sản xuất lúa gạo
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ LÚA GẠO
1.1 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam có ảnh hưởng sản xuất lúa gạo :
1.1.1 Tài nguyên khí hậu :
1.1.2 Tài nguyên đất :
1.1.3 Tài nguyên nước :
1.2 Các loại giống lúa
1.3 Các kênh tiêu thụ và phân phối lúa gạo
1.4 Các nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến ngành sản xuất lúa gạo
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
2.1.Tình hình sản xuất lúa gạo trước khi gia nhập WTO :
2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo sau khi gia nhập WTO :
2.3 Những thuận lợi và cơ hội sau khi gia nhập WTO
2.4 Những khó khăn và thách thức sau khi gia nhập WTO
2.4.1 Cạnh tranh khốc liệt :
2.4.2 Chưa đồng bộ giữa vị thế và trình độ
2.4.3 Ảnh hưởng của chính sách trợ cấp
2.4.4 Sản xuất còn nhỏ lẻ
2.5 Thực trạng ngành lúa gạo Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH SẢN XUẤT LÚA GẠO VIỆT NAM
3.1 Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh
3.1.1 Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm gạo
3.1.2 Liên kết trong sản xuất và xuất khẩu gạo
Trang 23.2 Giải pháp phương thức sản xuất
3.3 Giải pháp phát triển môi trường
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cũng đồng nghĩa là Việt Nam bắt đầu bước vào sân chơi chung của thị trường thương mại thế giới theo luật chơi chung dành cho tất cả các thành viên của tổ chức này và từng bước thực hiện việc hội nhập kinh tế quốc tế theo
lộ trình phù hợp Ngành nông lâm nghiệp có vị trí rất quan trọng trong nền kinh
tế Việt Nam ở mọi giai đoạn phát triển Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với khoảng 70% dân số sản xuất nông lâm nghiệp Một trong những thế mạnh không thể không kể tới là ngành lúa gạo – mặt hàng xuất khẩu đứng thứ hai thế giới Gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội
và những thuận lợi do khách quan mang đến nhưng cũng sẽ gặp không ít khó khăn và thách thức trong việc phát triển đất nước nói chung và phát triển ngành lúa gạo nói riêng
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ LÚA GẠO1.1 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam có ảnh hưởng sản xuất lúa gạo :
1.1.1 Tài nguyên khí hậu :
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu Việt Nam
có khi hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam châu Á, với đặc trưng nắng, nóng, ẩm Trong năm có hai mùa gió tác động: gió Đông Bắc về mùa Đông gây ra rét khô lạnh và gió Đông Nam về mùa hè gây ra nóng, ẩm Việt Nam quanh năm nhận được lượng nhiệt rát lớn của mặt trời, số giờ nắng trung bình trong năm là 2000 mm, năm cao nhất lên tới trên 3000 mm, năm thấp nhất vào khoảng 1600-1800 mm
Lượng mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian : nơi có lượng mưa cao nhất là vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh và Đà Nẵng(khoảng 3200mm/năm) và nơi thấp nhất là Phan Rang (650-700 mm/năm) theo thời gian thì lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng trong mùa hè chiếm tời 80% lượng mưa cả năm Mưa thường tập trung trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng
10 hay tháng 11 trong năm Tại đồng bằng sông Cửu Long do tác động của gió mùa, nên mùa mưa kéo dài từ 5 đến 6 tháng với lượng mưa trung bình trên 200 mm/tháng Tháng 10 thường là tháng mưa nhiều nhất trong năm Sự khác biệt giữa miền Nam và miền Bắc về điều kiện thời tiết khí hậu khiến cho các hệ thống nông nghiệp ở các vùng cũng rất đa dạng
Độ ẩm không khí cao, dao động trong khoảng 80% và thay đổi theo vùng, theo mùa trong năm Nhiệt độ bình quân trong năm luôn trên 200C, cao nhất vào tháng 6, tháng 7 (khoảng 35-360C cũng có năm lên tới 38-390C) và thấp nhất vào cuối tháng 12, tháng 1 (nhiệt độ dưới 150C, cũng có năm nhiệt độ xuống dưới
100C) Tuy nhiệt độ bình quân chung như vậy nhưng nó cũng khác nhau theo địa hình, theo vùng của đất nước, cụ thể là nhiệt độ đó tăng dần từ cao xuống thấp,
từ Bắc vào Nam
Trang 5Điều kiện khí hậu thời tiết nước ta như vậy đã tạo nhiều sự thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt đối với nông nghiệp nó là cơ sở để
ta phát triển một nền nông nghiệp toàn diện trong đó có ngành sản xuất lúa gạo Tuy nhiên cũng chính điều kiện khí hậu đó cũng gây không ít khó khăn trong sản xuất; hàng năm thường xảy ra lũ lụt, bão quét về mùa mưa, hạn hán về mùa khô gây ra biết bao khó khăn thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân ta Mặc khác, khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh, dịch hại vật nuôi và cây trồng phát sinh và phát triển, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta
1.1.2 Tài nguyên đất :
Nói chung, mọi hoạt động kinh tế - xã hội rất cần đất, song riêng trong nông nghiệp thì đất đai là loại tư kiệu sản xuất đặt biệt và không thể thiếu, không thể thay thế được
Đất đai nước ta rất đa dạng: nằm trong vành đai Bắc bán cầu với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa các quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, đó là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Đất có giá trị cao nhất trong trong lúa
là đất phù sa Loại đất này phân bố chủ yếu ở Bắc Bộ và Nam Bộ
Ngoài các loại đất tốt, trong tổng diện tích tự nhiên của nước ta có tới 2/3 diện tích là đồi núi, đất dốc, cộng chế độ canh tác cũ lạc hậu để lại, lượng mưa hàng năm lớn, cho nên hiện nay có tới 20% diện tích tự nhiên bị xấu đi do bi xói mòn, rửa trôi gây ra nhiễm phèn, nhiễm mặn và sa mạc hoá đang tồn tại ở vùng ven biển miền Trung và một số vùng khác, đó là những khó khăn lớn đối với ngành sản xuất lúa gạo nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung
1.1.3 Tài nguyên nước :
Nguồn nước mặt của nước ta khá phong phú, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá dày đặc và được phân bối tương đối đồng đều trong cả nước, trong đó, đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam có ba con sông lớn, đó là sông Hồng, sông Cả và sông Cửu Long Lượng nước trên các con sông phụ thuộc chủ yếu vào lượng nước mưa theo mùa Hàng năm các con sông của nước ta đổ ra
Trang 6biển tới 900 tỉ m3 nước Đặc điểm sông ngòi Việt Nam có rất nhiều thuận lợi đối với sản xuất và đời sống : chất lượng nước tốt, hàm lượng phù sa cao, khoáng hoá thấp và ít biến đổi, độ pH trung bình (7,2 – 8) Nhưng bân cạnh đó do lượng mưa hàng năm lớn lại phân bố không đều trong năm, sông ngòi dày đặc nhưng lòng sông hẹp và dốc… cũng đã gây ra không ít khó khăn trong sản xuất và đời sống
1.2 Các loại giống lúa
Việt Nam trồng khá nhiều loại giống lúa khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện của từng vùng sinh thái và từng mùa vụ Các tỉnh phía Bắc sử dụng nhiều loại giống lúa nhập từ Trung Quốc (chủ yếu là do khả năng thích ứng của các giống lúa Trung Quốc với điều kiện đất đai khí hậu của miền Bắc), trong khi đó các tỉnh phía Nam lại trồng nhiều giống lúa IR có nguồn gốc từ Viện lúa quốc tế (IRRI) Mặc dù có hàng 100 giống lúa khác nhau, nhưng chỉ có 10 giống lúa được trồng phổ biến nhất, chiếm tới 60% tổng diện tích gieo trồng lúa cả nước Trong số các giống lúa còn lại, mỗi giống chỉ chiếm không quá 1% tổng diện tích gieo trồng Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp & PTNT năm 2000, cả nước mỗi vụ trồng trên 200 giống lúa khác nhau Tuy nhiên số lượng giống lúa được trồng ở từng vùng và từng vụ có khác nhau Vụ Đông-Xuân ở miền Trung có số lượng giống lúa ít nhất, nhưng cũng đã là 131 giống lúa khác nhau
Các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng các giống lúa lai và lúa thuần Trung Quốc (khoảng 60% diện tích) Khang Dân 18 and Q5 là hai giống lúa trồng tương đối phổ biến trong vụ Đông-Xuân (15 và 12%) và vụ Mùa (18 và 14%)
Đối với nông dân miền Trung, giống lúa IR có vị trí quan trọng hơn Hai giống lúa được trồng nhiều nhất là IR17494 và Khang Dân 18 chiếm 21% và 13% trong vụ Đông-Xuân và khoảng 12% và 8% trong vụ Hè-Thu
IR50404 và OM1490 là hai giống lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam, chiếm khoảng 13% trong vụ Đông-Xuân và 10-13% trong vụ Hè-Thu Mặc dù giống IR64 là giống lúa chính phục vụ cho xuất khẩu nhưng chỉ chiếm 5-6% diện tích gieo trồng trong vụ Đông-Xuân và Hè Thu ở miền Nam
1.3 Các kênh tiêu thụ và phân phối lúa gạo
Trang 7Hệ thống tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam khá phức tạp thông qua nhiều mắt xích liên hệ giữa các đối tác khác nhau: nông dân sản xuất lúa, người thu gom lúa, cơ sở xay xát, người bán buôn, người bán lẻ và các công ty quốc doanh lương thực Ngoài ra, công ty lương thực quốc doanh còn phân thành 2 loại: TW (VINAFOOD I ở miền Bắc và VINAFOOD II ở miền Nam) và Địa phương Hệ thống các kênh tiêu thụ có thể được mô tả khái quát bằng sơ đồ dưới đây (Xem
kh«ng cã HNXK
Ghi chú: DNQD - Doanh nghiệp quốc doanh; HĐXK - Hợp đồng xuất khẩu
Kênh tiêu thụ gạo
Kênh tiêu thụ lúa
Nhìn chung, kể từ 1980 công cuộc đổi mới cơ chế chính sách đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của một hệ thống lưu thông lúa gạo tự do ở Việt Nam Thị trường lúa gạo trong nước đã được tháo gỡ khỏi mọi hạn chế ràng buộc Hệ thống lưu thông phân phối và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo hiện nay hầu như hoàn toàn tự do với sự tham gia của nhiều đơn vị, nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Trang 81.5 Các nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến ngành sản xuất lúa gạo :
Nhóm nhân tố này bao gồm nhiều loại yếu tố khác nhau, trong đó có cả yếu tố vật chất và phi vật chất đã tác động và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phân bố và phát triển ngành sản xuất lúa gạo
Thứ nhất: với Việt Nam, trước hết phải nói đến một yếu tố quan trọng
trong các yếu tố phi vật chất, đó là sự đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung và nền nông nghiệp nói riêng, đã và đang là yếu tố tác động mạnh
mẽ đối với ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo Nó thúc đẩy nền nông nghiệp của đất nước có bước chuyển đáng kể, tiến tới một nền nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ hai: các cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho sản xuất lúa gạo đang
được nâng cấp, tăng cường như : thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, hệ thống các phương tiện giao thông vận tải thông tin liên lạc…cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; các giống lúa mới với các phương pháp nhân giống và sự phát triển của ngành công nghệ sinh học…đã có những tác động tích cực đối với ngành sản xuất lúa gạo
Thứ ba: lực lượng lao động trong ngành sản xuất lúa gạo của nước ta còn
chiếm trên 50% lao động của xã hội của cả nước , đó cũng là một yếu tố quan trọng, một nguồn lực to lớn có ảnh hưởng không nhỏ cần được tận dụng khai thác có hiệu quả để phát triển ngành; đồng thời góp phầnn giải quyết một vấn đề
xã hội quan trọng của đất nước đó là việc làm cho lao động
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI WTO 2.1.Tình hình sản xuất lúa gạo trước khi gia nhập WTO :
Đã từ lâu cây lúa luôn giữ một vị trí trung tâm trong ngành nông nghiệp
và nền kinh tế của Việt Nam Hình ảnh đất Việt thường được mô tả như là một chiếc đòn gánh khổng lồ với hai đầu là hai vựa thóc lớn đó là ĐBSH và ĐBSCL Đây là hai đồng bằng châu thổ có mật độ dân cư và thâm canh sản xuất nông nghiệp thuộc loại cao nhất trên thế giới Điều kiện thời tiết khí hậu và địa lý thích hợp đã tạo một môi trường lý tưởng cho sản xuất lúa gạo tại hai đồng bằng châu thổ này
Với cơ chế kế hoạch hoá sản xuất tập trung trong thập kỷ 70 và đầu thập
kỷ 80, ngành lúa gạo đã lâm vào cảnh trì trệ, năng suất lúa giảm và các nguồn tiềm năng tự nhiên phục vụ cho sản xuất lúa gạo không được khai thác hết Kể
từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu sự nghiệp đổi mới kinh tế Hộ gia đình đã thực
sự được coi là một đơn vị sản xuất quan trọng trong nông thôn và được trao quyền tự chủ trong các quyết định sản xuất và tiêu thụ nông sản Cơ chế khoán
hộ cùng với những cải cách về chế độ sử dụng ruộng đất và thuế đã tạo ra một bước nhảy vọt trong nông nghiệp Sản xuất lúa gạo tăng mạnh bắt đầu từ đầu thập kỷ 90
Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa phân theo vùng, giai đoạn 1990-2002
1990-2002
% tăng hàng năm % đóng góp tăng SL
Trang 10Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu của Tổng cục Thống Kê,1990-2002
Bên cạnh chính sách đổi mới nhằm khuyến khích phát triển sản xuất trong nước, hoạt động thương mại quốc tế đối với ngành hàng lúa gạo cũng đã được đẩy mạnh Một trong những bước thay đổi quan trọng nhất trong chính sách thương mại đó là việc xoá bỏ hạn ngạch xuất khẩu và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu gạo, và cũng nhờ đó mà đã tăng nhanh được lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo Trong giai đoạn 1997-2001, Việt Nam xuất khẩu trung bình hàng năm khoảng 3,8 triệu tấn, cung cấp gạo cho hơn 120 quốc gia trên thế giới, thuộc tất cả các Châu lục khác nhau, tuy nhiên chủ yếu vẫn là xuất sang Châu Á (52%), Châu
Âu (20%) và Trung Đông (12,7%) 5 nước đứng đầu trong danh sách nhập khẩu
Trang 11gạo của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2001 đó là: In-đô-nê-xi-a (14,8%), li-pin (12,6%), Xin-ga-po (9,9%), Irắc (9,8%) và Thuỵ sĩ (8,4%)
Phi-Bảng 2 Gạo XK của Việt Nam, bình quân hàng năm giai đoạn 1997-2001
Gạo xuất khẩu của Việt Nam (1997-2001) phân theo khu vực, %
Cơ cấu luợng XK Cơ cấu Giá trị XK
Nguồn của Tổng cục Thống Kê, 2001
Về nhập khẩu, lượng gạo nhập khẩu chính ngạch vào thị trường Việt Nam không nhiều, chỉ khoảng 20 nghìn tấn/năm Gạo nhập khẩu chủ yếu là gạo thơm, chất lượng cao của Thái Lan và thường được nhập vào thời điểm giáp tết Thuế suất nhập khẩu gạo chính ngạch phụ thuộc vào các hiệp định song phương giữa Việt Nam và nước xuất khẩu, nhưng thông thường thuế suất nhập khẩu gạo là khoảng 40% Mặc dù lượng gạo nhập khẩu theo đường chính ngạch vào Việt Nam không lớn, nhưng thường xuyên vẫn thấy một trữ lượng lớn gạo thơm của Thái Lan tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận
Trang 12Tuy nhiên ngành lúa gạo Việt Nam vẫn còn có nhiều khó khăn và thách thức lớn, đặc biệt là dưới sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng trong quá trình
mở rộng hội nhập quốc tế Tuy hiện nay năng suất lúa bình quân chung của cả nước đã khá cao đạt khoảng 4,5 tấn/ha, song giữa các vùng sinh thái khác nhau trong nước lại có sự chênh lệch đáng kể về năng suất lúa Ở các vùng đồng bằng một số hộ nông dân trồng lúa đã đạt được năng suất rất cao, 10-12 tấn/ha, trong khi đó năng suất lúa ở các vùng trung du miền núi và các vùng đất cát duyên hải thường lại rất thấp, chỉ đạt bình quân khoảng trên 2 tấn/ha Luợng gạo tham gia vào các kênh lưu thông chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn cung cấp chính đó là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) Bất kỳ một rủi ro thiên tai nào xảy ra ở hai vựa thóc lớn này đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia Trên thực tế, các vùng sản xuất nông nghiệp nằm ngoài các châu thổ sông lớn đều không có gạo dư thừa, ngoại trừ một vài năm gần đây ở một số địa phương vùng cao nông dân được mùa do gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, nên lượng gạo sản xuất đã vượt hơn mức tiêu dùng của địa phương Sản xuất lúa gạo ở các vùng duyên hải và trung du miền núi chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ, hay nói một cách khác là sản xuất thuần tuý mang tính tự cung tự cấp, và vẫn còn tình trạng một số hộ nông dân không đủ lương thực cho tiêu dùng gia đình từ một đến hai tháng trong năm Thiếu việc làm để đảm bảo thu nhập ổn định và thiếu vốn để mua vật tư thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp đang là những trở ngại lớn trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
Các hoạt động chế biến và lưu thông lúa gạo tuy đã có những bước phát triển đáng kể song vẫn đang còn quá nhiều trở ngại cần phải phấn đấu vượt qua Ngành chế biến xay xát lúa gạo hiện đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu từ một hệ thống chủ yếu dựa vào các cơ sở chế biến xay xát quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và chỉ có một số ít các nhà máy xay xát gạo qui mô lớn phục vụ cho thị trường xuất khẩu, tiến tới một mô hình chế biến công nghiệp hiện đại hơn với nhiều nhà máy chế biến quy mô lớn Trình độ công nghệ áp dụng trong chế biến lúa gạo của Việt Nam hiện vẫn còn lạc hậu, chất lượng gạo
Trang 13chế biến còn thấp, tỉ lệ hao hụt lớn và tỉ lệ gạo vỡ còn cao Một trong những nguyên nhân chính làm chậm quá trình hiện đại hoá công nghệ của ngành chế biến lúa gạo đó là thiếu vốn đầu tư Đối với các cơ sở chế biến gạo qui mô lớn,
hệ thống cung cấp tín dụng chính thức hiện tại do thiên về ưu tiên phục vụ cho các doanh nghiệp quốc doanh nên đã phần nào đã kìm hãm khả năng cạnh tranh
có hiệu quả của khu vực kinh tế tư nhân Hơn nữa, phần lớn các hợp đồng chính phủ lại giao cho các công ty quốc doanh thực hiện, nên khả năng mở rộng các hoạt động xuất khẩu của khu vực kinh tế tư nhân bị hạn chế
Những vướng mắc về thể chế và sự yếu kém về cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh lúa gạo đang là nhân tố kìm hãm sự phát triển của ngành Chi phí cao trong hệ thống cung cấp tín dụng chính thức đã không khuyến khích được người nông dân và các nhà chế biến lúa gạo gia tăng mức đầu tư, chỉ khoảng 1/3 số hộ nông thôn tiếp cận được hệ thống tín dụng chính thức, nhưng phần lớn là vay ngắn hạn (dưới 1 năm) và lượng vay nhỏ (khoảng 300 USD) và buộc nông dân phải tìm đến hệ thống tín dụng phi chính thức và khiến các nhà xay xát phải trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư
2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo sau khi gia nhập WTO :
Việt Nam đã hoàn tất thủ tục gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bằng việc Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập tổ chức này Các nhà đàm phán từ nay đã bàn giao lại “trận địa” cho doanh nhân Cơ hội đã mở ra hết cỡ, thắng thua phụ thuộc vào mức độ thiện chiến của doanh nhân
Trong tháng cuối năm 2007, nông dân các tỉnh miền Bắc tiếp tục tập trung công tác làm đất, gieo mạ, tích cực chuẩn bị sản xuất vụ lúa đông xuân 2007-
2008 Trong khi đó, các tỉnh miền Nam hoàn tất thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông (lúa vụ 3) và tập trung xuống giống đại trà lúa đông xuân Theo tính toán của Tổng cục Thống Kê, diện tích gieo cấy lúa cả năm ước đạt 7.181 nghìn ha, bằng 98% (giảm 144 nghìn ha) so với năm trước; trong đó lúa đông xuân đạt 2.988,5 nghìn ha bằng 99,8% (giảm 7 nghìn ha), lúa hè thu 2.204,8 nghìn ha bằng 94,9% (giảm 112,6 nghìn ha), lúa mùa 1.987,4 nghìn ha bằng 98,8% (giảm 24,5 nghìn ha) Diện tích gieo cấy lúa giảm ở cả 3 vụ trong năm và chủ yếu giảm lúa hè thu;
Trang 14nguyên nhân chính do chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, giảm mạnh diện tích lúa thu đông ở đồng bằng sông Cửu Long theo chỉ đạo của ngành để né tránh rầy nâu và do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết như hạn hán, mưa bão
Năng suất lúa cả năm ước đạt 49,8 tạ/ha tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước; trong đó, năng suất lúa đông xuân cả nước đạt 57 tạ/ha giảm 1,8 tạ/ha (các địa phương miền Bắc giảm 5,4 tạ/ha) do thời tiết không thuận ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của lúa, sâu bệnh phát sinh trên diện rộng ở các vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ; chậm thay đổi giống mới, giống kháng bệnh thay thế giống thoái hóa, dễ bị nhiễm bệnh; năng suất lúa hè thu ước đạt 46 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha, nhờ yếu tố thuận lợi về thời tiết so với vụ lúa hè thu năm
2006 Nhiều tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long năng suất lúa hè thu tăng cao, như: Long An tăng 10,2 tạ/ha, Kiên Giang tăng 9,4 tạ/ha, Trà Vinh tăng 6,1 tạ/ha, Bến Tre tăng 6,1 tạ/ha, Hậu Giang tăng 3,8 tạ/ha, ; năng suất lúa mùa ước đạt 43,5 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha
Sản lượng lúa cả năm ước đạt 35,87 triệu tấn, tăng 68,4 nghìn tấn và bằng 100,2% so cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng lúa đông xuân đạt 17,02 triệu tấn bằng 96,8% (-564,2 nghìn tấn), sản lượng lúa hè thu đạt 10,14 triệu tấn tăng 4,6% (+441,2 nghìn tấn) và sản lượng lúa mùa đạt 8,73 triệu tấn tăng 1,9% (+191,4 nghìn tấn) Tuy nhiên, do ảnh hưởng của bão lụt nên sản lượng lúa mùa của một số vùng giảm nhiều, như: các tỉnh miền Trung giảm 26 nghìn tấn (-6%), Tây nguyên giảm 15,4 nghìn tấn (- 4,1%) so vụ mùa năm 2006
Có thể nói sản xuất lúa vụ 3 năm 2007 ở các tỉnh ĐBSCL được mùa Thông thường năng suất lúa vụ 3 rất thấp, thế nhưng vụ 3 năm nay năng suất bình quân đạt 5,5 - 6 tấn /ha, cá biệt có nơi lên đến 8 tấn/ha Nhiều nông dân ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp rất phấn khởi vì chưa có năm nào lúa vụ 3 lại cho năng suất và giá cả cao như năm nay Giá lúa cũng đứng ở mức cao, dù đang là mùa thu hoạch rộ Giá lúa cao đã kéo giá gạo, cám tăng theo Đến giữa tháng, lúa vụ 3 ở tỉnh Đồng Tháp đã thu hoạch trên 80%, với năng suất bình
Trang 15quân 5 tấn/ha Giá lúa dao động từ 3.600 - 3.700 đồng/kg đối giống chất lượng cao
Theo Trung tâm Tin học & Thống kê, khối lượng gạo xuất khẩu gạo tháng 12/2007 ước đạt 60.000 tấn, kim ngạch đạt trên 29 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 35% về lượng và 2,1 lần về giá trị Khối lượng gạo xuất năm
2007 ước đạt 4,5 triệu tấn, kim ngạch 1,46 tỉ USD, so với năm 2006 giảm 3% về lượng, nhưng tăng 14,4% về giá trị Lượng gạo xuất khẩu đảm bảo hạn mức xuất khẩu 4,5 triệu tấn của năm 2007 Khoảng cách giá gạo xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan đã thu hẹp, có thời điểm đạt mức ngang giá Giá gạo xuất khẩu bình quân năm nay đạt khoảng 300USD/tấn, tăng 17,5% so với năm trước Mặc
dù gặp nhiều khó khăn về nguồn cung do những ảnh hưởng của thiên tai và sâu bệnh, song năm 2007 vẫn được xem là năm thắng lợi trong xuất khẩu gạo của Việt Nam nhờ giá cả tăng và nhu cầu thị trường thế giới luôn ở mức cao
Đồ thị 1 Ước kim ngạch xuất khẩu một số hàng Nông, Lâm, Sản chủ yếu năm 2007
2.116
1.460 1.360
641 1.817
Cà phê Gạo Cao su Hạt
điều
Hàng rau quả
Hạt tiêu SP
mây, tre, cói, thảm
Chè
0 20 40 60 80 100 120 140 160
2007 2006
%07/06
Ước kim ngạch XK một số mặt hàng NLS chủ yếu
năm 2007
Nguồn Báo cáo của Bộ Nông Nghiệp, 12/2007
Trong tháng 12, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan tăng ổn định, với nhu cầu mạnh tại Thái Lan đóng vai trò trợ giá tích cực Do nguồn
Trang 16cung xuất khẩu của hai đối thủ cạnh tranh lớn với Thái Lan là Việt Nam và Ấn
Độ không còn, các nhà xuất khẩu gạo Thái đang có lợi thế lớn để tăng lượng xuất khẩu trên thị trường thế giới Nhu cầu trên thị trường Thái Lan chủ yếu là gạo đồ và gạo trắng, bên cạnh nhu cầu ổn định đối với các loại gạo thơm Tuy nhiên, nguồn cung gạo mới của Thái Lan hiện chưa dồi dào
Bên cạnh đó, để công tác điều hành xuất khẩu gạo trong năm 2008 được hiệu quả, Bộ Công Thương đã có công văn xin ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành về cơ chế điều hành trên cơ sở chỉ tiêu xuất khẩu chỉ dừng ở mức 4,5 triệu tấn theo đề xuất của Hiệp hội Lương thực Việt Nam Như vậy, trong năm 2008 chỉ tiêu xuất khẩu gạo vẫn là 4,5 triệu tấn và chỉ công bố một lần Tuy nhiên, riêng gạo nếp và gạo thơm, các doanh nghiệp được xuất khẩu theo yêu cầu Với lượng gạo không tăng như vậy, thị trường xuất khẩu trọng điểm của gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở các thị trường truyền thống là Philippines, Indonesia, Malaysia, Cu ba sẽ chiếm khoảng 3 triệu tấn, 1,5 triệu tấn còn lại sẽ xuất khẩu thương mại và các thị trường khác
2.3 Những thuận lợi và cơ hội sau khi gia nhập WTO
Thứ nhất, đó là chúng ta có một không gian mới về thị trường, WTO là
sân chơi lớn toàn cầu Chúng ta cần thị trường toàn cầu để phát triển kinh tế, thương mại và thu hút đầu tư Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO - Kỳ IV: Gạo Việt Nam sẽ thêm nhiều thuận lợi (22/10/2007) Có thể nói, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ có nhiều ảnh hưởng tích cực tới việc sản xuất và xuất khẩu gạo Đó là nhận định của các chuyên gia khi phân tích về tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO
Các chuyên gia cho rằng, tham gia vào WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia vào một hệ thống thương mại rộng mở, tự do và bình đẳng, có cơ hội tiếp cận thị trường của 150 quốc gia và vùng lãnh thổ Gạo Việt Nam sẽ được hưởng các cam kết ưu đãi thuế quan và phi thuế quan, không phân biệt đối xử như trước đây