Cơ thể có mức độ miễn dịch cao, khi mầm bệnh xâm nhập vào sẽ không gây được bệnh, mầm bệnh sẽ bị loại trừ.. Miễn dịch tự nhiên được chia ra làm 2 loại: Miễn dịch tự nhiên tuyệt đối:
Trang 1(Veterinary Immunology )
Trang 2CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM VỀ MIỄN DỊCH VÀ LỊCH
SỬ PHÁT TRIỂN CỦA MIỄN DỊCH HỌC,
PHÂN LOẠI MIỄN DỊCH
Trang 3Khái niệm về miễn dịch
Một cách dễ hiểu có thể nói:
• Miễn dịch là khả năng tự vệ của cơ thể, là khả năng nhận ra và loại trừ các vật lạ ra khỏi cơ thể.
• Miễn dịch có thể có được là do cơ năng bảo vệ cơ thể bao gồm:
- Miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu)
- Miễn dịch thu được (miễn dịch đặc hiệu)
Trang 4• Khả năng miễn dịch của cơ thể liên quan tới các yếu tố:
Cơ năng hoạt động của cơ thể;
Đặc tính của mầm bệnh;
Điều kiện ngoại cảnh
• Vì vậy tính miễn dịch cũng biểu hiện ở những mức độ khác nhau.
Cơ thể có mức độ miễn dịch cao, khi mầm bệnh xâm nhập vào sẽ không gây được bệnh, mầm bệnh sẽ bị loại trừ.
Cơ thể có mức độ miễn dịch thấp: mầm bệnh sẽ gây được bệnh, nhưng biểu hiện bệnh lý chỉ ở một mức độ nhất định.
Cơ thể không có miễn dịch: Khi mầm bệnh xâm nhập sẽ gây được bệnh, bệnh thể hiện với các triệu chứng, bệnh tích điển hình, cơ thể bị đầu độc, phá huỷ dẫn đến tử vong.
Trang 51.2 Miễn dịch học (Immunology)
• Là ngành khoa học nghiên cứu về hệ miễn dịch.
– Nghiên cứu các quy luật, cơ chế bảo vệ của cơ thểtrong quá trình sống
– Nghiên cứu quá trình hoạt động của hệ miễn dịchtrong cơ thể, sự tương tác và điều hoà miễn dịch
– Nghiên cứu những thay đổi của miễn dịch trongtrường hợp sai lạc miễn dịch và bệnh lý miễn dịch
– Nghiên cứu ứng dụng các quy luật của hoạt động miễndịch vào việc chẩn đoán, phòng và trị bệnh
• Miễn dịch có liên quan chặt chẽ tới nhiều môn học khác như: Sinh
lý học, Sinh hoá học, tế bào học, bệnh lý học, vi sinh vật và gen học phân tử
Trang 6II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA MIỄN DỊCH HỌC
Từ cổ xưa, con người đã biết ứng dụng miễn dịch trong việc phòng chống một số bệnh truyền nhiễm.
(2000 năm trước Công nguyên, người Trung Quốc, Ân Độ đã biết lấy vẩy đậu mùa phơi khô, tán nhỏ rồi thổi vào mũi người lành để tạo miễn dịch).
Miễn dịch học chỉ thực sự phát triển vào những năm cuối của thế kỷ
18 và suốt cả thế kỷ 19.
Năm 1798, Jenner một thầy thuốc nông thôn ở vùng
Gloucestershize (Anh) đã dùng virus đậu bò như là vacxin để phòng bệnh đậu mùa cho người.
Với phát minh này Jenner đã ghi một mốc quan trọng trong sự phát
triển của miễn dịch học, từ đó miễn dịch học bắt đầu có cơ sở khoa học.
Trang 7ĐẬU MÙA
Trang 8 Miễn dịch học là môn học tương đối trẻ Lịch sử của miễndịch học làm 5 thời kỳ lớn:
Thời kỳ của vacxin:
- Pasteur trong giai đoạn 1879 - 1881 chế tạo thành công 3 loại vacxin giảm độc lực:
+ Vacxin chống bệnh tụ huyết trùng gà
+ Vacxin chống bệnh nhiệt thán
+ Vacxin chống bệnh dại (Rabies).
- Năm 1888, Roux và Yersin tạo được vacxin chống độc tố bạch hầu.
Trang 9 Thời kỳ huyết thanh học
Năm 1890: Behring và Kitasato đã nghiên cứu về liệu pháp huyết thanh (serum therapy) đối với bệnh uốn ván
1896: Gruber phát hiện ra phản ứng ngưng kết
1897: Kraus phát hiện ra phản ứng kết tủa
1898: Bordet phát hiện ra bổ thể trong huyết thanh
(Bổ thể là một nhóm protein huyết thanh Sự kết hợp của
bổ thể và kháng thể có vai trò rất quan trọng trong việc loại trừ mầm bệnh)
Trang 10 Thời kỳ hoá miễn dịch:
Sử dụng kỹ thuật hoá học vào việc phân tích kháng nguyên, kháng thể.
1917: Landsteiner phát hiện ra những chất có trọng lượng phân tử nhỏ (Hapten) nhưng cũng có tính kháng nguyên thúc đẩy hoá miễn dịch phát triển mạnh.
1938: Kabat dùng điện di để phân tách các thành phần của huyết thanh xác định kháng thể nằm ở vùng globulin.
1942: Coons phát triển kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
1958: Porter và Edelman mô tả cấu trúc phân tử của globulin miễn dịch (Ig).
Trang 11 Thời kỳ của miễn dịch tế bào:
1884: Metnhicop phát hiện ra hiện tượng thực bào
1890: Koch giải thích hiện tượng "Koch" và phản ứng quá mẫn cảm trong đó tế bào dạng lympho tham gia là chủ yếu.0913081492
(Nhà bác học Koch tiêm vào da một chuột lang bình thường môi trường cấy trực khuẩn lao và trong những ngày sau ở nơi tiêm , không thấy gì khác thường Tới ngày 10 – 14 chỗ viêm nổi cục, loét nhanh, kéo dài, hạch trong vùng sưng lên, vi khuẩn lan tràn theo đường bạch huyết và làm cho chuột chết Thí nghiệm tương tự được thực hiện ở một chuột lang đã gây lao trước đó 4 – 6 tuần, chuột không chết)
1941: Coons bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang đã phát hiện ra kháng nguyên và kháng thể.
1959: Gowanh phát hiện ra vai trò của lympho bào trong đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Trang 12 Thời kỳ điều hoà miễn dịch và sự hợp tỏc giữa cỏc tế bào lympho
T và B.
• Năm 1962: Warner chứng minh vài trò của túi Fabricius và tuyến
ức trong hoạt động miễn dịch.
• Năm 1968: Good và Cooper nêu giả thuyết nói rằng phụ trách 2 hệ miễn dịch là do 2 cơ quan lympho khác nhau:
- Tuyến ức điều khiển hoạt động miễn dịch tế bào
- Túi Fabricius điều khiển miễn dịch dịch thể.
• Năm 1969: Roitl nghiên cứu chức năng của các nhóm tế bào lympho và đặt tên: nhóm tế bào T và nhóm tế bào B Từ đó mở ra nhiều hiểu biết mới về tế bào trong phản ứng miễn dịch
Trang 13III PHÂN LOẠI MIỄN DỊCH
1 Dựa vào tính chất của miễn dịch có thể chia miễn dịch thành các loại sau:
a Miễn dịch tự nhiên:
Miễn dịch tự nhiên hay còn gọi là miễn dịch bẩm sinh là đặc tính không mắc phải một bệnh hay một số bệnh nào đó do một giống
vi sinh vật nhất định gây ra.
Miễn dịch này mang tính chất di truyền từ đời này sang đời khác.
Ví dụ: - Người không mắc bệnh dịch tả lợn
- Ngựa không mắc bệnh dịch tả trâu bò
- Ngựa không mắc lở mồm long móng
Trang 14 Miễn dịch tự nhiên được chia ra làm 2 loại:
Miễn dịch tự nhiên tuyệt đối:
Là loại miễn dịch trong bất cứ điều kiện nào khả năng miễn dịch của cơ thể cũng không bị phá vỡ, thậm chí đưa vào cơ thể một lượng lớn mầm bệnh cơ thể cũng không mắc bệnh.
Ví dụ:
Ngựa không mắc bệnh dịch tả trâu bò.
Trang 15 Miễn dịch tự nhiên tương đối:
Là loại miễn dịch trong điều kiện nhất định cơ thểkhông cảm thụ với bệnh
Nhưng trong điều kiện khác tính miễn dịch bị phá vỡ,
cơ thể lại cảm nhiễm với bệnh
- Do sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm
- Do thay đổi điều kiện sống: nhiệt độ, độ ẩm
Ví dụ:
Gà không mắc bệnh nhiệt thán, nhưng nếu ngâm chân gàvào nước đá lạnh thân nhiệt giảm gà mẫn cảm với
vi khuẩn
Trang 16b Miễn dịch tiếp thu:
Là miễn dịch thu được trong quá trình sống sau khi:
- Tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh qua khỏi
- Hoặc sau khi được tiêm vacxin
- Sau khi tiêm huyết thanh miễn dịch.
- Sau khi bú sữa đầu
Miễn dịch tiếp thu được chia ra:
+ Miễn dịch tiếp thu chủ động
+ Miễn dịch tiếp thu bị động
Trang 17 Miễn dịch tiếp thu chủ động
Miễn dịch do hệ thống miễn dịch của cơ thể trực tiếp sinh ra sau khi tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh hoặc tiêm vacxin.
Miễn dịch tiếp thu chủ động có 2 loại:
• Miễn dịch tiếp thu chủ động tự nhiên:
Là loại miễn dịch cơ thể có được sau khi tình cờ tiếp xúc với mầm bệnh bị bệnh rồi qua khỏi.
Ví dụ:
- Gà bị mắc Newcastle qua khỏi có miễn dịch
- Người bị mắc sởi qua khỏi có miễn dịch
Ngoài ra, trong quá trình sống cơ thể có thể nhiều lần bị nhiễm một lượng nhỏ tác nhân gây bệnh (như bạch hầu, ho gà ) nên dần dần cũng tạo được miễn dịch với bệnh mặc dù không thấy có triệu chứng mắc bệnh.
Trang 18• Miễn dịch tiếp thu chủ động nhân tạo:
Là loại miễn dịch cơ thể có được do con người chủ động đưa vacxin vào cơ thể, cơ thể chủ động tạo ra các yếu tố miễn dịch.
Đây là hình thức "tập dượt" cho cơ thể để cơ thể có sức chống đỡ lại yếu tố gây bệnh khi chúng xâm nhập.
Ứng dụng:
o Dùng vacxin phòng bệnh cho người, gia súc.
o Đây là biện pháp căn bản và chủ động để khống chế tiến tới thanh toán bệnh truyền nhiễm.
Trang 19 Miễn dịch tiếp thu bị động
• Trạng thái miễn dịch mà cơ thể có được không phải do cơ thể tạo ra mà được cung cấp từ bên ngoài vào.
• Có hai loại:
Miễn dịch tiếp thu bị động tự nhiên
Là loại miễn dịch cơ thể có được do kháng thể đặc hiệu từ mẹ truyền sang cho con một cách tự nhiên.
Trang 20 Miễn dịch tiếp thu bị động nhân tạo:
Là loại miễn dịch cơ thể có được sau khi con người chủ động đưa vào cơ thể một lượng kháng thể đặc hiệu.
Kháng thể đặc hiệu này có sẵn trong máu của động vật mắc bệnh qua khỏi hoặc của con vật được tiêm vacxin.
Người ta lấy máu của những cơ thể động vật này chắt lấy huyết thanh Trong huyết thanh đó có kháng thể nên gọi là kháng huyết thanh.
Dùng kháng huyết thanh để tạo miễn dịch phòng bệnh hoặc chữa bệnh.
Miễn dịch này xuất hiện ngay sau khi tiêm kháng huyết thanh vào
Trang 21thể đặc hiệu tạo miễn dịch.
• Trạng thái miễn dịch xuất
hiện muộn sau khi tiêm
• Miễn dịch xuất hiện ngay sau khi tiêm kháng huyết thanh.
• Miễn dịch ngắn không quá 1 tuần.
• Liều kháng huyết thanh nhiều từ 25- 250ml.
• Chủ yếu để chưa bệnh.
• Sau khi tiêm kháng huyết thanh
có thể có hiện tượng choáng, quá mẫn.
Trang 22MDTN tuyệt
đối
MDTN tương đối
MDTT chủ động
MDTTBĐ
tự nhiên
MDTTBĐ nhân tạo (KHT)
Trang 232 Căn cứ vào đối tƣợng miễn dịch:
Miễn dịch chống vi khuẩn
Miễn dịch của cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh là vi khuẩn.
Miễn dịch chống vi khuẩn thường không mạnh, không bền
Để tạo được miễn dịch cao thì vi khuẩn thường tiếp xúc với cơ thể 2 - 3 lần.
Miễn dịch chống virus
Miễn dịch của cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh là virus.
Miễn dịch chống virus thường mạnh, dài hơn miễn dịch chống vi khuẩn.
Miễn dịch chống virus thường xảy ra sớm: 8 - 24 giờ sau khi virus xâm nhập vào cơ thể.
Miễn dịch kéo dài thậm trí suốt đời.
Trang 243 Dựa vào sự tồn tại của mầm bệnh khi có miễn dịch, miễn dịch
chia thành các loại sau
Miễn dịch vô khuẩn
- Khi cơ thể có miễn dịch, thì mầm bệnh không tồn tại trong cơ thể, mầm bệnh bị cơ thể tiêu diệt hoặc bị đào thải ra bên ngoài.
- Đa số miễn dịch của sinh vật ở dạng này.
Miễn dịch có khuẩn
- Khi mầm bệnh tồn tại trong cơ thể, cơ thể có miễn dịch Mầm bệnh mất đi tính miễn dịch cũng không còn.
Ví dụ: Bệnh lao
Miễn dịch mang khuẩn
- Là bước đầu của miễn dịch vô khuẩn Miễn dịch được hình thành khi mầm bệnh vẫn tồn tại trong cơ thể một thời gian và mầm bệnh dần được thải ra ngoài.
Trang 254 Dựa vào tính đặc hiệu hay không đặc hiệu của miễn dịch
Miễn dịch không đặc hiệu
- Là khả năng bảo vệ tự nhiên của cơ thể chống lại tác động có hại của bất kỳ một tác nhân gây hại nào.
- Kháng thể có tính đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích cơ thể sản sinh ra chúng
Trang 265 Dựa vào cơ chế, thành phần tham gia đáp ứng miễn dịch:
Miễn dịch dịch thể
• Vai trò chủ yếu là do các tế bào lympho B đảm nhận
• Tế bào Lympho B sau khi được hoạt hoá bởi kháng nguyên sẽ biệt hoá thành tương bào (plasma) sản xuất kháng thể dịch thể đặc hiệu
globulin miễn dịch (Ig).
• Chính Ig đảm nhận chức năng miễn dịch dịch thể Các kháng thể này tồn tại trong máu, dịch tiết.
Miễn dịch qua trung gian tế bào
• Vai trò chủ yếu là do các tế bào lympho T đảm nhận.
• Gọi là trung gian bởi vì thông tin kháng nguyên, ngoài sự tiếp xúc với tế bào lympho T còn có sự truyền tải gián tiếp qua nhiều tế bào
và các hoạt chất hoá học trung gian mới đến tế bào nhận cuối cùng
là tế bào lympho T để trở thành kháng thể tế bào.
Trang 27(Veterinary Immunology )
Trang 28CHƯƠNG 2 MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN KHÔNG ĐẶC HIỆU
( Natural Nonspecific Immunity )
Trang 29 Miễn dịch tự nhiên không đặc hiệu là khả năng bảo vệ tự nhiên của
cơ thể chống lại tác động có hại của bất kỳ một tác nhân gây hại nào.
Trong cuộc sống, cơ thể sinh vật luôn bị đe doạ bởi các tác nhân gây bệnh Để bảo vệ mỡnh, cơ thể có nhiều cách khác nhau để chống lại những tác nhân có hại đó.
Ở động vật có xương sống, khi tác nhân gây bệnh xâm nhập, cơ thể bảo vệ mỡnh trước hết bằng:
Cơ chế miễn dịch không đặc hiệu nhằm:
+ Ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể + Làm giảm số lượng, khả năng gây nhiễm
Miễn dịch này có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng.
- Sau đó bằng miễn dịch đặc hiệu với vai trò của các kháng thể đặc hiệu các tác nhân gây bệnh bị loại trừ.
Miễn dịch không đặc hiệu bao gồm các yếu tố bảo vệ như sau:
Trang 30 Lớp tế bào thượng bi của da luôn được tái sinh, bong
ra đổi mới tạo ra một cản trở vật lý khá vững chắc trước sự xâm nhập của mầm bệnh.
Trang 31Sơ đồ cấu trúc của da
Trang 32Da bị nấm
Trang 33Da bị đậu mùa
Trang 34Da trẻ và da già
Trang 361.2 Niêm mạc
Tuy chỉ có 1 lớp tế bào nhưng có tác dụng ngăn cản vi sinh vật xâm nhập, vì:
Tính đàn hồi cao hơn da
Niêm mạc có lớp nhầy bao phủ, lớp nhầy này do cáctuyến dưới niêm mạc tiết ra, tạo ra một lớp màng bảo vệlàm cho vi sinh vật và các vật lạ không bám thẳng vàođược tế bào không xâm nhập được vào bên trong
Một số niêm mạc miệng, mắt đường tiết niệu luôn đượcrửa sạch bằng dịch tiết loãng: nước bọt, nước mắt, nướctiểu
Niêm mạc đường hô hấp có các vi nhung mao luônchuyển động hướng ra ngoài có tác dụng cản bụi có mang
vi sinh vật và vật lạ không cho vào sâu trong phế nang
Phản xạ ho, hắt hơi đẩy vi sinh vật ra khỏi cơ thể
Trang 372 Hàng rào hoá học
Trên da có độ toan nhờ axit lactic, axit béo của mồ hôi, tuyến mỡ dưới da vi sinh vật tồn tại không được lâu.
Ví dụ: Đặt vi khuẩn Salmonella enteritidis lên da lành, sạch, sau
20 phút vi khuẩn bị diệt Trong khi ở da bẩn số lượng vi khuẩn còn tới 90%.
Dịch tiết của các tuyến: nước mắt, nước bọt, nước mũi, sữa có
chứa nhiều Lysozim, một enzym neuraminidaza có tác dụng phá
huỷ vỏ của một số loại vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn gram dương.
Một khi vi sinh vật vượt qua được hàng rào da, niêm mạc sẽ gặp phải hàng rào hoá học bên trong cơ thể Đó là những chất tiết của nhiều loại tế bào, sản phẩm chuyển hoá của nhiều cơ quan có trong huyết thanh, dịch bạch huyết, dịch gian bào như:
Trang 382.1 Bổ thể (Complement viết tắt: C')
Bổ thể là một nhóm protein huyết thanh
Sự kết hợp của bổ thể và kháng thể có vai trò rất quan trọng trong việc loại trừ mầm bệnh.
Bổ thể được kích hoạt ngay khi mầm bệnh vừa xâm nhập vào cơ thể và không có tính đặc hiệu của kháng nguyên nên
bổ thể được xem như là thành phần thuộc hệ thống miễn dịch bẩm sinh không đặc hiệu.
Ngoài ra, kháng thể cũng có khả năng hoạt hóa một vài protein của bổ thể.
Trang 39 Các protein của bổ thể được sinh ra ở các tế bào gan và
đại thực bào
Bổ thể tồn tại trong hệ thống tuần hoàn như nhữngphân tử không hoạt động Một vài protein của bổ thể thì ởdạng tiền enzyme (Pro–enzyme).
Khi được hoạt hóa, các phân tử này trở thành các
enzyme protease
Các enzyme này sẽ cắt cầu nối peptide của nhữngprotein bổ thể khác để hoạt hóa những protein này
Một protease có thể hoạt hóa được rất nhiều phân tử
protein Quá trình hoạt hóa này sẽ được khuếch đại mộtcách nhanh chóng để tạo nên hàng triệu phân tử hoạtđộng
Trang 40 Những protein thành phần của bổ thể được đánh số từ
C1 đến C9 theo trình tự mà chúng tham gia phản ứng
Trong suốt quá trình hoạt hóa, một vài thành phần cấutrúc bổ thể được phân cắt làm 2 phần:
Phần lớn hơn của phân tử được gọi là b (binding)
thường gắn kết với mầm bệnh
Phần nhỏ hơn gọi là a (activated) có thể phân tán đi (trừ C2: phần lớn là C2 a và phần nhỏ là C2 b , vì vậy ngày nay để tránh nhầm lẫn, một số tài liệu kí hiệu phần lớn là C2b và phần nhỏ là C2a).
Trang 41 Bổ thể được hoạt hoá chủ yếu theo 2 con đường:
Con đường cũ/cổ điển (Classical pathway) đây là
phương thức hoạt hóa bổ thể được tìm ra trước
Tác nhân kích thích chủ yếu là phức hợp của KN – KT
Kháng thể này thuộc lớp IgG, IgM
Các kháng thể này trong cấu trúc ở phần Fc có thụ thể(Receptor) với bổ thể Khi KN+ KT sẽ hoạt hóa bổ thể,
bổ thể kết hợp với phức hợp này và góp phần phá hủyKN