Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế dịch vụ hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về kinh tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHU THANH NGÂN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
Ở BA VÌ - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHU THANH NGÂN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
Ở BA VÌ - HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ
Chu Thanh Ngân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1 Kinh tế du lịch 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 9
1.1.2 Các loại hình du lịch 22
1.1.3 Vai trò của kinh tế du lịch 26
1.2 Phát triển kinh tế du lịch 33
1.2.1 Khái niệm và nội dung phát triển kinh tế du lịch 33
1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch 50
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trên địa bàn Hà Nội về phát triển kinh tế du lịch 54
1.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Sơn Tây - Hà Nội 54
1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Mỹ Đức - Hà Nội 57
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 60
2.1 Tiềm năng và quan điểm phát triển kinh tế du lịch của huyện Ba Vì 60
2.1.1 Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì 60
2.1.2 Quan điểm phát triển kinh tế du lịch Ba Vì 66
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì giai đoạn 2008 - nay 67
2.2.1 Hệ thống tổ chức kinh doanh du lịch 67
2.2.2 Công tác thăm dò, nghiên cứu, phát hiện sản phẩm du lịch 72
2.2.4 Các loại hình du lịch 77
2.3 Đánh giá chung về phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội 83
2.3.1 Những kết quả đạt được 83
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 90
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH HUYỆN BA VÌ 101
3.1 Bối cảnh mới và phương hướng đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch của Ba Vì - Hà Nội 101
Trang 53.1.1 Bối cảnh mới ảnh hưởng đến phát triển du lịch 101
3.1.2 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì 106
3.2 Giải pháp và tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội 111
3.2.1 Giải pháp phát triển kinh tế du lịch đối với Ba Vì 111
3.2.2 Tổ chức thực hiện 118
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 2.1 Các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn
huyện Ba Vì – Hà Nội
67
2 2.2 Cơ sở vật chất các đơn vị du lịch huyện Ba Vì 69
3 2.3 Hiện trạng sử dụng đất du lịch huyện Ba Vì 73
4 2.4 Số vốn đầu tư của các công ty hoạt động kinh
doanh du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì
75
5 2.5 Số lượng khách sử dụng loại hình du lịch nghỉ
ngơi, giải trí tại Ba Vì
76
6 2.6 Số lượng khách tham gia các loại hình du lịch
thể thao tại các khu du lịch ở Ba Vì
10 2.10 Doanh thu của du lịch Ba Vì từ 2009-2012 83
11 2.11 Nộp ngân sách Nhà nước của du lịch Ba Vì từ
2006-2012
86
DANH MỤC HÌNH
1 1.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động
du lịch
11
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người Ngày nay, du lịch đóng vai trò như sứ giả của hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các dân tộc Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế dịch vụ hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà lĩnh vực này mang lại Trong cơ cấu ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ thì dịch
vụ ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam là một quốc gia có nhiều di tích lịch sử, thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh… rất phù hợp để phát triển kinh tế du lịch Trong những năm qua, Việt Nam coi phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời xác định phát triển du lịch thực
sự là một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở “đa dạng hóa sản phẩm du lịch
và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế” [5,
tr57]
Nằm trong xu thế chung của cả nước, Ba Vì - Hà Nội đã có nhiều giải pháp phát triển kinh tế du lịch, thu hút ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước đến địa phương tham quan các danh lam thắng cảnh, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí… Các khu du lịch, khu sinh thái Ba Vì từ lâu đã là điểm đến của nhiều du khách, không chỉ khách trong nước mà còn cả khách quốc tế Vì vậy, kinh tế du lịch Ba Vì đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một
bộ phận lớn lực lượng lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; đóng góp tỉ trọng ngày càng lớn trong GDP Kinh tế du lịch Ba Vì không chỉ có những đóng góp đối
Trang 8với sự phát triển của Ba Vì, mà còn là sự đóng góp đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội và của đất nước
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-HU của Huyện ủy Ba Vì về phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2011, du lịch Ba Vì đã có những bước phát triển tích cực: Doanh thu hàng năm tăng bình quân 33,6%, lượt khách tăng bình quân 20%/năm, đời sống của cán bộ, nhân viên các khu du lịch ngày càng được nâng lên, thu hút hàng ngàn lao động hàng năm, giúp tiêu thụ các mặt hàng nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ, giúp phục hồi và phát triển các nghề truyền thống, góp phần làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 - 2015
và Nghị số 09/NQ-HU, ngày 31/3/2011 của Huyện ủy Ba Vì đã xác định rõ mục tiêu: Phát triển dịch vụ du lịch Ba Vì trở thành ngành kinh tế trọng điểm của huyện, đến năm 2015 đạt 2,5 - 2,6 triệu lượt khách du lịch, doanh thu đạt
200 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định tại chỗ cho 3.500 lao động, thu hút trên 10.000 lao động ở các địa phương lận cận đến kinh doanh trong mùa du lịch tại các khu du lịch của huyện
Để thực hiện mục tiêu trên, cần có những đánh giá cụ thể về tiềm năng, hiện trạng phát triển kinh tế du lịch tại địa phương, từ đó xác định hướng phát
triển và giải pháp cho sự phát triển ngành kinh tế này
Vậy, thực trạng kinh tế du lịch ở Ba Vì ra sao? Giải pháp nào để phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương cho việc phát triển kinh tế du lịch ở
ba Vì, Hà Nội là câu hỏi cần được quan tâm giải đáp Chính vì lẽ đó, tác giả
lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên
Trang 9* Nhóm công trình nghiên cứu lý luận
- Đổng Ngọc Minh - Vương Lôi Đình: Kinh tế du lịch và du lịch học - Nhà
xuất bản Trẻ, năm 2000
- Công trình: Kinh tế du lịch của Trường Đại học Kinh tế quốc dân
- Công trình: Kinh tế du lịch của Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội
- Robert Lanquar (2005) có công trình: Kinh tế Du lịch - Nhà xuất bản Thế
giới, năm 2005
Ngoài ra, còn có Pháp lệnh du lịch Việt Nam do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2006
Những công trình này nghiên cứu và xây dựng khung lýluận về kinh tế du lịch như: khái niệm, các loại hình du lịch, những nhân tố ảnh hưởng tới kinh
tế du lịch…Đây là nguồn tài liệu cho tác giả tiếp cận, kế thừa những khái niệm về du lịch, về kinh tế du lịch nói chung
* Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn ở các địa phương
- Hoàng Đức Cường: “Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An”, Luận văn
thạc sỹ kinh tế, 1999
- Trần Ngọc Tư: “Phát triển kinh tế du lịch ở Vĩnh Phúc - tiềm năng và
giải pháp”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, 2008
- Nguyễn Thị Hồng Nhung: “Phát triển kinh tế du lịch Hải Phòng thời kì
hội nhập và phát triển”, Luận văn thạc sĩ, 2007
Trang 10- Nguyễn Thị Lan: “Phát triển kinh tế tư nhân ngành du lịch tỉnh Thanh
Hoá”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, 2008
- Đỗ Thị Bích Huệ: “Phát triển du lịch thành phố Hà Nội”, Luận văn
Thạc sĩ kinh tế chính trị, 2008
- Nguyễn Thị Lan Phương: “Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai”, Luận
văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, 2010
- Nguyễn Tuấn Dũng: “Phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà
Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2012
Các công trình trên đã nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế du lịch theo cách tiếp cận truyền thống - là những hoạt động và kết quả hoạt động du lịch, gắn với một địa phương cụ thể, trong những giai đoạn cụ thể
* Công trình nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch Ba Vì
Công trình của tác giả Hoàng Văn Hùng:“Thực trạng phát triển kinh
doanh du lịch huyện Ba Vì những vấn đề nổi cộm - Phương hướng và giải pháp thực hiện”, Đề tài nghiên cứu tại lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du
lịch, ngành Du lịch Hà Tây, 2004 Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản, những vấn đề thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế du lịch nói chung cũng như ở một số địa phương nói riêng Đây là nguồn tư liệu tham khảo rất có ý nghĩa trong việc thực hiện đề tài luận văn Các công trình nghiên cứu đã công bố trên đã làm rõ ở những khía cạnh khác nhau về kinh tế du lịch và vấn đề phát triển kinh tế du lịch trên phương diện lý thuyết và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sâu và có hệ thống về phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội, theo cách tiếp cận kinh tế chính trị, gắn với nội hàm phát triển và những tiêu chí đánh giá sự phát triển đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 11Vận dụng và hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch, luận phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà Nội Từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế du lịch Ba Vì theo hướng phát triển bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Khái quát và hệ thống hóa và hoàn thiện thêm cơ sở lý luận và tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn của vấn đề phát triển kinh tế du lịch ở một số địa phương
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà Nội
Từ đó đánh giá những thành công, hạn chế và các nhân tố tác động đến trong quá trình phát triển kinh tế du lịch của địa phương trong thời gian qua
- Phân tích những ảnh hưởng trong bối cảnh kinh tế mới đến sự phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội Từ đó đề xuất các gợi ý chính sách để phát triển kinh tế du lịch của địa phương trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp chung
Đề tài sử dụng những phương pháp chung như:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch
Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng tài liệu, báo cáo thống kê của địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì -
Hà Nội Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp cũng được sử dụng phổ
biến trong luận văn
Luận văn có sử dụng các bảng biểu, biểu đồ, để phản ánh nội dung phân
tích
Trang 124.2 Phương pháp cụ thể
- Kế thừa và phát triển lý luận về phát triển du lịch để hoàn thiện thêm
cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch
- Tập hợp, phân tích các tài liệu của UBND huyện, của các đơn vị kinh doanh du lịch; Các tài liệu, số liệu của Sở Du lịch Hà Nội, của Chi cục Thống
kê Thành phố Hà Nội…Từ đó, đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch theo khung lý thuyết ở chương 1 trên phương diện thành công, hạn chế và nguyên nhân của tình hình
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn ở địa phương, cũng như kinh nghiệm của các địa phương khác, luận văn đưa ra những định hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển hiệu quả kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển kinh tế du lịch được nghiên cứu theo cách tiếp cận kinh tế chính trị Vấn đề nghiên cứu gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, gắn với những biến động về môi trường kinh tế, xã hội, vấn đề hội nhập kinh tế quốc
tế
5.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: Nghiên cứu về sự phát triển của các doanh nghiệp
kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì - Hà Nội
* Phạm vi thời gian: từ năm 2008 - nay
6 Một số đóng góp mới của luận văn
- Hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch: nội dung và
những tiêu chí đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch
Trang 13- Đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở
Ba Vì, Hà Nội từ năm 2008, đến nay: những thành tựu, bất cập trong sự phát
triển và nguyên nhân của tình hình
- Đề ra giải pháp có thể vận dụng vào phát triển kinh tế du lịch ở địa phương trong thời gian tới, gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập
kinh tế của địa phương và Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội
Chương 3 Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế du
lịch huyện Ba Vì
Trang 14đó của con người là trao đổi hàng hoá, việc tham quan du lịch chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên, chủ yếu mang tính tự phát, tự phục vụ là chính Du lịch chưa trở thành một ngành kinh tế đặc thù của xã hội
Ở phương Tây, vào những năm cuối của thế kỉ XIV đã có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch Có quan niệm cho rằng du lịch là một ngành công nghiệp, đó là ngành “công nghiệp mẹ”, một ngành công nghiệp then chốt Sự phát triển về du lịch có tác động to lớn tới tất cả các ngành kinh tế của một quốc gia Nhưng cũng có quan niệm cho rằng du lịch là một hoạt động kinh tế nhằm phục vụ khách nước ngoài, là một ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam của đất nước, đối tượng tham quan là khách nước ngoài
Trang 15Đến đầu thế kỉ XX, du lịch vẫn còn là hoạt động dành riêng cho những người khá giả, họ đi du lịch là để hưởng ngoạn, giải trí Và sau đó hoạt động này ngày càng thu hút được sự tham gia của hầu hết các tầng lớp xã hội khác nhau
Ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì năm 2000 số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người với doanh thu đạt được là 467 tỷ USD; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt với doanh thu 474 tỷ USD; dự tính đến năm 2010 sẽ có khoảng 1006 triệu lượt khách du lịch với doanh thu khoảng 900 tỷ USD.[8, tr 50]
Mặc dù vậy, hiện nay khi đề cập đến du lịch, không ít người lầm tưởng rằng: du lịch là những kì nghỉ hè với những bãi biển đầy người, các sân bay hay các đoàn xe du lịch vòng quanh các phố phường… Do đó, việc xây dựng quan niệm và hiểu biết đúng đắn về ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch nhằm đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người
Theo Hội liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch thì: “Du lịch là sự
tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới Số người này không định cư lâu dài, và lại cũng không làm bất kì hoạt động nào để kiếm tiền”.[16,tr 241]
Trong tuyên ngôn Manila (1980) của tổ chức du lịch Quốc tế thì du lịch
được xem là: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích thực hiện sự
phát triển các nhân về phương tiện kinh tế xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh về hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” [16, tr 252]
Khái niệm này đã nhấn mạnh mục đích hoà bình của việc du lịch, đồng thời cũng bao quát việc du lịch để vui chơi, tiêu khiển với việc du lịch vì công
Trang 16việc Tuy nhiên khái niệm trên vẫn chưa phản ánh được đặc điểm tổng hợp khách quan của hoạt động du lịch, của người du lịch
Kế thừa các quan điểm trên các tác giả Trung Quốc trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của việc du lịch cũng đưa ra khái niệm khá toàn diện
về du lịch:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện
kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hoà tất cả các quan hệ và hiện tượng do
lữ hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hoá nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của tất cả mọi người dẫn tới”.[9, tr33]
Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hoà Séc) đưa ra định nghĩa về du lịch
như sau:“Du lịch là tập hợp các hoạt động kĩ thuật, kinh tế và tổ chức liên
quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và viếng thăm có tổ chức thường kì”.[10, tr17]
Định nghĩa của trường tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie như
sau:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn -
chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, cư trú ăn uống nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hoá, chính trị, kinh tế…) mà không có mục đích lao động kiếm lời” [10, tr17-18]
Hai định nghĩa trên đã xem xét kĩ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kĩ thuật điều hành
Trang 17Khác với các định nghĩa trên, định nghĩa về du lịch của Michael Coltman
lại rất ngắn gọn như sau:“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân
tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ
du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi tiếp đón du lịch”.[10, tr 18]
Mối quan hệ đó có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động du lịch [6,tr 28]
Tháng 6 năm 1991 tại Otawa, Canađa, Hội Nghị Quốc Tế về thống kê du
lịch đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy điịnh trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [10, tr19]
Định nghĩa trên đã quy định rõ các điểm sau:
- Ngoài “môi trường thường xuyên”, nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong
phạm vi nơi ở thường xuyên, các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng ngày, các chuyến đi thường xuyên có định kì tổ chức phường hội giữa nơi ở
và nơi làm việc, và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên hàng ngày
Trang 18- “Khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
trước ” - sự quy định này nhằm loại trừ di cư trong một thời gian dài
- “Không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”- điều đó có nghĩa là loại trừ việc hành nghề tạm thời hoặc lâu dài
Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịch
được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.[28, tr 284]
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực
kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế [28, tr 284]
Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999 thì: “du lịch là một ngành
kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu câu tham quam, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân, và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước”.[17, tr29]
Trang 19Luật Du lịch Việt Nam (được quốc hội thông qua kì họp thứ 7, khoá XI
năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm
các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch
vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [8,tr 45]
Tóm lại, cùng với sự phát triển, con người ngày càng có nhu cầu đươc nghỉ ngơi, hưởng thụ nhiều hơn các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội để hoàn thiện phát triển chính mình Du lịch xuất hiện được coi là một trong những hình thức nghỉ ngơi tích cực phổ biến nhất và nó ngày càng trở thành một bộ phận không thể tách rời với đời sống con người, góp phần quan trọng làm cho con người khoẻ mạnh, nâng cao đời sống tinh thần, mở mang tầm hiểu biết
Trang 20chỗ ăn nghỉ, hướng dẫn tham quan…từ đó các tổ chức kinh tế du lịch đã ra đời Lúc này hoạt động du lịch không còn là hiện tượng mang tính chất cá nhân, lẻ tẻ mà đã trở thành một hoạt động mang tính chất kinh doanh, hoạt động kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội các nhu cầu về nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá và mở mang kiến thức của con người ngày càng tăng Kinh tế càng phát triển, điều kiện vật chất của xã hội ngày càng được cải thiện và các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống dần được đáp ứng một cách đầy
đủ hơn thì con người lại càng có điều kiện để thoả mãn những nhu cầu tinh thần đó của mình Điều đó là động lực thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển
Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của ngành du lịch không chỉ dừng ở biên giới quốc gia mà còn mở rộng ra với quy mô toàn cầu Mặt khác, khi điều kiện về giao thông vận tải càng đạt trình độ cao và an toàn, đáp ứng nhu cầu thuận lợi cho du khách trong di chuyển từ nơi này đến nơi khác, sẽ là cơ hội tốt để ngành kinh tế du lịch phát triển
Về bản chất, “kinh tế du lịch là một hoạt động kinh tế, là tổng thể các
hành vi phối hợp với nhau của hoạt động kinh tế nói chung với hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về du lịch” [29,tr228]
Song rất khó có thể định nghĩa lĩnh vực du lịch về mặt kinh tế Trở ngại lớn nhất là ở chỗ khi định nghĩa một lĩnh vực kinh tế phải nói đến những sản phẩm thuần nhất; nhưng trái lại, du lịch gồm những sản phẩm rất hỗn tạp Nó
là sản phẩm đặc biệt, do nhiều yếu tố hợp thành, ngoài sản phẩm hữu hình về mặt dịch vụ ăn uống, thì tuyệt đại bộ phận là sản phẩm vô hình, biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ thoả mãn tinh thần của du khách Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy định nghĩa kinh tế du lịch mà từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra là đáp ứng được yêu cầu của một khái niệm hoàn
Trang 21chỉnh Theo đó, “kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù mang
tính dịch vụ và thường được xem là ngành công nghiệp không khói, gồm có
du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hoá, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước nhằm buôn bán xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hoá dịch vụ cho khách du lịch” [29, tr586]
Nội hàm của khái niệm trên đã đề cập đến:
Thứ nhất: Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù, nền kinh
tế quốc dân bao gồm tổng hợp các ngành nghề, những lĩnh vực khác nhau hợp thành, trong đó kinh tế du lịch là một bộ phận, một ngành kinh tế Đây là loại hình kinh tế mang tính đặc thù, thể hiện ở chỗ nó mang tính dịch vụ - cung cấp các sản phẩm mang tính du lịch thoả mãn nhu cầu khách du lịch Sản phẩm du lịch này như đã nói ở trên là một loại sản phẩm đặc biệt, tuyệt đại đa
số sản phẩm của ngành kinh tế du lịch không biểu hiện dưới hình thái vật chất
mà là sản phẩm vô hình, biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ khác nhau Hàng hoá trao đổi giữa hai bên trong ngành kinh tế du lịch không phải là vật cụ thể Đối với du khách, lợi ích đem lại là sự cảm giác, thể nghiệm, hoặc hưởng thụ
Sự trao đổi sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên tiến hành không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm du lịch do nơi du lịch cung cấp Với cùng một sản phẩm du lịch, bên cung có thể bán được nhiều lần, cho nhiều du khách khác nhau Quá trình mua bán sản phẩm du lịch thì chỉ có quyền sử dụng được trao đổi tạm thời, còn quyền sở hữu trước sau vẫn nằm trong tay người kinh doanh Đây chính
là đặc điểm cơ bản đặc thù của sự vận hành kinh tế du lịch Từ tính đặc thù của các sản phẩm du lịch, mà người ta gọi kinh tế du lịch với cái tên “ngành
Trang 22công nghiệp không khói” Nó là một ngành công nghiệp vì nó là toàn bộ những hoạt động nhằm khai thác của cải của du lịch nhằm biến các tài nguyên, nhân lực, tiền vốn, nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm Nhưng coi nó là ngành công nghiệp không khói vì các sản phẩm du lịch mà nó cung cấp thường không gắn liền với các công xưởng, nhà máy, xí nghiệp mang tính sản xuất vật chất Kết quả “sản xuất” là tạo ra những sản phẩm du lịch không biểu hiện bằng hiện vật cụ thể mà là sự thoả mãn và hưởng thụ nhiều hơn về tinh thần, là quá trình du lịch hoàn chỉnh một lần trong đó bao gồm nhiều loại dịch vụ do nơi du lịch cung cấp
Khẳng định kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế (hay một lĩnh vực kinh tế) trong nền kinh tế quốc dân nhưng nó không tách biệt cô lập với các lĩnh vực kinh tế khác, trái lại, nó là một lĩnh vực kinh tế mang tính tổng hợp có liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác, sự phát triển của nó phụ thuộc vào sự phát triển tổng hợp của các lĩnh vực, các ngành, nghề khác nhau Muốn phát triển kinh tế du lịch cần sự phối hợp của hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế, cả sản xuất vật chất lẫn sản xuất phi vật chất, như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghiệp nhẹ, sản xuất nông sản, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kĩ thuật… sự phát triển của mỗi ngành là điều kiện để kinh tế du lịch phát triển và kinh tế du lịch phát triển lại là động lực thúc đẩy sự phát triển đi lên của toàn bộ nền kinh tế
Thứ hai: Phân loại kinh tế du lịch
Việc phân loại kinh tế du lịch gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước phản ánh tập chung nhất các hình thức của hoạt động kinh tế du lịch
Du lịch trong nước là chỉ du lịch do du khách trong nước rời khỏi nơi thường trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch (hình thức này có thể gọi là du lịch khu vực) Còn du lịch quốc tế là chỉ du khách của một nước vượt đường biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác để tiến hành du
Trang 23lịch Trong du lịch quốc tế lại bao gồm du lịch nhiều nước, du lịch xuyên châu lục và du lịch vòng quanh thế giới Nó được chia làm hai loại: một loại
du lịch nhập cảnh (ví như khách du lịch nước ngoài đến du lịch Việt Nam) và
du lịch xuất cảnh (như người Việt Nam ta ra nước ngoài du lịch)
Tuy nhiên, ngoài cách phân loại như trên ta còn có thể phân loại kinh tế du lịch theo các tiêu thức khác nhau Nếu theo mục đích du lịch có thể chia ra du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch việc gia đình (thăm viếng người thân), du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao…Nếu theo hình thức tổ chưc du lịch thì có
du lịch tập thể, du lịch cá thể Theo không gian hoạt động của kinh tế du lịch
có thể chia thành du lịch trên không, trên biển, lục địa…
Thứ ba: Chức năng nhiệm vụ của kinh tế du lịch đó là tổ chức việc khai
thác các tài nguyên và cảnh quan đất nước Đó là các tài nguyên du lịch thiên nhiên (đất đai, khí hậu, sông suối, rừng núi ); tài nguyên du lịch nhân văn (các di tích cổ, kiến trúc cổ, âm nhạc, hội hoạ, ẩm thực, tôn giáo…) Đây là những sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước thực hiện các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ du lịch, thu hút ngoại tệ góp phần quan trọng vào tăng thu nhập quốc dân cho đất nước
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch cũng có những đặc điểm chung, giống như những ngành kinh tế khác Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù, nên kinh tế du lịch có những đặc điểm khác biệt
* Tính nhạy cảm
So với các ngành kinh tế khác thì ngành kinh tế du lịch có tính nhạy cảm hơn Do ngành kinh tế du lịch gồm nhiều bộ phận tạo thành nên trong quá trình cung cấp dịch vụ đối với du khách nhà cung ứng cần bố trí chính xác về thời gian, có kế hoạch chu đáo chi tiết về nội dung các hoạt động, cần phải kết
Trang 24hợp một cách hữu cơ, liên hệ chặt chẽ giữa các khâu đi lại, du ngoạn, ăn ở, vui chơi, giải trí, mua sắm… Giả sử một khâu nào đó không tuân thủ quá trình thì có thể gây ra hàng loạt phản ứng dây chuyền làm mất sự phối hợp nhịp nhàng trong cơ cấu tổ chức, ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ du lịch
Mặt khác các nhân tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội đều có ảnh hưởng đến ngành kinh tế du lịch như chiến tranh, nạn động đất, khủng bố kinh tế, đại dịch SAR hay nạn dịch cúm AH5N1…đều ảnh hưởng lớn, gây cản trở đối với sự phát triển của du lịch
Do đó, để khắc phục được tính “nhạy cảm” này, ngành kinh tế du lịch cần phải chủ động để có được chiến lược đúng đắn trong hoạt động của mình
Ngoài ra, tính thời vụ của du lịch có liên quan mật thiết tới việc sắp xếp ngày nghỉ của công nhân viên, các kì nghỉ của học sinh, sinh viên; sự bố trí, sắp xếp này có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của ngành kinh tế du lịch Những nguyên nhân xuất phát từ nguyên nhân cung - cầu trên khiến hoạt động kinh doanh du lịch có tính mùa vụ rõ rệt, ảnh hưởng tới quan hệ cung - cầu của du lịch, gây ra hiện tượng có những thời điểm thì cung du lịch không
đủ cầu du lịch, ngược lại, cũng có thời điểm thì thiết bị và nhân viên du lịch nhàn rỗi
Trang 25Vì vậy, muốn tối đa hóa lợi nhuận người kinh doanh du lịch cần chú ý đầy
đủ tới đặc diểm này để tìm mọi cách áp dụng những thủ thuật và biện pháp hữu hiệu, cố gắng giảm thiểu sự chênh lệch giữa mùa đông khách và mùa vắng khách, khai thác tối đa các thiết bị và tài nguyên du lịch nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Việc khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn cũng như mặt lí luận trong lĩnh vực du lịch
* Tính tổng hợp cao
Hoạt động du lịch là hoạt động mang tính tổng hợp cao, bởi vì trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch có nhu cầu về ăn ở, đi lại, du ngoạn, vui chơi, giải trí, mua sắm…Để đáp ứng các nhu cầu khác nhau đó, nhà cung cấp dịch vụ cần cung cấp tuyến du lịch, cung cấp tư vấn tin tức, cung cấp các phương tiện giao thông, nhà nghỉ cho du khách…Vì vậy, sản phẩm của ngành kinh tế du lịch là sản vật tác dụng chung cho nhiều bộ phận, là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện ra bằng nhiều loại dịch vụ
Ngành kinh tế du lịch vừa bao gồm các khách sạn du lịch, công ty du lịch, giao thông du lịch, đơn vị bán hàng lưu niệm du lịch Đồng thời bao gồm bộ phận sản xuất tư liệu vật chất, và một số bộ phận sản xuất tư liệu phi vật chất (văn hóa, giáo dục, tôn giáo, khoa học kĩ thuật, hải quan, tài chính, bưu điện) Nắm được đặc điểm tổng hợp của ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa thực tế
vô cùng quan trọng đối với việc quản lí kinh doanh của các ngành Các bộ phận trong ngành kinh tế du lịch không chỉ có đặc tính hướng đích thông qua nút “thỏa mãn nhu cầu của du khách” mà còn liên hệ chặt chẽ với nhau Bất
cứ hành vi chậm trễ hoặc bỏ lỡ dịp của bất kì bộ phận nào cũng sẽ ảnh hưởng tới số lượng du khách du lịch Do vậy, các bộ phận trong ngành kinh tế du lịch phải hỗ trợ lẫn nhau và cần thiết triển khai kinh doanh liên hợp Nếu các doanh nghiệp du lịch theo đuổi lợi ích cục bộ, không phối hợp nhịp nhàng thì
Trang 26hiệu quả kinh doanh của toàn ngành sẽ bị ảnh hưởng theo Vì thế, thực hiện quản lí ngành nghề toàn diện trong ngành kinh tế du lịch là điều hết sức cần thiết
* Tính đa ngành
Tính đa ngành được thể hiện ở đối tượng khai thác phục vụ cho hoạt động
du lịch như: sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…
Du lịch sẽ không phát triển được nếu không có sự giúp đỡ của các ngành kinh tế xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông vận tải, công an, môi trường Ngược lại, du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch như: điện, nước, hàng nông sản, hàng thủ công mĩ nghệ, tranh ảnh, sách báo
Nắm được đặc tính đa ngành trong hoạt động du lịch đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương cần phải có chính sách phối, kết hợp chặt chẽ, nhằm tạo ra “xung lực” mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
* Tính đa thành phần
Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, các cộng đồng dân cư trong khu du lịch, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ tham gia vào các hoạt động du lịch
Do đặc tính đa thành phần của ngành kinh tế du lịch mà nhiều loại hình du lịch khác nhau và dịch vụ mới đã nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng của du khách
Tuy nhiên, đặc tính đa thành phần trong lĩnh vực, nếu không được khai thác một cách hợp lí sẽ dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa các cá nhân trong đoàn đi du lịch, cũng như mâu thuẫn trong nội bộ những người làm du lịch
* Tính chi phí
Trang 27Mục đích đi du lịch của khách du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch,
mà không phải với mục tiêu kiếm tiền Du khách sẵn sàng trả những khoản chi phí trong chuyến đi của mình về các khoản dịch vụ như: ăn uống, ăn ở, đi lại và nhiều các chi phí khác nhằm thực hiện được các mục đích vui chơi, giải trí, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên nhiên, giá trị văn hoá, lịch sử
Hiểu rõ đặc tính này, các quốc gia, các nhà kinh doanh du lịch cần có biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đa dạng các loại hình dịch vụ, nhằm thu hút khách du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của du khách
Song, thực tế, ở một số điểm du lịch nhiều nhà kinh doanh du lịch đã lợi dụng đặc tính này để đẩy mức giá dịch vụ lên quá cao, làm cho sự tin tưởng của du khách đối với nhà cung cấp du lịch giảm sút Những sai sót này sẽ lan truyền từ du khách này đến du khách khác làm ảnh hưởng đến hình ảnh của ngành kinh tế du lịch trong con mắt du khách
1.1.2 Các loại hình du lịch
1.1.2.1 Căn cứ phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch
Theo tiêu thức này, du lịch được phân chia thành du lịch quốc tế và
du lịch nội địa
Trang 28* Du lịch quốc tế
Là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của những quốc gia khác nhau Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và sử dụng ngoại tệ ở nơi đến du lịch
Bản thân du lịch quốc tế lại được phân thành du lịch quốc tế chủ động
và du lịch quốc tế bị động Du lịch quốc tế chủ động là hình thức du lịch của những người từ nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó Du lịch quốc tế thụ động là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào đó
và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó đi
ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước đang cư trú
Ví dụ: khách nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch, ngành du lịch Việt Nam phục vụ Trong trường hợp này, Việt Nam kinh doanh du lịch quốc tế chủ động Du lịch quốc tế chủ động tương đương với xuất khẩu vì cùng tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia Trong khi công dân Việt Nam ra nước ngoài
du lịch, ngành du lịch Việt Nam gửi khách, trong trường hợp này, Việt Nam kinh doanh du lịch quốc tế thụ động Du lịch quốc tế thụ động tương đương với nhập khẩu vì cùng gây ra hiện tượng xuất ngoại tệ từ một quốc gia ra nước ngoài
* Du lịch nội địa
Là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
1.1.2.2 Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành những loại hình sau:
* Du lịch chữa bệnh
Ở loại hình này, khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các loại bệnh tật
về thể xác và tinh thần của họ Du lịch chữa bệnh lại được phân thành: Chữa
Trang 29bệnh bằng khí hậu: Khí hậu núi, khí hậu biển ;Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm nước khoáng, uống nước khoáng ;Chữa bệnh bằng bùn, chữa bệnh bằng hoa quả
* Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Nhu cầu chính nảy sinh hình thức du lịch này chính là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người Đây là loại hình du lịch có tác dụng làm giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát cho con người khỏi những công việc thường ngày
* Du lịch thể thao
Du lịch thể thao chủ động: khách đi du lịch có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao, du lịch thể thao chủ động như: du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch câu cá, du lịch tham gia các loại thể thao như bóng đá, bóng
rổ, bóng chuyền, trượt tuyết
Du lịch thể thao thụ động: những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc thi thể thao quốc tế, các thế vận hội olympic
* Du lịch văn hóa
Là hình thức du lịch với mục đích chính nhằm nâng cao hiểu biết cho
cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của đất nước di du lịch
Du lịch văn hóa được phân làm hai loại: Du lịch văn hóa với mục đích
cụ thể: khách du lịch đi với mục đích có sẵn Họ thường là các cán bộ khoa học, sinh viên hay các chuyên gia ; Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở mang kiến thức về thế giới nhằm nâng cao hiểu biết của bản thân
Trang 30* Du lịch công vụ
Mục đích của loại hình du lịch này để thỏa mãn, thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó Với mục đích này, khách đi tham dự những cuộc hội nghị, hội thảo, các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ
Ngoài ra còn có các loại hình du lịch như du lịch thương gia, du lịch thăm hỏi, du lịch tôn giáo, du lịch quá cảnh
1.1.2.3 Căn cứ vào đối tượng khách du lịch
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: Du lịch dành cho thanh thiếu niên; Du lịch dành cho những người cao tuổi; Du lịch dành cho gia đình, du lịch dành cho phụ nữ
1.1.2.4 Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành:
* Du lịch theo đoàn
Ở loại hình này, các thành viên tham gia đi theo đoàn và thường có ý định, chương trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ đến thăm, nơi lưu trú và nơi ăn uống Du lịch theo đoàn có thể tổ chức theo hai hình thức:
Du lịch theo đoàn có thông qua tổ chức du lịch: Đoàn du lịch được các
tổ chức trung gian (các doanh nghiệp lữ hành), các tổ chức vận tải (thường là các hãng hàng không), hoặc các tổ chức du lịch khác tổ chức cuộc hành trình Các tổ chức đó chuẩn bị, thỏa thuận trước chuyến hành trình và lịch đi cho đoàn Mỗi thành viên trong đoàn được thông báo trước chương trình của chuyến đi
Du lịch theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch: Đoàn du lịch tự chọn tuyến hành trình, tự xác định thời gian đi, số ngày đi, những nơi sẽ đến thăm Có thể đoàn đã thoả thuận trước hoặc tới nơi mới tìm cơ sở ăn uống, lưu trú
Trang 31* Du lịch cá nhân
Du lịch cá nhân có thông qua tổ chức du lịch: cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của các tổ chức du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác Khách du lịch không phải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo và chuẩn bị trước
Du lịch cá nhân không thông qua tổ chức du lịch (tự do)
Ngoài ra, còn có rất nhiều căn cứ để phân loại các loại hình du lịch Như: Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng: Theo tiêu thức này,
du lịch được phân thành các loại hình như: du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng
xe máy, du lịch bằng xe ô tô hay du lịch tàu thuỷ, du lịch bằng máy bay
Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng: Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: du lịch ở khách sạn, du lịch nhà nghỉ, du lịch lều trại
Căn cứ vào thời gian đi du lịch: Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày
Căn cứ và vị trí địa lý của điểm du lịch đến: Theo tiêu thức này, du lịch
được phân chia thành du lịch nghỉ núi; du lịch biển, sông, hồ; du lịch thành phố; du lịch đồng quê
Tuy nhiên, thông thường một người đi du lịch với nhiều nhu cầu nảy sinh khác nhau nên ta thường gặp sự kết hợp của một vài loại hình du lịch cùng một lúc Ví dụ như du lịch nghỉ ngơi, giải trí với du lịch văn hoá; du lịch công vụ với du lịch văn hoá
1.1.3 Vai trò của kinh tế du lịch
1.1.3.1 Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Du lịch là ngành kinh tế cung ứng dịch vụ - bộ phận cấu thành của GDP của một quốc gia, chính vì thế, mức độ đóng góp của kinh tế du lịch phụ thuộc vào sự phát triển của ngành kinh tế này
Trang 32Trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển của ngành kinh tế du lịch sẽ tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân Chẳng hạn, việc sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật góp phần làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội
Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch sẽ tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Hay nói cách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng (thường thì các vùng phát triển mạnh về du lịch lại là những vùng kém sản xuất ra của cải vật chất dẫn đến thu nhập của người dân
tự sản xuất tại những vùng đó là thấp)
Du lịch nội địa là ngành kinh tế huy động tốt nhất kết cấu vật chất kinh tế
xã hội, các nguồn lực khác nhau của các thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế quốc dân nói chung và mỗi vùng, mỗi địa phương nói riêng
Ngoài ra, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Đồng thời,
du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của du lịch quốc tế được hợp lý hơn Vào trước và sau thời vụ du lịch, khi khách quốc tế không nhiều có thể sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật ấy vào phục vụ khách
du lịch nội địa Theo cách đó vừa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của du lịch nội địa, vừa tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật
Trên phạm vi quốc tế, sự phát triển của du lịch tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Thực thế cho thấy, cùng với hàng dân dụng, cung ứng tàu biển, kiều hối, bưu điện quốc tế, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàng năm đem lại cho các quốc gia nhiều ngoại tệ Đây là tác động trực tiếp nhất của du lịch đối với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực
Trang 33và trên thế giới đã thu hàng tỷ USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch
Trong lĩnh vực xuất khẩu, du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, nông lâm sản theo giá bán lẻ cao hơn (nếu như bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn) Được trao đổi thông qua con đường du lịch, các hàng hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế
Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” hàng hoá du lịch Đó là các cảnh quan thiên nhiên khí hậu và ánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị của những di tích lịch sử - văn hoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán
Với hai hình thức xuất khẩu trên cho thấy hàng hoá và dịch vụ bán thông qua du lịch đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn, do tiết kiệm được đáng kể các chi phí đóng gói bao bì, bảo quản, vận chuyển, và thuế xuất nhập khẩu có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi suất cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp
có khả năng thanh toán
Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch Hoạt động du lịch phát triển, tạo nguồn thu ngân sách cho các địa phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của dân địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn
Đối với lĩnh vực đầu tư cho quá trình phát triển, du lịch có vai trò khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Theo quy luật có tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu trên thế giới hiện nay, giá trị ngành du lịch ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội Do vậy các nhà kinh doanh
Trang 34đi tìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn
so với nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao, vì vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật không phức tạp, mức độ rủi ro thấp Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bổ sung thì nhu cầu về vốn đầu tư không lớn như lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cơ bản, mà thu hồi vốn nhanh, doanh thu cao lại thu hút được nhiều lao động góp phần giải quyết nhu cầu việc làm, giảm sức ép đối với toàn xã hội
1.1.3.2 Tạo công ăn việc làm, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao mức sống và chất lượng sống dân cư
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, có nhu cầu về lao động cao cả về lao động trực tiếp cũng như lao động gián tiếp Chính điều này có tác dụng lớn trong việc giảm áp lực trong việc giải quyết công ăn việc làm cho chính phủ, giảm tình trạng thất nghiệp, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội
Theo như thống kê năm 2005 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 1,5 giây du lịch tạo ra được một việc
làm mới
Một buồng khách sạn từ 1 sao đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hút khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong các dịch vụ bổ sung Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ sung có thể tăng lên nhiều lần, nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú về chủng loại Theo dự báo của WTO, năm 2010 ngành kinh tế du lịch sẽ tăng thêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương [7, tr 40-41]
Trang 35Du lịch cũng phải đóng góp phần nâng cao mức thu nhập, từ đó nâng cao chất lượng sống cho người lao động Khi du lịch tao ra những cơ hội việc làm cho người lao động thì đồng nghĩa với việc nâng cao mức thu nhập và mức sống cho họ Thu nhập mà người lao động có được từ du lịch góp phần nuôi sống bản thân họ, gia đình, đồng thời ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống Giúp cuộc sống người lao động ngày càng no ấm, thoát khỏi tình trạng khó khăn
1.1.3.3 Góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế, cụ thể thông qua các mặt sau:
Một là, để đạt được mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch, các tổ chức
quốc tế mang tính chất chính phủ và phi chính phủ về du lịch đã tác động tích cực với nhau nhờ đó mà hình thành được các mối quan hệ kinh tế
Hai là, du lịch quốc tế phát triển, nhiều du khách có xu hướng khám phá
những miền đất mới lạ, đi đến nhiều điểm du lịch trong một chuyến hành trình của mình Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đi lại thuận tiện cho quá trình du lịch của du khách mà ngành giao thông quốc tế đã không ngừng quan tâm đầu
tư phát triển
Ba là, du lịch quốc tế như một đầu mối “xuất - nhập khẩu ” ngoại tệ, góp
phần làm phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
Tại Việt Nam, du lịch là cầu nối giao lưu quốc tế có quan hệ chặt chẽ với chính sách mở cửa của Nhà nước Trong kinh doanh du lịch quốc tế khách du lịch có thể là thương nhân Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với tăng lượng khách phục vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách thương nhân được chú trọng Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốc tế Tuy nhiên, điều kiện hiện nay nước ta còn nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn đầu tư Vì thế, cần thiết phải hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam thì điều đó cần có ý nghĩa to
Trang 36lớn Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch cũng phát triển theo hướng quốc
tế hoá, vì khách du lịch thường đến nhiều nước trong một chuyến đi du lịch dài ngày Hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vi quốc tế trong kinh doanh
du lịch là phương thức kinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao, đến lượt nó kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mở cửa Thực tiễn phát triển kinh tế ở Thái Lan, Singapo, Malaysia đã chọn du lịch là một hướng mở cửa của nền kinh tế
1.1.3.4 Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác
Phát triển du lịch có thể kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế khu vực
Trước hết, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành là cơ sở cho các ngành khác (như giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, bưu điện, hải quan, điện lực) phát triển, đối với nền sản xuất xã hội du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hoá Mặt khác, sự phát triển du lịch tạo các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác
Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại, vận chuyển thông tin liên lạc của khách du lịch, cũng như những điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này phát triển Ngoài ra, khách không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà trước đó và sau
đó khách có nhu cầu đi lại giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó ngành giao thông vận tải phát triển
Đối với những vùng lạc hậu xa xôi hẻo lánh, kinh tế khó khăn không thích hợp phát triển công nghiệp thì phát triển công nghiệp sẽ có ý nghĩa quan trọng
Trang 37đến việc xoá đói, giảm nghèo, dần đi tới làm giàu Đồng thời, sự phát triển của ngành kinh tế du lịch sẽ trực tiếp tăng thu nhập tài chính của nước nơi đón tiếp Ngoài ra, du lịch phát triển còn “đánh thức” một số ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ truyền thống của các dân tộc bởi các lý do sau:
Khách du lịch thường thích mua các đồ lưu niệm mang tính dân tộc, đó là các sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền Nhờ vậy, nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền dân tộc như: nghề khảm, sơn mài, tạc tượng, làm tranh lụa, gốm sứ có điều kiện phục hồi và phát triển
Mặt khác, khách du lịch văn hoá ngày một đông, họ thường đi thăm quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, văn hóa dân tộc Vì vậy, việc tôn tạo và bảo dưỡng các di tích đó ngày càng được quan tâm nhiều hơn
1.1.3.5 Phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho nước chủ nhà
Về mặt kinh tế: Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu
cho hàng hoá nội địa ra nước ngoài thông qua du khách Khách du lịch được làm quen tại chỗ đối với các mặt hàng thủ công, công nghiệp, nông nghiệp … Một số mặt hàng làm du khách hài lòng cả về hình thức lẫn chất lượng … Về đến nước, du khách giới thiệu cho bạn bè người thân … và nhiều khi họ bắt đầu tìm kiếm mặt hàng đó, nhiều khi chính bằng con đường đó quốc gia làm
du lịch có điều kiện xuất khẩu hàng hoá nhiều hơn
Về mặt xã hội: Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu
cho các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, phong tục tập quán, con người của quốc gia thu hút khách du lịch
Ngoài ra, du lịch làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân thông qua người ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong cách sống, ngoại ngữ, thẩm mỹ…) tạo ra sự “giao thoa” về văn hóa giữa các vùng, miền, các dân tộc khác nhau trên thế giới; làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu
Trang 38nghị, mối quan hệ thân ái của nhân dân giữa các vùng với nhau và nhân dân giữa các quốc gia với nhau
Một ngành hay một vùng kinh tế đựơc gọi là phát triển thường phải hội
tụ đầy đủ mọi sức mạnh của nhiều yếu tố thuận lợi và giữ vai trò mũi nhọn hay trọng điểm trong nền kinh tế quốc gia đó với tỷ trọng lớn về tổng giá trị sản xuất và giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu
Trong tiến trình đi lên của sự phát triển chung, sản xuất công nghiệp là lĩnh vực quyết định đến sự tăng trưởng của cả nền sản xuất xã hội cũng như
sự tiến bộ và chuyển đổi phương thức sản xuất Còn sản xuất nông nghiệp - một ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất lao động còn
có những giới hạn nhất định cũng sẽ phát triển di lên, tuy vị trí của nó sẽ ngày càng giảm dần trong nền kinh tế cả nước, nhưng nó lại có những vai trò mới thích ứng với tiến trình thị trường hoá và công nghiệp hoá, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế trí thức, trước hết là trong việc nâng cao chất lượng đời sống của toàn nhân loại
Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Phát triển kinh tế và chuyển
đổi cơ cấu ngành kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ giữa chúng so với thời kỳ trước đó Đây là một quá trình mang tính khách
Trang 39quan bắt nguồn từ sự phát triển của phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất và dưới sự tác động của cách mạng khoa học – công nghệ Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, sự chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế không phải là sự thay đổi sang một cơ cấu kinh tế cùng tính chất, cùng đặc trưng, mà là sự xuất hiện và phát triển một cơ cấu ngành khác hẳn với cơ cấu ngành trước đó – tức là hình thành một cơ cấu ngành kinh tế quốc dân bền vững, hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao, mang đặc tính
“mở”, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Những nhân tố quy định sự phát triển và thay đổi cơ cấu ngành kinh tế không chỉ là sự phân công lao động xã hội, tình hình kinh tế - xã hội trong nước mà còn do sự phân công lao động xã hội quốc tế và khu vực, tình hình kinh tế, chính trị, kể cả tình hình quân sự trong khu vực và quốc tế
Như vậy, nền kinh tế phát triển và chuyển đổi cơ cấu là sự vận động, phát triển của các ngành kinh tế làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian, dưới tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội nhất định của đất nước và quốc tế
Sự phát triển và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở tầm vĩ mô là kết quả của quá trình vận động, phát triển của bản thân các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hoặc từng phân ngành của chúng dẫn đến sự thay đổi mối tương quan tỷ lệ đã hình thành trước đó cũng như mối quan hệ tương đối ỏn định vốn có của chúng Sự phát triển và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Có sự thay đổi về số lượng và loại ngành trong nền kinh tế,
do sự xuất hiện thêm những ngành mới hoặc mất đi một số ngành đã có
Thứ hai: Có sự tăng trưởng không đồng đều về quy mô và tốc độ tăng
trưởng giữa các ngành, dẫn đến sự thay đổi tương quan tỷ lệ, mối quan hệ giữa các ngành so với thời kỳ trước đó Như vậy cơ cấu ngành kinh tế quốc
Trang 40dân đã có sự thay đổi Ngược lại, nếu có sự tăng trưởng đồng đều về quy mô
và tốc độ sau một giai đoạn phát triển và duy trì cùng một tương quan tỷ lệ, mối quan hệ giữa các ngành giống như thời kỳ trước đó, thì sẽ không dẫn đến
sự thay đổi cơ cấu ngành Điều này cho thấy, chỉ có xem xét đồng thời cả tốc
độ tăng trưởng, quy mô phát triển và tương quan tỷ lệ giữa các ngành trong mỗi thời kỳ so với thời kỳ trước đo mới đánh giá đúng quá trình phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế các ngành
Thứ ba: Có sự thay đổi trong quan hệ tác động qua lại giữa các ngành,
được thể hiện bằng số lượng các ngành có liên quan lẫn nhau, thể hiện qua quy mô đầu vào mà các ngành này cung cấp chi các ngành kia và ngược lại ngành kia nhận được từ các ngành này Đây là sự thay đổi về mặt chất lượng
cơ cấu ngành, nó liên quan đến thay đổi quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
*Phát triển kinh tế du lịch
Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành và phát triển từ lâu, kinh tế du lịch đã và đang được nhiều nước quan tâm đầu tư phát triển, nhưng để có một khái niệm hoàn chỉnh về phát triển kinh tế du lịch là một vấn
đề khó, cần phải có luận cứ xác thực Bởi vì trong lĩnh vực phát triển của mình, kinh tế du lịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố, ngoài việc chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế nói chung, do đặc thù của ngành, nó còn có cơ chế vận hành riêng
Trên thực tế phát triển kinh tế du lịch, ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh quốc gia… Ở mỗi quốc gia, dân tộc có tính đặc thù riêng, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mục đích, tính chất của quan hệ sản xuất và quan niệm hay cơ chế, chính sách, quy hoạch chiến lược phát triển, chế độ chính trị, xã hội của mỗi nước, cho nên trong nghiên cứu tất yếu có