1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics việt nam trong bối cảnh việt nam hội nhập kinh tế quốc tế

97 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 290,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đòi hỏi các doanh nghiệp logistics ViệtNam phải năng động, sáng tạo, học hỏi để có thể tồn tại.Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu luận văn với đề tài: "NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-SẦM THỊ QUỲNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-SẦM THỊ QUỲNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế

Mã số : 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TIẾN MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,không sao chép của ai Trong nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng cáctài liệu, sách báo, thông tin đƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trangweb theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Sầm Thị Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình nghiên cứu và viết luận văn, tôi xin đặc biệt bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tiến Minh, người đã tận tình hướng dẫn,định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian hoàn thànhluận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo đang công táctại Bộ phận sau đại học, phòng Đào tạo, các anh/chị chuyên viên văn phòngKhoa Kinh tế quốc tế Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiệntốt luận văn này Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi nhữngsai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạnđọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Tác giả luận văn

Sầm Thị Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP LOGISTICS 5

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước 5

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài 10

1.1.3 Khoảng trống cho nghiên cứu luận văn 14

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 15

1.2.1 Khái niệm logistics 17

1.2.2 Vai trò của logistics 18

1.2.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics 23

1.3 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 27

1.3.1 Các yếu tố bên trong của doanh nghiệp 27

1.3.2 Các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp 27

1.4 Bài học kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Singapore và Thái Lan 28

1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Singapore 28

Trang 6

1.4.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

logistics Thái Lan 32

1.4.3 Bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore và Thái Lan 33

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36

2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh 37

2.3 Sử dụng mô hình phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (mô hình SWOT) 37

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 40

3.1 Tổng quan về thị trường logistics Việt Nam 40

3.1.1 Cầu dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam 40

3.1.2 Cung dịch vụ logistics tại Việt Nam 42

3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 44

3.2.1 Thị phần và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp logistics Việt Nam 44

3.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ của các doanh nghiệp logistics Việt Nam 48

3.2.3 Quy mô của doanh nghiệp logistics Việt Nam 51

3.2.4 Khả năng thích ứng và đổi mới doanh nghiệp 52

3.2.5 Khả năng thu hút nguồn nhân lực 53

3.2.6 Khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp dịch vụ logistics 54

3.3 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam 55

Trang 7

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNHTRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM TRONGBỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 584.1 Xu hướng vận động của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến pháttriển logistics ở Việt Nam đến năm 2020 58

4.1.1 Xu hướng phát triển logistics thế giới trong thời gian tới 58 4.1.2 Cơ hội đối với doanh nghiệp logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 60 4.1.3 Thách thức đối với doanh nghiệp logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 64

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệplogistics 664.3 Một số kiến nghị đối với chính phủ để hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics

ở Việt Nam 74KẾT LUẬN 80TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 9

i

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản ViệtNam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới,trong đó có chủ trương quan trọng là "chủ động và tích cực hội nhập kinh tếquốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác"

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hiệp hội các Quốcgia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái BìnhDương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM), Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) và gần đây nhất là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Việchội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại với cácnước, đã giúp cho hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa cácquốc gia được mở rộng, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đưa hàng hoácủa mình vượt ra khỏi biên giới quốc gia Sự phát triển mạnh mẽ của xuấtnhập khẩu những năm qua, đã tạo cho ngành logistics trở thành ngành dịch vụquan trọng của hoạt động thương mại quốc tế Với bờ biển dài khoảng 3260

km trải dài từ Bắc đến Nam, nằm ở trung tâm khu vực Châu Á - Thái BìnhDương, trên tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam là quốc gia có điều kiện tựnhiên và vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics Tuy nhiên,trong thời gian qua các doanh nghiệp logistics Việt Nam chưa thực sự tìmđược tiếng nói chung với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chưa tạo ra sựgắn bó đầy đủ, thúc đẩy phát triển chung cho cộng đồng doanh nghiệplogistics Việt Nam

Năm 2015, Việt Nam chính thức gia nhập AEC và ký kết Hiệp định đốitác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệplogistics Việt Nam phát huy khả năng của mình nhưng môi trường cạnh tranhcũng khốc liệt hơn, các doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng đối mặt với

Trang 14

những thách thức vô cùng to lớn với các tập đoàn, công ty nước ngoài có kinhnghiệm và năng lực cạnh tranh cao Đòi hỏi các doanh nghiệp logistics ViệtNam phải năng động, sáng tạo, học hỏi để có thể tồn tại.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu luận văn với đề tài: "NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ" có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết.

1.Về tính cấp thiết của đề tài:

Lý do chọn đề tài: Logistics là một mắt xích quan trọng trong quá trình

phân phối hàng hoá từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng Hoạt động logisticsngày nay không chỉ gắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải, mà cònlên kế hoạch, sắp xếp dòng chảy nguyên, vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sảnxuất, sau đó luân chuyển hàng hóa từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuốicùng, tạo nên sự liên thông trong toàn xã hội theo những phương án tối ưuhóa, giảm chi phí luân chuyển và lưu kho Với tầm quan trọng của mình,ngành logistics nói chung và các doanh nghiệp logistics Việt Nam nói riêngcần phải được nghiên cứu để tìm ra và khắc phục những điểm yếu, phát huylợi thế của mình Nhất là trong thời kỳ Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộnghơn ra thế giới

Sự phù hợp của tên đề tài với chuyên ngành đào tạo: Hiểu biết về

Logistics đối với một học viên cao học chuyên ngành kinh tế quốc tế là mộtnhu cầu thực tế Nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp logistics Việt Nam là giúp làm giảm chi phí doanh nghiệp từ đó thúcđẩy chỉ số cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh các doanhnghiệp có vốn đầu tư vào nước ngoài đang ồ ạt đầu tư vào thị trường nội địa

Câu hỏi nghiên cứu: Vấn đề cần quan tâm sau những phân tích về

doanh nghiệp Logistics Việt Nam đó là: "Các doanh nghiệp logistics Việt

Trang 15

Nam cần chủ động đổi mới mình ra sao bên cạnh việc chờ đợi những cải cách

về pháp luật quản lý, hỗ trợ chính sách từ phía chính phủ?"

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu phân tích năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế Làm rõ những mặt còn hạn chế cũng như tích cực của các doanhnghiệp logsitcs Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra một số khuyến nghị để nâng caonăng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam khi hội nhậpngày càng sâu rộng hơn

Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài Chỉ ra một

số giải pháp mới cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

logistics Việt Nam Các nguồn lực nội tại và mức độ khai thác chúng tại cácdoanh nghiệp logistics Các đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp logisticsViệt Nam Môi trường kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam.Các giải pháp

để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Logistics Việt Namtrong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

logistics ở Việt Nam và kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp logistics ở hai nước là Singapore và Thái Lan

Phạm vi về thời gian: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ

logistics qua 10 năm (2005-2015) và các giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam đến năm 2020 Môi trườngkinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam

Trang 16

3 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận thực tiễn dịch vụlogistics làm cơ sở để phân tích thực trạng phát triển dịch vụ cả các doanhnghiệp logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Trên cơ sở kế thừa, phát triển các công trình nghiên cứu đã có, luận văntrình bày, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệplogistics Việt Nam Tìm ra những ưu điểm và nhược điểm còn hạn chế Đồngthời tìm ra nguyên nhân của những thành công và những mặt còn tồn tại.Luận văn còn phân tích và chỉ ra được triển vọng phát triển của dịch vụlogistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quốc tế sâu rộng vàtoàn diện Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp logistics trong bối cảnhViệt Nam hội nhập kinh tế quốc tế Khẳng định khả năng phát triển của cácdoanh nghiệp logistics nếu biết tận dụng cơ hội, nếu không thì sẽ bị thua thiệtngay trên sân nhà đối với các doanh nghiệp logistics nước ngoài

4 Kết cấu của luận văn

gồm: Lời mở đầu

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn vềnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Logistics

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng của ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 4 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH

NGHIỆP LOGISTICS

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước

Trong xu thế hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều hộinhập ngày càng sâu rộng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng vềxuất khẩu, đẩy mạnh giao thương quốc tế thì vai trò của logistics ngày càngtrở nên quan trọng Việt Nam cũng như thế, với tư cách là thành viên của các

tổ chức như WTO, AEC… và chính thức ký kết hiệp định TPP Tuy lĩnh vựcdịch vụ logistics còn khá mới mẻ đối với Việt Nam nhưng lại rất quan trọngđối với quá trình sản xuất - kinh doanh của một ngành cũng như đối với toàn

bộ nền kinh tế quốc dân Logistics được xem như là tâm điểm của sự pháttriển kinh tế thương mại và kỳ vọng mang lại nguồn lợi to lớn cho nước ta.Chính vì vậy, trong suốt hơn hai thập kỷ qua, có rất nhiều chuyên gia, họcviên trong nước nghiên cứu về sự phát triển của logistics, đặc biệt là vai tròcủa nó đối với sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Mặc dù vậy, phảiđến những năm cuối của thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20 mới có các công trìnhnghiên cứu chuyên sâu về logistics của Việt Nam, còn trước đó, hầu hết cácnghiên cứu là những bài báo, tạp chí với nội dung hạn chế nên chỉ đề cập mộtcách khái quát một hoặc một số khía cạnh liên quan đến thực tiễn phát triểnlogistics của Việt Nam

Có thể nói, cuốn sách đầu tiên chuyên sâu về logistics được công bố ở

Việt Nam là “Logistics – Những vấn đề cơ bản”, do GS TS Đoàn Thị Hồng

Vân chủ biên, năm 2003 (NXB Lao Động – Xã Hội) Trong cuốn sách này, tácgiả tập trung vào giới thiệu những vấn đề cơ bản về logistics như khái

Trang 18

niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinhnghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới… 3 năm sau đó,

tác giả giới thiệu tiếp cuốn “Quản trị logistics” (Nhà xuất bản thống kê,

2006) Như tiêu đề thể hiện, cuốn sách tập trung vào những nội dung củaquản trị logistics như khái niệm quản trị logistics, các nội dung của quản trịlogistics như dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, quản trịvật tư, vận tải, kho bãi… Cả hai cuốn sách tập trung chủ yếu vào các vấn đề

lý luận về logistics và quản trị logistics, các nội dung thực tiễn của logisticsrât là hạn chế, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu nội dung thực tiễn tương ứng(dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, kho bãi…) của một số doanh nghiệpViệt Nam

Đại học Thương Mại cũng giới thiệu giáo trình “Quản trị logistics kinh doanh” do TS Nguyễn Thông Thái và PGS.TS.An Thị Thanh Nhàn chủ biên

(Nhà xuất bản thống kê, 2011) Giáo trình này dành chương đầu tiên để giớithiệu tổng quan về quản trị logistics kinh doanh như khái niệm và phân loạilogistics, khái niệm và mục tiêu của quản trị logistics, mô hình quản trịlogistics, các quá trình và chức năng logistics cơ bản… 5 chương còn lại đisâu vào nội dung quản trị logistics cụ thể như dịch vụ khách hàng, quản trị dựtrữ, quản trị vận chuyển, quản trị các hoạt động logistics hỗ trợ, thực thi vàkiểm soát logistics

Có thể nói, các tài liệu trên đã giới thiệu nhiều quan điểm, khái niệm vànội dung về logistics, nhưng đều lựa chọn giác độ tiếp cận để nghiên cứu làgiác độ vi mô Liên quan đến giác độ tiếp cận này còn có các luận án tiến sĩ,luận văn thạc sĩ viết về hoạt động logistics nói chung và các khía cạnh nộidung của logistics nói riêng trong khuôn khổ một doanh nghiệp cụ thể

Ở giác độ tiếp cận vĩ mô, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan

đến logistics hạn chế hơn Có thể kể đến các tài liệu như: Đề tài nghiên cứu

Trang 19

khoa học (NCKH) cấp bộ của Bộ Thương Mại “Logistics và khả năng áp dụng, phát triển logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam” do PGS TS Nguyễn Như Tiến (Đại học Ngoại

Thương) làm chủ biên (2004) tập trung nghiên cứu khía cạnh dịch vụ vận tải,

giao nhận hàng hóa Đề tài NCKH cấp bộ “Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế

về dịch vụ hậu cần logistics và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam” do

Viện nghiên cứu Thương Mại, Bộ Thương Mại thực hiện (2006) tập trungphân tích các kinh nghiệm quốc tế của một số nước và bài học kinh nghiệm

cho Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ này Đề tài NCKH cấp Bộ “Giải pháp phát triển dịch vụ logistics của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội” do GS TS Đặng Đình Đào, Đại học Kinh Tế

Quốc Dân chủ biên (2008) chủ yếu tập trung phân tích các dịch vụ logisticschủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội…Năm 2010, Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển - Trường Đại Học Kinh Tế

Quốc Dân trong các nghiên cứu "Phát triển dịch vụ logistics của nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế", "Một số vấn đề phát triển dịch vụ logistics ở nước ta" và

"Xây dựng phát triển hệ thống logistics theo hướng bền vững - Kinh nghiệm của Đức và bài học đối với Việt Nam" Do GS TS Đặng Đình Đào chủ trì cùng với tập

thể tác giả đã đánh giá Việt Nam rất có nhiều lợi thế về kinh tế, chính trị cũng như địa lý và điểu kiện tự nhiên so với các nước trong khu vực để phát triển logistics Với 3260km đường bờ biển, 4639km đường biên giới nằm trong vùng chiến lược của Đông Nam Á, thềm lục địa và trải rộng với nhiều cảng nước sâu có thể coi là những đầu tư sẵn có của tự nhiên dành cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam Tuy nhiên, thị trường logistics tại Việt Nam đang phát triển ngày càng lạc hậu hơn

so với ngay cả các nước trong khu vực, dù tiền năng ngành này là rất lớn Cơ sở hạ tầng "phần cứng", "phần mềm" cho phát triển logistics còn rất hạn chế Mạng lưới giao thông vận tải còn nghèo nàn, qui

Trang 20

mô nhỏ, thiếu đồng bộ, bố trí bất hợp lý và không tương xứng tạo nên sự giới hạn trong các chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế Hệ thống kho, bến bãi của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu Nhiều kho bãi đã cũ kỹ, lạc hậu, không bảo quản được chất lượng hàng hoá, thiếu thiết bị bốc xếp chuyên dùng Mặt khác, đa số các doanh nghiệp có quy mô tài chính vừa và nhỏ, ít hiểu biết về luật pháp quốc tế và chưa tạo được sự liên kết, hợp tác lẫn nhau mà chỉ dựa vào năng lực sẵn có nên khả năng cạnh tranh thấp, nảy sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong ngành Vì vậy, các tác giả nhận định hầu hết các doanh nghiệp logistics của Việt Nam mới chỉ đóng vai trò như những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài, chưa có doanh nghiệp nào có khả năng tổ chức, đều hành quy trình hoạt động của dịch vụ logistics Ngoài ra, trong các chính sách và kế hoạch phát triển hầu như ngành logistics chưa được đề cập ở cấp quốc gia cũng như ngành và địa phương Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu đã nhận định rằng ngành logistics của Việt Nam cần phải nhận diện rõ những yếu kém của mình để có kế hoạch, bước đi

và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằn thúc đẩy sự phát triển của logistics trong những năm tới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của đất nước Không những thế, song song với việc phân tích thực tiễn phát triển các dịch

vụ logistics của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ ra những điểm phù hợp và chưa phù hợp trong sự phát triển các dịch vụ logistics, các nguyên nhân dẫn đến việc tồn tại những điểm chưa phù hợp và những cản trở trong phát triển, các công trình nghiên cứu còn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, nền tảng về dịch vụ logistics, yêu cầu và những đặc trưng cơ bản của các dịch vụ logistics, vai trò cũng như hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của các dịch vụ logistics trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các công trình chưa đề cập một

Trang 21

cách có hệ thống và đồng bộ tất cả yếu tố của hệ thống logistics, đặc biệt là hệthống logistics đặt trong điều kiện đặc thù, riêng biệt.

Công trình NCKH quy mô nhất cho đến nay liên quan đến logistics ở

Việt Nam là đề tài NCKH độc lập cấp chính phủ “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” do GS TS Đặng Đình

Đào (Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển, trường Đại học Kinh Tế QuốcDân) chủ nhiệm, được thực hiện trong hai năm 2010, 2011) với sự tham giacủa nhiều nhà khoa học và tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra,phỏng vấn ở 10 tỉnh, thành phố trong cả nước Trong khuôn khổ đề tài này, 2

cuốn sách chuyên khảo đã được xuất bản Cuốn “Logistics – Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” ( Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân

2011, tập hợp 26 báo cáo khoa học tại hội thảo của đề tài do đông đảo các nhàkhoa học, nhà nghiên cứu và những người hoạt động logistics thực tiễn ở ViệtNam trình bày 26 báo cáo này tập trung vào các nội dung cơ bản: các vấn đề

lý luận cơ bản của logistics, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển dịch vụlogistics ở Việt Nam, các quy định pháp lý liên quan đến phát triển dịch vụlogistics ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng logistics ở Việt nam, chính sách phát triểndịch vụ logistics ở Việt Nam, giải pháp phát triển dịch vụ logistics ở ViệtNam… kết quả nghiên cứu của đề tài được cung cấp đầy đủ và chi tiết trong

cuốn sách chuyên khảo thư hai: Cuốn “ Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2012),

với các nội dung cụ thể như: khái niệm dịch vụ logistics, nội dung phát triểndịch vụ logistics, hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển các dịch vụ logisticscủa quốc gia (giới thiệu chỉ số LPI của WB) và của doanh nghiệp, các nhân tố

cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển logistics ở Việt Nam, quá trình phát triển

và thực trạng phát triển các dịch vụ logistics ở Việt nam, yêu cầu, khả năng,quan điểm và giải pháp phát triển các dịch vụ logistics ở Việt

Trang 22

Nam trong bối cảnh hội nhập Đề tài tiếp cận nghiên cứu logistics dưới giác

độ ngành ( ngành dịch vụ logistics)

Bên cạnh đó, trên báo chí, tạp chí và các diễn đàn Internet, xuất hiện một

số bài viết, tham luận… đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến thực tiễnphát triển logistics ở Việt Nam, nhưng nhìn chung mới dừng lại ở những nhậnxét mang tính chất khái quát, định tính, trong khuôn khổ thời gian và dunglượng hạn hẹp, chưa phải là nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu Tiêu biểu

có kể đến tác giả Đỗ Xuân Quang, Phó tổng giám đốc của VINAFREIGHT,

đã có một số bài viết phân tích về thực trạng, cơ hội và thách thức đối vớingành logistics ở Việt Nam, thực trạng và định hướng phát triển nguồn nhânlực cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp từquan điểm của Hiệp hội Giao Nhận Kho Vận Việt Nam; hay tác giả Đỗ HuyBình, chủ nhân của blog về chuỗi cung ứng và nổi tiếng nhất của logisticshiện nay cũng đưa ra nhiều nhận định liên quan đến thực trạng phát triển nàycủa Việt Nam, chủ yếu là liên quan đến trình độ cung ứng của dịch vụ của cácdoanh nghiệp logistics nội địa

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài

Ở giác độ vĩ mô, nghiên cứu được thừa nhận rộng rãi nhất là của WB

Trong các báo cáo “Connecting to compete: Trade logistics in global

economy” được công bố vào các năm 2007, 2010 và 2012, WB đã xây dựng

và công bố chỉ số năng lực logistics của một quốc gia (IPL) , được đánh giáthông qua 6 nhóm yếu tố: Năng lực thông quan; kết cấu hạ tầng cho hoạt độnglogistics, bao gồm các kết cấu hạ tầng cố định ( cảng biển, đường sá, khobãi…) và kết cấu hạ tầng dịch vụ thông tin liên lạc; vận tải biển quốc tế; nănglượng và chất lượng dịch vụ logistics; khả năng truy xuất ( khả năng theo dõitình trạng hàng hóa sau khi gửi) và mức độ đúng hạn về thời gian thông quan

và dịch vụ chỉ số LPI của WB được xây dựng thông qua việc tiến hành điều

Trang 23

tra các nhà hoạt động logistics ở 155 quốc gia trên thế giới và được sử dụngrộng rãi để đánh giá trình độ phát triển logistics của một quốc gia, một khuvực, một nhóm quốc gia… cũng như so sánh trình độ phát triển logistics củacác quốc gia, các khu vực, các nhóm nước trên toàn thế giới Ngân hàng pháttriển Châu Á, trong một nghiên cứu quy mô lớn về phát triển hành lang kinh

tế Bắc – Nam công bố năm 2007 đã đưa ra những quan niệm về hệ thốnglogistics quốc gia như sau: Một hệ thống logistics quốc gia bao gồm: (1)những người sử dụng dịch vụ bao gồm những nhà xuất khẩu, nhập khẩu,thương mại, người nhận hàng, gửi hàng (2) các nhà cung ứng dịch vụlogistics công cộng và tư nhân; (3) các thể chế, chính sách, quy định của quốcgia và địa phương; (4) kết cấu hạ tầng vận tải giao thông và thông tin liên lạc.Ngân hàng phát triển Á Châu cũng cho rằng kết quả hoạt động của hệ thốnglogistics được đo bởi bốn tiêu chí cơ bản: Sự hiệu quả về chi phí, mức độthuận tiện, mức độ tin cậy và mức độ an toàn Những tiêu chí này được xemxét để đánh giá mức độ hội nhập của một hệ thống logistics, đồng thời đánhgiá năng lực cung ứng dịch vụ logistics trong khuôn khổ hệ thống

Ở giác độ vi mô, các tài liệu logistics rất phong phú, tiêu biểu là các tác

giả và tác phẩm: “Fundamentals of Logistics Managerment” của Lamper và các tác giả (1998), “Logistics and Supply Chain Management” của Christoper (1998) hay “ Business Supply Chain Management” của Ballou (2004) Hầu

hết các tác giả đều coi logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu hànghóa, thông tin và tài nguyen giữa các phần tử trong cùng một chuỗi cung ứngthống nhất liên quan đến hoạt động của một doanh nghiệp Một chuỗi cungứng là một nhóm gồm các tổ chức kết nối trực tiếp bằng một hay nhiều dòngchảy xuôi hoặc ngược của sản phẩm, dịch vụ , tài chính và thông tin của mộtnhà cung ứng đến khách hàng Cũng có thể coi chuỗi cung ứng là tập hợp cácquy trình, các chức năng và hoạt động trong mối quan hệ tương hỗ, liên quan

Trang 24

mật thiết đến nhau, bao gồm cả việc mua hàng và giải phóng hàng, vận tảixuất nhập, nhận hàng, xử lý nguyên liệu, lưu kho và phân phối, kiểm soát vàquản lý tồn kho, lên kế hoạch cung cầu, xử lý đơn hàng, lên kế hoạch sảnxuất, vận tải đường biển, gia công hàng và dịch vụ khách hàng…

Như vậy, từ cách tiếp cận trong mối tương quan với chuỗi cung ứng,định nghĩa được sử dụng rộng rãi như: “Logistics được hiểu là một phần củatoàn bộ quá trình quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc lập kế hoạch,thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả dòng chu chuyển và lưu khohàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan một cách hiệu quả từ điểm xuấtphát đến nơi tiêu dùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”

Với khái niệm trên, logistics trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, hay logistics kinh doanh bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Ballou(2004) phân chia những bộ phận cấu thành của một hệ thống logistics điểnhình trong doanh nghiệp ra thành hai nhóm hoạt động cơ bản: “Nhóm cáchoạt động chính và nhóm các hoạt động hỗ trợ”

Nhóm các hoạt động chính là các hoạt động được tiến hành ở tất cả cáckênh logistics của mọi doanh nghiệp Các hoạt động này bao gồm: Dịch vụkhách hàng, vận chuyển hàng hóa, quản trị dự trữ, xử lý đơn hàng và các dòngthông tin đến và đi

Nhóm các hoạt động hỗ trợ bao gồm: Kho bãi và bảo quản, mua hàng,bao gói, phối hợp với bộ phận sản xuất để xác định khối lượng sản phẩm cầnsản xuất, kết quả sản xuất; xác định lịch trình cung cấp các yếu tố đầu vào chosảnh xuất và hoạt động doanh nghiệp, thu tập, lưu trữ và xử lý các thông tin,phân tích các số liệu…

Các nghiên cứu ngoài nước về logistics của Việt Nam không có nhiềunghiên cứu của các tác giả nước ngoài về logistics ở Việt Nam.Một trong

những nghiên cứu được biết đến rộng rãi là là “Vietnam logistics

Trang 25

development, trade facilitation and the impact on poverty reduction” của Viện

Nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) công bố năm 2002 Nghiên cứu này phân tíchthực trạng phát triển logistics của Việt Nam, chủ yếu tập trung vào khía cạnhlogistics và chi phí logistics của sản xuất và xuất khẩu một số mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam, cũng như tác động của logistics đến xóa đói giảmnghèo ở Việt Nam

Nghiên cứu của Sullivan (2006) “Vietnam Transportation and Logistics: Opportunities and Chanllenges” cho thấy một đánh giá khái quát về thực

trạng, các cơ hội và thách thức của Việt Nam đối với các phương thức vận tảihàng hóa như đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển

Các nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (2007) về hàng langkinh tế Bắc Nam (đã đề cập ở trên) và Ruth Banomyyong (2007, 2008, và2010) về logistics ở các quốc gia tiểu vùng song MêKông mở rộng và khu vựcASEAN đã đưa ra những nhận xét và đánh giá về thực trạng phát triềnlogistics của các nước liên quan trong khu vực nghiên cứu, trong đó có Việtnam Tuy nhiên, các đánh giá này chỉ mang tính chất khái quát và được đặttrong mối tương quan với các quốc gia trong khu vực

Tổ chức Business Monitor International (Anh) từ 2009 đã công bố cácbáo cáo hàng năm về bận tải hàng hóa ở Việt Nam Các báo cáo ngày khôngphân tích toàn bộ hệ thống logistics của Việt Nam mà chú trọng vào tình hìnhvận tải hàng hóa Việt Nam theo các phương thức vận tải và tình hình kết cấu

hạ tầng giao thông vận tải của Việt Nam, các báo cáo này sử dụng phươngpháp phân tích SWOT để tiếp cận và trình bày nội dung nghiên cứu

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên đây có thể thấy liên quan đếnlogistics và phát triển logistics ở Việt Nam phần lớn là các công trình nghiên cứumang tính chất khái quát, hoặc chỉ tập trung vào một khía cạnh nội dung củalogistics Với xu hướng toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên

Trang 26

toàn thế giới Vai trò của logistics ngày càng được khẳng định trong sự phát triểnlâu dài và ổn định của nền kinh tế ở mỗi quốc gia Vì vậy, dịch vụ logistics diễn

ra trên địa bàn các khu vực ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.Logistics trở thành lĩnh vực tương đối mới mẻ với hoạt động quản lý và lập kếhoạch Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, các công trình nghiên cứu chuyênsâu và toàn diện về nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logisticsViệt nam còn là một đề tài khá mới mẻ Điều đó cho thấy sự cần thiết phải cómột nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp logistics trong thời kỳ hội nhập

1.1.3 Khoảng trống cho nghiên cứu luận văn

Nhìn chung, hiện nay trên thế giới và trong nước, số lượng các côngtrình nghiên cứu khoa học chuyên sâu cả mặt lý luận và thực tiễn về logistics,dịch vụ Logistics là rất phong phú và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhaucủa dịch vụ logistics nói chung và hệ thống logistics, nâng cao năng lực cạnhtranh các dịch vụ logistics Điều này chứng tỏ rằng những công trình nghiêncứu này không những có giá trị nghiên cứu về mặt học thuật mà còn có giá trị

cả trong ứng dụng thực tiễn Vì thế, những nghiên cứu ở tầm vi mô và vĩ môtrên thế giới cũng như ở Việt Nam là nguồn tài liệu tham khảo quý giá trongquá trình thực hiện luận văn của tác giả Mặc dù vậy, đến nay, vẫn chưa hề cónghiên cứu nào đi sâu trực tiếp vào xác định cơ chế, chính sách cũng như cácgiải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệplogistics trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, bên cạnh tiếp tụcthừa kế những thành tựu của các công trình khoa học từ trước đến nay, luậnvăn đi sâu nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về các giải pháp nâng caonăng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp logistics Để từ đó thấy rằng, Nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt nam là điều tất yếu và cần

Trang 27

thiết vì sự phát triển bền vững và ổn định của đất nước Việt Nam chúng ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Logistics tác động đến hầu hết hoạt động của con người, dù trực tiếp haygián tiếp Ít có hoạt động kinh doanh nào lại có tác động quan trọng tới mứcsống của xã hội như logistics Mặc dù logistics đã và đang phát triển mạnh

mẽ trên thế giới nhưng ở Việt Nam còn khá mới mẻ Cùng với quá trình hộinhập, logistics và dịch vụ logistics đã theo chân những nhà đầu tư nước ngoàivào Việt Nam Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụlogistics ở Việt Nam đã ra đời và cung ứng các dịch vụ logistics cho kháchhàng trong và ngoài nước Thời gian qua, ngành dịch vụ logistics của ViệtNam có những bước phát triển mạnh mẽ bên cạnh đó cũng còn những hạnchế, những khó khăn cần khắc phục

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế thị trường đượchình thành ở Việt Nam đã và đang có tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực Hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đã mở ra một thời kỳ mới cho ViệtNam, tạo nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho nước ta, trong đó có dịch vụlogistics Hội nhập là một thực tế không thể tránh khỏi đặc biệt khi Việt Nam gianhập WTO, trong năm 2015 Việt Nam đã ký kết một loạt các hiệp định và đàmphán quan trọng, mà nổi bật là ký kết thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC) và kết thúc đàm phán hiệp định TPP Đây là những tiền đề quan trọng đểphát triển kinh tế Việt Nam, gia tăng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và tạo thịtrường cho ngành logsitics Ngành logistics nói chung hay các doanh nghiệplogistics Việt Nam nói riêng không thể đứng ngoài thực tế đó mà phải nhập cuộcmột cách chủ động nếu muốn tồn tại và phát triển Muốn làm được điều đó, phảinhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải

Trang 28

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics, tăng cường sứcmạnh của doanh nghiệp để không bị lãng quên trên thị trường logistics cũngnhư quốc tế Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một quy luậtkhách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận độngcủa thị trường Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thịtrường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội –yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường pháttriển Mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế đều phải tự mìnhvận động để đứng được trong cơ chế này Doanh nghiệp nào không thích nghiđược cơ chế mới sẽ phải cầm chắc sự phá sản và theo quy luật đào thải nó sẽ

bị gạt ra khỏi thị trường Thay vào đó, thị trường lại mở đường cho doanhnghiệp nào biết nắm bắt thời cơ, biết phát huy tối đa những thế mạnh củamình và hạn chế được tối thiểu những bất lợi của mình để giành thắng lợitrong cạnh tranh

Cơ hội và thách thức là hai phạm trù luôn đi song song với nhau trongquá trình hội nhập Hội nhập đã đặt ra cho doanh nghiệp logistics những tháchthức to lớn, làm cho cuộc canh tranh gay gắt hơn Sự tham gia của các doanhnghiệp logistics nước ngoài vào thị trường trong nước có lẽ là đối thủ cạnhtranh to lớn nhất của các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Namcao sẽ góp phần không nhỏ vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vì nó giúpcho các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại của Việt Nam chủđộng hơn trong việc vận chuyển đầu vào cũng như đầu ra, lưu kho, và phânphối hàng hóa Sự phát triển của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp logistics như nhân lực, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý, trình độcông nghệ… cũng góp phần làm năng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Trang 29

Như vậy, không còn cách nào khác, doanh nghiệp logistics Việt Namphải sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh và không ngừng nâng cao năng lực cạnhtranh của mình Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,đòi hỏi các doanh nghiệp logistics Việt Nam phải có sự thay đổi nhanh chóng

và khả năng thích ứng cao để có thể tồn tại và phát triển

1.2.1 Khái niệm logistics

Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics người ta đã đưa

ra khái niệm như sau: "Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển vàlưu kho của: Nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; Hàng hoá; Bán thành phẩmtrong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp"

Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, chúng ta cần phải làm rõ một số hoạtđộng được nêu ra trong đó:

- Quản lý: Quản lý là kiểm soát các hoạt động logistics trong mối quan

hệ với kế hoạch tổng thể và chiến lược tổng thể của doanh nghiệp

-Vận chuyển: Nguyên vật liệu được vận chuyển từ nhà cung cấp vào

phân xưởng Những nguyên vật liệu này cũng sẽ được vận chuyển qua cácphân xưởng khác nhau trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Sảnphẩm cuối cùng sẽ được vận chuyển đến tay người tiêu dùng

- Lưu kho: Nguyên vật liệu được lưu kho cho đến khi có nhu cầu dùng

đến; các loại bán thành phẩm trong quá trình sản xuất cũng phải được lưukho trong suốt các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất; và sản phẩmcuối cùng được lưu kho cho đến khi có yêu cầu cung cấp của khách hàng.Khái niệm này đã nêu ra đúng quy trình của logistics nhưng theo quanđiểm hiện đại về cách tiếp cận logistics hợp nhất thì vẫn có những hạn chế.Lấy ví dụ khi một doanh nghiệp giới thiệu một sản phẩm mới hoặc thay đổiquan trọng trong sản phẩm hiện tại Để hỗ trợ cho sản phẩm mới hoặc đặcđiểm mới này phải có đào tạo, phát triển các tài liệu kỹ thuật, phải có các bộ

Trang 30

phận thay thế dự phòng và các phương tiện kiểm tra sửa chữa Tất cả nhữngyếu tố này, đặc biệt cả yếu tố thông tin, theo quan điểm hiện đại, đều thuộclogistics, trong khi theo khái niệm trên thì logistics chỉ bao gồm quản lý, vậnchuyển và lưu kho Do vậy đây vẫn chưa phải là một khái niệm đầy đủ.

Định nghĩa được coi là đầy đủ nhất và được sử dụng rộng rãi nhất làđịnh nghĩa của Hội đồng quản lý logistics của Hoa Kỳ (Council of logisticsManagement - CLM) Theo CLM: " Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổchức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hoá, dịch vụ vànhững thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuốicùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng"

Ở Việt Nam, theo luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng Hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm

2005, thì có khái niệm về dịch vụ logsitcs như sau: “Dịch vụ logistcs là hoạtđộng thương mại, theo đó thương nhân tổ chức một hoặc nhiều công việc baogồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan , các thủ tụcgiấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hànghoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng

để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ gi-stíc” và “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủđiều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”

lô-1.2.2 Vai trò của logistics

Logistics có chức năng rất rộng và có ảnh hưởng rất lớn tới toàn xã hội.Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo

và điều đó sẽ đạt được khi phát triển logistics Để hiểu tác động của logisticstới người tiêu dùng, có thể xem xét một vài ví dụ dưới đây:

Một chuyến hàng gồm thuốc men, thực phẩm dùng để cứu trợ cho nạnnhân một thảm họa thiên nhiên ở nước ngoài nhưng hàng không được giao

Trang 31

cho những người cần vì không có đủ phương tiện vận tải và kho hàng khôngthích hợp.

Một đơn hàng được giao nhầm cho một khách hàng khác, phải mất nhiềungày để khắc phục sự cố này, hàng thay thế phải được gửi chuyển phát nhanhbằng đường hàng không, làm phát sinh chi phí cho người bán hàng

Khó khăn để chọn được một mặt hàng nào đó với kích cỡ hay kiểu dáng,màu sắc thích hợp nếu hệ thống logistics không cung ứng được nhiều chủngloại sản phẩm, phong phú về màu sắc, kích cỡ, và kểu dáng thông qua việcsắp xếp, phân loại hàng hoá

Khi chúng ta vội vàng đến một cửa hàng bách hoá tổng hợp để tìm muamột sản phẩm quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đếnnơi chúng ta được trả lời rằng mặt hàng đó về trễ nên chưa có bán

Những ví dụ trên đây cho ta thấy logistics ảnh hưởng tới nhiều mặt trongcuộc sống hàng ngày Kỹ thuật thông tin bùng nổ tạo điều kiện cho các tổchức có thể quản lý các hoạt động phức tạp như xử lý đơn hàng, lưu khohàng hoá, vật tư Công nghệ thông tin và máy tính tạo điều kiện cho các tổchức quản lý tốt hơn các luồng luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và tối ưu hoámức dự trữ và luân chuyển hàng dự trữ trong kho Các nhà quản lý đã xâydựng nhiều hệ thống quản lý như: kế hoạch yêu cầu vật tư, kế hoạch nguồnphân phối và phân phối đúng lúc cho phép các tổ chức kết hợp nhiều hoạtđộng quản lý vật tư từ xử lý đơn hàng, quản lý hàng trong kho, đặt hàng từcác nhà cung cấp, đến dự đoán và lập kế hoạch sản xuất

Logistics ngày càng được coi trọng vì các nguyên nhân khác nhau như:công nghệ thông tin phát triển, các tổ chức ngày càng coi trọng việc phục vụkhách hàng, các khái niệm tiếp cận hệ thống và tổng chi phí, đòn bẩy lợinhuận từ logistics ngày càng được nhiều người công nhận, và nhiều người

Trang 32

ngày càng nhận thấy rằng logistics có thể được sử dụng như một vũ khí chiếnlược trong cạnh tranh trên thị trường.

Tác động của đòn bẩy lợi nhuận của logistics thể hiện ở chỗ: 1USD tiếtkiệm được trong chi phí logistics có tác động lớn hơn nhiều đến khả năng thulợi nhuận của tổ chức so với việc tăng 1 USD trong doanh số bán hàng Nếutăng 1 USD doanh số bán hàng không có nghĩa là tăng 1 USD lợi nhuận Vídụ: tỷ suất lợi nhuận của một đơn vị là 2% thì cứ tăng mỗi USD trong doanh

số bán hàng đơn vị đó chỉ thu được lợi nhuận trước thuế là 0,02 USD Trongkhi đó, mỗi USD tiết kiệm được từ logistics là lợi nhuận của đón vị đó tăngđược 1 USD Do vậy, tiết kiệm chi phí logistics là đòn bẩy có ý nghĩa lớn hơnrất nhiều so với việc tăng doanh số bán hàng Đối với một số tổ chức, việctăng doanh số bán hàng khó thực hiện nhưng việc giảm chi phí logistics thìnằm trong tầm tay

Tiếp cận hệ thống là khái niệm then chốt trong logistics Bản thânlogistics là một hệ thống của hoạt động liên quan nhằm mục đích quản lý trật

tự dòng luân chuyển vật tư và nhân lực trong kênh logistics Tiếp cận hệthống quy định bằng mọi chức năng hay hoạt động cần được hiểu theo nghĩachúng tác động tới và bị tác động như thế nào bởi các yếu tố khác mà chúng

có mối quan hệ tương hỗ

Nếu chỉ nhìn vào các hoạt động một khách lẻ thì không thấy được cái toàncục; kết quả của hàng chuỗi hoạt động sẽ lớn hơn nhiều so với kết quả của từnghoạt động riêng biệt Để đáp ứng được việc thực hiện các đơn hàng của kháchhàng, nếu duy trì lượng hàng dự trữ lớn sẽ làm tăng chi phí dự trữ hàng trongkho, làm tăng rủi ro hàng bị lạc hậu, mất giá vô hình Để thấy được phải hoànthiện hoạt động của tổ chức ở những khâu nào, lĩnh vực nào, toàn bộ hệ thốngcủa đơn vị đó phải được xem xét một cách toàn diện, tổng thể

Trang 33

Tiếp cận hệ thống là then chốt để hiểu vai trò của logistics trong nền kinh

tế, vai trò của logistics đối với một tổ chức, đơn vị và hiểu giao diện củalogistics trong marketing, trong khái niệm tổng chi phí và chiến lược

logistics 1.2.2.1 Vai trò của logistics đối với nền kinh tế quốc dân

Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế Nền kinh tếchỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạtđộng liên tục, nhịp nhàng Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ratrong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi sản phẩm

và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sảnxuất, giúp thoả mãn nhu cầu của mỗi người

Phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lựccạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiệnnay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt,khốc liệt hơn Điều này làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thếcạnh tranh của quốc gia Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụ logisticstoàn cầu có thể tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từ các nướctrên thế giới Chẳng hạn như Chi Lê – một nước mặc dù ở cách xa hầu hết cácthị trường lớn, nhưng lại có vai trò rất lớn trong thị trường lương thực thế giới,cung cấp cá tươi và hoa quả khó bảo quản cho người tiêu dùng

ở Châu á, Châu Âu và Bắc Mỹ Đối với những nước không có khả năng kếtnối, chi phí logistics sẽ rất cao và ngày càng gia tăng, khả năng mất cơ hộicũng rất lớn, nhất là những nước nghèo nằm sâu trong đất liền, mà phần lớn là

ởChâu Phi Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nềnkinh tế Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quảcủa quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngànhcông nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như

Mỹ và Nhật, logistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém

Trang 34

phát triển tỷ lệ này có thể cao hơn 30% Sự phát triển dịch vụ logistics có ýnghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ kháchđược đảm bảo về thời gian và chất lượng Logistics phát triển tốt sẽ mang lạikhả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP GDP năm

2015 ở nước ta chiếm khoảng 2.109 USD Như vậy, chi phí logistics chiếmkhoảng 316,3-421,8 tỷ USD Đây là một khoản tiền rất lớn, nếu chỉ tính riêngkhâu quan trọng nhất trong logistics vận tải, chiếm từ 40-60% thì cũng đã làmột thị trường dịch vụ khổng lồ

1.2.2.2 Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất lớn Logistics giúp giảiquyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ đó cóthể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chuchuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ, logistics giúp giảm chi phí, tăngkhả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Có nhiều doanh nghiệp thành côngnhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không

ít doanh nghiệp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do những quyết định sailàm trong hoạt động logistics, ví dụ: chọn sai vị trí, chọn nguồn tài nguyêncung cấp sai, sự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đaquốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằmtìm được nguồn nhiên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trườngtiêu thụ, môi trường kinh doanh, tốt nhất và thế là logistics toàn cầu hìnhthành và phát triển

Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt

là marketing hỗn hợp (4P - right product, right price, proper promotion, andright place) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm

Trang 35

đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp Sản phẩm/dịch vụ chỉ cóthể làm thoả mãn khách hàng và có giá trị khi chỉ khi nó đến được với kháchhàng đúng thời hạn và địa điểm quy định.

Hiện đối với các doanh nghiệp Việt Nam, chi phí cho giao nhận kho vậncòn chiếm tới 20% giá thành sản phẩm; trong khi tỷ lện này ở các nước pháttriển chỉ chiếm tới 10% giá thành sản phẩm Điều này làm giảm khả năngcạnh tranh của hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanhnghiệp nước ngoài vốn đã rất mạnh

1.2.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu nhữngnăm 1980 Theo Aldington Report (1985): "Doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh là doanh nghiệp có khả sản xuất và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá

cả thấp hơn các đối thủ trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩavới việc đạt được những lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảothu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiêp" Định nghĩa này được nhắclại trong sách trắng về năng lực cạnh tranh của vương quốc Anh

(1994) Năm 1994 Bộ Thương Mại và Công Nghiệp Anh đưa ra định nghĩa:

"Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm,xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhucầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác"

Cho đến nay, khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cáchthống nhất Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, với trình độphát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

- cạnh tranh gay gắt, thì việc đưa khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp vớibối cảnh hiện nay là không đơn giản Tuy nhiên, có thể đưa ra khái niệm nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh của

Trang 36

doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việctiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệuquả các yếu tố sản xuất nhằm đặt lợi ích kinh tế cao và bền vững”

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải chỉ là chỉ tiêu đơn giản nhất

mà mang tính tổng hợp, bao gồm chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định đượccho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics là thể hiện thực lực

và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu về dịch vụ logistics của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo, tác giả đã đưa ra sáu tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics như sau:

1.2.3.1 Thị phần và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp logistics

Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp logistics.Nếu doanh nghiệp logistics có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp logisticskhác thì có nghĩa là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics đó lớnhơn Để tồn tại và có sức cạnh tranh, doanh nghiệp logistics phải chiếm giữmột phần thị trường bất kể nhiều hay ít, bất kể ở phân đoạn thị trường nào.Qua đó, cũng có thể đánh giá được sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệplogistics, ưu thế cũng như các điểm mạnh, điểm yếu tương đối của doanhnghiệp logistics so với các đối thủ cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics cũng thể hiện qua tốc độtăng trưởng thị phần của doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng thị phần cao thểhiện thị phần của doanh nghiệp đó được mở rộng Điều đó chứng tỏ doanhnghiệp logistics đáp ứng tốt được nhu cầu của khách hàng và có thực tế đểthực hiện tốt khối lượng công việc lớn hơn

Trang 37

1.2.3.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ logistics

Năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ logistics là một chỉ tiêu cơ bảncủa doanh nghiệp logistics Năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics thể hiệnqua giá cả hay chi phí logsitcs, chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng đượcnhu cầu của khách hàng

Dịch vụ logsitcs chủ yếu bao gồm: vận chuyển, lưu kho, làm thủ tục hảiquan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mãhiệu, giao hàng cũng như bất kỳ loại hàng hóa nào chất lượng sản phẩmdịch vụ logistis đượch đánh giá bằng độ thỏa dụng của khách hàng Các tiêuchuẩn chủ yếu như: Thời gian giao nhận hàng, độ an toàn của hàng hóa đượcvận chuyển, chi phí vận chuyển hay chính là giá của mỗi chuyến hàng

1.2.3.3 Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp gắn liền với chi phí Nếu quy mô của doanhnghiệp logistics lớn, chi phí quản lý và các chi phí tiện ích (điện, nước…)cũng cao hơn Nếu công việc ít thì giá dịch vụ cũng sẽ cao Tuy nhiên, quy môcủa doanh nghiệp cũng gắn liền với doanh tiếng của doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp logistics có bề dày kinh nghiệm và quy mô lớn thì khách hàng cũng sẽyên tâm tin tưởng vào dịch vụ của doanh nghiệp đó Vấn đề đặt ra là muốnduy trì được quy mô lớn, tạo sự uy tín của doanh nghiệp thì phải đảm bảocông việc đều đặn cho doanh nghiệp Và do đó, quan hệ giữa quy mô doanhnghiệp với các yếu tố khác như chiến lược kinh doanh, khả năng nắm bắtthông tin và trình độ công nghệ cũng như uy tín và sự hợp tác của doanhnghiệp với đại lý của họ

Vị thế tài chính của một doanh nghiệp có tầm quan trọng tối cao trongviệc nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Quy mô doanhnghiệp lớn sẽ có ưu thế hơn về mặt tài chính Đây cũng là một trong nhữngyếu tố đảm bảo khả năng thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp Khả năng

Trang 38

nguồn tài chính mạnh thể hiện qua các tham số: Lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ

lệ vốn vay Doanh nghiệp có lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp đó kinhdoanh hiệu quả, có thị phần lớn hoặc có hiệu quả lợi nhuận lớn trên thị trườngmục tiêu, chứng tỏ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cao

1.2.3.4 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp

Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầuhoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệplogistics phải có khả năng thích ứng cao và đổi mới nhanh chóng Đây là mộttrong những tiêu chí quan trọng nhất tạo ra lợi thế cạnh tranh và chỉ tiêu đánhgiá năng lực cạnh tranh “động” của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.Doanh nghiệp logistics phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường trongnước và quốc tế và sự thay đổi trong môi trường kinh doanh như chính sáchchính phủ, sự thay đổi các đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh điều đó đòihỏi doanh nghiệp logistics phải phản ứng linh hoạt, điều chỉnh linh hoạt vàhiệu quả

1.2.3.5 Khả năng thu hút nguồn nhân lực

Khả năng thu hút nguồn nhân lực không chỉ đảm bảo điều kiện kinhdoanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường mà còn thể hiện nănglực cạnh tranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp Từ kinh nghiệm của cácnước đã có ngành logistics phát triển, để phát triển bền vững, các doanhnghiệp logistics ngoài phải có đội ngũ nhân viên có nghiệp vụ chuyên môncòn phải hiểu biết pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và có trình độ côngnghệ thông tin, ngoại ngữ

1.2.3.6 Khả năng liên kết và hợp tác của các doanh nghiệp dịch vụ logistics

Khả năng liên kết và hợp tác hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa vớiviệc tiêu diệt lẫn nhau mà đặt trong sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh caohơn Do vậy, khả năng liên kết và hợp tác được coi là tiền để cho hoạt động

Trang 39

kinh doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp logistics Các doanh nghiệp logistics Việt namvới quy mô nhỏ có thể cùng đầu tư hoặc thực hiện liên kết kinh doanh, liênkết về vốn, công nghệ để tạo thành các tổ hợp kinh doanh dịch vụ logistics.Nếu thực hiện liên kết và kinh doanh các khâu có hiệu quả thì cơ hội cạnhtranh vẫn cân bằng cho cả doanh nghiệp logistics trong nước và nước ngoài.Thêm vào đó, các doanh nghiệp logistics có quy mô nhỏ có thể chủ động liênkết với các ngân hàng đưa ra gói kết hợp dịch vụ tài chính và logistics đểcung cấp cho các công ty xuất nhập khẩu một dịch vụ trọn gói như hủ tục hảiquan, vận tải, vay thanh toán tiền ngay tại kho và chỉ thông qua một dầu mối.

1.3 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.1 Các yếu tố bên trong của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp logsitcs được đánh giá là thành công khi nắm rõ cácyếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình, hay các tiêuchí để đánh giá như tác giả đã trình bày ở trên và xác định rõ tầm ảnh hưởngcủa nó đối với doanh nghiệp để có các biện pháp khai thác mặt tích cực, hạnchế các ảnh hưởng tiêu cực nhằm xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tốt hơn.Các tiêu chí cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logisticsnhư tác giả đã phân tích ở trên (năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụlogsitcs, khả năng thu hút nguồn nhân lực, năng lực duy trì và nâng cao hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp logsitcs…) cũng chính là các yếu tố nội tạitác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logsitcs

1.3.2 Các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp

Một thể chế chính trị ổn định và pháp luật rõ ràng, ổn định chính trị sẽ là

cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, đảm bảo tính bình đẳng cho các doanh nghiệphoạt động kinh doanh nói chung và các doanh nghiệp logsitcs nói riêng Nếucác doanh nghiệp logistics không kịp thời thích ứng với thể chế và pháp luật

Trang 40

để vạch ra phương hướng kinh doanh phù hợp thì sẽ giảm ngay khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp.

Sự phát triển của hạ tầng cơ sở giao thông vận tải cũng là nhân tố quantrọng tạo sự thay đổi lớn cho ngành logistics Việt Nam Tình trạng đầu tư khôngđồng bộ như có cảng nhưng chưa phát triển đường, chọn vị trí cảng chưa đúnggây lãng phí rất lớn cho nền kinh tế Có một hạ tầng cơ sở giao thông vận tải tốthơn và hiện đại sẽ làm thay đổi bộ mặt đất nước, nền kinh tế và ngành logisticscũng như làm tăng sự cạnh tranh cho các doanh nghiệp logistics

1.4 Bài học kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Singapore và Thái Lan

1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Singapore

Singapore là một đảo quốc nhỏ với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiênthuận lợi Nhận thức được tầm quan trọng của logistics và thấy được ý nghĩasống còn của logistics đối với sự phát triển của ngành dịch vụ hàng hải, vốn làthế mạnh đặc biệt của đất nước, chính phủ Singapore đã có nhiều chính sáchthông thoáng, kịp thời nhằm tạo động lực cho sự phát triển loại hình dịch vụnày Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống quản lý thông qua cácquy định, chính sách, như cải cách thủ tục hải quan theo hướng hiện đại, đơngiản và minh bạch, chính phủ Singapore rất chú trọng đến việc đầu tư vào cơ

sở hạ tầng bao gồm cả hạ tầng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ mạnh mẽ chohoạt động logistics, đặc biệt là mô hình dịch vụ E-logistics Tận dụng vị tríchiến lược trên tuyến đường hàng hải quốc tế, Singapore đã phát triển thànhtrung tâm hàng hải và trở thành cảng trung chuyển lớn vào bậc nhất khu vực

Và điều này đã giúp Singapore trở thành đầu mối quan trọng trong hoạt độnglogistics trên phạm vi toàn thế giới

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w