Như vậy ta có thể hiểu hoạt động cho vay xuất nhập khẩu là: - Cho vay xuất khẩu là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là doanh nghiệp hoạt
Trang 1CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay xuất nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm cho vay xuất nhập khẩu
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế trong thời đại hiện nay thì không
thể chỉ dựa vào hoạt động kinh doanh, sản xuất trong nước mà còn cần phát triển quan
hệ kinh doanh với nước ngoài Do có sự khác nhau về điều kiện tài nguyên, thiên nhiên, khí hậu, mà mỗi quốc gia lại có thế mạnh sản xuất một số mặt hàng nhất định Để đạt được hiệu quả kinh tế tốt, phục vụ nhu cầu đa dạng trong nước, mở rộng thị trường và có được những sản phẩm chất lượng cao với giá thành rẻ thì việc thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế là điều thiết yếu
Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì :
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Xuất nhập khẩu là hoạt động cơ bản của ngoại thương, lịch sử phát triển của nó
đã có từ rất lâu đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Ban đầu, hình thức cơ bản của nó chỉ đơn thuần là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia Ngày nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra trên phạm
vi rộng khắp trong hầu hết tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đúng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của bất kì một quốc gia nào
Theo điều 28, mục 1, chương 2 Luật thương mại Việt Nam 2005 thì:
- Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Như vậy ta có thể hiểu hoạt động cho vay xuất nhập khẩu là:
- Cho vay xuất khẩu là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu một khoản tiền để sử dụng vào mục đích đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Trang 2- Cho vay nhập khẩu là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu một khoản tiền để sử dụng vào mục đích đưa hàng hóa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.1.2 Mục đích của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu
- Hoạt động cho vay nhập khẩu được hình thành nhằm hỗ trợ nhà nhập khẩu thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì nguồn vốn được luân chuyển liên tục nhằm mục đích đầu tư mua sắm các nguyên liệu phục vụ sản xuất Tuy nhiên, không phải ngay một lúc mà doanh nghiệp có một
số tiền lớn để trả cho nhà xuất khẩu bởi trong quá trình hoạt động kinh doanh nhà nhập khẩu cũng không thể thu tiền của khách hàng ngay trong một khoảng thời gian ngắn được Ví dụ như với Công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX là một công
ty chuyên nhập khẩu thuốc và bán lại cho các cửa hàng bán thuốc, nhu cầu vốn của công ty là liên tục Trong khi các cửa hàng bán lẻ kí kết hợp đồng với công ty sẽ thanh toán từng đợt theo thời gian bằng nội tệ thì công ty lại cần vốn là ngoại tệ để nhập khẩu thuốc nhằm nhanh chóng cung cấp thuốc cho khách hàng mà không thể chờ đến nhận tiền Điều này đã khiến cho công ty phải đến ngân hàng vay vốn để có thể tiếp tục nhập khẩu thuốc phục vụ nhu cầu khách hàng và chờ tới hạn trả tiền của khách hàng mà trả tiền vay cho ngân hàng Như vậy có thể thấy nhà nhập khẩu cần các khoản vay từ ngân hàng nhằm chi trả cho các khoản nợ phải trả Ngân hàng cho doanh nghiệp nhập khẩu vay để trả nợ cho nhà xuất khẩu đã giúp cho doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động hiệu quả, không bị trì hoãn quá trình sản xuất kinh doanh
- Hỗ trợ nhà xuất khẩu bổ sung vốn lưu động trong quá trình sản xuất khi bị
thiếu vốn tạm thời hoặc đang trong thời gian chờ thanh toán hàng xuất khẩu Trong hoạt động kinh doanh thì việc các doanh nghiệp thanh toán chậm hoặc thanh toán theo từng đợt là không thể tránh khỏi, việc này khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu thường bị thiếu vốn lưu động trong quá trình sản xuất Như đối với công ty cổ phần thủy sản CAFATEX là một công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu thủy hải sản đông lạnh đang trong quá trình sản xuất cần tiền để chi trả cho hoạt động sản xuất nhưng lại chưa nhận được tiền thanh toán từ phía đối tác, việc này khiến cho công ty gặp nhiều khó khăn nếu như không có tiền thanh toán Để tránh tình trạng đó công ty đã phải đến ngân hàng vay vốn tạm thời để chi trả các khoản nợ và chờ đến khi nhận được tiền thanh toán từ phía đối tác sẽ thanh toán lại cho ngân hàng Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp xuất khẩu cần vay vốn tạm thời của ngân hàng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 31.1.3 Đối tượng cho vay xuất nhập khẩu
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu: Các doanh nghiệp xuất khẩu đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cần vốn để sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh hàng xuất khẩu và có nhu cầu, mục đích sử dụng vốn phù hợp với giấy phép đăng kí kinh doanh hoặc có nhu cầu thanh toán thông qua ngân hàng
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu: Các doanh nghiệp nhập khẩu đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu vay để thanh toán tiền nhập các thiết bị, máy móc, đồ dùng, sản phẩm phục vụ nhu cầu hoạt động kinh doanh, sản xuất trong nước
1.1.4 Nguyên tắc trong cho vay xuất nhập khẩu
1.1.4.1 Tiền vay phải đảm bảo đúng mục đích đã thỏa thuận
Theo nguyên tắc này thì mọi khoản vay đều phải được xác định trước vể mục đích kinh tế Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi có nhu cầu vay vốn cần trình bày nhu cầu vay vốn với ngân hàng, gửi các bản kế hoạch sản xuất kinh doanh, hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, tài liệu kế toán để ngân hàng xem xét Khi cho vay khách hàng cần cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích và điều này được ghi trong hợp đồng vay vốn Sau khi cho vay ngân hàng sẽ kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng, nếu khách hàng sử dụng sai mục đích ngân hàng áp dụng các biện pháp, chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng
1.1.4.2 Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ gốc và lãi
Theo nguyên tắc này thì mọi khoản vay xuất nhập khẩu đều được yêu cầu trả đầy
đủ gốc và lãi vay đúng hạn Bởi hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng, sự hoàn trả
là mối quan tâm hàng đầu đối với ngân hàng khi cho vay Thu hồi nợ cả gốc và lãi đúng hạn là cơ sở để các ngân hàng thương mại phát triển Để thực hiện được nguyên tắc này trong quản lý vốn vay ngân hàng phải xác định thời hạn cho vay, các kỳ hạn
nợ của từng khoản vay, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc khách hàng trong việc trả nợ
1.1.5 Điều kiện cho vay xuất nhập khẩu
1.1.5.1 Khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý
Quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là quan hệ được pháp luật bảo vệ Vì vậy,
nó phải được lập dựa trên cơ sở quy định của pháp luật Do đó, các chủ thể tham gia quan hệ phải có đủ tư cách pháp lý nghĩa là đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Hơn nữa trong quan hệ tín dụng
sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản do đó cần có sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của luật pháp Để kiểm tra tư cách pháp lý của khách hàng cần dựa vào hồ sơ pháp lý bao gồm: giấy phép kinh doanh, giấy phép thành lập,
mã số thuế, giấy phép đầu tư, quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, quyết định bổ nhiệm Kế toán trưởng, bản đăng kí mẫu dấu và chữ kí của người chịu trách nhiệm
Trang 4trước pháp luật và được ủy quyền, điều lệ doanh nghiệp Hồ sơ pháp lý của khách hàng giúp cho ngân hàng có cơ sở để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý đối với khách hàng theo pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của cả hai bên ngân hàng và khách hàng.
1.1.5.2 Các khoản vay cần được sử dụng hợp pháp
Khoản cho vay được sử dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì các khoản vay phải được sử dụng cho mục đích kinh doanh, sản xuất hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu các thiết bị máy móc từ nước ngoài về và doanh nghiệp cũng cần hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng vốn để đảm bảo với ngân hàng mục đích sử dụng vốn của mình Khi khách hàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì ngân hàng sẽ thực hiện thu hồi nợ trước hạn
1.1.5.3 Khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết
Khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh là khách hàng có khả năng quản lý tốt, chứng minh sự phát triển ổn định, khách hàng có cơ sở vững chắc về tài chính để đảm bảo cho cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn Để nhận biết được năng lực tài chính của khách hàng cần kiểm tra hồ sơ tài chính bao gồm: báo cáo tài chính ba năm gần nhất, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính Từ hồ sơ tài chính có thể kiểm tra các yếu tố như vốn tự có khi đi vay, tỷ lệ xấu, nợ khó đòi quá sáu tháng, kết quả kinh doanh lãi hay lỗ Nhận biết được năng lực tài chính của khách hàng là chỉ tiêu rất quan trong đối với ngân hàng bởi năng lực tài chính khách hàng tốt thì khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn cao nhờ vậy mà ngân hàng có thể thu hồi vốn
và lãi đúng hạn, thu lại lợi nhuận cho ngân hàng, giúp hoạt động ngân hàng có hiệu quả
1.1.5.4 Khách hàng cần có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả
và có phương án trả nợ khả thi.
Khách hàng cần có phương án kinh doanh sản xuất hiệu quả vì bản chất của ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trong đó việc kinh doanh phải đảm bảo các nguyên tắc sinh lời cơ bản Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, nguồn thu từ phương án và dự án vay vốn được coi là nguồn thu đảm bảo an toàn vốn cũng như phát triển liên tục của ngân hàng và khách hàng Khi khách hàng có phương
án sản xuất kinh doanh khả thi thì khả năng hoạt động có hiệu quả của khách hàng cao hơn, khả năng thu lại vốn và lãi vay của ngân hàng tăng, đảm bảo ngân hàng hoạt động có lợi nhuận Vì vậy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần có sự lựa chọn đối tác kinh doanh uy tín, có năng lực tài chính lành mạnh, có phương án sản xuất, vận chuyển, giao hàng, nhận hàng được chuẩn bị kĩ lưỡng, hiệu quả để tránh được rủi ro từ hoạt động kinh doanh với nước ngoài
1.1.5.5 Khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định
Trang 5Đảm bảo tiền vay là công cụ đảm bảo trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa
vụ của khách hàng trong quan hệ vay vốn Đảm bảo tiền vay cung cấp nguồn thanh toán cho ngân hàng thương mại trong trường hợp khách hàng không trả được khoản vay Vì vậy, ngân hàng luôn kiểm tra chặt chẽ tài sản đảm bảo để chắc chắn tài sản đó
có giá trị phù hợp với khoản vay, có tính thanh khoản tốt, thuộc quyền sở hữu của khách hàng để khi khách hàng không có khả năng thanh toán các khoản nợ thì ngân hàng có thể thu hồi ngay tài sản đảm bảo chi trả cho số nợ của doanh nghiệp Để đảm bảo tiền vay thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể đảm bảo bằng chính hợp đồng sản xuất kinh doanh của mình, tài sản cố định hữu hình hoặc bất cứ tài sản nào
có giá trị tương ứng với giá trị khoản vay và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
1.1.6 Các hình thức cho vay xuất nhập khẩu tại ngân hàng thương mại
1.1.6.1 Các hình thức cho vay xuất khẩu tại ngân hàng thương mại
* Cho vay thông thường
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để
họ sử dụng trong một thời gian nhất định Khi hết hạn, người vay phải trả cả gốc và lãi vay Đây là hình thức cho vay truyền thống, về kỹ thuật và phương pháp cho vay giống như các dạng cho vay thông thường khác Nó bao gồm các phương thức như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thì hình thức này ngoài việc thực hiện cho mục đích thu mua, sản xuất, chế biến xuất khẩu đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
* Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Nhà xuất khẩu khi cần tiền có thể vay ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn thanh toán (số tiền vay bằng cách chiết khấu hối phiếu thường nhỏ hơn số tiền ghi trên hối phiếu, số chênh lệch là lợi tức chiết khấu) Hình thức cho vay này phổ biến ở các nước vì chiết khấu thường dễ dàng và người xuất khẩu có thể
sử dụng nguồn vốn này để tái đầu tư vào lĩnh vực khác
Thời hạn vay tính bằng cách chiết khấu hối phiếu là thời hạn còn lại chưa đến hạn thanh toán hối phiếu Người hoàn trả tiền vay và lợi tức là người có nghĩa vụ trả tiền ghi trên hối phiếu
Cơ sở xác định khối lượng tín dụng này là giá trị hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu Giá trị chiết khấu thường được xác định ở ngân hàng theo công thức:
Tck = M *[1-(Lck/3600)*t] - P
Tck : Giá trị chiết khấu
M : Mệnh giá hối phiếu
P : Lệ phí
t : Thời gian chiết khấu
Lck : Lãi suất chiết khấu theo năm
Trang 6Trong các yếu tố trên thì lãi suất chiết khấu thường được quan tâm hơn cả Tỷ lệ này phụ thuộc vào các yếu tố:
- Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu
- Thời hạn thanh toán
- Giá trị hối phiếu
* Chiết khấu chứng từ hàng xuất:
Đây là hình thức ngân hàng cấp vốn cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu Tỷ lệ chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu
+ Khi chiết khấu bộ chứng từ phải hoàn hảo và được xuất trình đúng thời gian quy định Ngân hàng thanh toán phải là ngân hàng uy tín, có giao dịch thường xuyên với ngân hàng chiết khấu Doanh nghiệp xuất khẩu có uy tín, có hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định, đảm bảo thanh toán Số tiền thanh toán nằm trong hạn mức tín dụng + Sau khi tiếp nhận hồ sơ ngân hàng kiểm tra tình hình tài chính, mục đích chiết khấu, khả năng thanh toán của doanh nghiệp Kiểm tra chứng từ cẩn thận, kiểm tra sự phù hợp về điều khoản, điều kiện của chứng từ với hợp đồng đã kí giữa ngân hàng thanh toán với khách hàng
Có hai hình thức chiết khấu:
+ Chiết khấu miễn truy đòi: là hình thức chiết khấu mà ngân hàng mua đứt bộ chứng
từ, nếu bên nước ngoài không thanh toán thì ngân hàng phải chịu rủi ro, không được truy đòi lại khách hàng
+ Chiết khấu truy đòi: là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ chứng từ sẽ quay lại truy đòi nhà xuất khẩu nếu bên nước ngoài từ chối thanh toán
* Ứng trước tiền thanh toán hàng xuất khẩu
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu các doanh nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu Hình thức cấp tín dụng này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:
- Ứng trước vốn trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hóa bao gồm hóa đơn thương mại, chứng từ bảo hiểm, hóa đơn vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ liên quan khác, nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền Ngân hàng của nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận chứng từ tài chính thì mới giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để nhận hàng Tuy nhiên, từ khi gửi chứng từ đến ngân hàng xuất khẩu cho tới khi xuất trình với người thanh toán cần có thời gian nhất định Điều này có thể khiến cho cỏc doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời khi đó họ có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước một phần giá trị bộ chứng từ nhờ thu
- Ứng trước vốn trong phương thức thư tín dụng: Thư tín dụng phục vụ đặc biệt cho việc đảm bảo nhiệm vụ cung ứng và thanh toán trong quan hệ ngoại thương Cho
Trang 7vay ứng trước trong phương thức thư tín dụng được sử dụng với L/C điều khoản đỏ Đây là loại thư tín dụng quy định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào một thời điểm nhất định, trước khi giao bộ chứng từ hàng hóa Các điều khoản ứng trước thường được quy định thuận lợi cho các bên thực hiện Điều khoản này cho phép nhà xuất khẩu được nhận một khoản tiền trước khi giao hàng Nhà xuất khẩu chịu chi phí liên quan để nhận tiền ứng trước còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước này Người nhập khẩu sẽ quy định rõ khoản tiền được ứng trước, nó có thể là tỷ lệ phần trăm hoặc toàn bộ giá trị L/C và người nhập khẩu sẽ quyết định liệu người xuất khẩu sẽ phải xuất trình gì làm đảm bảo cho khoản tiền được ứng trước.
- Ngân hàng thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài đòi nợ, trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được thông báo có của ngân hàng nước ngoài thì ngân hàng tự động ghi nợ vào tài khoản tiền gửi của khách hàng Nếu trên tài khoản khách hàng không đủ tiền thì trong 7 ngày làm việc ngân hàng sẽ tuyên bố chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ quá hạn Khi được thanh toán từ phía ngân hàng nước ngoài, sẽ thu nợ trực tiếp khoản vay và các khoản phí có liên quan
1.1.6.2 Các hình thức cho vay nhập khẩu tại ngân hàng thương mại
* Hình thức cho vay thanh toán L/C
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C Thư tín dụng có tính chất quan trọng là nó được hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán Ngay việc mở L/C đã thể hiện việc cho vay nhà nhập khẩu bởi vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhưng không phải nhà nhập khẩu lúc nào cũng đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, trong khi đó L/C là một loại đảm bảo trong thanh toán của ngân hàng tức là ngân hàng
mở L/C phải chi trả nếu nhà nhập khẩu không đủ tiền thanh toán khi L/C đến hạn
- Điều kiện mở L/C tại các ngân hàng thương mại:
+ Phải có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, đối với các đơn vị ủy thác cần có hợp đồng ủy thác nhập khẩu
+ Đối với các mặt hàng trong danh mục quản lý hàng nhập của nhà nước, đơn vị phải xuất trình giấy phép nhập khẩu do Bộ thương mại cấp
+ Đơn vị phải có tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính ổn định và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng
+ Lô hàng nhập phải có giá trị hợp lý, đồng thời chứng minh lô hàng nhập phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo khả năng thanh toán
+ Đơn vị phải có tài sản thế chấp đảm bảo cho giá trị L/C hoặc nhận được sự bảo lãnh thanh toán của các tổ chức uy tín
+ Đối với L/C trả chậm, dư nợ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức vay vốn nước ngoài được NHNN phê duyệt
- Quy trình cho vay:
Trang 8+ Thẩm định hồ sơ mở L/C
+ Quyết định mức ký quỹ L/C: Ký quỹ được thực hiện bằng cách trích tài khoản ngoại tệ của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản ký quỹ mở L/C Ký quỹ được xem là một hình thức bắt buộc của ngân hàng thương mại Ký quỹ nhằm đảm bảo khách hàng nhận hàng và thanh toán L/C Mức ký quỹ khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng thanh toán, uy tín của khách hàng, loại L/C,
Ngày nhận nợ và tính lãi khoản cho vay thanh toán L/C là ngày nhà nhập khẩu phải thanh toán cho nhà xuất khẩu (ngày đến hạn thanh toán L/C)
* Ứng trước tiền thanh toán hàng nhập khẩu
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng nhập khẩu các doanh nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho đến khi thu được lợi nhuận để trả nợ Đó
là khi họ cần thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Ngoài ra, nhà nhập khẩu cũng phát sinh nhu cầu vay vốn để thanh toán cho bộ chứng từ khi hàng hóa về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hóa để thu hồi vốn
1.1.7 Quy trình thực hiện cho vay xuất nhập khẩu
1.1.7.1 Hồ sơ cho vay xuất nhập khẩu
Khi khách hàng có nhu cầu cho vay vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp phải gửi các hồ sơ cần thiết:
- Hồ sơ pháp lý (vay vốn lần đầu):
+ Quyết định thành lập, giấy phép đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp
+ Giấy phép xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp
+ Giấy bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng của doanh nghiệp
+ Giấy chứng nhận đã đủ vốn pháp định của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần có:
+ Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp
+ Góp đủ vốn pháp định
- Hồ sơ kinh tế: các báo cáo tài chính bao gồm: báo cáo quyết toán quý, năm, bảng tổng tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hồ sơ cho vay:
+ Giấy đề nghị vay vốn của doanh nghiệp
+ Phương án sử dụng vốn vay và trả nợ của doanh nghiệp
+ Báo cáo tình hình tài chính thời gian gần nhất của doanh nghiệp
+ Danh mục tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp
+ Hợp đồng mua bán ngoại thương, L/C của doanh nghiệp
+ Giấy phép hoặc hạn ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải nộp các giấy tờ cần thiết bao gồm trong hồ sơ pháp lý để xác định tư cách pháp lý của khách hàng, dựa vào đó truy cứu trách nhiệm đối với các khách hàng không có khả năng chi trả các khoản nợ Ngân hàng cũng yêu cầu nộp hồ sơ kinh tế để từ đó đánh giá quá trình hoạt động, khả năng tồn tại và phát triển của khách hàng, dựa vào đó để xem xét hồ sơ xin vay vốn của khách hàng sao cho đảm bảo ngân hàng có thể lường trước các yếu tố chủ quan để đánh giá khả năng chi trả của khách hàng Ngoài ra, ngân hàng còn yêu cầu hồ sơ cho vay để có thể đánh
Trang 9giá các phương án sử dụng vốn khi vay của khách hàng, từ đó đánh giá khả năng thành công của dự án và đưa ra quyết định cho vay hay không Nhìn chung các hồ sơ
mà ngân hàng yêu cầu khách hàng nộp khi tiến hành các hoạt động cho vay là nhằm đánh giá khả năng thực hiện của các dự án sử dụng tiền vay cũng như khả năng chi trả cho ngân hàng của khách hàng
1.1.7.2 Thẩm định hồ sơ
Đây là bước quan trọng trong quy trình cho vay Nếu bước thẩm định này làm tốt
sẽ hạn chế được rủi ro cho ngân hàng Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của ngân hàng thương mại là lợi nhuận Trên con đường tìm kiếm lợi nhuận tối đa các ngân hàng thương mại luôn gặp phải một “ rào cản “ đó là rủi ro Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp cơ bản, có
vị trí quan trong nhất là phân tích đánh giá một cách toàn diện khách hàng trước khi cho vay Nếu khách hàng được đánh giá tốt, có đủ tư cách trong kinh doanh, có năng lực tài chính đảm bảo, chấp hành tốt, thì ngân hàng sẽ xem xét việc cho vay Vì vậy, bước thẩm định hồ sơ luôn được kiểm tra rất kĩ lưỡng và chặt chẽ Việc thẩm định hồ
sơ trên các mặt sau:
- Phân tích đánh giá khách hàng
+ Kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp
+ Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, xem xét khả năng thanh toán, tình hình công nợ và vòng quay vốn lưu động, khả năng trả nợ
+ Tính khả thi và hiệu quả của dự án của doanh nghiệp
+ Thẩm định tài sản đảm bảo
- Kiểm tra năng lực pháp lý của khách hàng
+ Quyết định thành lập, giấy phép đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp
+ Giấy phép xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
+ Giấy bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng của doanh nghiệp
+ Giấy chứng nhận đã đủ vốn pháp định của doanh nghiệp
Trong khâu phân tích đánh giá khách hàng và kiểm tra năng lực pháp lý của khách hàng ngân hàng đánh giá tính hợp pháp của hồ sơ pháp lý để đảm bảo khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật của khách hàng Việc ngân hàng đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, tình hình thanh toán, công nợ, là việc cần làm để đánh giá chất lượng khách hàng, kiểm tra các quan hệ của khách hàng với ngân hàng khác, doanh nghiệp khác để đảm bảo chất lượng tài chính của doanh nghiệp, có khả năng chi trả cho các khoản nợ mà doanh nghiệp muốn vay của ngân hàng, đảm bảo lợi nhuận cho chính ngân hàng
Trang 10Ngân hàng đánh giá uy tín của khách hàng nhất là đối với khách hàng mới là nhằm tìm hiểu các mối quan hệ của khách hàng với các doanh nghiệp cũng như với các ngân hàng khác từ đó đánh giá được khả năng hoạt động, chất lượng hoạt động,
uy tín của khách hàng để từ đó đưa ra các đánh giá chính xác về khách hàng Đánh giá đúng khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra các quyết định cho vay chính xác
- Đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng để biết được hoạt động của khách hàng có hiệu quả không từ đó đưa ra các kết luận nhằm quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không
- Thẩm định vấn đề cho vay bằng cách đánh giá quá trình dự kiến thực hiện dự
án, mục đích thực hiện, cách thức thực hiện cũng như tính khả thi của dự án để từ đó đưa ra các quyết định sơ bộ về việc có đưa cho khách hàng vay hay không để tránh rủi
ro cho ngân hàng
- Thẩm định tài sản đảm bảo của doanh nghiệp để ngân hàng có thể kiểm tra được tài sản đó có hợp pháp không, đã bị thế chấp ở đâu chưa, có tồn tại hay không để chắc chắn rằng ngân hàng có thể thu hồi khoản nợ thông qua tài sản đảm bảo nếu khách hàng không có khả năng chi trả nợ
1.1.7.4 Ý kiến lãnh đạo ngân hàng
Khi nhận được tờ trình kèm hồ sơ tài liệu có liên quan đến việc cho vay, trưởng phòng tín dụng kiểm tra lần nữa rồi trình lên ban lãnh đạo ngân hàng Trong thời gian quy định từ ngày nhận hồ sơ hoàn chỉnh, ngân hàng phải trả lời cho vay hay từ chối yêu cầu của khách hàng vay
1.1.7.5 Kí hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp cầm cố
Khi quyết định cho vay, ngân hàng cho vay vốn phải kí hợp đồng tín dụng sau đó phải khí hợp thế chấp, cầm cố Hợp đồng thế chấp, cầm cố bao gồm:
- Tân và địa chỉ các bên
- Số, ngày, tháng, năm của hợp đồng vay vốn
- Số hiệu tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
- Loại tài sản thế chấp, cầm cố
- Giấy chứng nhận tài sản thế chấp, cầm cố
Trang 11- Thời hạn thế chấp cầm cố
- Quyền và nghĩa vực của các bên thực hiện hợp đồng
- Phương thức xử lý tài sản thế chấp, cầm cố
- Cam kết của các bên về thực hiện nghĩa vụ của mình
Hợp đồng thế chấp cầm cố phải được công chứng tại phòng công chứng Nhà nước
1.1.8 Vai trò của cho vay xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu là một hoạt động phức tạp đòi hỏi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải hiểu rõ các phương thức giao hàng và thanh toán để tránh bị thiệt thòi khi kinh doanh với nước ngoài Cho vay xuất nhập khẩu được hình thành nhằm bảo vệ quyền lợi người bán và người mua cách xa nhau bởi khoảng cách, văn hóa, ngôn ngữ, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước Có thể nói sự ra đời của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu là nhu cầu tất yếu khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với nhau
1.1.8.1 Vai trò đối với khách hàng
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu giúp khách hàng có khả năng thực hiện các thương vụ lớn: những thương vụ trong hợp đồng ngoại thương có giá trị lớn mà doanh nghiệp không thể thanh toán cùng lúc thì sẽ được ngân hàng cho vay nhằm đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng đó Do đặc thù của hoạt động xuất nhập khẩu là phải vận chuyển hàng xa vì vậy mà hai bên thường mua bán với số lượng lớn để tiết kiệm chi phí vận chuyển nên giá trị lô hàng rất lớn Trong trường hợp này vốn lưu động không
đủ để chuẩn bị hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng nhập do đó cấp tín dụng xuất nhập khẩu là giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện hoạt động này
.- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu giúp giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp khi các hoạt động thanh toán được thông qua ngân hàng Kinh doanh ngoại thương thường gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thanh toán khi ở khoảng cách địa lý
xa lại không hiểu rõ pháp luật mỗi đất nước Trong trường hợp này ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán và kiểm soát các loại giấy cần thiết để nhận tiền hoặc nhận hàng Các giấy tờ được kiểm tra kĩ càng, phù hợp các yêu cầu của doanh nghiệp, tuân thủ pháp luật trong nước và quốc tế Ngân hàng còn hỗ trợ khách hàng kiểm tra các giấy tờ có liên quan để đảm bảo quyền lợi cho chính khách hàng
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu giúp các doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động trong quá trình thực hiện hợp đồng Thông qua việc ngân hàng cho vay, doanh nghiệp nhận được vốn để hoạt động Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp các doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến, giao hàng đúng thời gian, giảm thiểu rủi ro trong việc bị chậm so với thời hạn quy định trong hợp đồng và
bị phạt Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, vốn cho vay giúp cho các doanh nghiệp
có khả năng thu mua hàng và điều này giúp hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được tăng lên
Trang 121.1.8.2 Vai trò đối với ngân hàng
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí hoạt động hoặc lãi từ các hoạt động cho vay, chiết khấu, Ngoài ra, thông qua hoạt động cho vay xuất nhập khẩu ngân hàng còn mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài, nâng cao uy tín trên trường quốc tế Ngân hàng khi muốn thực hiện chức năng là ngân hàng thanh toán hoặc ngân hàng thu hộ thì đều cần có một ngân hàng đại lý ở quốc gia mà khách hàng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ngoại thương Yêu cầu này đòi hỏi ngân hàng phải mở rộng quan hệ với các ngân hàng uy tín trên thế giới, thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng khi được làm việc với môi trường mới, công nghệ mới tiên tiến hơn Khi tham gia hoạt động với các ngân hàng quốc tế thì ngân hàng càng cần chứng tỏ khả năng hoạt động của mình nhằm tạo uy tín trên thị trường thế giới để từ đó thu hút các đối tác nước ngoài Việc này đã góp phần thúc đẩy hoạt động của ngân hàng trở nên sôi động hơn và là động lực cho ngân hàng tiếp tục phát triển
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro khi khách hàng sử dụng nguồn vốn vay sai mục đích Khi khách hàng đến xin vay cho việc thanh toán xuất nhập khẩu thì ngân hàng sẽ là người thanh toán khi có đầy đủ chứng từ mà bên xuất khẩu đã giao cho ngân hàng mà không cần thông qua người yêu cầu mở tài khoản thanh toán Điều này sẽ giúp ngân hàng quản lý được khoản vốn đầu
tư khi chưa đến thời hạn thanh toán, giúp hạn chế rủi ro khi trao vốn cho khách hàng
- Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu giúp ngân hàng hạn chế rủi ro trong khâu thu hồi vốn khi quản lý các nguồn thu từ hoạt động thanh toán Đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền, người nhập khẩu nước ngoài
đã chỉ định việc thanh toán tiền phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng Đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng do vậy nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ nhằm giảm thiểu tình trạng xoay vòng vốn của doanh nghiệp trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi với mục đích hạn chế rủi ro cho ngân hàng
- Hiện nay, xu hướng hoạt động của các NHTM là phát triển đa năng tổng hợp, luôn tìm cách mở rộng các nghiệp vụ cũng như đưa ra các sản phẩm mới Việc thực hiện và phát triển hoạt động cho vay xuất nhập khẩu thu hút thêm khách hàng sử dụng các hình thức dịch vụ khác, bởi vì thông thường khi cho vay loại hình này ngân hàng thường có ràng buộc khách hàng phải chuyển tiền hoặc sử dụng trả lương qua tài khoản tại ngân hàng,… Tuy nhiên, khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ ngân hàng cá nhân tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng Đây cũng là điều kiện giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, tăng khả năng huy động các loại tiền gửi từ dân cư, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập với xu thế quốc
Trang 13tế Ngoài ra, nó cũng góp phần tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, từ đó tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng mặc dù chỉ là một trong số rất nhiều các hình thức của cho vay xuất nhập khẩu song với hình thức cho vay này nhắm đến mọi khách hàng và đáp ứng những nhu cầu hết sức thiết thực trong cuộc sống nên dễ dàng tiếp cận với những cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu nếu được ngân hàng xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư.
1.1.8.3 Vai trò đối với nền kinh tế
- Vai trò của cho vay xuất khẩu
Cho vay xuất khẩu giúp làm tăng nguồn vốn thực hiện các hoạt động nhập khẩu Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: đầu
tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch,… tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kì sau này Do vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước chính là xuất khẩu bởi nguồn vốn từ xuất khẩu được sử dụng mà không cần phải trả lãi
Cho vay xuất khẩu góp phần chuyển dịch nền kinh tế đất nước từ lạc hậu sang cơ chế công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của chúng ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng đòi hỏi phải
tổ chức lại sản xuất Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường Thực tế cho thấy mặc dù dệt may là ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam nhưng kim ngạch xuất khẩu chưa đạt được như mong muốn Trong khi một ngày công nhân Trung Quốc sản xuất được 26 chiếc áo, Nhật Bản sản xuất được 32 chiếc áo thì công nhân Việt Nam chỉ có thể sản xuất 7 chiếc áo Nguyên nhân không phải do trình
độ của công nhân Việt Nam mà là do yếu kém trong khâu dây truyền, máy móc, thiết
bị của Việt Nam chưa được hiện đại như các nước bạn khiến cho quá trình người công nhân phải thực hiện thủ công nhiều và làm giảm năng suất Như vậy có thể thấy rằng nhu cầu hiện đại hóa đang là nhu cầu cần thiết hiện này và cho vay xuất khẩu phần nào giải quyết được nhu cầu đó
Cho vay xuất khẩu giúp tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và tăng nhu cầu về lao động Trước hết, sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp Việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, các ngành nghề mới ra đời Hiện nay các ngành xuất khẩu chủ yếu là khai thác khoáng sản, chế biến thủy sản, dệt may, số lượng lao động trong các ngành này khoảng 31.614,6 nghìn người trong đó 24.362,9 nghìn người lao động trong lĩnh vực nông, lâm , ngư nghiệp còn lại là lao
Trang 14động thuộc ngành khai khoàng và chế biến, chế tạo Số lượng lao động trong ngành đạt xấp xỉ 60% tổng số người lao động hiện nay (số liệu năm 2011).
Cho vay xuất khẩu góp phần thúc đẩy hoạt động giữa các doanh nghiệp trong nước và quốc tế Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản, là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại Từ đây nó thúc đẩy các mối quan hệ khác phát triển theo như quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… từ đó hình thành mối quan hệ qua lại khăng khít giữa các quốc gia Mặt khác, chính những mối quan hệ kinh tế đối ngoại trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
- Vai trò của cho vay nhập khẩu
Cho vay nhập khẩu góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hóa sản phẩm trong nước
và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Nhập khẩu làm đa dạng các mặt hàng, cho phép thỏa mãn hơn nhu cầu trong nước, mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Đây cũng là một hoạt động tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền kinh tế theo quy luật cung cầu khi mà nhu cầu xuất hiện nhiều thì sẽ có ảnh hưởng đến việc tạo ra sản phẩm cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu Từ đó, nguồn cung phát triển sẽ đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và trực tiếp tạo ra sự phát triển của nền kinh tế theo hướng tích cực
Cho vay nhập khẩu góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền kinh tế và đất nước Nhập khẩu thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tạo cơ hội cho việc chuyển giao công nghệ, do đó tạo sự phát triển vượt bậc của hàng hóa, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo sự đồng đều trong phát triển kinh tế Tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam được tiếp cận với khoa học hiện đại, tiên tiến Tiếp cận được với nền khoa học kĩ thuật trên thế giới sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh hơn, bỏ qua các thất bại
mà thế giới đã gặp phải để bước đến những thành tựu đã đạt được trong hiện tại nhằm phát triển nền kinh tế nhanh chóng và vững chắc Như với doanh nghiệp dệt may để cải tiến cơ sở thiết bị, máy móc theo kịp với kỹ thuật hiện đại thì cần phải nhập khẩu các máy móc tiên tiến ở nước ngoài về để sử dụng nhằm hiện đại hóa khấu sản xuất Hoạt động cho vay nhập khẩu thúc đẩy quá trình nhập khẩu diễn ra nhanh hơn, giúp đỡ các doanh nghiệp nhập khẩu về vấn đề vốn Cho vay nhập khẩu đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy đời sống chung phát triển, thanh lọc nền kinh tế nhằm loại bỏ doanh nghiệp yếu kém, chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài về để giúp nền kinh tế Việt Nam dần tiếp cận với thế giới thông qua việc hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu
1.2 Chất lượng vay xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chất lượng cho vay xuất nhập khẩu
Trang 15Chất lượng cho vay xuất nhập khẩu là một khái niệm khá trừu tượng, tùy theo mục đích nghiên cứu cũng như theo những quan điểm khác nhau mà có những khái niệm khác nhau về chất lượng cho vay xuất nhập khẩu Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này thì chất lượng cho vay xuất nhập khẩu tại NHTM được hiểu là việc các khoản vốn vay của các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như các
doanh nghiệp nhập khẩu sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, thông qua đó ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn khách hàng có thể trả được nợ, bù đắp chi phí
và thoả mãn nhu cầu Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế
lại tạo được hiệu quả xã hội
Theo đó:
Việc sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục đích có nghĩa tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và đem lại lợi ích cho khách hàng Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước khi vay phải trình bày với ngân hàng mục đích vay, các thông tin chứng minh tình hình tài chính, thu nhập của minh, để ngân hàng kiểm tra Khi cho vay, ngân hàng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng vay vốn và khách hàng phải cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích và điều này được ghi trong hợp đồng vay vốn Sau khi nhận được tiền vay khách hàng phải sử dụng đúng mục đích như đã cam kết (ở đây là cho vay tài trợ ngoại thương)
Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, ngân hàng là người “đi vay để cho vay” Ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả đầy đủ, kịp thời cho người gửi khi họ có nhu cầu rút tiền Vì vậy, ngân hàng đòi hỏi người vay vốn phải hoàn trả cho ngân hàng đúng hạn Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn các khoản cho vay thì có khả năng dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản
1.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
* Đối với bản thân ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng Các ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên uy tín, họ có thu hút được nhiều khách hàng hay không, thu về lợi nhuận nhiều hay không đều có ảnh hưởng từ uy tín của chính ngân hàng đó Có thể nói uy tín chiếm một phần quan trọng trong nền tảng hoạt động của ngân hàng Uy tín của ngân hàng là rất quan trọng và được đánh giá chủ yếu thông qua chất lượng tín dụng của ngân hàng Chất lượng cho vay của ngân hàng không những cần được nâng cao để tạo uy tín cho ngân hàng mà còn quan trọng bởi nó đánh giá chất lượng hoạt động của chính ngân hàng đó Nếu ngân hàng có chất lượng của các khoản cho vay tốt thì có thể đánh giá ngân hàng đó làm ăn hiệu quả và có thể tồn
Trang 16tại được nhưng nếu đánh giá chất lượng cho vay kém thì cú nghĩa là ngân hàng làm ăn không hiệu quả và khó có thể tồn tại Vì vậy có thể nói việc nâng cao chất lượng các khoản cho vay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại của ngân hàng.
* Đối với khách hàng
Chất lượng tín dụng chính là chỉ tiêu để khách hàng lựa chọn ngân hàng phục vụ mình bởi khách hàng quan tâm đến việc đầu tư của mình có an toàn không, sinh lời nhiều hay ít, lợi ích mình có được từ ngân hàng là gì Chất lượng tín dụng của ngân hàng được nâng cao nghĩa là khách hàng cũng được hưởng nhiều lợi ích hơn khi tham gia giao dịch với ngân hàng Vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng giúp khách hàng có thể đạt được thêm nhiều lợi ích hơn và an tâm hơn khi đến giao dịch với ngân hàng
* Đối với nền kinh tế
Trong thời kì hội nhập hiện nay hoạt động cho vay hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động kinh doanh trong nước và quốc tế Đẩy mạnh sự hoạt động của các doanh nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung Việc nâng cao chất lượng hoạt động cho vay sẽ giúp cho các ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, lợi nhuận cao hơn, có khả năng hoạt động mạnh hơn trong mọi lĩnh vực để hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh và phát triển Việc này gián tiếp thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước Vì vậy có thể nói việc đánh giá, nâng cao chất lượng cho vay của các ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển, tăng cường sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế trong nước nói chung
1.2.3 Các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cho vay
1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính
Để xem xét được chất lượng cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng có tốt hay không ta có thể căn cứ vào một số chỉ tiêu định tính như sau:
Thủ tục vay vốn của ngân hàng
Đây là chỉ tiêu đinh tính đầu tiền cần được xem xét Đánh giá chất lượng cho vay nói chung và cho vay xuất nhập khẩu nói riêng thì cần đánh giá thủ tục cho vay vốn có tuân theo đúng qui định, qui chế cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng không, có được cán bộ tín dụng làm nhanh chóng, chính xác, an toàn không Điều này cũng góp phần làm tăng chất lượng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu tại ngân hàng Nói cách khác, đối với bên đi vay thì điều này trước hết biểu hiện ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời tuy nhiên vẫn đảm bảo tuân thủ những quy tắc an toàn cần thiết và theo những quy trình nhất định Qua đó, bên đi vay
sẽ tiết kiệm được chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và nhất là sẽ không bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh của mình
Uy tín của ngân hàng
Trang 17Lòng tin của công chúng: uy tín của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng, nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay xuất nhập khẩu nói riêng Ngân hàng tồn tại được chính là nhờ vào sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng.
Uy tín của ngân hàng là hình ảnh ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu dài Khách hàng khi thực hiện giao dịch của mình thường lựa chọn những ngân hàng lớn hơn, lâu đời có hiệu quả kinh doanh tốt, an toàn
và lành mạnh chứ không phải là những ngân hàng mới thành lập bởi họ tin rằng những ngân hàng này sẽ có khả năng quản trị tốt hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn trong quản trị kinh doanh, chất lượng các khoản vay của họ sẽ tốt hơn Hơn nữa, ngân hàng
có nguồn vốn chủ sở hữu lớn hơn hay nói cách khác là khả năng tài chính vững mạnh thường được ưu tiên lựa chọn so với các ngân hàng nhỏ Điều này được phản ánh khá đậm nét trong nước ta là ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao hơn so với các ngân hàng khác Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian hơn Từ việc tăng khả năng huy động vốn có chi phí rẻ, ngân hàng sẽ có thêm nhiều nguồn lực để tiến hành hoạt động cho vay của mình, từ đó mà nâng cao được chất lượng cho vay nói chung và cho vay xuất nhập khẩu nói riêng
Sự thúc đẩy nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay xuất nhập khẩu nói riêng, đóng góp cho việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của vùng, địa phương
và cả nước
Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cả bên đi vay và ngân hàng đều tiến hành tốt công tác vay cho vay và sử dụng vốn vay trong hoạt động ngoại thương hay ta có thể hiểu là các khoản vay xuất nhập khẩu của ngân hàng đã đạt được chất lượng tốt, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Điều này được biểu hiện ở chỗ, hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng sẽ đóng góp vào việc tăng khả năng kinh doanh trong hoạt động ngoại thương của các doanh nghiệp Đó sẽ là tiền đề để các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào cơ sở vật chất kĩ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kim ngạch xuất nhập khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương, định hướng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tạo thêm việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống người dân
1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng
Bên cạnh các chỉ tiêu định tính, khi xem xét chất lượng của một khoản cho vay xuất nhập khẩu tại NHTM, ta không thể không dựa trên các chỉ tiêu định lượng được
Trang 18tính toán dựa trên các số liệu cụ thể phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua từng thời kì Ta xem xét một số chỉ tiêu định lượng sau:
1 Chỉ tiêu doanh số cho vay xuất nhập khẩu
Doanh số cho vay xuất nhập khẩu là tổng số tiền mà ngân hàng giải ngân dưới hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản trong một thời gian nhất định Bởi vậy, nó là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản cho vay mà ngân hàng đã phát ra cho vay trong một thời gian nào đó, không kể món vay đó đã thu hồi về hay chưa và phản ánh dung lượng hoạt động cho vay trong kỳ Doanh số cho vay xuất nhập khẩu càng cao thì quy
mô cho vay càng lớn Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế Đây là chỉ tiêu phản ánh tuyệt đối, chính xác về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm
Doanh số cho vay xuất nhập khẩu
Tỷ trọng doanh số cho vay XNK = x 100%
Tổng doanh số cho vay
2 Chỉ tiêu doanh số thu nợ cho vay xuất nhập khẩu
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà ngân hàng thu hồi từ các khoản giải ngân trong một thời gian nhất định
Doanh số thu nợ trong cho vay xuất nhập khẩu là số nợ mà ngân hàng đã thu được trong kì bao gồm cả nợ kì trước mà ngân hàng đã thu được trong kì này
Chỉ tiêu này đánh giá chất lượng tín dụng trong việc thì nợ các khoản cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng Nó phản ánh trong một thời kì nào đó với doanh số cho vay nhất định, ngân hàng sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh số cho vay Hệ số này càng cao được đáng giá càng tốt, cho thấy công tác thu hồi vốn của ngân hàng ngày càng hiệu quả và ngược lại nếu hệ số này thấp thì việc thu hồi vốn của ngân hàng đang gặp khó khăn và hoạt động kém hiệu quả Chỉ tiêu này cao cũng phản ánh việc các khoản vay của ngân hàng đạt chất lượng tốt, khả năng trả nợ của khách hàng ở mức ổn định, rủi ro của ngân hàng sẽ giảm đi
Tỷ trọng thu nợ cho vay
XNK =
Doanh số thu nợ cho vay xuất nhập
khẩu
x 100
% Tổng doanh số thu nhập
3 Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
Dư nợ cho vay là khoản tiền đã giải ngân mà Ngân hàng chưa thu hồi về Ta có thể hiểu dư nợ được tính như sau:
Dư nợ = Dư nợ đầu kì + Doanh số cho vay trong kì – Doanh số thu nợ cuối kì
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh
tế tại một thời điểm Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp Mặc
dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng cao bởi vì
Trang 19đằng sau những khoản tín dụng đó còn có những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của ngân hàng với khách hàng Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.
Tỷ trọng dư nợ cho vay
Hệ số thu nợ cho vay XNK = Doanh số thu nợ cho vay xuất nhập khẩu
Doanh số cho vay xuất nhập khẩu
5 Chỉ tiêu nợ quá hạn
Hoàn trả đầy đủ khoản nợ cả gốc và lãi khi đến hạn là hành động hoàn tất một mối quan hệ cho vay hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng Nợ quá hạn là số tiền khách hàng chưa hoàn trả cho ngân hàng cà gốc và lãi khi đáo hạn hợp đồng cho vay mà không làm đơn xin gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn với nhiều nguyên nhân hợp lý Nếu
nợ quá hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ, điều này chứa đựng rủi ro cho vay cho ngân hàng, thu nhập sẽ giảm Nợ quá hạn là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động cho vay của ngân hàng, báo hiệu sự rủi ro với các ngân hàng thương mại và khách hàng, do vậy đây là mối quan tâm thường xuyên của các ngân hàng thương mại Trong mối quan hệ tín dụng, việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ quá hạn phát sinh vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng
Theo điều 6, quyết định của Ngân hàng Nhà nước số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quy định như sau:
- Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn,
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi cả gốc
và lãi đúng thời hạn còn lại,
Trang 20Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
- Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày,
Các khoản nợ điều chỉnh lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì TCTD cần có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ cả gốc và lãi đúng kì hạn được điều chỉnh lần đầu),
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều này
- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ từ 91 ngày đến 180 ngày,
Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ nhất trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này,
Các khoản nợ của khách hàng được miễn giảm tiền lãi do khách hàng không có khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng,
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều này
- Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày,
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu,
Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai,
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 Điều này
- Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày,
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu,
Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời gian cơ cấu lại lần thứ hai,
Các khoản nợ cơ cấu từ lần thứ ba trở lên kể cả đã quá hạn hay chưa quá hạn,
Các khoản nợ khoanh, các khoản nợ chờ xử lý
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này
Trong đó nợ quá hạn (khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn) bao gồm nợ nhóm 2, 3, 4, 5 Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5
Khi phân tích tình hình nợ quá hạn ta xem xét một số chỉ tiêu như sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn cho vay xuất nhập khẩu Tổng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
Tỷ lệ nợ quá hạn cho thấy số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được
Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn
Nó phản ánh số dư nợ thực sự đã quá hạn bởi vậy đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất
Trang 21lượng tín dụng thấp, ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.
Xét về mặt bản chất, tín dụng có tính hoàn trả, do vậy tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn bình thường
- Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu trong cho vay xuất nhập khẩu x 100
Tổng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 quy định tại Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD, nó cho biết
100 đồng nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của Ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn
- Tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn = Nợ xấu / Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn cho biết hiện nay trong 100 đồng đang là nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu Tỷ lệ này cho chúng ta biết được khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng là cao hay thấp
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu trên
nợ quá hạn là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng
Cả ba chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay và đều càng nhỏ càng tốt Ba chỉ tiêu trên đều chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của Ngân hàng Một ngân hàng có chính sách tốt phải thiết lập được quỹ dự phòng rủi ro
đủ mạnh và thông báo định kỳ về những món vay không có khả năng thu hồi quá lớn
và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu như Ngân hàng thực hiện xóa nợ quá nhanh thì ba tỷ lệ này dự ở mức thấp nhưng cũng không có
Nợ quá hạn xuất nhập khẩu
Trang 22Hệ số này ở mức 0% là tốt nhất, ở mức < 1% là bình thường, ở mức > 1% là có vấn đề.
6 Chỉ tiêu vòng quay của vốn cho vay xuất nhập khẩu
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn cho vay xuất nhập khẩu, thời gian thu hồi nợ vay nhanh hay chậm Phản ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm của loại cho vay Thông thường, vòng quay càng lớn thể hiện việc thu hồi nợ càng tốt và ngược lại Do đó, cần xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác
Đây là chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khả năng
tổ chức quản lý vốn cho vay và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Vòng quay của vốn cho vay = Doanh số thu nợ cho vay XNK x100
Dư nợ bình quân cho vay XNK
Trong đó dư nợ bình quân được tính theo công thức sau:
Dư nợ bình quân = Dư nợ bình quân đầu kì + Dư nợ bình quân cuối kì
2
Đây là chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng bởi vòng quay vốn tín dụng phản ánh khả năng quay vòng vốn của ngân hàng là nhanh hay chậm, việc luân chuyển vốn để cho khách hàng vay là nhiều hay ít Hệ số này càng tăng thì cho thấy tình hình quản lý vốn cho vay càng tốt, chất lượng cho vay càng cao Bên cạnh đó, nó còn thể hiện khả năng thu nợ tốt, hiệu quả cho vay của ngân hàng cao Chính vì thế, một đồng vốn khi cho vay được nhiều lần sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn Tuy nhiên, cần xem xet đến nhân tố quan trọng đó là dư nợ bình quân Khi dư nợ bình quân thấp sẽ làm cho vòng quay lớn nhưng lại không phản ánh được chất lượng khoản cho vay là cao bởi nó thể hện khả năng cho vay kém của ngân hàng
7 Chỉ tiêu thu nhập
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay được tính bằng lãi từ hoạt động cho vay trên tổng thu nhập Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng Ngân hàng, nó cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu Với cùng một mức thu nhập, nếu Ngân hàng nào cũng giảm được chi phí đầu vào thì tỷ lệ thu nhập càng lớn, chứng tỏ Ngân hàng hoạt động tốt, điều này góp phần tạo nên chất lượng cho vay tốt
8 Chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng thương mại phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, chịu sự chi phối lớn của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh nên phải thường xuyên đối mặt với rủi ro lớn
từ mọi phía Thêm vào đó, các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng lớn từ phía đối tác nước ngoài, điều này khiến cho rủi ro luôn thường trực trong hoạt
Trang 23động tín dụng Chỉ tiêu khả năng bù đắp sẽ giúp ngân hàng đánh giá được khả năng chi trả cho các khoản lỗ của Ngân hàng, góp phần đánh giá chính xác hơn chất lượng cho vay xuất - nhập khẩu.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro= Dự phòng rủi ro cho vay XNK được trích lập x100
Dư nợ cho vay XNK 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
1.2.4.1 Các yếu tố khách quan
Ta có thể thấy rằng chất lượng hoạt động tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại và của toàn xã hội Để quản lý chất lượng tín dụng cần phải hiểu rõ sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng chính, đó là kinh tế -
xã hội – pháp lý
- Nhân tố kinh tế:
Điều kiện kinh tế của khu vực mà ngân hàng phục vụ ảnh hưởng lớn tới chất lượng cho vay Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản tín dụng có chất lượng cao, còn nền kinh tế không ổn định thì các yếu tố như lạm phát, khủng hoảng sẽ làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay biến động lớn làm ảnh hưởng trực tiếp tới việc thu nợ khi cho vay của ngân hàng
Giới hạn của qui mô cho vay ảnh hưởng chất lượng tín dụng Nếu qui mô cho vay vượt mức cho phép sẽ khiến cho giá cả tăng quá mức, xảy ra lạm phát tốc độ cao, các ngân hàng thương mại sẽ chịu tổn thất lớn do đồng tiền mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm thấp Ngoài ra, chính sách kinh tế được nhà nước điều tiết để ưu tiên hay hạn chế
sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động cho vay Trong thời kỳ đình trệ sản xuất – kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực Nhu cầu vốn tín cho vay giảm trong thời kỳ này và nếu vốn cho vay đã được thực hiện cũng khó được sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Ngược lại, thời kỳ hưng thịnh, nhu cầu vốn cho vay tăng, rủi ro cho vay ít đi, nhưng không loại trừ trường hợp do chạy đua sản xuất, nạn đầu cơ tích trữ, làm cho nhu cầu vốn lên quá cao và có nhiều khoản cho vay chưa được thực hiện Những khoản này cũng có thể khó được hoàn trả nếu sản xuất kinh doanh không có kế hoạch dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế
Chính sách lãi suất cũng ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của ngân hàng trong nền kinh tế lãi suất thị trường luôn biến động Những năm gần đây, Việt Nam đã khống chế được tình trạng lạm phát song lãi suất lại giảm liên tục Trong trường hợp lãi suất cho vay giảm nhưng lãi suất huy động giữ nguyên làm cho chênh lệch đầu vào
và đầu ra càng lớn khiến cho lợi nhuận không đủ để bù đắp chi phí Đồng thời mức độ
Trang 24phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với lợi nhuận của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Vì vậy, với mức lãi suất cao hơn lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh nghiệp không đủ khả năng hoạt động dẫn đến sự ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy có thể nhận thấy sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố kinh tế đối với hoạt động của ngân hàng Khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra vào năm 2008 đã cho thấy
rõ điều này khi mà khủng hoảng xảy ra các hoạt động kinh doanh trong nước và quốc
tế đều bị đình trệ, hàng hóa sản xuất không tiêu thụ được, nhu cầu của người dân giảm sút, người dân tăng cường thắt chặt chi tiêu, Chính phủ đưa ra các chính sách tiền tệ thắt chặt và theo đó các doanh nghiệp hoạt động bị ảnh hưởng rất lớn khi không bán được hàng hóa Việc hàng loạt các doanh nghiệp bị mắc nợ xấu và phá sản đã khiến cho ngân hàng bị ảnh hưởng rất lớn khi mà đa số các khoản nợ khó đòi có tài sản thu hồi nhưng chưa phát mại được khiến cho ngân hàng có nhiều tài sản bị ứ đọng chưa thu hồi được vốn Ngoài ra, việc nền kinh tế bị khủng hoảng cũng khiến cho các doanh nghiệp dè dặt trọng việc vay vốn kinh doanh bởi tân lý lo ngại không có khách hàng Qua đó có thể thấy nền kinh tế cũng như các chính sách lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp tới ngân hàng như thế nào
- Nhân tố xã hội
Quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa ba nhân tố: ngân hàng, khách hàng và sự tín nhiệm, trong đó sự tín nhiệm là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng Ngân hàng càng có tín nhiệm cao thì càng thu hút được nhiều khách hàng Khách hàng được ngân hàng tín nhiệm thì thường xuyên được vay vốn
Nền kinh tế nước ta đang trong thời kì chuyển đổi vì vậy cơ chế quản lý chính sách cũng cần thay đổi sao cho phù hợp Chính sách tín dụng trong thời gian qua những đổi mới theo cơ chế thị trường nên đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ góp phần thúc đẩy kinh tế Vì vậy luôn cần có những chính sách tín dụng phù hợp để thu hút được nhiều khách hàng, đem lại lợi nhuận và đảm bảo chất lượng tín dụng
1.2.4.2 Các yếu tố chủ quan
- Cách tổ chức ngân hàng
Tổ chức ngân hàng được sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban trong từng ngân hàng và trong toàn bộ hệ thống, giữa ngân hàng với các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện đáp ứng kịp thời cho khách hàng và kiểm tra, kiểm soát các tài khoản cho vay, tài khoản huy động vốn Đây là cơ
sở để tiến hành hoạt động tín dụng có hiệu quả, lành mạnh
Trang 25tình tình tài chính của doanh nghiệp, phân tích dự án mà khách hàng vay vốn, quản lý
và giám sát tình hình vay vốn Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động tín dụng Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy
ra khi thực hiện chu kì khép kín của một khoản tín dụng
- Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm quy định phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu
nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn Nó bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi nợ Chất lượng tín dụng có đảm bảo hay không tùy thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước với sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, giữa các bước trong qui trình tín dụng tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định, nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng
Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng, là cơ sở để định lượng rủi ro trong quá trình cho vay Trong bước này, chất lượng tín dụng tùy thuộc vào công tác thẩm định đối tượng được vay vốn cũng như những quy định về điều kiện và thủ tục cho vay
Kiểm tra quá trình cho vay khiến cho ngân hàng nắm được nguyên nhân, diễn biến của khoản cho vay đã cung cấp để có sự can thiệp hoặc điều chỉnh khi cần thiết, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra
Thu nợ và khâu thanh lý nợ là khâu quan trọng có tính quyết định tới sự tồn tại của ngân hàng do đó ngân hàng cần quan tâm tới hoạt động này Sự nhạy bén kịp thời của ngân hàng khi phát hiện điều kiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng những biện pháp xử lý chính xác, đúng lúc sẽ làm giảm thiểu các khoản nợ quá hạn và điều
đó sẽ có tác dụng tích cực đối với chất lượng sử dụng
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong qui trình tín dụng sẽ giúp vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định sẵn, nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng
- Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng Nhờ
có thông tin tín dụng người quản lý có thể đề ra những quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay Thông tin tín dụng có thể thu được từ những thông tin có sẵn ở ngân hàng, từ khách hàng, từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng trong và ngoài nước, từ các nguồn tin khác Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định tình hình khách hàng để đưa ra quyết định phù hợp Vì vậy, thông tin càng chính xác, đầy đủ, nhanh nhạy, toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao
Trang 26- Kiểm soát nội bộ
Đây là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng có được thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì hoạt động kinh doanh được xúc tiến, phù hợp với chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đã định Chất lượng tín dụng tùy thuộc vào độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của công tác kiểm soát, kiểm tra nội bộ để có biện pháp khắc phục kịp thời Để kiểm soát nội bộ hiệu quả, ngân hàng cần có cơ cấu quản lý, cán bộ kiểm tra giỏi nghiệp vụ, trung thực và có chính sách thưởng phạt vật chất nghiêm minh
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng
+ Ngân hàng trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng tài chính, qui mô, phạm vi sẽ giúp ngân hàng:
+ Phục vụ kịp thời yêu cầu của khách hàng về tất cả các mặt dịch vụ với chi phí cả hai bên đều chấp nhận được
+ Giúp cho các cấp quản lý ngân hàng kịp thời nắm bắt tình hình kinh tế, điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình thực tế, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Toàn bộ chương 1 là những lý luận cơ bản về cho vay xuất nhập khẩu trong ngân hàng thương mại Từ những vấn đề mang tính khái quát về cho vay xuất nhập khẩu đến những vấn đề cụ thể như: Khái niệm, đối tượng, vai trò và quy trình của cho vay xuất nhập khẩu hay các hình thức cho vay, quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay xuất nhập khẩu đều được đề cập đến trong chương này Đồng thời, chương cũng nêu lên những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay xuất nhập khẩu và vai trò quan trọng của cho vay xuất nhập khẩu với 3 khía cạnh chính đó là: khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế xã hội Bên cạnh đó, chương 1 cũng là cơ sở lý luận đưa ra cách thức nghiên cứu thực trạng chất lượng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu và giải pháp nâng cao chất lượng cho vay xuất nhập khẩu sẽ được trình bày trong chương tiếp theo
Trang 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU TẠI HỘI SỞ CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Giới thiệu ngân hàng SHB
- Tên gọi: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – HÀ NỘI
- Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh: Số 5703000085 do Sở kế hoạch và đầu tư
TP Cần Thơ cấp đăng ký lần đầu, ngày 10/12/1993, đăng ký thay đổi lần thứ 14 và cấp lại lần 11 ngày 28/12/2007
- Mã số thuế: 1800278630
2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển ngân hàng
13/11/1993: Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái (tiền thân của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội - SHB) được thành lập theo giấy phép số 0041/NH /GP ngày 13/11/1993 do Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cấp và thức đi vào hoạt động ngày 12/12/1993
20/01/2006: Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã ký Quyết định số 93/QĐ-NHNN về việc chấp thuận cho SHB chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân
Trang 28hàng thương mại cổ phần nông thôn sang Ngân hàng thương mại cổ phần đĩ thị, từ đó tạo được thuận lợi cho ngân hàng TMCP SHB có điều kiện nâng cao năng lực về tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của SHB và đây là Ngân hàng TMCP đô thị đầu tiên có trụ sở chính tại Thành phố Cần Thơ, trung tâm tài chính-tiền tệ của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
22/7/2008: Ngân hàng Nhà nước kí quyết định chấp thuận việc Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chuyển địa điểm đặt trụ sở chính từ Cần Thơ ra Hà Nội Ngày 9/9/2008, SHB đã long trọng tổ chức lễ khai trương trụ sở mới tại số 77 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội Việc đặt trụ sở chính tại Hà Nội sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho SHB tiếp cận với cơ hội phát triển và nâng cao vị thế của mình khi đây là trung tâm kinh tế, tài chính, chính trị của cả nước và là nơi hội tụ nhiều tổ chức kinh tế, tài chính hàng đầu trong và ngoài nước Đồng thời, đây cũng là mốc đánh giấu bước ngoặt mới của SHB từ sau khi chuyển đổi ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn lên đô thị, tạo một trong những bước tiến đầu tiên trong việc trở thành tập đoàn tài chính đa năng vào năm 2015
20/04/2009: 50 triệu cổ phiếu phổ thông của SHB đã chính thức chào sàn tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội với mã chứng khoán là SHB
06/08/2009: Niêm yết bổ sung 150 triệu cổ phiếu phổ thông của SHB trên sàn giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội
Năm 2011 vốn điều lệ của SHB đạt 4.815,8 tỷ đồng, mạng lưới kinh doanh phủ rộng khắp cả nước với 133 Phòng giao dịch, 01 Trụ sở chính, 24 Chi nhánh, điểm giao dịch tại 22 tỉnh thành phố Việt Nam và 02 Chi nhánh ở nước ngoài là Lào và Campuchia Trong những năm qua ngân hàng đã đạt được rất nhiều thành tích như
đã từng được NHNN xếp loại A, được trao huân chương lao động hạng ba, liên tục trong 2 năm trở lại đây đều nhận danh hiệu ngân hàng có chất lượng thanh toán quốc
tế xuất sắc được ngân hàng quốc tế trao tặng, Ngoài việc chú trọng mở rộng các dịch vụ trong nước thì ngân hàng cũng rất tập trung phát triển các dịch vụ quốc tế thông qua việc kí kết với các ngân hàng danh tiếng nước ngoài với tổng số 350 đại lý trên toàn thế giới Trong hoạt động kinh doanh xét trên phương diện an toàn vốn SHB là một ngân hàng bền vững với cơ sở vốn hiện tại đủ để đảm bảo SHB tiếp tục phát triển nhanh trong thời gian tới, với cơ sở vốn vững mạnh và tỷ lệ an toàn vốn cao cùng với văn hoá tín dụng thận trọng, chính sách và quy trình hợp lý đảm bảo chất lượng tài sản tốt với khả năng phát triển danh mục tín dụng khả quan vì vậy kết quả hoạt động kinh doanh của SHB trong những năm qua năm sau luôn cao hơn năm trước, các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kế hoạch đề ra
Với kế hoạch phát triển kinh doanh cụ thể phù hợp với chương trình hành động, lộ trình hội nhập của ngành ngân hàng Việt Nam cùng với tiềm lực tài chính mạnh của
Trang 29các cổ đông tiềm năng, với bộ máy HĐQT, Ban kiểm soát, Ban điều hành là những người có trình độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và có tâm huyết với ngân hàng sẽ là những nhân tố tích cực trong giai đoạn phát triển mới và sẽ đưa SHB phát triển một cách bền vững trên con đường hội nhập
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành của Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
P.KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN
P.PHÁP CHẾ
P.THANH TOÁN TRONG NƯỚC
P.THANH TOÁN QUỐC TẾ
P.QUAN HỆ QUỐC TẾ
P.KẾ HOẠCH TỔNG HỢP P.KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
P.NGUỒN VỐN
P.ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
P.ĐẦU TƯ DỰ ÁN
P.GIÁM SÁT TÍN DỤNG P.THẺ
P.NGÂN QUỸ & DỊCH VỤ KH P.TÁI THẨM ĐỊNH
P.TỔ CHỨC &
NHÂN SỰ P.CÔNG NGHỆ THÔNG TIN P.QUẢN LÝ RỦI RO
P.PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG
BAN THI ĐUA KHEN THƯỞNG TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BAN DỰ ÁN HIỆN ĐẠI HÓA NH
Trang 30Cơ cấu bộ máy quản lý Ngân hàng
2.1.2.1 Cơ cấu bộ máy quản trị ngân hàng
* Đại hội đồng cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội , quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Luật pháp cho phép và Điều lệ SHB quy định
* Hội đồng quản trị
Do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định những vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm, chỉ đạo và giám sát hoạt động của ngân hàng thông qua Ban điều hành và các Hội đồng
* Ban kiểm soát
Do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân hàng, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của ngân hàng, thẩm định báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của ngân hàng
* Các Uỷ ban
Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị ngân hàng, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh, đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và đúng mục tiêu đã đề ra
Ủy ban quản lý rủi ro
− Xây dựng mô hình và quy định quản lý rủi ro
− Xây dựng kế hoạch và chiến lược về quản lý rủi ro
− Chỉ đạo, triển khai và kiểm tra quá trình thực hiện chiến lược quản lý rủi ro
− Trực tiếp theo dõi và quản lý các ủy ban, các phòng ban, bộ phận trực thuộc Ủy ban quản lý tài sản Nợ -Có
− Tham mưu cho HĐQT các vấn đề liên quan đến công tác quản lý tài chính của Ngân hàng và công ty trực thuộc
− Xây dựng kế hoạch và chiến lược về nguồn vốn, kết hợp với các phòng ban khác để cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng
− Đề xuất chiến lược thích hợp thông qua việc quản lý danh mục tài sản nợ - có dựa trên lợi nhuận dự kiến và các rủi ro về lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi
ro tín dụng, các tỷ lệ an toàn vốn và những rủi ro khác có thể xảy ra
* Hội đồng tín dụng
Hội đồng tín dụng có trách nhiệm xem xét, thẩm định và tư vấn cho Tổng giám đốc (hoặc phó Tổng giám đốc được ủy quyền) trong việc ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng theo các quy định tại quy chế của NHNN về cấp tín dụng và theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng tín dụng do HĐQT ban hành
* Hội đồng xử lý rủi ro
− Xem xét và quyết định biện pháp xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ thuộc đối tượng phải xử lý nợ theo quy định
Trang 31− Quyết định phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
− Xem xét, báo cáo tình hình theo dõi, lập phương án và thực hiện thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng
2.1.2.2Cơ cấu bộ máy điều hành :
ty theo đúng Điều lệ, Nghị quyết của Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị công ty Tổng Giám đốc có trách nhiệm báo cáo trước HĐQT tình hình hoạt động, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của công ty trước HĐQT
− Giúp việc cho Tổng Giám đốc có các Phó Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc được phân công, ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ do Tổng Giám đốc giao Tổng Giám đốc quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của các Phó Tổng Giám đốc bằng văn bản phân công nhiệm vụ
− Khi Tổng giám đốc vắng mặt, một Phó tổng giám đốc được ủy quyền thay mặt Tổng giám đốc để giải quyết công việc chung của SHB và phải chịu trách nhiệm về các công việc mà mình đã quyết định trong thời gian ủy quyền
* Các phòng ban nghiệp vụ Hội sở
− Trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Quy chế tổ chức điều hành, các phòng nghiệp vụ hội sở có thể được Tổng giám đốc uỷ quyền giải quyết và thực hiện một số công việc cụ thể
− Thực hiện các nghiệp vụ theo quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn do Tổng giám đốc ban hành và tuân thủ những quy định của NHNN
* Chức năng của các phòng nghiệp vụ Hội sở
Trung tâm Thanh toán và Thanh toán quốc tế
− Điều hành và quản lý hoạt động tài trợ thương mại, xuất nhập khẩu, trong nước và quốc tế
− Thực hiện cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến hoạt động thanh toán, chuyển tiền,
Trang 32− Quản lý công tác thanh toán quốc tế
− Quản lý hệ thống thanh toán (SWIFT)
Phòng Phát triển sản phẩm, dịch vụ
− Quản lý và phát triển sản phẩm phi tín dụng của ngân hàng,
− Tiếp nhận và phản hồi những thông tin về sản phẩm nội bộ của ngân hàng,
− Quản lý các hoạt động của ngân Trung tâm Thẻ (dự kiến thành lập và hoạt động):
− Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ
− Quản lý mạng lưới và kênh phân phối thẻ
− Quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng,
Phòng Nguồn vốn và Kinh doanh tiền tệ
− Quản lý và điều hành hoạt động vốn của ngân hàng, tạo tính thanh khoản
− Quản lý nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng
− Tiệp nhận và quản lý nguồn vốn ký thác, nhận uỷ thác
− Quản lý hoạt động kinh doanh của ngân hàng trên thị trường vốn
− Kết hợp quản lý tài sản nợ - tài sản có của ngân hàng
− Quản lý hoạt động kinh doanh ngoại hối
− Nghiên cứu và phát triển các hoạt động kinh doanh có liên quan
Phòng Ngân quỹ
− Quản lý công tác thanh toán nội địa của ngân hàng,
− Quản lý ngân quỹ,
− Hỗ trợ trong hoạt động cho phòng nguồn vốn và phòng kinh doanh tiền tệ
Phòng Tài chính kế toán
− Kế hoạch xây dựng và kiểm tra chế độ báo cáo tài chính kế toán
− Kế toán quản trị, kế toán tổng hợp
− Lập báo cáo chi tiết hàng kỳ về báo cáo tài chính
− Thực hiện công tác hậu kiểm chứng từ kế toán
Phòng Nhân sự và Đào tạo
− Quản lý nhân sự, đào tạo nhân sự
− Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
− Theo dõi những biến động và thực hiện các biện pháp để ổn định và phát triển nhân
sự, nguồn lực con người của ngân hàng
Phòng Hành chính Quản trị
− Công tác lễ tân, phục vụ
− Quản lý hành chính, văn thư, con dấu
− Quản lý, mua sắm tài sản cố định và công cụ dụng cụ của ngân hàng
− Thực hiện công tác bảo vệ và an ninh
− Thực hiện các công việc hành chính quản trị khác theo yêu cầu của ban lãnh đạo
Phòng Công nghệ Thông tin
− Công tác quản trị mạng, quản trị hệ thống
− Công tác an toàn và bảo mật thông tin
− Phát triển hoạt động ứng dụng hỗ trợ hoạt động chung và hoạt động điều hành
− Phát triển ứng dụng: tích hợp, quản lý và điều hành ngân hàng
− Xây dựng và phát triển hệ thống báo cáo, thông tin quản lý
Phòng Đầu tư
− Quản lý hoạt động đầu tư dự án của ngân hàng
− Quản lý hoạt động đầu tư chứng khoán và đầu tư giấy tờ có giá khác của ngân hàng
− Thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính cho khách hàng
Trang 33− Thiết lập các danh mục tài sản đầu tư hiệu quả
* Ban Kiểm tra Kiểm soát nội bộ
− Kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định của pháp luật và các quy chế nghiệp vụ, quy định của ngân hàng
− Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về trách nhiệm và quyền hạn của các cán bộ quản lý trong hệ thống
− Đại diện ngân hàng làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm tra, tìm hiểu thông tin của NHNN và của các cơ quan chức năng có liên quan
* Sở Giao dịch, Chi nhánh và đơn vị trực thuộc
Sở Giao dịch, Chi nhánh là đơn vị trực thuộc ngân hàng, có con dấu và được thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ ngân hàng theo ủy quyền của Tổng Giám đốc,
có bảng cân đối riêng, tự cân đối thu nhập, chi phí và có lãi nội bộ
Các đơn vị trực thuộc sở giao dịch, chi nhánh
− Phòng nghiệp vụ chi nhánh là các phòng chức năng trực thuộc
− Phòng giao dịch là đơn vị hạch toán và có con dấu riêng, được phép thực hiện một phần các nội dung hoạt động của sở giao dịch, chi nhánh theo sự ủy quyền của giám đốc sở giao dịch, chi nhánh Phòng giao dịch không có bảng cân đối tài khoản riêng, mọi hoạt động, giao dịch của phòng giao dịch được bắt đầu và kết thúc trong ngày và được phản ánh đầy đủ về sở giao dịch chi nhánh để hạch toán
− Tùy vào hoạt động và nhu cầu của ngân hàng trong từng thời kỳ, ngân hàng có thể tiếp tục duy trì, mở các đơn vị trực thuộc sở giao dịch, chi nhánh như quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch, tổ tín dụng có chức năng hoạt động theo đúng quy định của NHNN
2.2 Kết quả kinh doanh của Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
2.2.1 Tình hình huy động vốn tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Hoạt động huy động vốn luôn được xem là tiền đề cho các hoạt động khác của ngân hàng thương mại, vì vậy mà một trong những mục tiêu quan trọng trong hoạt động của ngân hàng TMCP SHB là đẩy mạnh công tác huy động vốn Với những thế mạnh của mình như uy tín, mạng lưới rộng, thái độ phục vụ nhiệt tình nhanh gọn, chính xác, thủ tục thuận lợi, hình thức huy động phong phú Ngân hàng TMCP SHB ngày càng thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch, kết quả nguồn vốn của ngân hàng luôn tăng trưởng ổn định, đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư, cho vay
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy vốn huy động tăng đều các năm, cụ thể tăng 20.384 tỷ đồng tương ứng 82,9% trong năm 2010 và tăng 17.095 tỷ đồng tương ứng 38% trong năm 2011 Trong đó tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ trọng lớn từ 55% đến 59% trong tổng nguồn vốn huy động Ngoài vốn huy động được từ tiền gửi dân cư còn có nguồn vốn huy động được từ tiền gửi của các TCTD có tỷ lệ thay đổi lên xuống không đều theo các năm giao động từ 24,3% đến 40,34%, vốn huy động từ giấy
tờ có giá và vốn tài trợ ủy thác tăng đều các năm nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong
Trang 34tổng nguồn vốn huy động Trong tình hình nền kinh tế còn nhiều bất ổn nhưng nguồn vốn huy động của ngân hàng vẫn tăng đều cho thấy rằng không những chính sách huy động vốn đang thực hiện tương đối nhạy bén và linh họat mà còn thể hiện công tác marketing các dịch vụ ngân hàng cũng đang phát huy rất hiệu quả ở đây Sự nhạy bén
và linh hoạt trong hoạt động huy động vốn được thể hiện thông qua việc liên tục đưa
ra các sản phẩm thu hút khách hàng phù hợp với thời kì kinh tế
Năm 2009 là một năm đầy biến động đối với nền kinh tế Việt Nam, lãi suất cơ bản, tỷ giá ngoại tệ và vàng có nhiều thay đổi nên đã ảnh hưởng tới tình hình huy động vốn của các ngân hàng Mặc dù đầu năm 2009 tình hình huy động vốn có phần
đi vào ổn định nhưng vào giai đoạn cuối năm thì lại rơi vào trạng thái căng thẳng
Trang 35Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Tỷ trọng Số tiền
Trang 36Tuy nhiên, do đó chuẩn bị các phương án khi gặp khó khăn trong hoạt động huy động vốn vào những tháng cuối năm, ngân hàng TMCP SHB đã thực hiện những chiến lược đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và tiết kiệm dân cư ngay từ đầu năm 2009 đặc biệt là tiền gửi có kỳ hạn từ các tổ chức kinh tế và tiết kiệm dân cư bằng nhiều chương trình huy động vốn hấp dẫn Các chương trình thu hút nguồn vốn hấp dẫn mà ngân hàng TMCP SHB đưa ra được áp dụng trên toàn hệ thống hoặc chia theo từng khu vực như: áp dụng trên toàn hệ thống chương trình Tiết kiêm siêu hấp dẫn 3++, SHB trao may mắn gắn niềm tin, Nhân đôi niềm vui cùng SHB Đà Nẵng hay các chương trình tri ân khách hàng thường xuyên đã gắn bó với SHB Vì vậy, trong năm 2009 ngân hàng vẫn đạt được kết quả huy động vốn khả quan khi tổng vốn huy động đạt được 24.647 tỷ đồng trong đó tiền gửi trong dân cư chiếm 59,53%, tiền gửi của các TCTD chiếm 40,34% chiếm phần lớn nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Từ năm 2010 trở đi được nhận định là năm khó khăn trong công tác huy động vốn của các ngân hàng thương mại, nhất là nguồn tiền gửi của doanh nghiệp (do Chính phủ cắt, giảm gói hỗ trợ lãi suất và các doanh nghiệp tập trung tăng đầu tư từ đầu năm), đồng thời nguồn tiền gửi từ dân cư cũng gặp nhiều cản trở vì các chính sách thắt chặt lãi suất của Nhà nước Điều này dẫn đến việc các NHTM cạnh tranh rất quyết liệt trong việc thu hút các nguồn tiền gửi từ nền kinh tế Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm chèo kéo khách hàng không chỉ đẩy lãi suất lên cao mà có lúc còn gây ra lộn xộn và căng thẳng trên thị trường huy động Người gửi tiền chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác
để hưởng lợi từ cuộc đua tăng lãi suất Đây là một thử thách rất lớn đối với các NHTM Tuy nhiên, ngân hàng SHB vẫn đạt được kết quả khả quan thể hiện ở vốn huy động trong dân cư trong năm 2010 vẫn đạt 25.634 tỷ đồng tăng 74,71% so với năm 2009 Để làm được điều này, bên cạnh yếu tố uy tín và thương hiệu, ngân hàng đã triển khai nhiều hình thức huy động vốn đa dạng nhằm thu hút và giữ khách hàng như: tiền gửi tiết kiệm lãi suất bậc thang, lãi suất tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm lãi suất thả nổi, chương trình khuyến mãi khi gửi tiết kiệm tại ngân hàng… Cùng với đó, trước tình hình kinh tế vẫn chưa ổn định thì việc khách hàng lựa chọn các ngân hàng lớn có uy tín là điều đương nhiên Trước tình hình huy động vốn khó khăn như vậy, ngân hàng TMCP SHB đã giữ vững được quan điểm, mục tiêu đã đề ra từ trước, đó là lấy chất lượng để khẳng định vị thế Trong năm 2011, ngân hàng đã tạo thêm các sản phẩm mới nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng như: tài khoản lợn đất giúp khách hàng nhận được giá ưu đãi lên đến 90% khi sử dụng dịch vụ thanh toán thông qua ngân hàng, tiết kiệm điều chỉnh lãi suất cao nhất giúp khách hàng có thể chủ động trong kế hoạch sử dụng tiền của mình mà không bị gò bó như các sản phẩm tiết kiệm trước đây, với sản phẩm này khách hàng nhận
Trang 37được rất nhiều ưu đãi từ ngân hàng như lãi suất tiền gửi cao, dễ dàng rút được vốn trước hạn với lãi suất thực cao hơn, lãi suất được điều chỉnh phù hợp với lãi suất thị trường và rất nhiều sản phẩm mới với nhiều tiện ích khác Điều này đã giúp cho ngân hàng vượt qua khó khăn và khẳng định được bản thân trong giai đoạn này Vì vậy dự trong thời điểm khó khăn về mọi mặt nhưng hoạt động huy động vốn vẫn đạt 62.126 tỷ đồng tăng 38% so với năm 2010, đây là một con số đáng mơ ước đối với các NHTM tại thời điểm
đó
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu vốn huy động tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn – Hà Nội trong giai đoạn 2009 - 2011
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanhQua biểu đồ 2.1 ta có thể thấy rằng tiền gửi của tổ chức kinh tế, cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó đến tiền gửi của TCTD, giấy tờ có giá và cuối cùng là vốn huy động từ nguồn vốn tài trợ, ủy thác tín dụng đầu tư, cho vay mà tổ chức tài chính chịu rủi
ro Tiền gửi của tổ chức kinh tế, cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu vốn huy động là do với tiền gửi cá nhân thì lượng tiền người dân nắm giữ là rất lớn, thêm vào
đó đa số các cá nhân có tiền nhàn rỗi mà không sử dụng vào mục đích kinh doanh thu lời thì đều mang tiền đến ngân hàng gửi để đảm bảo an toàn và thu lợi từ khoản tiền nhàn rỗi
đó Với tiền gửi của các tổ chức kinh tế thì các tổ chức này thường gửi tiền tại ngân hàng khi có lượng tiền sử dụng cho mục đích kinh doanh nhưng tạm thời nhàn nên gửi tiền vào ngân hàng để thu lời Ngoài ra, lượng tiền người dân và các tổ chức kinh tế nắm giữ là rất lớn nhưng chưa được khai thác hết thì ngân hàng tập trung phát triển các sản phẩm huy
Trang 38động vốn mới và hấp dẫn nhằm thu hút lượng tiền gửi từ cá nhân, tổ chức kinh tế như các chương trình khuyến mãi hay tặng ngay quà có giá trị khi khách hàng cá nhân đến ngân hàng gửi tiền Ngoài tiền gửi huy động được từ các tổ chức kinh tế, cá nhân ngân hàng cũng thường xuyên huy động nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng khi vốn huy động từ các nguồn khác không đủ nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng vốn tạm thời Đối với các nguồn huy động vốn khác tuy không chiếm tỷ trọng lớn nhưng vẫn được ngân hàng quan tâm và phát triển nhằm mang lại được hiệu quả huy động vốn tốt hơn
2.2.2 Tình hình cho vay vốn tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Cho vay là hoạt động truyền thống của ngân hàng và tạo ra nguồn thu nhập lớn nhất cho NHTM Bằng cách đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn vốn cho các thành phần kinh
tế và dân cư, tín dụng ngân hàng trở thành nguồn hỗ trợ chính cho nền kinh tế địa phương phát triển Các sản phẩm cho vay của ngân hàng đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng của mọi thành phần kinh tế, cung cấp nhiều sản phẩm cho vay đa dạng như cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay đồng tài trợ Cùng với đó, ngân hàng cũng thực hiện nghiêm túc mục tiâu của ngân hàng theo phương châm “Phát triển – an toàn – hiệu quả”, không chạy theo số lượng, ngân hàng đã chú trọng tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay, đẩy mạnh công tác tìm kiếm các dự án mới, khách hàng mới, phát triển mạnh cho vay với các khách hàng vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, giảm dần dư nợ đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu nhỏ, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, coi trọng hiệu quả kinh tế và thực hiện nghiêm túc các quy chế về tín dụng hiện hành, hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội trong những năm qua đã không ngừng phát triển về cả số lượng và chất lượng
Trang 39Bảng 2.2 Tình hình cho vay theo kỳ hạn tại Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
giai đoạn 2009 – 2011
Đơn vị tính: Tỷ đồng Năm
Tỷ trọng Số tiền
Đạt tỷ lệ (%) Số tiền
Đạt tỷ lệ (%)
Tổng dư
nợ 12.829 100% 24.375,6 100% 29.161,9 100% 11.546,6 90% 4.786,3 19,63% Cho vay
Trang 40Bảng 2.2 cho thấy dư nợ cho vay tăng đều qua các năm trong đó cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với cho vay trung - dài hạn Tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng từ 58,9% trong năm 2009 lên 64,65% trong năm 2010 và giảm nhẹ xuống 63,46% trong năm 2011 Tỷ trọng các khoản cho vay trung - dài hạn lại bị giảm từ 41,1% trong năm 2009 xuống còn 35,35% trong năm 2010 và tăng nhẹ lên 36,51% trong năm 2011 Năm 2009, cùng với tình hình chung của nền kinh tế thế giới, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn còn trì trệ, hạn chế trong việc đi vay vốn ngân hàng Tuy nhiên, nhờ việc triển khai khẩn trương và hiệu quả các gói kích cầu bằng các chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất mà hoạt động sản xuất kinh doanh đã dần khôi phục nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Việc này cũng giúp cho ngân hàng có thêm nhiều khách hàng, tăng trưởng dư nợ cho vay đạt 12.829 tỷ đồng trong năm 2009, cơ cấu lại danh mục đầu tư tín dụng cho phù hợp với
xu thế hiện tại của nền kinh tế trong và ngoài nước khi cho vay ngắn trung – dài hạn đạt 5.273 tỷ đồng, cho vay ngắn hạn đạt 7.556 tỷ đồng Ngoài ra, ngân hàng còn có
sự điều chỉnh linh hoạt về lãi suất để thu hút khách hàng đến vay vốn
Năm 2010, dư nợ tín dụng tăng 11.546,6 tỷ đồng tương ứng 90% so với năm
2009 trong đó cho vay trung - dài hạn đạt 8.705,5 tỷ đồng, cho vay ngắn hạn đạt 15.760,1 tỷ đồng Đây là một kết quả rất khả quan đối với nhiều NHTM khác Đạt được thành quả này là nhờ vào ngân hàng đã thực hiện hàng loạt danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một ngân hàng hiện đại, đáp ứng phần nào nhu cầu vốn, của các doanh nghiệp, của nền kinh tế Trước hết, chủ động tìm kiếm, khai thác, lựa chọn khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, phân tích tài chính của khách hàng Đồng thời, áp dụng một loạt các giải pháp như rà soát lại các doanh nghiệp chuyển đổi mô hình tổ chức, bổ sung tài sản cầm cố thế chấp trong các doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục xử lý nợ tồn đọng, bám sát tình hình thanh toán vốn để thu nợ ở doanh nghiệp phải gia hạn nợ, xác định mức tín dụng đối với từng doanh nghiệp
Trong năm 2011, nhờ áp dụng các phương pháp phân tích khách hàng như: phân nhóm khách hàng, đưa ra các chỉ tiêu chung nhằm đánh giá chất lượng khách hàng, lựa chọn khách hàng đáp ứng đủ yêu cầu để cho vay, cách ngân hàng cũng lựa chọn các ngành nghề có tiềm năng, nhận được sự hỗ trợ của nhà nước để cho vay như ngành xuất khẩu thủy sản nên doanh số cho vay vẫn tăng 19,63% so với năm 2010, con số này là hợp lý với hoạt động của ngân hàng và phù hợp với chỉ tiêu đã đặt ra của NHNN (tăng trưởng tín dụng đảm bảo < 20% ) Trong bối cảnh kinh tế khó khăn trong và ngoài nước thì hoạt động tín dụng vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro thì ngân hàng
đã tập trung cơ cấu lại danh mục khách hàng với mục tiêu lựa chọn khách hàng hoạt động kinh doanh tốt, uy tín trong những ngành nghề ít rủi ro Vì vậy, danh mục dư nợ cho vay khách hàng khá tốt chủ yếu tập trung vào các hoạt động kinh doanh sản xuất,