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Thế giới đang đứng trước một xu thế có tính quy luật là các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhau, hiệp tác chặt chẽ hơn với nhau ở phạm vi khu vực cũng như toàn cầu Từ cuối những năm 80, xu thế này được khẳng định bằng một cụm từ mới “toàn cầu hoá”, vấn đề đặt ra là toàn cầu hoá có mang lại lợi ích như nhau cho các nền kinh tế có điều kiện phát triển khác nhau hay không? Trên thực tế, tổng lợi ích được tạo ra lớn hơn nhưng sự phân phối lợi ích sẽ hướng tới những nơi có lợi thế cạnh tranh tốt hơn Doanh nghiệp trong thời đại mới - thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức phải tạo ra cho được các sản phẩm làm thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng với trình độ cao ở trong

và ngoài nước Bên cạnh đó, để thu được lợi ích từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác ngoài việc không ngừng củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Trong những năm gần đây, trong khi năng lực của các doanh nghiệp Nhà nước không được cải thiện là bao thì năng lực của doanh nghiệp dân doanh, các Công ty cổ phần đã được nâng cao đáng kể, thể hiện ở mức tăng trưởng xuất khẩu và vai trò ngày càng tăng của khu vực tư nhân trong nước Tuy nhiên các doanh nghiệp nước ta vẫn còn rất yếu so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế do năng suất và tốc độ tăng trưởng năng suất lao động còn thấp, hiệu quả và lợi nhuận chưa cao, trình độ công nghệ và quản lý còn hạn chế vì cạnh tranh chủ yếu vẫn chỉ bằng giá lao động Nhìn chung, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của một quốc gia càng cao thì khả năng nâng cao mức sống dân

cư của quốc gia ấy càng lớn Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì doanh nghiệp là đơn vị sản xuất cơ bản nhất nơi tạo ra giá trị và sự thịnh vượng của mọi quốc gia Điều này cũng có nghĩa là để nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, Nhà nước phải biết hỗ trợ cho các doanh nghiệp và các doanh nhân hoạt động có

Trang 9

hiệu quả nhất Các doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp phải là người đóng vai trò chủ động, đi tiên phong trong sự nghiệp tự làm giàu và qua đó góp phần phát triển đất nước bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của mình

Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước như vũ bão đồng thời với việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là việc gia nhập WTO Khi đó khoa học công nghệ - thông tin, mọi thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng vào trong sản xuất hàng hoá và dịch vụ, năng suất trong sản xuất tăng nhanh, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt Hiện nay trong

cơ chế thị trường doanh nghiệp sản xuất đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng,

nỗ lực tìm cho mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Sản phẩm hàng hoá có thể cạnh tranh được trên thị trường phải là những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và điều quan trọng không thể thiếu đó là giá bán phải phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Mặt khác, trong các doanh nghiệp thì lợi nhuận luôn là mục tiêu là sự phấn đấu và là cái đích cần đạt tới Như vậy để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao thì không những đầu ra của quá trình sản xuất phải đảm bảo mà đầu vào cũng phải được ổn định Nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp phải được mọi người tiêu dùng chấp nhận, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn phấn đấu và tìm mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa ra được giá bán phù hợp, có như vậy mới tồn tại và phát triển được Chính vì lý do đó mà vấn đề chiếm lĩnh thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh luôn có tầm quan trọng và có tính thời cuộc đối với bất

kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào

Trang 10

Thực tiễn tại Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo chiếm một tỷ trọng rất lớn trên tổng số doanh nghiệp và có xu hướng ngày càng tăng Do

đó, sự tồn tại và phát triển của những doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế của Việt Nam Đứng trước thực tế đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh kẹo ở Việt Nam trở thành một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu là một trong những công ty có truyền thống, uy tín, phát triển lâu dài và là một công ty lớn của Miền bắc Trong những năm qua,

do sự biến động của thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của một số Công ty cùng ngành nên tình hình sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường của Công ty gặp nhiều khó khăn và trở ngại Để có thể đứng vững trên thị trường hiện nay trên thị trường bánh kẹo, Công ty cần thực hiện nhiều biện pháp cấp bách cũng như lâu dài để nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững uy tín và vị thế của Công ty trên thị trường từ trước tới nay, nghiên cứu này xuất phát chính từ nhu cầu

thực tiễn đó, đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần

bánh kẹo Hải Châu” được chọn để nghiên cứu nhằm định hướng cho chiến

lược nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu hiện nay và đề xuất các chính sách giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm trên thị trường nội địa, nhiệm vụ của đề tài nhằm:

 Nghiên cứu hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu

 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu

 Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công

ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu

 Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp của triết học Mác - Lê Nin, quan điểm đổi mới của Đảng và các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia và một số phương pháp khác để làm rõ kết quả nghiên cứu

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh ở một doanh nghiệp

Trang 12

- Phân tích những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Bố cục của luận văn

Luận văn dự kiến sẽ được chia thành các phần sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo

Hải Châu trong giai đoạn vừa qua

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh

1.1.1.1 Cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia…

- Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[12]

- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [21]

- Theo từ điển kinh doanh: (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh là

sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình [31]

- Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm

2002 thì định nghĩa cạnh tranh đối với quốc gia là: Khả năng cạnh tranh của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là

Trang 14

đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian [27]

- Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn v.v.)

- Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [19]

Từ những định nghĩa trên có thể rút ra được các điểm chung sau đây:

Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi

Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường, hiện nay cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản và cạnh tranh lấy qui luật giá trị làm tiền đề Tác động của qui luật giá trị trong việc kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, đào thải cái lạc hậu dựa trên cơ sở công bằng đó là sự trao đổi ngang giá Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các chủ thể kinh tế phải đua nhau đổi mới khâu tổ chức quản

lý, đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới

Trang 15

vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận cao hơn các chủ thể kinh tế khác

Để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình

1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh:

Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh

Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: Năng lực cạnh tranh của

một doanh nghiệp là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế[27]

Theo dự án VIE/025: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo

bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước[27]

Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận Những tiêu chí này chỉ đánh giá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thời điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời sản

Trang 16

phẩm v.v Trên cơ sở phân tích này, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v.), (3) điều tra xã hội học, chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.v.) Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường, tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh

1.1.2 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực

Trang 17

Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường, khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ giá thành sản phẩm mới có thể tồn tại Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất

Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo lợi nhuận cao hơn mức bình quân, khi

đó người sản xuất kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh chính nào của cơ quan quản lý Nhà nước [13]

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, điều đó được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

- Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho các nước khả năng tiếp cận các nguồn đầu tư, các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nền kinh

tế Nền kinh tế trở nên nhạy cảm hơn với những biến động của thị trường thế giới, nếu mỗi quốc gia không xây dựng được đường lối hội nhập chủ động, không tích luỹ đủ khả năng kháng cự thì sẽ khó tránh khỏi những tác động tiêu cực mà toàn cầu hoá mang lại, trước tình hình đó doanh nghiệp nào có sức kháng tốt thì sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu kém thì sẽ bị tiêu diệt, do

đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện tất yếu để các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển [15]

Trang 18

- Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với các đối thủ ngày càng lớn, mạnh hơn trên nhiều phương diện, từ tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật, kinh nghiệm cạnh tranh trên thương trường, cuộc cạnh tranh diễn ra trong bối cảnh quốc tế không ổn định, khó dự đoán, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do đó đòi hỏi doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh

- Thách thức không kém phần nghiêm trọng sẽ xảy ra ngay trên thị trường nội địa nước ta, vì khi tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế Việt Nam phải cam kết dần dần cắt giảm các mức thuế, xoá bỏ các hàng rào về thuế quan và phi thuế quan, áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia đối với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường Việt Nam Với các cam kết cắt giảm thuế, những biện pháp bảo hộ bị gỡ bỏ, hàng hoá của nước ngoài ồ ạt nhập vào thị trường với giá rẻ hơn, chất lượng, hình thức hấp dẫn hơn Trong điều kiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu kém, nhiều doanh nghiệp còn lệ thuộc vào sự bao cấp của nhà nước, để có thể tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

- Trong nền kinh tế hiện nay, việc dựa vào lợi thế cạnh tranh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên và chi phí nhân công rẻ đang dần dần giảm sút Tri thức, công nghệ - kỹ thuật cao đang trở thành yếu tố quyết định đến

sự thành công trong cạnh tranh Sự thay đổi này có ảnh hưởng không nhỏ tới

sự phát triển của các doanh nghiệp trong hiện tại, mà phải chuẩn bị các điều kiện để chuyển sang nền kinh tế tri thức, chuẩn bị cạnh tranh trong tương lai khi doanh nghiệp còn đang ở trình độ yếu kém về năng lực cạnh tranh[16] 1.1.3 Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

Để lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần phải có các tiêu chí định lượng để đo lường và đánh giá

Trang 19

chúng Để đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm cần sử dụng các tiêu chí định lượng và định tính dưới đây nhằm phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm trên phạm vi quốc gia

(1) Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.v.)

- Tính năng sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu khách hàng hay không: Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách hàng

sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn

- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối thủ cạnh tranh Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm

- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh, giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm nào có giá thấp hơn

- Mức chênh lệch về chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm hàng đầu, sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản phẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường Yếu tố này có thể đánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng,

độ bền, tiện ích trong sử dụng … đây là một trong những yếu tố tương đối để

so sánh đối với đa số những sản phẩm đơn giản Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng không thể đánh giá ngay được chất lượng sản phẩm, do

đó khách hàng sẽ đánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của

Trang 20

(2) Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối…)

- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường nội địa Nếu sản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

- Thị phần của sản phẩm trên thị trường nội địa: Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần của sản phẩm đó Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được nhập khẩu và bán trên thị trường, tuy nhiên cũng phải vận dụng tiêu chí này một cách linh hoạt Với một số sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai lệch nhất định

- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm có thể so sánh theo tính lịch sử, tức

là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao và ngược lại, nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng chậm hơn thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh

- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn, hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác, cùng với việc đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng

Trang 21

- Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ sở giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi hình thức bán buôn, bán lẻ vừa thích hợp với phong tục,tập quán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùng đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng

- Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sản xuất dễ dàng hơn như dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

(3) Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.v.)

- Trong quá trình phân tích, đánh gía sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoá toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy, chúng

ta phải kết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh thực sự của sản phẩm hàng hoá trên thị trường Nếu như trước kia hai yếu tố chất lượng, giá cả có tính quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phải được mở rộng hơn Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tính khác như hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm, thương hiệu của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh được phân biệt ở ba cấp độ, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ

- Năng lực cạnh tranh quốc gia: được định nghĩa là năng lực của một

nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng

Trang 22

nâng cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ từ nước khác [11]

Ngày nay, lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên tài nguyên thiên nhiên và chi phí lao động thấp, tuy còn có giá trị, song mới chỉ là điểm khởi đầu, tri thức và kỹ năng đang trở thành một nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh cao

- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng vượt qua các đối

thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp Thông thường người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và lao động Tuy nhiên những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bên ngoài như Nhà nước và các thể chế trung gian

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm hàng hoá dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: được đo bằng thị phần của

sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường Một sản phẩm dịch vụ được coi là có năng lực cạnh tranh cao khi giá thành sản phẩm thấp, quy mô cung ứng, tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ được người tiêu dùng chấp nhận thể hiện ở thị phần của sản phẩm đó trên thị trường vượt trội so với các sản phẩm tương tự của các đối thủ cạnh tranh Đối với hàng hoá chế biến nông sản thực phẩm, để đánh giá năng lực cạnh tranh ngoài các chỉ tiêu trên người ta còn phải quan

Trang 23

tâm đến các yếu tố như độ an toàn về thực phẩm, xuất sứ, hương vị đặc trưng của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ đó có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, các điều kiện, tiền đề kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi để các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh Ngược lại năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực

tổ chức quản lý của doanh nghiệp

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp:

Có rất nhiều yếu tố chi phối đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm - hàng hoá - dịch vụ như: giá cả, chất lượng, nhu cầu thị trường, lao động, công nghệ, môi trường kinh doanh… vì thế muốn nâng cao năng lực cạnh tranh bất

cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cả những yếu tố nói trên trong điều kiện có thể Đồng thời phải thực hiện hàng loạt các biện pháp và duy trì

ở mức tối ưu các mối quan hệ đa tầng và đa chiều Tuy nhiên, xem xét tất cả các yếu tố nói trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc áp dụng chúng đều hướng tới mục tiêu: nâng cao chất lượng và hạ thấp giá thành sản phẩm nhằm

mở rộng thị trường Ngược lại khi sản phẩm - hàng hoá - dịch vụ có năng lực cạnh tranh tốt thì mới có khả năng về vật chất và kỹ thuật để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành

Trang 24

1.2.1 Môi trường kinh tế:

Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Nền kinh tế được ổn định sẽ là điều kiện tốt để tăng trưởng Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh có ý nghĩa là khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn như vậy tốc độ đầu tư phát triển cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên, đây chính là cơ hội tốt cho doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì chắc chắn sẽ thành công

và sức cạnh tranh cũng tăng lên Tuy nhiên do sự tăng trưởng của nền kinh tế

sẽ kéo theo sự tăng lên một cách nhanh chóng số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường và như vậy mức độ cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt, ai đi trước trong cuộc cạnh tranh này người đó sẽ chiến thắng Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, tỷ lệ lạm phát tăng làm cho giá cả tăng, sức mua của người dân bị giảm sút, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách giữ khách hàng, do đó cạnh tranh trên thị trường sẽ khốc liệt hơn

Các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước có tác dụng cản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có khi một chính sách kinh tế của nhà nước tạo cơ hội đối với doanh nghiệp này nhưng làm mất cơ hội cho doanh nghiệp khác

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường kinh tế là một yếu

tố rất nhạy cảm, dễ bị tác động Thật vậy, khủng hoảng kinh tế không bao giờ

Trang 25

ảnh hưởng chỉ trong phạm vi một quốc gia mà tác động lan truyền trong cả khu vực, thậm chí trên phạm vi toàn cầu

1.2.2 Môi trường luật pháp, chính trị:

Chính trị và pháp luật là nền tảng cho phát triển kinh tế cũng như là cơ

sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, ổn định về chính trị đem lại sự lành mạnh hoá xã hội, ổn định kinh tế, tạo hành lang thông thoáng cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Trong điều kiện bình thường, một doanh nghiệp vẫn có thể bị ảnh hưởng do thay đổi của hệ thống pháp luật Luật pháp là yếu tố dễ dàng bị áp đặt nên dễ dàng bị thay đổi Nhưng ảnh hưởng của những thay đổi gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh lâu dài của mình

Trong quá trình toàn cầu hoá, doanh nghiệp phải tìm mọi cách đưa hàng hoá xâm nhập vào thị trường các nước Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các quy định, luật pháp, thủ tục của nước sở tại Mọi sự biến động về môi trường luật pháp, chính trị của một nước trên thế giới đều có khả năng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước Trong điều kiện đó, sự thấu hiểu thông lệ và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp tránh được những tổn thất không đáng có trong nỗ lực chiếm lĩnh thị trường [l] 1.2.3 Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn:

Đó là sự xuất hiện của các công ty mới tham gia vào thị trường nhưng

có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường của các công ty khác để

Trang 26

hạn chế mối đe doạ này các nhà quản lý doanh nghiệp thường dùng các biện pháp như:

- Mở rộng khối lượng sản xuất của Công ty để giảm chi phí

- Khác biệt hoá sản phẩm

- Mở rộng các dịch vụ gia tăng

- Mở rộng khả năng cung cấp vốn

- Đổi mới công nghệ và hệ thống phân phối

1.2.4 Nhân tố các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp:

Là nhân tố phản ánh mối tương quan giữa nhà cung cấp với doanh nghiệp ở khía cạnh sinh lợi, tăng giá hoặc giảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dịch với công ty

Nhà cung cấp có thể chi phối đến doanh nghiệp do sự thống trị hoặc khả năng độc quyền của một số ít nhà cung cấp Nhà cung cấp có thể đe doạ tới doanh nghiệp do sự thay đổi chi phí của sản phẩm mà người mua phải chấp nhận và tiến hành do sự đe doạ tiềm tàng và do sự liên kết của những nhà cung cấp gây ra Để giảm bớt các ảnh hưởng xấu, các doanh nghiệp cần tăng cường mối quan hệ tốt với nhà cung ứng, tìm và lựa chọn nguồn cung ứng chính, có uy tín cao đồng thời nghiên cứu để tìm ra nguồn nguyên vật liệu thay thế

Trang 27

thị hiếu, thói quen, làm cho số lượng sản phẩm được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp, tạo thói quen

và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thu hút được nhiều khách hàng mới có được kết quả kinh doanh cao [22]

Khách hàng lựa chọn sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp không chỉ bởi chất lượng, giá cả của sản phẩm mà đôi khi còn bởi các dịch vụ chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp

Một nhóm khách hàng có liên quan đến nhau sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp cũng là mối quan tâm của những khách hàng khác Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần tập trung chú ý đến các nhóm khách hàng tiềm năng

để duy trì và phát triển thêm nhiều khách hàng mới

1.2.6 Nhân tố cạnh tranh nội bộ ngành:

Các công ty trong cùng ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả,

sự khác biệt hoá sản phẩm hoặc sự thay đổi mới sản phẩm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại trong thị trường

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt là do đối thủ cạnh tranh nhiều hơn và mạnh hơn về mọi mặt như vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh nghiệm thị trường

1.2.6.1 Các nhân tố bên trong:

- Năng lực về tài chính: Để cạnh tranh và giành lợi thế trên thị trường, mỗi doanh nghiệp trước hết phải có đủ năng lực về tài chính, tình hình tài

Trang 28

tranh Vốn là một trong những điều kiện cần để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động của mình, do đó khả năng huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm cho năng lực tài chính của doanh nghiệp mạnh lên

- Các yếu tố sản xuất: Đó là những yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, nó bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn, cơ cấu, cơ sở hạ tầng…Các yếu tố sản xuất đựoc chia thành hai loại là các yếu tố chủ yếu và những yếu tố không chủ yếu: Những yếu tố chủ yếu như: lao động có tay nghề, vốn, công nghệ, cơ sở hạ tầng đây là những yếu tố được do con người tạo ra Những yếu tố không chủ yếu hay những yếu tố thông dụng như lao động phổ thông và những nguyên liệu mà mọi ngành đều có thể sở hữu, do đó không thể tạo nên một năng lực cạnh tranh bền vững được, vì vậy những yếu

tố chủ yếu cần phải được đầu tư và duy trì

- Kinh nghiệm của người lao động hoặc trình độ chuyên môn của họ sẽ quyết định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm

- Đầu tư vào công nghệ: Nếu đầu tư vào công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng hiện tại, đây là một phương pháp hữu hiệu để sản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng trên phạm vi rộng

- Đầu tư vào con người: Con người được đầu tư cùng lúc với đầu tư công nghệ sẽ tăng khả năng sáng tạo, nâng hàm lượng chất xám làm cho sản phẩm

có tính độc đáo, chiếm lĩnh thị trường ở mức độ cao hơn Nói cách khác nếu đầu tư vào con người sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm

- Hoạt động marketing: Hệ thống bán hàng và các hoạt động marketing đưa sản phẩm đến với khách hàng, thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng Sức mạnh cạnh tranh được tạo ra bởi hoạt động marketing và bán hàng hết sức quan trọng Chất lượng lao động phục vụ khách hàng góp phần không nhỏ tới

Trang 29

việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng khách hàng, giữ khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp

- Hoạt động nghiên cứu và phát triển: đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và ứng dụng những công nghệ mới kịp thời tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí hoạt động này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng của sản phẩm, nguồn nhân lực, nguồn vốn, sự trợ giúp của Chính phủ

- Giá bán sản phẩm: Việc tiêu thụ sản phẩm chịu tác động rất lớn của nhân tố giá cả sản phẩm Về nguyên tắc, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá Theo cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành tự phát trên thị trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán Do đó, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng giá cả như một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm nâng cao thị phần của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đưa ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận, doanh nghiệp

sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình Ngược lại, nếu định giá quá cao, người tiêu dùng không chấp nhận thì doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác

- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ cạnh tranh cùng ngành Vì vậy, các chương trình quảng cáo khi nói về sản phẩm của doanh nghiệp, nhiều sản phẩm đưa ra tiêu chuẩn chất lượng lên hàng đầu: “Chất lượng tốt nhất”, “Chất lượng vàng”…

Trang 30

Chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút được khách hàng làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hút được khách hàng Ngược lại chất lượng sản phẩm thấp thì việc cạnh tranh sẽ rất khó khăn, nếu chất lượng sản phẩm quá thấp thì ngay cả khi bán giá rẻ vẫn không được người tiêu dùng chấp nhận Đặc biệt trong ngành công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp thì chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Việc tổ chức bán hàng của doanh nghiệp:

+ Hình thức bán hàng: Một doanh nghiệp nếu kết hợp tổng hợp các hình thức: Bán buôn, bán lẻ tại kho, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm, thông qua các đại lý… sản phẩm sẽ bán được nhiều hơn một doanh nghiệp chỉ áp dụng đơn thuần một hình thức bán hàng nào đó Để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường các doanh nghiệp còn tổ chức mạng lưới các đại lý phân phối sản phẩm Nếu các đại lý này được mở rộng và hoạt động có hiệu quả sẽ nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp, còn nếu thu hẹp hoặc thiếu vắng các đại lý, hoặc các đại lý hoạt động kém hiệu quả sẽ làm giảm sút doanh thu tiêu thụ sản phẩm

+ Tổ chức thanh toán: Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi áp dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán chậm, thanh toán ngay… như vậy khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thức thanh toán tiện lợi nhất, hiệu quả nhất Để thu hút đông đảo khách hàng đến với doanh nghiệp thì doanh nghiệp nên áp dụng nhiều hình thức thanh toán đem lại sự thuận tiện cho khách hàng, làm đòn bẩy để kích thích tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnh được thị trường, thắng thế trong cạnh tranh

Trang 31

+ Dịch vụ kèm theo sau khi bán: Để cho khách hàng được thuận lợi và cũng làm tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp cần tổ chức các dịch vụ kèm theo sau khi bán: dịch vụ vận chuyển, bảo quản, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm và có bảo hành, sửa chữa… Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác này sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thuận lợi, yên tâm, thoải mái hơn khi

sử dụng sản phẩm có uy tín của doanh nghiệp

- Quảng cáo giới thiệu sản phẩm: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quảng cáo giới thiệu sản phẩm sẽ cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết và cô đọng, đặc trưng nhất về sản phẩm để khách hàng có thể so sánh với những sản phẩm khác trước khi đi đến quyết định là nên mua sản phẩm nào Đối với những sản phẩm mới, quảng cáo sẽ giúp cho khách hàng làm quen với sản phẩm, hiểu được những tính năng, tác dụng của sản phẩm,

từ đó khơi dậy những nhu cầu mới để khách hàng tìm đến mua sản phẩm của doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu Quảng cáo là nguồn thông tin để khách hàng và doanh nghiệp tìm đến nhau vì có thể sản phẩm của doanh nghiệp chưa có mặt ở thị trường nơi đó [5]

1.2.6.2 Các nhân tố bên ngoài:

Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm những yếu tố bên ngoài như nhu cầu thị trường, liên kết ngành, môi trường cạnh tranh và những công cụ tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

và các biện pháp nhằm xây dựng “sức mạnh” hay “tính vượt trội” cho hàng hoá so với đối thủ khác

- Về nhu cầu thị trường: Thị trường nội địa khó tính sẽ là nhân tố quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh, những sản phẩm tồn tại trên thị trường này

Trang 32

thị trường trong nước khó tính các doanh nghiệp sẽ tiếp xúc với những khách hàng khó tính từ đó hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thích người tiêu dùng Nếu những giá trị riêng biệt của sản phẩm trên thị trường nội địa được các thị trường nước ngoài chấp nhận thì các sản phẩm sản xuất trong nước sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuất khẩu

Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp sản xuất cần phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khó tính Phân tích và nghiên cứu đầy đủ về quy mô và thị phần của nhu cầu nội địa, những khách hàng thông thạo Internet, những người mua hàng di động trong nước phải có năng lực quan sát và đáp ứng xu hướng thị trường trong nước để từ đó làm cơ sở để xuất khẩu ra nước ngoài

- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm những nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn là cả nước Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày càng lớn đối với các nước đang phát triển (UNDP, 1999) Do quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vị thế cạnh tranh của các sản phẩm của các nước đang phát triển ngày càng xoay quanh khả năng thiết lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp

và các ngành Quy mô của các doanh nghiệp trong nước thường nhỏ hơn rất nhiều so với các công ty xuyên quốc gia do vậy sẽ có năng lực thấp hơn các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia, nên khi chế độ thương mại được tự do hoá và các nền kinh tế mở cửa cho cạnh tranh nước ngoài, nếu các ngành, các doanh nghiệp trong nước không thực hiện tốt việc liên kết với các công ty nước ngoài thì sản phẩm của họ sẽ mất năng lực cạnh tranh trên thị trường

- Môi trường cạnh tranh: Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của Chính phủ Chính phủ đóng vai

Trang 33

trò then chốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh Cụ thể

là tác động đến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về môi trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia… Các chính sách và biện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển Cần xác định các chương trình và sử dụng các công

cụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xét các điều kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng của các nhân tố như ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại và chế độ đầu tư

- Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của các cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm

cỡ quốc gia Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ trợ sản phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình tín dụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại, tìm kiếm khách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài

- Năng lực tổ chức tiếp thị ở tầm vi mô: Phụ thuộc vào trình độ nghiệp

vụ, khả năng thu thập và phân tích thông tin của nhân viên nghiệp vụ marketing Khả năng khám phá thị trường và tiếp cận thị trường với phí tổn thấp nhất Cách thức lựa chọn các chiến lược, kỹ thuật phù hợp với loại sản phẩm để áp dụng vào công tác tiếp thị như quảng cáo, phân phối tài liệu, hội chợ, khuyến mãi… nhằm tăng thị phần hàng hoá

Sản phẩm sẽ có giá trị, có năng lực cạnh tranh khi bản thân nó có thương hiệu, vì trong thực tế khách hàng thường chọn một loại sản phẩm mang thương hiệu thoả mãn với mong muốn của họ trong hàng trăm thương

Trang 34

hiệu của các sản phẩm cùng loại trên thị trường Do nhãn hiệu này đã in đậm trong tâm trí của họ tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm

Vì vậy, với những sản phẩm mới mang ra thị trường chưa có uy tín, tiếng tăm thường áp dụng chiến lược “sản xuất dán nhãn” hay “mượn” thương hiệu của những hàng hoá mang đẳng cấp quốc tế để “dán” vào hàng hoá do mình sản xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh [3]

Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, việc xác định, đo lường năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các ngành kinh tế, đặc biệt trong việc phân tích kinh tế quốc tế Tuy nhiên do tính phức tạp, đa phương diện, đa chiều của lĩnh vực nghiên cứu, cho nên rất khó có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu kinh tế ngay từ các khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế Vì vậy trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận khi tiến hành phân tích, đo lường năng lực cạnh tranh sản phẩm theo các góc độ khác nhau [2]

1.2.6.3 Các khả năng tác động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

sản phẩm bánh kẹo:

- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường Chất lượng sản phẩm càng cao mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, do đó sẽ đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khả năng và có lợi thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng ngày càng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tăng khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng, tăng được khối lượng hàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín

Trang 35

sản phẩm, mở rộng được thị trường, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

- Giá bán sản phẩm: Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường: + Chính sách định giá thấp: Đây là cách định giá bán thấp hơn mức giá

thị trường, chính sách định giá thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể để áp dụng Định giá thấp hơn so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm, doanh nghiệp chấp nhận mức lãi thấp, nó được ứng dụng trong trường hợp sản phẩm mới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhanh với khối lượng lớn, hoặc dùng giá để cạnh tranh với các đối thủ Định giá bán thấp hơn giá thị trường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm, cách này được áp dụng trong trường hợp bán hàng trong thời kỳ khai trương hoặc muốn bán nhanh để thu hồi vốn

+ Chính sách định giá cao: Định giá bán cao hơn mức giá trên thị trường

và cao hơn giá trị sản phẩm Sản phẩm mới tung ra thị trường, người tiêu dùng chưa biết rõ chất lượng của nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá, áp dụng bán giá cao sau đó giảm dần Doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, áp dụng giá cao để thu lợi nhuận độc quyền Sản phẩm thuộc loại cao cấp, hoặc sản phẩm có chất lượng đặc biệt tốt phù hợp với người tiêu dùng thuộc tầng lớp thượng lưu Sản phẩm thuộc loại không khuyến khích người tiêu dùng mua, áp dụng giá bán cao để thúc đẩy họ tìm sản phẩm thay thế

+ Chính sách ổn định giá bán: Ổn định giá bán là giữ nguyên giá bán theo

thời kỳ và địa điểm, chính sách này giúp doanh nghiệp thâm nhập giữ vững và mở rộng thị trường

Trang 36

+ Chính sách định giá bán theo thị trường: Đây là cách định giá phổ biến

của các doanh nghiệp hiện nay, định giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm đó

+ Chính sách định giá phân biệt: Với cùng một loại sản phẩm nhưng

doanh nghiệp định giá ra nhiều mức giá khác nhau dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau:

Phân biệt theo lượng mua: Mua khối lượng nhiều hoặc giảm giá hoặc hưởng chiết khấu

Phân biệt theo chất lượng: Các loại chất lượng (1,2,3) có mức giá khác nhau phục vụ cho các nhóm đối tượng khác nhau

Phân biệt theo phương thức thanh toán: Thanh toán ngay hay trả chậm, thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản

Phân biệt theo thời gian: Tại các thời điểm khác nhau, giá cả khác nhau

+ Chính sách bán phá giá: Định giá bán thấp hơn hẳn giá thị trường và

thấp hơn cả giá thành sản xuất Mục tiêu của bán phá giá là tối thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh Muốn đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực về tài chính,

về khoa học công nghệ, sản phẩm đã có uy tín trên thị trường Bán phá giá chỉ nên áp dụng khi sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gay gắt, sản phẩm lạc hậu không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm mang tính thời vụ, dễ hư hỏng, càng để lâu càng lỗ lớn

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mức sống của người dân không ngừng được nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan trọng nhất của doanh nghiệp nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết

Trang 37

hợp công cụ giá với các công cụ khác thì doanh nghiệp sẽ đứng vững trên thị trường và cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác

- Quảng cáo: Là tuyên truyền, giới thiệu về hàng hoá bằng cách sử dụng các phương tiện khác nhau trong khoảng thời gian và không gian xác định Quảng cáo làm cho hàng hoá bán được nhiều hơn, nhanh hơn, nhu cầu được đáp ứng kịp thời Thông qua quảng cáo, người làm công tác thương mại hiểu được nhu cầu thị trường và sự phản ứng thị trường nhanh hơn, nó là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho cạnh tranh trên thị trường

- Xây dựng phòng Marketing: Thị trường giờ đây là vấn đề sống còn đối với mọi doanh nghiệp, hiện nay mọi hoạt động liên quan tới thị trường của Công ty Bánh kẹo Hải Châu, đều do phòng kế hoạch vật tư đảm nhiệm Do có quá trình nhiều chức năng: tổ chức nguồn nguyên liệu đầu vào, tổ chức tác nghiệp sản xuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm đầu ra…nên tính chuyên môn hoá của doanh nghiệp này không cao Vì vậy việc thành lập phòng Marketing là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong cơ chế thị trường hiện nay đối với doanh nghiệp có quy mô lớn như Hải Châu

- Tổ chức các đợt bán hàng khuyến mại: Vì sản phẩm bánh kẹo có tính mùa vụ (thường chỉ bán chạy vào những dịp giáp Tết, Tết, mùa cưới và các dịp lễ hội), còn những tháng vào mùa hè nắng nóng thì việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy mà các đợt bán hàng khuyến mãi sẽ gây được sự chú

ý của khách hàng và góp phần cải thiện được tình hình tiêu thụ của công ty, tuy nhiên, đợt khuyến mãi sẽ không hoạt động cô lập mà phải kết hợp với các hoạt động xúc tiến khác Khi tiến hành các đợt khuyến mãi cần phải xác định

rõ quy mô của đợt khuyến mãi cho phù hợp với lượng ngân sách đã xác định[4]

Trang 38

Mặc dù mới bước vào kinh tế thị trường các doanh nghiệp kinh doanh bánh kẹo nói chung, Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu nói riêng bước đầu đã hoạt động có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh nhất định trên thị trường, xin nêu ra kinh nghiệm của một số doanh nghiệp:

a Kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài:

- Nâng cấp kỹ thuật: Yếu tố quan trọng để thực hiện mục tiêu này là phát triển năng lực dựa trên tri thức Chính phủ Singapore coi khu vực chế tạo và dịch vụ là hai động lực tăng trưởng của nền kinh tế Chính phủ đã tập trung để gia tăng giá trị cho hai ngành này nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc tế Trong ngành chế tạo, tỷ lệ của điện tử, hoá chất và sản phẩm hoá chất đã tăng

từ 25% và 8% lên 36% và 17% trong thời gian từ năm 1985 đến 2001 Trong khu vực dịch vụ, kế hoạch của Chính phủ là cải thiện khả năng cạnh tranh thông qua các biện pháp: Tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên; dỡ bỏ những cản trở mang tính quy tắc, kích cầu, phát triển nhân lực cho ngành dịch vụ; và cấp đất với giá ưu đãi để phát triển các cơ sở giáo dục và y tế

Đối với ngành sản xuất bánh kẹo của Hàn Quốc, các doanh nghiệp Hàn Quốc

đã sản xuất được nguyên liệu trong nước có hàm lượng công nghệ cao để thay thế nguyên liệu nhập khẩu, giúp cho nước này bớt phụ thuộc vào nước ngoài

- R&D và đổi mới: Tầm quan trọng của nâng cao trình độ công nghệ quốc gia không bị cường điệu quá mức Một cách để thực hiện mục tiêu này

là đầu tư nhiều hơn vào R&D và đổi mới công nghệ Theo số liệu thống kê các năm trước đây của OECD, tổng đầu tư R&D ở các nước thành viên OECD đạt tới 330 triệu USD năm 1999, tăng mạnh so với mức 230 triệu USD năm 1990

Viện nghiên cứu Hàn Quốc đã đề ra các biện pháp để thúc đẩy tiến bộ công nghệ quốc gia, đó là: tăng cường hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu cơ

Trang 39

bản, phân bổ hợp lý hỗ trợ cho đầu tư R&D kinh doanh; hỗ trợ từ ngân sách cân đối cho hoạt động R&D; tăng cường hoạt động R&D của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc sử dụng vốn đầu tư mạo hiểm; tham gia tích cực vào toàn cầu hoá R&D; tăng cường kiểm soát thị trường; tăng cường hợp tác R&D và thành lập mạng lưới giữa các bên tham gia R&D

Hàn Quốc và Singapore thuộc những nước có tỷ lệ chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai trên GNP ở mức cao nhất Đối với giai đoạn 1987 - 1997, chi tiêu vào R&D lên tới 2,8% và 11% của GDP của Hàn Quốc và Singapore, cao hơn nhiều so với các quốc gia khác ở châu Á; tỷ lệ này ở Hàn Quốc còn cao hơn bất kỳ quốc gia khác trên thế giới trừ Thuỵ Điển Về thành tựu khoa học công nghệ thì Hàn Quốc và Singapore đứng thứ 5 và thứ 10 theo báo cáo phát triển của Liên Hợp Quốc, 2001[35]

Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp để giành và chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu đã và đang diễn ra rất gay gắt; đồng thời, các nền kinh tế đang ngày càng phụ thuộc vào nhau chặt chẽ hơn, mối quan hệ giữa doanh nghiệp các nước ngày càng được mở rộng hơn, xu thế cạnh tranh trong sự hợp tác đã và đang được các nước, các doanh nghiệp chấp nhận và thực hiện trên thực tế

Do cạnh tranh quốc tế ngày càng được diễn ra trong bối cảnh các nước đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, một số yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh như tri thức và đi kèm với nó là chất lượng nguồn nhân lực, vốn, tính khác biệt của sản phẩm, sự can thiệp có chọn lọc của Chính phủ thông qua việc ban hành các chính sách gữi vai trò quan trọng hơn so với các yếu tố còn lại, như tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ…Từ kinh nghiệm của một số nước và lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, có thể rút ra một số bài học sau đây:

Trang 40

Thứ nhất: Sự quan tâm đầu tiên và lớn nhất khi nâng cao khả năng cạnh tranh

cho doanh nghiệp là cải cách phương thức và quản lý doanh nghiệp Cả Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc đều thể hiện điều này rất rõ Biện pháp này dễ được chấp nhận, bởi lẽ nó liên quan trước hết đến bản thân doanh nghiệp

Thứ hai: Vai trò của các Chính phủ trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh

của doanh nghiệp là rất quan trọng, song sự tham gia của nó vào quá trình này phải mang tính chọn lọc và được thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách Trong nền kinh tế tri thức, ứng dụng thành tựu mới của khoa học và công nghệ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tuy vậy việc tiến hành R&D thường vượt ra ngoài phạm vi năng lực tài chính của các doanh nghiệp Vì thế đây là một trong những lĩnh vực cần sự tham gia của Chính phủ và liên quan với nó là vấn đề giáo dục và đào tạo lực lượng lao động

Thứ ba: Vai trò và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong việc

nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là rất quan trọng và ngày càng được nâng cao Nếu các doanh nghiệp công nghệ cao Đài Loan không có các nhà quản lý giỏi, thì sẽ khó có thể có được lợi thế cạnh tranh nhờ đạt được hiệu quả của công tác quản lý Các Doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc đạt hiệu quả thấp trong sản xuất - kinh doanh sau cải cách, một phần bởi công tác quản lý chưa được cải thiện ở mức cần thiết

Thứ tư: Phải cố gắng nội địa hoá những kỹ thuật, công nghệ thu hút được từ

bên ngoài, để từ đó có được những sản phẩm của riêng mình Thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi nguồn nhân lực phải đạt được trình độ tri thức và tay nghề nhất định, liên tục học hỏi

b Kinh nghiệm của các doanh nghiệp Việt Nam:

Ngày đăng: 06/08/2015, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thành Tự Anh (2006), “Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu” (số 169, Doanh nhân Sài gòn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu
Tác giả: Vũ Thành Tự Anh
Năm: 2006
2. Nguyễn Duy Bột (2003), Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu, (Sách chuyên khảo), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu
Tác giả: Nguyễn Duy Bột
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
3. Trương Đình Chiến (2005), Quản trị thương hiệu hàng hoá - lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị thương hiệu hàng hoá - lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
4. Trương Đình Chiến, Tăng Văn Bền (1998), Marketing trong quản trị kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing trong quản trị kinh doanh
Tác giả: Trương Đình Chiến, Tăng Văn Bền
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
6. Lê Anh Cường, Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Thị Lệ Huyền (2005), Tổ chức và quản lý tiếp thị - bán hàng, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý tiếp thị - bán hàng
Tác giả: Lê Anh Cường, Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Thị Lệ Huyền
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
7. Lê Thế Giới, Nguyễn xuân Lãn (2003), Quản trị marketing, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị marketing
Tác giả: Lê Thế Giới, Nguyễn xuân Lãn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
8. Luật cạnh tranh (2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cạnh tranh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
9. Thanh Hoa (2004) Sức mạnh của nhãn hiệu công nghiệp trong marketing, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của nhãn hiệu công nghiệp trong marketing
Tác giả: Thanh Hoa
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2004
10. Vũ Trọng Lâm, (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, (sách chuyên khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Trọng Lâm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Hiểu Lỗ (2006), Năng lực sẽ quyết định thành công, NXB Văn hoá - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực sẽ quyết định thành công
Tác giả: Hiểu Lỗ
Nhà XB: NXB Văn hoá - thông tin
Năm: 2006
13. Thái Quang Sa (1999), Cạnh tranh cho tương lai, Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật hoá chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh cho tương lai
Tác giả: Thái Quang Sa
Nhà XB: Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật hoá chất
Năm: 1999
14. Lưu Quân Sư (2004), Nghệ thuật quản lý kinh doanh, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật quản lý kinh doanh
Tác giả: Lưu Quân Sư
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2004
15. Trần Sửu (2006), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hoá, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hoá
Tác giả: Trần Sửu
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
16. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thanh
Năm: 2005
17. Thu Thuỷ, (2005), Những chiến lược marketing hiệu quả kỳ diệu, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chiến lược marketing hiệu quả kỳ diệu
Tác giả: Thu Thuỷ
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2005
18. Trần Văn Tùng, Nguyễn Trọng Hậu (2002), Mô hình tăng trưởng kinh tế, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Trần Văn Tùng, Nguyễn Trọng Hậu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002
19. Trần Văn Tùng (2004), Cạnh tranh kinh tế (sách chuyên khảo), NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh kinh tế
Tác giả: Trần Văn Tùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
20. Thương Mưu Tử (2005), 100 điều nên làm và 100 điều nên tránh trong kinh doanh, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 điều nên làm và 100 điều nên tránh trong kinh doanh
Tác giả: Thương Mưu Tử
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2005
22. Thế Văn (2005), Giành lấy khách hàng lớn, NXB từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giành lấy khách hàng lớn
Tác giả: Thế Văn
Nhà XB: NXB từ điển bách khoa
Năm: 2005
23. Hoàng Việt (2003), “Về động lực phát triển của nền kinh tế nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” ( số 72, Kinh tế và phát triển) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về động lực phát triển của nền kinh tế nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: Hoàng Việt
Nhà XB: Kinh tế và phát triển
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.1: Kết quả tiêu thụ theo chủng loại - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
th ị 2.1: Kết quả tiêu thụ theo chủng loại (Trang 54)
Đồ thị 2.2: Kết quả tiêu thụ theo chủng loại bánh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
th ị 2.2: Kết quả tiêu thụ theo chủng loại bánh (Trang 57)
Đồ thị 2.3: Kết  qủa tiêu thụ theo chủng loại kẹo - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
th ị 2.3: Kết qủa tiêu thụ theo chủng loại kẹo (Trang 62)
Đồ thị 2.4:  Kết quả tiêu thụ theo chủng loại bột canh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
th ị 2.4: Kết quả tiêu thụ theo chủng loại bột canh (Trang 65)
Đồ thị 2.5: T - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
th ị 2.5: T (Trang 69)
Bảng 2.8:  Tình hình tiêu thụ theo khu vực thị trường (2003- 2007) - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.8 Tình hình tiêu thụ theo khu vực thị trường (2003- 2007) (Trang 70)
Bảng 2.9: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của thị trường Miền Bắc năm 2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.9 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của thị trường Miền Bắc năm 2007 (Trang 71)
Bảng  2.8  cho  thấy  rằng  tình  hình  tiêu  thụ  sản  phẩm  ở  các  tỉnh  đồng  bằng  như:  Hải  Phòng,  Quảng  Ninh,  Hưng  Yên,  Thái  Bình,  Hoà  Bình,  Hải  Dương, Ninh Bình, Nam Định… sản phẩm  bánh và  kẹo của công ty  lại tiêu  thụ tốt hơn ở các  - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
ng 2.8 cho thấy rằng tình hình tiêu thụ sản phẩm ở các tỉnh đồng bằng như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Hoà Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định… sản phẩm bánh và kẹo của công ty lại tiêu thụ tốt hơn ở các (Trang 73)
Bảng 2.14: Một số mặt hàng bán chạy của Hải Châu - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.14 Một số mặt hàng bán chạy của Hải Châu (Trang 80)
Bảng 2.15: Giá bán của Hải Châu từ ngày 1/12/2006 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.15 Giá bán của Hải Châu từ ngày 1/12/2006 (Trang 81)
Bảng 2.16: Giá bán của công ty so với đối thủ cạnh tranh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.16 Giá bán của công ty so với đối thủ cạnh tranh (Trang 82)
Bảng 2.17: Mức chiết giá sản phẩm của công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.17 Mức chiết giá sản phẩm của công ty (Trang 83)
Hình 2.1.1 Sơ đồ hệ thống kênh phân phối - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Hình 2.1.1 Sơ đồ hệ thống kênh phân phối (Trang 85)
Bảng 2.22: Thị phần của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.22 Thị phần của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu (Trang 90)
Bảng 2.23:   Khái quát hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bánh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bảng 2.23 Khái quát hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bánh (Trang 93)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w