Bautista, was first published in English in the journal ASEAN Economic Bulletin Vol 16, No 1 Sức cạnh tranh về giá của sản xuất lúa gạo ở Việt Nam: Những tác động của các chính sách tr
Trang 1The Price Competitiveness of Rice Production in Vietnam: Effects of Domestic Policies and External Factors”
by Romeo M Bautista, was first published in English in the journal ASEAN Economic Bulletin Vol 16, No 1
Sức cạnh tranh về giá của sản xuất lúa gạo
ở Việt Nam: Những tác động của các chính sách trong nước
Trang 3Bài viết này tính sức cạnh tranh về giá cả của sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam, xem xét quá trính phát triển của sự cạnh tranh đó trong giai đoạn cải cách kinh tế gân đây và tìm hiểu về tầm quan trọng tương đối của các vấn đề sau liên quan đến những thay đổi của sự cạnh tranh trong giá cả: (1) những thay đổi của giá quốc tế của gạo và phân bón; (2) thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực; và (3) thay đổi trong mức bảo hộ danh nghĩa (nominal protection) đối với gạo và phân bón Nhân tố quan trọng nhất làm gạo của Việt Nam giảm khả năng cạnh tranh trong giai đoạn 1989-1995 là việc tỷ giá hối đoái thực tăng mạnh; các chính sách kinh tế vĩ mô là nguyên do chính đẩy tỷ giá đó tăng như vây
1 Lời mở đầu
Trong quá trình quá độ sang kinh tế thị trường, Việt Nam chuyển sang hệ thống phân
bổ các nguồn lực và sản phẩm thông qua thị trường Các biện pháp mà Việt Nam đã tiến hành là tự do hoá giá cả, phi tập trung hoá quá trình hoạch định chính sách kinh tế
và mở rộng sự tham của khu vực tư nhân trong nền kinh tế quốc dân Chương trình
đổi mới đầy tham vọng được đưa ra vào năm 1986 và 3 năm sau đó thì quá trình đổi mới kinh tế bắt đầu tăng tốc Trong các biện pháp cụ thể có việc chấm dứt tập thể hoá nông nghiệp, tạo điều kiện hình thành kinh tế nông nghiệp dựa trên các hộ gia đình, chấm dứt kiểm soát giá cả lương thực, thực phẩm và phần lớn các hàng hoá khác, thống nhất và để giảm giá đồng tiền Việt Nam so với các ngoại hối, nâng mức lãi suất lên cao hơn tỷ lệ lạm phát trong nước và cải thiện các mặt khác của chính sách kinh tế
vĩ mô
Tự do hoá giá cả là một nội dung quan trọng của cải cách kinh tế ở Việt Nam Trước năm 1989, ở Việt Nam tồn tại hệ thống hai giá Hệ thống này buộc người sản xuát phải bán cho Nhà nước ở mức “giá chính thức” thấp hơn nhiều so với “giá thị trường”
ở khu vực phi nhà nước Cải cách giá cả đã xoá sự khác biệt giữa giá chính thức và giá thị trường Biện pháp cải cách này có ý nghĩa nhất đối với với những người sản xuất gạo Vào năm 1988, giá gạo trên thị trường cao gấp 9 lần giá gạo chính thức (450 VNĐ/kg so với 50 VNĐ/kg) “Khi giá gạo chính thức tăng lên tới mức ngang với giá gạo thị trường, sản lượng gạo năm 1989 tăng 12% so với năm 1988” (Riedel và Comer
1995, tr.12) và tăng tiếp 14% trong ba năm tiếp đó
Tất nhiên là giá danh nghĩa của gạo không phải là yếu tố duy nhất quyết định mức sản xuất gạo Nói chung, quyết định của người sản xuất về việc nên sản xuất gì và sản xuất bao nhiêu phụ thuộc - ít nhất thì cũng là phụ thuộc một phần- vào mức lợi nhuận tương đối của các loại sản phẩm khác (hoặc là của một kết hợp nào đó giữa các sản phẩm) Mà mức lợi nhuận thì lại là một hàm số (function) của sản lượng và giá các
Trang 4đầu vào Trong sản xuất lúa gạo, đầu vào vật chất quan trọng nhất là phân phón Vì vậy, thước đo về “sức cạnh tranh về giá cả” sử dụng trong nghiên cứu này có giá nội
địa của gạo và phân bón
Giá nội địa tương đối (domestic relative price) của bất cứ hàng hoá khả thương (tradable) nào trong một giai đoạn nhất định là kết quả của cả chính sách lẫn những nhân tố không thuộc về chính sách Những nhân tố không thuộc về chính sách có thể giá quốc tế- nói cụ thể hơn là giá tại biên giới (border price)- của sản phẩm (tính bằng ngoại hối) Mặt khác, các chính sách giá cả của Chính phủ có thể được phân thành các chính sách áp dụng cho từng lĩnh vực (sector-specific) và các chính sách áp dụng cho cả nền kinh tế (economy-wide) Những chính sách này có tác động trực tiếp và gián tiếp đối với giá sản phẩm Giá nội địa tương đối của một hàng hoá khả thương cũng chịu tác động của tỷ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái bị tác động không chỉ bởi các chính sách áp dụng cho cả nền kinh tế hoặc các chính sách kinh tế vĩ mô mà còn bởi tỷ lệ/điều kiện trao đổi đối ngoại (external terms of trade) (xin xem ở dưới) nằm ngoài khả năng kiểm soát của những người hoạch định chính sách
Đối với gạo là nông sản xuất khẩu quan trọng của VN từ năm 1989 thì biện pháp chính sách quan trọng nhất đối với lĩnh vực này không phải là thuế đánh trực tiếp vào xuất khẩu gạo (vì mức thuế xuất gạo chỉ 1%) mà là những hạn chế về số lượng gạo
được xuất khẩu Những hạn chế này tạo ra sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá
quốc tế (như vậy, đây là thuế gián tiếp) Tổng số lượng xuất khẩu là do chính phủ
trung ương ấn định dựa trên những dự đoán về mức sản xuất và tiêu thụ Sau đó các cô-ta xuất khẩu được giao cho các doanh nghiệp nhà nước và tỉnh Cũng tương tự như vậy, không có thuế nhập khẩu đối với phân bón hoá học Lượng phân bón mà các doanh nghiệp công được phép nhập cũng lại dẫn đến sự chênh lệch giữa giá trong
nước và giá quốc tế (như vậy, đây cũng là thuế gián tiếp)
Về mặt chính sách, điều quan trọng là phân biệt được tác động của các chính sách trong nước với tác động của các nhân tố bên ngoài đối với giá tương đối của các sản phẩm nông nghiệp Ví dụ, giá trên thị trường quốc tế của một sản phẩm nông nghiệp xấu đi (hoặc được cải thiện) trong một thời gian dài Nếu việc tăng lợi thế so sánh và
sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước là mục tiêu tiêu quan trọng về mặt chính sách thì chưa chắc việc duy trì mức giá tương đối trong nội địa của sản phẩm đó lại là lựa chọn chính sách tốt nhất.i Chính sách như vậy có thể nhằm thực hiện những mục tiêu khác (tự cường của quốc gia, bảo hộ thu nhập cho một số sản phẩm ) nhưng người
ta sẽ phải trả giá cao về mặt thu nhập quốc dân và lợi ích của người tiêu dùng nếu muốn theo đuổi các mục tiêu đó
Phần 2 của bài viết này sẽ xem xét những thay đổi hàng năm của giá nội địa tương đối của gạo và phân bón ở VN từ 1989-1995 Trong phần 3, chúng tôi sẽ đưa ra cách tính
Trang 5sức cạnh tranh về giá của gạo, điểm lại diễn biến của sức cạnh tranh đó từ năm 1989
và đánh giá tác động của giá gạo và phân bón đối với thước đo sức cạnh tranh
Phần 4 tìm hiểu tầm quan trọng tương đối của các nhân tố tác động đến sự thay đổi trong sức cạnh tranh về giá: (1) thay đổi trong giá quốc tế của gạo và phân bón; (2) thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực; (3) thay đổi trong bảo hộ danh nghĩa đối với gạo và phân bón Những biến số ảnh hưởng lớn đến tỷ suất ngoại hối sẽ được xem xét trong phần 5; những biến số này sẽ gồm cả hai loại là biến số bên ngoài (external) và biến số liên quan đến chinhs sách (policy-related) Chúng sẽ được phân tích từ góc độ chung,
đồng thời cả trong bối cảnh của VN Phần 6- phần kết thúc- sẽ nêu tóm tắt những phát hiện qua nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu đối với việc xây dựng chính sách
2 Thay đổi trong giá nội địa của gạo và phân bón
Trước cải cách giá cả vào năm 1989, do thiếu số liệu về tỷ lệ của lượng gạo bán ở mức giá chính thức cũng như của lượng gạo bán theo giá thị trường nên không thể luận ra
được mức giá trung bình cho người sản xuất gạo Khi đó, mức giá chính thức của gạo
được công bố dưới dạng các con số phản ánh tỷ suất giữa giá gạo và giá các sản phẩm nông nghiệp khác (David 1994, tr.8)
Bảng 1 cung cấp số liệu về giá trị hàng năm của giá gạo tính tại cổng nông trại (farmgate) và của giá bán buôn từ 1989-1999, số liệu chỉ số giá cả ẩn (implicit) của GDP Hình 1 là về mức giá tương đối của gạo (theo chỉ số giá cả GDP) Dù dựa trên mức tính nào thì giá gạo tương đối (hoặc thực) tăng vào năm 1990, nhưng giảm liên tục trong 4 năm sau đó, rồi tăng lại vào năm 1995 Tính toàn bộ thì giá giảm khá nhiều trong giai đoạn này- giảm đi 40% so với mức năm 1989
bảng 1 Giá trị hàng năm của giá gạo và chỉ số giá cả/giảm phát (deflator) GDP
từ 1989-1995
Năm Giá cổng nông trại
(đồng/kg)
Giá bán buôn (đồng/kg)
Trang 6hình 1 Chỉ số về giá tương đối của gạo ở Việt Nam, 1989-1995
Trong Bảng 2, mức giá tương đối ở trong nước của phân bón so với giá gạo tại cổng nông trại đã giảm xuống trong giai đoạn 1989-1995 Vì vậy, khoản lợi nhuận mà nông dân trồng gạo bị mất đi do giá gạo giảm lại được bù lại bằng việc giá đầu vào trung gian chính (principla intermediate input) còn giảm nhiều hơn Chúng ta cần phải tính đến cả hai yếu tố trên để đánh giá mức lợi nhuận tương đối của sản xuất gạo Cách tính về sức cạnh tranh của giá cả (sẽ được đưa ra ở phần dưới) phần nào phản
ánh yếu tố thứ hai
Câu hỏi quan trọng được đặt ra ở đây là các chính sách của chính phủ đã tác động tới mức nào đến những thay đổi mà người ta có thể quan sát được trong giá của gạo và phân bón; và vì vậy, các chính sách đó đã tác động như thế nào đến sức cạnh tranh về giá cả của sản xuất gạo Vì cả chính sách nội địa và những nhân tố bên ngoài cùng tác
động đến giá tương đối trong nước (nội địa) của các hàng hoá khả thương, chúng ta cần xem xét những tác động riêng của chúng
3 Sức cạnh tranh về giá của sản xuất gạo
Mức giá tương đối trong nước của gạo (được khấu trừ lạm phát-deflated- bằng chỉ số giá cả chung) có thể được thể hiện bằng bình quân gia quyền cấp số nhân (geometric price index) của giá trị gia tăng và giá của các đầu vào trung gian (đều được khấu trừ lạm phát bởi cùng một chỉ số giá cả chung) Trong nghiên cứu này, giá của đầu vào trung gian được thể hiện bằng giá của phân bón Vì vậy,
Trang 7Pr = PfwPv1-w (1)
trong đó Pr, Pf, Pv là những chỉ số của giá tương đối của gạo, phân bón và giá trị tương
đối; w là phần giá trị của phân bón trong tổng giá trị của sản lượng gạo
bảng 2 Quan hệ giữa giá phân bón (urê) và giá gạo
Giá gạo tương đối tại cổng nông trại*
(đồng/kg, giá năm 1989)
(1)
Gạo (2)
Tỷ suất (3)=(1)ữ(2)
∆Cr = ∆ Pr - w∆Pf (2’) trong đó ∆ phản ánh sự thay đổi tương ứng (propotionate) từ năm t-1 đến năm t
cả trong năm t là:
Cr,t= Cr,t-1(1,000 + ∆Pr,t - w∆Pf,t) (3)
và cũng là thước đo (mesure) về mức khuyến khích (incentive) sản xuất gạo so với các hoạt động sản xuất khác ở Việt Nam (không so với các nước xuất khẩu gạo khác trên thị trường thế giới) Về mặt kế toán, người ta có thể dùng phương trình (3) để
đánh giá mức đóng góp riêng (separate contributions) cuả những thay đổi trong giá gạo và phân bón vào chỉ số sức cạnh tranh về giá cả
Với w=0,14, chúng tôi tính giá trị của chỉ số hàng năm về sức cạnh tranh giá cả cho giai đoạn 1989-1995 dựa trên kết quả của cuộc điều tra toàn quốc về các nơi sản xuất lúa gạo ở Việt nam do Viện nghiên cứu lương thực quốc tế tiến hành năm 1995-
Trang 896 và giá tương đối của gạo (giá tại cổng nông trại) và phân bón (Bảng 2) Bảng 3 cung cấp thông tin về các giá trị đó cùng với thay đổi hàng năm (tính theo tỷ lệ phần trăm) của chỉ số và những đóng góp của thay đổi trong giá gạo và phân bón Giá phân bón giảm mạnh (so với chỉ số giảm phát GDP) nhưng vẫn không bù lại được tác động tiêu cực do việc giá gạo giảm (cũng đã tính tới chỉ số giảm phát GDP) gây ra cho sức cạnh tranh về giá của sản xuất gạo Hàng năm, chỉ số giảm trung bình là 5,5% còn giá gạo giảm 7,6%, giá phân bón giảm 2,1%
Bảng 3 Thay đổi trong sức cạnh tranh về giá cả của sản xuất gạo, 1989-95
(tỷ lệ phần trăm)
Sức cạnh tranh về giá Phần đóng góp của thay đổi giá của:
Nguồn: tính toán của tác giả
Như đã nêu ở phần trên, mặc dù sức cạnh tranh về giá của sản xuất gạo giảm như vậy, sản xuất gạo vẫn tăng đáng kể trong giai đoạn này Điều đó có nghĩa là các nhân tố khác ngoài giá cả (non-price factors) đã bù lại tác động tiêu cực của việc giảm sức cạnh tranh của về giá, vì vậy làm tăng sản lượng của khu vực sản xuất gạo Trong
số những nhân tố tích cực này có việc nông dân được tiếp cận với những công nghệ sản xuất mới và các cải cách thể chế củng cố hệ thống nông nghiệp dựa trên sản xuất của hộ gia đình Nghị quyết 5 của Khoá 7 ĐCS Việt nam là về hệ thống nông nghiệp dựa trên sản xuất hộ gia đình; trong đó có vấn đề giao quyền sử dụng đất dài hạn cho
hộ nông dân, đặc biệt là 5 quyền về trao đổi, chuyển giao, cho thuê, thừa kế và thế chấp; những việc này đã thúc đẩy người nông dân đầu tư để cải thiện hoặc khai hoá thêm đất Như David (1994,tr.13) đã nêu, những cải cách thể chế và tiến bộ công nghệ gần đây đã “có tác động tiêu cực đối với năng suất lúa hơn so với các loại cây trồng khác.” Vì vậy, người ta có thể cho rằng môi trường giá cả thuận lợi hơn cho người sản xuất gạo sẽ đưa đến mức cung thậm chí còn cao hơn trong những năm 1995-
96
4 Những nhân tố dẫn đến (determinants)
sự thay đổi của sức cạnh tranh về giá
Trang 9Giá nội địa của một sản phẩm khả thương có thể được phản ánh bằng giá quốc tế của
nó (hoặc giá ở biên giới) theo ngoại hối (ví dụ như đô la Mỹ) và tỷ giá hối đoái danh nghĩa (ví dụ Đồng/Đô la Mỹ) Để có được sự hợp lý trong cách làm này, người ta còn phải tính đến (adjust for) cả “phí tiếp thị” (marketing margin) (trong đó có chi phí vận chuyển và các chi phí giao dich khác) Nếu như đó là sản phẩm xuất khẩu thì người ta cũng phải tính tới các khoản thuế xuất khẩu, các khoản bao cấp cho sản phẩm hoặc bất
cứ hình thức cô-ta xuất khẩu hoặc “thuế xuất khẩu ẩn” (implicit export tax) nào có thể làm cho giá quốc tế/biên giới bị cao hơn so với giá nội địa Đối với sản phẩm nhập khẩu, người ta lại phải tính đến thuế hải quan, hoặc khoản “quan thuế ẩn” (implicit tafiff) của cô-ta nhập khẩu, khiến cho giá nội địa cao hơn giá quốc tế Như đã trình bày ở trên, ở Việtnam có những hạn chế số lượng đối với việc xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón trong những năm 1989-1995; vì vậy, chúng tôi thấy nghiên cứu này cần xem xét thuế xuất khẩu ẩn đối với gạo và thuế nhập khẩu ẩn đối với phân bón
Tất nhiên, mức giá tác động đến hành vi của người sản xuất là mức giá tương
đối (relative) chứ không phải là mức giá danh nghĩa (nominal) Chúng tôi sử dụng mức chung của giá nội địa (general level of domestic prices), đặc biệt là chỉ số giá GDP (GDP price index), làm chỉ số giảm phát cho giá danh nghĩa đối với người sản
xuất gạo và phân bón Khi đó, giá nội địa tương đối Pi (i = r,f) có thể được biểu thị bằng
Pi = RERPi *TiMi (4) trong đó
RER (=NER p*/p): tỷ giá ngoại hối thực, tính bằng cách lấy tỷ giá ngoại hối danh nghĩa (NER, bằng số ĐVN trên một Đô la Mỹ) nhân với tỷ suất giữa chỉ số chung của giá quốc tế (p*) (general foreign price index) và chỉ số giá cả chung ở trong nước (p)
Pi* (=pi*/p*): giá quốc tế tương đối của i (tính theo chỉ số chung của giá quốc tế)
Ti: hệ số bảo hộ danh nghĩa: bằng 1-tx cho gạo (tx là mức thuế xuất khẩu ẩn) hoặc 1+tm cho phân bón (tm là mức thuế quan ẩn); và
Mi: 1+ mi, trong đó mi là phí tiếp thị
Phương trình (4) có thể được viết lại theo những thay đổi tương ứng (proportionate changes) như sau:
∆ Pi= ∆RER + ∆ Pi* + ∆ Ti + ∆ Mi (5) thay ∆Pr và ∆Pf trong phương trình (3) thì sẽ có:
∆Cr = (1-w) ∆RER + (∆Pr*- ∆Pf*) + (∆Tr - w∆Tf) + (∆Mr- w∆Mf) (6)
Trang 10mà có thể sử dụng để tách biệt những thay đổi có thể quan sát được trong sức cạnh tranh về giá của gạo theo: (1) thay đổi trong tỷ giá ngoại hối thực: (2) thay đổi trong giá quốc tế của gạo và phân bón; (3) thay đổi trong bảo hộ danh nghĩa đối với gạo và phân bón; và (4) thay đổi trong phí tiếp thị của gạo và phân bón
Những thay đổi trong chính sách của chính phủ luôn đi cùng với các thành phần (10 và (3) Thành phần (3) hoàn toàn được quyết định bởi chính sách thương mại
và chính sách giá cả; thành phần (1) được quyết định bởi tổng hợp những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô hoặc những chính sách đối với toàn bộ nền kinh tế và những thay đổi trong những nhân tố ngoại lai ví dụ như điều kiện thương mại (xin xem
ở dưới) Hơn nữa, thành phần (4) phần nào bị tác động của các chính sách của chính phủ vì phí vận chuyển từ cửa nông trại hoặc chợ bán buôn đến cảng (biên giới) là hàm
số của chi tiêu cơ sở hạ tầng và thuế/bao cấp về nhiên liệu Ngược lại, thành phần (2) lại không bị ảnh hưởng của chính sách Việtnam là một thành viên còn tương đối nhỏ trên thị trường phân bón thế giới, và mặc dù trong những năm gần đây VN chiếm trên 10% sản lượng gạo xuất khẩu trên thế giới, người ta chưa hề có kế hoạch tận dụng một cách có hệ thống sức mạnh độc quyền (giả sử là VN có được sức mạnh đọc quyền) do
đặc điểm hiện nay của chính sách xuất khẩu của chính phủ
Bảng 4 là về giá trị hàng năm của giá quốc tế của gạo và phân hoá học (ure) trong giai đoạn 1989-1995 sau khi đã triết khấu theo chỉ số giá bán buôn của Mỹ (dùng thay cho mức giá quốc tế chung) Giá gạo quốc tế- phản ánh bằng giá trị của mỗi đơn vị gạo xuất khẩu của VN- dao động trong giai đoạn này nhưng cũng tăng ở mức trung bình là 4,8% Giá quốc tế của ure - phản ánh bằng giá trị của mỗi đơn vị xuất khẩu ure của Indonesia (nguồn nhập ure lớn nhất của VN), lại còn dao động nhiều hơn và có mức tăng trung bình hàng năm là 15% trong giai đoạn 1989-95 Đối với cả hai loại sản phẩm này, giá tăng cao nhất là trong những năm 1991-1995
Tỷ giá hối đoái thực được tính bằng tỷ suất giữa giá của VN với giá quốc tế theo cùng một loại ngoại hối Việc tăng tỷ giá hối đoái thực kéo theo việc giảm sức cạnh tranh về giá của các sản phẩm khả thương của các nhà sản xuất trong nước Những thay đổi trong RER gắn với những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô, thương mại đưa đến sự can thiệp gián tiếp của chính phủ trong lĩnh vực giá cả Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái thực còn chịu tác động của những điều kiện bên ngoài của thương mại mà sẽ được bàn tới ở phần dưới
Bảng 5 là về giá trị hàng năm của chỉ số RER trong giai đoạn 1989-95; các giá trị này được luận ra bằng cách sử dụng các số liệu về tỷ giá hối đoái danh nghĩa, giá nội địa (biểu thị bằng chỉ số giảm phát GDP ẩn) và giá quốc tế (biểu thị bằng chỉ số giá bán buôn của Mỹ) Rõ ràng là tỷ giá hối đoái thực của Việtnam tăng nhiều trong 3 năm cuối của giai đoạn được xem xét, đặc biệt là năm 1991 Việc giảm giá danh nghĩa đồng nội tệ không đủ mức để bù lại mức lạm phát trong nước quá cao so với lạm phát quốc tế Trong giai đoạn này, RER giảm tới 70%
Kết quả T1M1 trong phương trình (4) có thể được tính từ số liệu theo thời gian của giá tại cửa nông trại (hoặc giá bán buôn) và giá quốc tế theo cùng một đồng tiền