1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý nợ công ở việt nam và đề xuất nhằm quản lý nợ công hiệu quả hơn

10 388 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 269,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, nợ công của Việt Nam vẫn đang trong giới hạn an toàn, phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất cố định và ưu đãi.. Theo Bộ Tài chính hiện các chỉ

Trang 1

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM QUẢN LÝ NỢ CÔNG

HIỆU QUẢ HƠN

Giáo viên hướng dẫn:

TS.NGUYỄN HỮU ĐẶNG

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN NHÂN

MSSV : M000251 LỚP : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG KHÓA 19

ĐIỆN THOẠI : 0939266177 MÔN : TÀI CHÍNH CÔNG

Trang 2

PHẦN 1:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

Trang 3

đầu tư phát triển và cân đối ngân sách nhà nước Hiện tại, nợ công của Việt Nam vẫn đang trong giới hạn an toàn, phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ

hạn dài, lãi suất cố định và ưu đãi

Theo tờ báo nổi tiếng Economist, đồng hồ tổng nợ toàn cầu (Current Global Public Debt) ghi nhận mỗi người Việt Nam hiện tại đang gánh số nợ 776.89 USD (Cập nhật ngày 01/11/2012) So với thế giới, nợ công của Việt Nam đang ở mức trung bình cả về giá trị tuyệt đối, bình quân đầu người, và cả tỷ lệ so với GDP

Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới Theo số liệu mà Economist cung cấp, tổng mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 69,51 Tỷ USD, tương đương 49,7% GDP, tăng 12,6% so với năm 2011 Theo dự báo, đến năm 2013, nợ công của Việt Nam tăng lên mức 77,59 tỷ USD,

tương đương tăng 11,6% Khi đó, nợ công bình quân đầu người củ Việt Nam sẽ tăng

lên mức hơn 860 USD, nhưng tỉ lệ nợ công/GDP sẽ giảm còn 48,4%

Theo Bộ Tài chính hiện các chỉ số nợ của Việt Nam đang ở mức an toàn và nợ

công đang được quản lý chặt chẽ theo quy định của Luật Quản lý nợ công, các khoản

nợ trong nước và nước ngoài đều được thanh toán đầy đủ, không có nợ xấu Hàng

năm ngân sách nhà nước bố trí trả nợ từ 14 -16% tổng số thu ngân sách (giới hạn

cảnh báo là dưới 30%), bằng khoảng 4,5% xuất khẩu (giới hạn cảnh báo là dưới 15%) So với các nước đang phát triển có cùng hệ số tín nhiệm thì chỉ số nợ công và

nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức trung bình

Trang 4

Bảng: Số liệu nợ công của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012

Tuy nhiên, để đưa ra một chỉ số giới hạn an toàn cho vấn đề nợ công của một quốc gia là khó khăn và nhiều khi không thực hiện được Mỗi quốc gia có một đặc thù

kinh tế cho riêng mình, nếu chỉ xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ công tính trên GDP để xác minh mức độ an toàn là chưa đủ, chưa phản ánh dúng thực chất vấn đề

Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân trong buổi hội thảo kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa

13 đặt cảu hỏi : “Nợ công ở Việt Nam – An toàn hay báo động?” Bội chi ngân sách

kéo dài trong nhiều năm, dẫn đến nợ công và nợ nước ngoài đã đến mức báo động chứ không phải ở ngưỡng an toàn, trong phạm vi an toàn Đại biểu nói : “Tôi cho rằng nợ công Việt Nam đang ở mức báo động” Ông Ngân quả quyết và phân tích,

theo ước tính, đến cuối 2011 là 54,5% GDP, nợ nước ngoài là 41,5%GDP, tương đương 50 tỷ USD Nếu so với dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay (chỉ khoảng

14 - 15 tỷ USD) thì số nợ nước ngoài gấp tới hơn 3 lần So sánh với các nước trong khu vực thì thấy, hiện Thái Lan nợ công (gồm nợ nước ngoài, nợ Chính phủ, nợ doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh) chỉ có 44,1%GDP thôi trong khi dự trữ ngoại hối của họ là 176 tỷ USD Indonesia, Malaysia nợ công chỉ có 26,9% GDP,

Philippines 47,3% “Nhìn họ để thấy nợ của mình lên tới 54,5%GDP là ở mức nguy

hiểm rồi Với lại, nợ công, nợ nước ngoài của các nước là thặng dư cán cân thương mại, là xuất siêu có dư để trả nợ nước ngoài, còn ta thì ngược lại, năm nào cũng nhập siêu cao, lấy đâu để trả nợ nước ngoài”, ông Ngân lo lắng

Nợ công và tỷ lệ nợ công tính trên GDP của Việt Nam không phải là cao Nếu nói

về khả năng trả nợ thì hàng năm Việt Nam chỉ phải trả nợ nước ngoài cả gốc lẫn lãi khoảng 1 tỷ USD, đây là số tiền không lớn để chúng ta trả nợ nước ngoài (chỉ tính riêng việc chúng ta xuất khẩu dầu thô đủ khả năng để trả nợ gốc và lãi nợ nước ngoài

hàng năm) Các món vay nợ nước ngoài của Việt Nam phần lớn là vay nợ dài hạn

Trang 5

chi cuối năm luôn vượt xa Nghị quyết của Quốc hội về chi ngân sách được công bố

đầu năm ; hai là, việc phân bổ nguồn vốn dễ bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu chính trị

nhiều hơn mục tiêu kinh tế (ví dụ : chi phí quốc phòng – an ninh, chi trợ cấp xã hội, chi trả lương hưu cho công chức, chi bù lãi suất ngân hàng cho các dự án công ích, chi lễ tân nhà nước hay các lễ kỷ niệm,…); ba là, thời gian thực hiện dự án kéo dài Hiếm có dự án công nào hoàn thành đúng tiến độ Hậu quả là tiền lãi phải trả trên nợ

vay tăng ; bốn là, hiệu quả sử dụng vốn thấp (thường thấp hơn các dự án vay vốn thương mại của khu vực tư) ; năm là, trách nhiệm người đi vay không cao vì những người tham gia quyết định vay nợ không hẳn là những người sẽ phải lo trả nợ nhất là khi người vay không có cơ hội tái đắc cử ; và sáu là, Chính phủ có khả năng che đậy

các vấn đề bất cập của tình hình nợ công trong một thời gian khá dài (có thể tới 10

năm) nên việc điều chỉnh chính sách khắc phục không được kịp thời

Để không bị cuốn vào khủng hoảng nợ công, các nước đang phát triển cần tránh :

- Vay nợ quá nhiều, nhất là vay nợ nước ngoài Tốt nhất là không để tỉ lệ nợ

nước ngoài vượt quá 50% tổng số nợ công

- Vay nợ mà không rõ hay không chắc khả năng trả nợ Đây là nguyên nhân khiến các Chính phủ phải vay nợ mới để trả nợ cũ để rồi nợ ngày càng chồng chất với lãi suất ngày càng cao mà không tạo ra giá trị gia tăng mới

- Chấp nhận lãi suất vay nợ công cao hơn lãi suất vay thương mại

- Coi trọng mục tiêu chính trị ngắn hạn hơn hiệu quả kinh tế dài hạn

- Ban hành các quyết định vay nợ trong một phạm vi hẹp những người có quyền lực mà thiếu phản biện và có trách nhiệm cá nhân đầy đủ

Trang 6

PHẦN 2:

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

NHẰM QUẢN LÝ HIỆU QUẢ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

Trang 7

Xây dựng môi trường tài chính hiệu quả

- Công khai, minh bạch về tài chính

Đây là một nguyên tắc căn bản hàng đầu và phổ biến trên thế giới trong quản trị

công nói chung, quản trị tài khóa và đặc biệt là trong quản trị nợ công Theo hướng dẫn quản lý nợ công của IMF (2003) cũng như Cẩm nang minh bạch tài khóa (2007), cần đặc biệt nhấn mạnh một số yêu cầu cơ bản như sau:

Thứ nhất, xác định rõ vai trò và trách nhiệm tài khóa của các cơ quan của Chính

phủ Đây là yêu cầu thiết yếu để đảm bảo trách nhiệm giải trình trong việc hoạch

định và thực thi chính sách tài khóa

Thứ hai, khu vực chính phủ phải được tách bạch rõ ràng ra khỏi phần còn lại của

khu vực công và phần còn lại của nền kinh tế; chính sách và vai trò quản lý của khu vực công phải rõ ràng và được công bố công khai

Thứ ba, về quản lý nợ, pháp luật quản lý nợ nên giao trách nhiệm rõ ràng cho một

cá nhân, thường là Bộ trưởng Tài chính trong việc: Lựa chọn các công cụ cần thiết

cho việc vay nợ; xây dựng chiến lược quản lý nợ; xác định giới hạn nợ (nếu luật

không quy định rõ) - thường là dựa vào chiến lược nợ bền vững; thiết lập và kiểm soát cơ quan/tổ chức có trách nhiệm quản lý nợ (thuộc quyền hoặc nằm ngoài) và

thiết lập quy chế quản lý nợ

Thứ tư, luật phải quy định cụ thể tất cả các khoản chính phủ bảo lãnh Luật cũng

phải xác định rõ vai trò của Ngân hàng Trung ương sao cho việc phát hành quỹ chứng khoán không bị lẫn với các biện pháp nghiệp vụ thuộc chính sách tiền tệ Tất

cả các khoản vay phải được ghi có tại một tài khoản ngân hàng dưới sự kiểm tra của

Bộ Tài chính, và nghĩa vụ nợ và các điều khoản vay nợ phải được công bố đầy đủ cho công chúng Minh bạch tài khóa đòi hỏi cơ quan lập pháp phải xác định rõ các

Trang 8

yêu cầu trong báo cáo hàng năm về dư nợ và dòng chu chuyển nợ, kể cả số liệu về bảo lãnh nợ của chính phủ trình cơ quan lập pháp và công khai cho công chúng Ngoài ra, cần đảm bảo rằng thông tin về nợ công phải bao quát cả quá khứ, hiện tại và dự tính cho tương lai Điều này hết sức cần thiết vì thông tin công khai về nợ còn nhằm tăng cường khả năng can thiệp và phòng ngừa tình huống xấu xảy ra

- Cải cách hành chính

Việc cải cách hành chính nhà nước cần được thực hiện trên tất cả các nội dung: Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, Trong đó, cần tăng cường cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân; thực hiện tốt việc tiếp nhận ý kiến, phản hồi của

người dân Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cần phải được đơn giản hóa và thông tin đầy đủ trên cổng thông tin điện tử của bộ, địa phương để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, cơ quan, tổ chức nhằm tiết kiệm chi phí, đồng thời nâng cao trách nhiệm

của cán bộ, công chức trong cải cách thủ tục hành chính Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó có yếu tố hết sức quan trọng là cải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ

sự nghiệp công

- Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán và hoạt động ngân hàng, cụ thể :

+ Về hoạt động kiểm toán : Tiến hành kiểm toán độc lập các hoạt động quản lý nợ

hàng năm

+ Về hoạt động ngân hàng: Đặc biệt tập trung vào nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng Cần phải hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương thảo hợp đồng

và văn hoá kinh doanh Đồng thời phải thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng và

kiên quyết loại bỏ, thuyên chuyển sang bộ phận khác những cán bộ yếu về tư cách

đạo đức, thiếu trung thực, những cán bộ tín dụng thiếu kiến thức chuyên môn nghiệp

vụ

Thay đổi cơ cấu nợ công

Việt Nam thực sự thay đổi cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước nhiều hơn nữa Để thay đổi cơ cấu nợ công, Chính phủ Việt Nam nên phát hành trái

Trang 9

trữ quốc gia Thực tế xảy ra trên thế giới cho thấy những nước rơi vào khủng hoảng

tài chính đều có tỷ lệ nợ trên GDP khá thấp Ví dụ: Argentina năm 2001, tỷ lệ đó chỉ

ở mức 45%; Ukraine (2007) chỉ 13%; Thái Lan (1996) chỉ có 15%; Venezuela

(1981) chỉ có 15%; Rumania (2007) chỉ có 20%

Sử dụng hiệu quả nợ công

Để sử dụng hiệu quả nợ công, cần phải chú trọng vào các vấn đề sau:

- Chi tiêu công phải minh bạch, hợp lý Vay nợ công phải được chi cho đầu tư phát triển thay vì chi tiêu dùng chính phủ Chỉ những dự án thực sự đem lại hiệu quả kinh tế mới được xét duyệt và đầu tư thực hiện Tăng cường thanh tra, giám sát quá trình thực hiện dự án đầu tư; tránh tình trạng tham nhũng, quan liêu

- Đấu thầu các dự án một cách công khai, minh bạch nhằm chọn lựa được những nhà thầu có năng lực nhất Để doanh nghiệp ngoài quốc doanh chịu trách nhiệm thầu các dự án đầu tư nhiều hơn, thay cho các doanh nghiệp nhà nước

- Tập huấn và nâng cao trình độ quản lý cũng như trình độ nghiệp vụ cho các cán

bộ trong các doanh nghiệp nhà nước

Trang 10

Tài liệu tham khảo :

www.economist.com

cận đánh giá hiệu quả quản lý nợ công”, Tạp chí Kinh tế phát triển số tháng 9/2009.

Ngày đăng: 14/09/2015, 12:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w