1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

17 379 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 27,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều này đã thúc đẩy hộ sản xuất khai thác mọi khả năng trí tuệ và năng lực trong sản xuất kinh doanh để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất, ngày càng nâng

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ HỘ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm:

Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh,

là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: Hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình, xã viên, lâm trường viên, hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp

Như vậy hộ sản xuất là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động tài chính của mình Chính điều này đã thúc đẩy hộ sản xuất khai thác mọi khả năng trí tuệ và năng lực trong sản xuất kinh doanh để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất, ngày càng nâng cao đời sống vật chất tinh thần và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

1.1.2 Đặc trưng của kinh tế hộ sản xuất:

*Hộ sản xuất ở nông thôn nước ta đang chuyển dần từ cơ chế khép kín

tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá:

Hộ sản xuất : Là hình thức tổ chức kinh tế xuất hiện khá sớm trong phương thức kinh tế xã hội loài người Ngày nay kinh tế hộ sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có mối quan hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác, nó là nơi cung ứng, cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm của các ngành kinh tế

Để ngân hàng đầu tư có hiệu quả, cần nghiên cứu các đặc trưng của hộ sản xuất:

Trang 2

Thứ 1: Hộ sản xuất ở nông thôn nước ta đang chuyển dần từ cơ chế khép kín,

tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá, các hộ nông dân không chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp mà còn biết kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp với kinh doanh nghành nghề phụ Chính nhờ sự chuyển đổi này mà sản xuất của các hộ nông dân giảm bớt được sự lệ thuộc vào thời vụ, thời tiết góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, nâng cao dân trí trong nhân dân

Thứ 2: Quy mô sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất ở các

vùng, các khu vực, cá tỉnh khác nhau và kể cả trong một vùng các hộ sản xuất cũng khác nhau về quy mô, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ năng lao động, khả năng về vốn tự có Có sự khác biệt như vậy là do tiềm lực, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, điều này làm cho các hộ sản xuất có sức cạnh tranh từ đó mở rộng và phát triển tăng kinh tế hộ sản xuất trong dân cư

Thứ 3: Kinh tế hộ sản xuất có những hình thức tổ chức kinh tế : Hộ sản xuất,

hộ nhận khoán, hộ đấu thầu, hộ gia đình là thành viên của hợp tác xã, nông trường, tập đoàn sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp… Sự xuất hiện các hình thức tổ chức đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ sản xuất, tăng thu nhập hộ từ đó cải thiện đời sống của dân cư và sự phát triển của hộ sản xuất góp phần làm cho kinh

tế hộ sản xuất khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân

Với những đặc trưng trên kinh tế hộ sản xuất được coi là một trong nhân tố cần thiết trong qúa trình đổi mới nông nghiệp và phát triển nông thôn Kinh tế hộ sản xuất là điều kiện tiên quyết giúp nông thôn thoát khỏi cảnh đói nghèo

Phân loại hộ sản xuất.

Theo ngành nghề:

- Hộ sản xuất ngành nông nghiệp

- Hộ sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Hộ sản xuất ngành thuỷ- hải sản

- Hộ sản xuất ngành thương nghiệp, dịch vụ

Trang 3

- Hộ sản xuất ngành nghề khác.

1.1.3.2.Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Hộ loại 1: Chuyên sản xuất nông lâm ngư nghiệp có tính chất tự sản xuất do một cá nhân làm chủ

- Hộ loại 2: Có giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp, có mức vốn nhất định theo quy định của pháp luật

1.1.3.3 Phân theo mức thu nhập:

- Nhóm 1: Hộ sản xuất giàu và khá

- Nhóm 2: Hộ sản xuất trung bình

- Nhóm 3: Hộ sản xuất nghèo đói

1.1.4 Vai trò kinh tế của hộ sản xuất đối với nền kinh tế.

1.1.4.1 Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết nhu cầu việc làm cho ngời lao động ở nông thôn.

Nguồn lao động ở nông thôn rất dồi dào và đa dạng, người nông dân biết làm nhiều việc mà không cần đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao Do đó hộ sản xuất phát triển sẽ kéo theo việc sử dụng hiệu quả nguồn lao động, giải quyết nhu cầu việc làm cho người dân

1.1.4.2 Hộ sản xuất duy trì và phát triển ngành nghề thủ công truyền thống.

Việc trao quyền tự chủ cho nông dân đã khơi dậy nhiều làng nghề thủ công truyền thống, mạnh dạn vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Điều đó khẳng định sự tồn tại khách quan của hộ sản xuất

1.1.4.3 Hộ sản xuất góp phần cải tạo, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai.

Trang 4

Ngày nay hộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ nhờ đó nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh giống mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, khai phá thêm hàng ngàn ha đất mới, đổi mới cơ cấu sản xuất Sử dụng và khai thác hiệu quả về đất đai, tài nguyên, công cụ lao động

1.1.4.4 Hộ sản xuất thúc đẩy nhanh sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường hộ sản xuất là một đơn vị rất nhanh nhạy với sự biến động nhu cầu của thị trường và thúc đẩy nhanh sự cạnh tranh trong nền kinh

tế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển

1.1.4.5 Hộ sản xuất giúp chuyên môn hoá, tạo khả năng hợp tác lao động.

Trong nền kinh tế thị trường hộ sản xuất dễ dàng tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động, bắt tay vào sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà thị trường đòi hỏi, dễ dàng thích nghi và nắm bắt các cơ hội thuận lợi để sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cao

1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT:

1.2.1 Khái niệm:

Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng một thời gian nhất định và khi đến hạn người sử dụng cần phải thanh toán cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn bao gồm cả vốn và lãi

Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là hộ sản xuất

Tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hoá, bản chất của tín dụng là sự vay mượn

có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau met thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi

Trang 5

Theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng quy định:

+ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng

+ Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng met khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác

Do đặc điểm riêng nên tín dụng ngân hàng đạt được nhiều ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất

cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá Vì vậy mà tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có

Tín dụng ngân hàng với một bên là ngân hàng và một bên là hộ sản xuất hàng hoá Đối với kinh tế hộ từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng Đây cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kịên vay vốn của ngân hàng

1.2.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất.

Ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, do đó trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn đối với kinh tế hộ sản xuất

Với chức năng trung gian: Tín dụng ngân hàng nhận các khoản tiền nhàn

rỗi tạm thời tiến hành đầu tư cho các hộ có khả năng phát triển mở rộng sản xuất nhưng thiếu vốn Tín dụng ngân hàng đã đem lại khoản thu nhập cho những người

có vốn nhàn rỗi và đồng thời tạo cơ hội cho các hộ sản xuất hoạt động tốt mở rộng dây chuyền sản xuất , mua sắm máy móc thiết bị , đổi mới công nghệ…Như vậy

Trang 6

tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh

tế hàng hoá

Tín dụng ngân hàng là công cụ đắc lực, hữu hiệu trong quản lý kinh tế nhà nước, góp phần vào việc hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, giúp kinh tế hộ sản xuất phát triển làm ăn có hiệu quả: Thông qua vốn tín dụng ngân hàng các hộ

sản xuất đã thực sự được trợ giúp và có cơ hội tự khẳng định vị trí của mình trong

xã hội Việc mở rộng kinh tế hộ sản xuất là hướng đi có tầm chiến lược đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng nền kinh tế toàn diện, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo thế lực mới cho sự phát triển đất nước

* Đáp ứng nhu cầu về vốn cho hộ sản xuất để duy trì qúa trình phát triển liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế: Trong quá trình sản xuất hiện tượng

tạm thời thừa vốn, thiếu vốn đối với các hộ sản xuất là thường xuyên xảy ra Hoạt động ngân hàng đối với hộ sản xuất góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế , đáp ứng nhu cầu về vốn cho các hộ sản xuất

Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hoá, khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập lúc đó các hộ sản xuất thiếu vốn tạm thời Tuy vậy, họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, các khoản mua sắm, chi phí khác Trong điều kiện như vậy các hộ sản xuất cần sự giúp đỡ của tín dụng ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục

Vậy vai trò tín dụng ngân hàng trở lên quan trọng, nó cung ứng vốn cho hộ sản xuất để phát triển sản xuất và vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị Tín dụng ngân hàng còn giúp cho các hộ sản xuất sử dụng hiệu quả nguồn lao động, nguồn nguyên liệu…

Trang 7

*Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy qúa trình tập trung vốn, tập trung sản xuất Trên cơ sở đó góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn:

Trong cơ chế thị trường, ngân hàng là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ Với vai trò tập trung vốn sản xuất, ngân hàng phải đảm bảo được độ an toàn và lợi nhuận, tránh rủi ro trong hoạt động cho vay

Bằng cách tập trung vốn vào các hộ sản xuất kinh doanh có điều kiện để sản xuất có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, ngân hàng phải đảm bảo được hạn chế rủi ro tín dụng

Để làm tốt vai trò là cầu nối giữa người cần vốn và người đầu tư, ngân hàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay Vì vậy ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông Vậy hộ sản xuất phải biết sử dụng vốn

nh-ư thế nào vào sản xuất để góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn

*Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn.

*Tín dụng ngân hàng góp phần hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn *Tín dụng ngân hàng kiểm soát đồng tiền và thúc đẩy sản xuất thực hiện chế độ hạch toán kế toán.

*Tín dụng ngân hàng thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận và mở rộng sản xuất hàng hoá.

*Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị xã hội.

Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về chính trị - xã hội.Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động đó là một trong những vấn đề cấp bách nhất hiện nay Do

Trang 8

vậy tín dụng ngân hàng hỗ trợ sản xuất để tạo cho người lao động có việc làm và

có thu nhập, sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội, tín dụng ngân hàng thúc đẩy ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho những người lao động thừa ở nông thôn, hạn chế luồng di dân tự do ra thành phố, góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội

ở thành phố và nông thôn

Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giúp cho các hộ sản xuất sử dụng hiệu quả đồng vốn của mình: Do đó các tệ nạn xã hội cũng dần

được xoá bỏ, trình độ dân trí và chuyên môn hoá của lực lượng lao động được nâng cao Qua đó càng thấy rõ vai trò to lớn của tín dụng ngân hàng trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và hộ sản xuất nói riêng

1.2.3 Quy định cho vay đối với hộ sản xuất của NHN O & PTNT việt nam

Loại cho vay này có đặc trưng cơ bản về mục đích sử dụng tiền vay, đối tượng cho vay, về tài sản thế chấp và về hồ sơ vay vốn khiến nó khác hẳn với các loại cho vay khác

*Về mục đích cho vay : Là cho vay cả gia đình làm kinh tế

*Về đối tượng cho vay : Là cả hộ gia đình làm chủ thể trong quan hệ vay vốn *Điều kiện vay vốn :

Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

Sử dụng vốn vay đúng mục đích

Dự án đầu tư và phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết ghi trong hợp đồng tín dụng

* Nguyên tắc cho vay: Sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả vốn vay cả

gốc và lãi theo đúng thoả thuận đã ghi trong hợp đồng tín dụng, thực hiện đảm bảo tiền vay ( Nếu có )

Trang 9

*Phương thức cho vay vốn:

- Cho vay từng lần

- Cho vay theo hạn mức

* Hình thức vay vốn:

- Cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp qua tổ vay vốn

1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT 1.3.1 Khái niệm:

Chất lượng tín dụng ngân hàng là tiêu chí hàng đầu trong việc cho vay, là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hoặc hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận ngân hàng, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội

Chất lượng tín dụng được hiểu là sự lành mạnh và hiệu quả qua các khoản vay, hạn chế rủi ro, nợ quá hạn thấp, các hộ vay vốn đã chấp nhận nghiêm túc hợp đồng tín dụng đã cam kết

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng đối với

hộ sản xuất.

* Các nhân tố thuộc về khách hàng:

- Khách hàng phải có trình độ sản xuất và trình độ quản lý phù hợp và khả năng quản lý khoa học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt, sẽ có khả năng tài chính để trả nợ cho ngân hàng cả gốc và lãi tiền vay Nếu trình độ sản xuất còn hạn chế sẽ không theo kịp kinh tế thị trường, kết quả sản xuất kém sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ Như vậy trình độ khách hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

- Khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích theo phương án sản xuất kinh doanh đã trình bày với ngân hàng khi vay vốn Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích đã phạm vaò nguyên tắc cho vay của ngân hàng và trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của khách hàng, mức độ rủi ro cao, dẫn đến

Trang 10

hiệu quả kinh tế kém, khả năng trả nợ của khách hàng cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn, do đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng

* Các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng:

- Chính sách và cơ chế tín dụng ngân hàng: là một trong những chính sách sản phẩm quan trọng nhất của ngân hàng Có chính sách tín dụng đúng đắn sẽ đưa

ra được hình thức cho vay phù hợp với nhu cầu thu hút khách hàng, đồng thời khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn Do đó chính sách tín dụng ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng

- Chấp hành cơ chế tín dụng: Việc chấp hành các quy định thể chế tín dụng của mỗi cán bộ làm tín dụng tốt hay không tốt là sự phản ánh chính xác để các chỉ tiêu định tính đánh giá chất lượng tín dụng Chất lượng ngân hàng có thực hiện đ-ược hay không Mỗi cán bộ tín dụng khi cho vay đều phải tuân theo luật các tổ chức tín dụng và các quy định thể lệ tín dụng của ngân hàng

Cho vay bảo lãnh với giá trị quá lớn khiến khách hàng khó có thể đủ khả năng tài chính để trả nợ ngân hàng, đồng thời vi phạm điều kiện về đảm bảo tiền vay, làm cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng

Trình độ cán bộ tín dụng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng khoản cho vay Chất lượng một khoản cho vay được xác định ngay từ khi khoản cho vay được quyết định qua các chỉ tiêu định tính

Kiểm tra kiểm soát của ngân hàng chưa kịp thời, do đó không nắm bắt được đầy đủ các thông tin về một khoản cho vay, không biết được các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nào đã và đang và sẽ sảy ra để có biện pháp kịp thời không làm cho chất lượng tín dụng bị giảm sút Do đó đòi hỏi cán bộ tín dụng phải thẩm định và kiểm tra kỹ càng trước, trong và sau khi cho vay

Hệ thống thông tin ngân hàng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng nắm bắt được các thông tin về khách hàng trước khi quyết định một khoản cho vay Yếu tố này

Ngày đăng: 21/10/2013, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w