1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ .... Chương 2:THIẾT KẾ CÁC PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo cơ hội cho tôi được học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Ngô Diệu Nga, người
thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các giáo viên và học sinh trường THPT Công Nghiệp- thành phố Hòa Bình- tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Đào Thị Ngọc Anh
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ : An toàn-vệ sinh lao động
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm TNSP : Thực nghiệm sƣ phạm
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng, biểu đồ v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 5
1.1 Tổng quan về an toàn vệ sinh lao động 5
1.1.1 An toàn lao động 5
1.1.2 Vệ sinh lao động 6
1.1.3 Tai nạn lao động 6
1.1.4 Bệnh nghề nghiệp 7
1.2 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động 9
1.2.1 Quan niệm về giáo dục an toàn vệ sinh lao động 9
1.2.2 Phương pháp giáo dục an toàn vệ sinh lao động 9
1.3 Dạy học tích hợp 10
1.3.1 Khái niệm tích hợp 10
1.3.2 Quan niệm về dạy học tích hợp 10
1.3.3 Các đặc trưng của dạy học tích hợp 11
1.3.4 Các kiểu tích hợp 11
1.3.5 Tác dụng của dạy học tích hợp 11
1.4 Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 11
1.4.1 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 11
1.4.2 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lý 28
1.5 Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở trường THPT 28
1.5.1 Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong giảng dạy của giáo viên 28
1.5.2 Thực trạng hiểu biết và tình hình hứng thú và tích cực của học sinh đối với giáo dục an toàn vệ sinh lao động 30
Kết luận chương 1 33
Trang 5Chương 2:THIẾT KẾ CÁC PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO
DỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN
THỨC VẬT LÍ 11 34
2.1 Mục tiêu tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 11 34
2.2 Nội dung tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 11 35
2.3 Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở một số nội dung kiến thức Vật lý 11 37
Kết luận chương 2 61
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 62
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 62
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 62
3.4 Phương pháp thực nghiệm 62
3.4.1 Chọn mẫu thực nghiệm 62
3.4.2 Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm 63
3.4.3 Phương pháp thực nghiệm 63
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 64
3.5.1 Cơ sở để đánh giá thực nghiệm sư phạm 64
3.5.2 Đánh giá định tính kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.5.3 Đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm 66
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 74
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tác động của dòng điện lên cơ thể người 23
Bảng 1.2 Bảng tác động của dòng điện phụ thuộc điện áp tiếp xúc 24
Bảng 1.3 Kết quả điều tra giáo viên 28
Bảng 1.4 Bảng kết quả điều tra học sinh 31
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 63
Bảng 3.2: Kết quả bài kiểm tra 10 phút 66
Bảng 3.3: Kết quả bài kiểm tra 1 tiết 67
Bảng 3.4: Xử lí kết quả để tính các tham số 67
Bảng 3.5: Tổng hợp các tham số x, S2, S, V 67
Bảng 3.6:Tính tần suất và tần suất luỹ tích hội tụ lùi 68
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Đồ thị 3.1 Đồ thị đường phân bố tần suất 68
Đồ thị 3.2 Đồ thị đường phân bố tần suất tích luỹ 69
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bên cạnh những thành tựu trong việc phát triển nền kinh tế nước nhà, ta thấy những hiện tượng đau lòng như tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp hay các bệnh mãn tính do điều kiện lao động vẫn còn xảy ra rất nhiều ở các địa phương trong cả nước Những hiện tượng này có thể xảy ra không chỉ trong các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp mà còn xảy ra ở ngay cả những nơi gần chúng ta nhất như trường học, gia đình; kể cả là ở thành thị hay nông thôn Việc học tập, lao động, tiến hành các hoạt động sống không chỉ giúp con người phát triển, duy trì sự sống mà còn ẩn chứa trong đó những mối nguy hiểm cho con người nếu không tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh hữu hiệu
Giáo dục an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) là việc làm rất cần thiết để xây dựng cơ sở cho nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân nhằm mục đích đảm bảo
an toàn cho bản thân cũng như cộng đồng Giáo dục ATVSLĐ là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp con người nhận thức đúng để tiến hành các hoạt động của cuộc sống đạt hiệu quả tốt, an toàn, chất lượng
Ở nước ta, trong các cuộc hội thảo khoa học về vấn đề an toàn vệ sinh lao động, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà khoa học đều thống nhất ý kiến: Bên cạnh những biện pháp xử lí về mặt hành chính cần làm ngay trước mắt thì vấn đề tuyên truyền giáo dục ATVSLĐ cho mọi tầng lớp nhân dân là điều có ý nghĩa quan trọng Trong đó, việc giáo dục cho các thế hệ học sinh ở trường phổ thông là một chiến lược lâu dài, vì các em đang ngồi trên ghế nhà trường hôm nay sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng lao động chính của cả nước Nếu các
em được trang bị thật tốt những kiến thức về ATVSLĐ thì chúng ta sẽ có được những thế hệ được sống và làm việc trong môi trường an toàn, có chất lượng cuộc sống ngày càng cao
Thực tế ở trường phổ thông hiện nay, việc đưa nội dung ATVSLĐ vào chương trình môn học còn sơ sài Vì vậy, việc hiểu biết của các em về ATVSLĐ còn nhiều hạn chế, mang tính lý thuyết và chưa thực sự mang lại hiệu quả Trong thực tiễn, để giúp học sinh có thái độ và hành vi đúng đắn để đảm bảo ATVSLĐ và các vấn đề liên quan thì có rất nhiều biện pháp Trong đó, biện pháp tích hợp giáo
Trang 8dục ATVSLĐ trong giảng dạy là biện pháp vừa đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cơ bản, vừa thực hiện được mục đích giáo dục an toàn vệ sinh lao động Vậy sử dụng phương pháp tích hợp giáo dục ATVSLĐ như thế nào cho hiệu quả?
Với đặc thù vật lí là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan rất nhiều đến thực tế cuộc sống, nên vật lí cũng là một môn học thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp tích hợp giáo dục ATVSLĐ cho học sinh Qua giảng dạy vật lí, chúng
ta có thể lồng ghép những nội dung về ATVSLĐ để qua đó khai thác kiến thức, tích hợp giáo dục, liên hệ với thực tế làm cho giờ học trở nên sinh động, tạo thêm hứng thú học tập cho học sinh và có ý nghĩa thực tiễn cao Việc làm này giúp cho chính chúng ta và các em học sinh có được thêm kiến thức, thái độ tình cảm, ý thức về ATVSLĐ một cách sâu sắc
Phạm vi kiến thức vật lí trong trường THPT là rất rộng lớn Hơn nữa, bộ sách giáo khoa hiện hành mới lần lượt được áp dụng trên toàn quốc kể từ năm học 2006-2007, và chưa có công trình nghiên cứu nào hoàn thiện được đưa ra để phục
vụ cho việc tích hợp ATVSLĐ Đặc biệt là phần kiến thức thuộc chương trình vật lí lớp 11, là phần có nội dung tương đối khó nhưng phần kiến thức lại có ý nghĩa rất quan trọng Kiến thức thuộc các phần này không chỉ dừng lại ở những hiểu biết cơ bản mà còn là cơ sở giải thích các hiện tượng liên quan chặt chẽ đến cuộc sống
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài “Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lý 11” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống quan điểm lý luận về giáo dục ATVSLĐ và việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí để thiết kế được một số phương án dạy
học vật lí 11 tích hợp giáo dục ATVSLĐ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của của đề tài:
+ Tổng quan về an toàn vệ sinh lao động
+ Giáo dục an toàn vệ sinh lao động
+ Dạy học tích hợp
+ Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí
Trang 9- Khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng giáo dục ATVSLĐ trong dạy học vật lí
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí 11
- Mẫu khảo sát: Học sinh lớp 11 trường THPT Công Nghiệp tỉnh Hòa Bình
5 Vấn đề nghiên cứu
Tổ chức dạy học Vật lí 11 như thế nào để tích hợp được nội dung giáo dục ATVSLĐ hiệu quả?
6 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu, lựa chọn được nội dung các bài học vật lí và khai thác các phương tiện dạy học để thiết kế các phương án dạy học có tích hợp giáo dục ATVSLĐ thì không những giúp cho học sinh chiếm lĩnh được kiến thức vật lí mà còn có ý thức vận dụng kiến thức vào việc giữ gìn ATVSLĐ
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí 11
- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành ở lớp 11TN1 và 11TN2 trường THPT Công Nghiệp – Thành phố Hòa Bình – Tỉnh Hòa Bình
Trang 108 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên cứu
các văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát bằng
phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
- Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy học thực nghiệm
Từ đó phân tích, so sánh hoạt động nhận thức của học sinh lớp học đối chứng và lớp học thực nghiệm
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân
tích thống kê
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí
Chương 2: Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở một số nội dung kiến thức Vật lý 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN
TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1.1 Tổng quan về an toàn vệ sinh lao động
cơ quan, xí nghiệp phải thi hành những biện pháp bảo đảm an toàn lao động; đình chỉ những máy móc, công nghệ, kỹ thuật không đảm bảo quy tắc an toàn lao động Trong các ngành khác nhau, có những hệ thống bảo đảm an toàn lao động riêng biệt, ví dụ: trong công nghiệp, cần phải kiểm tra nghiêm ngặt thiết bị trước khi đưa vào vận hành Trong chăn nuôi, phải có những biện pháp phòng hộ thích hợp Trong xây dựng, chú ý ngay từ khâu thiết kế thi công, điều kiện kĩ thuật, thiết bị; đào tạo, giáo dục người thi công về các điều lệ bảo hộ lao động để bảo đảm an toàn lao động Trong giao thông, chú ý các quy định giao thông và các biện pháp kỹ thuật bảo vệ đường bộ, đường thủy, đường hàng không Trong nông nghiệp, chú ý bảo đảm an toàn trong sử dụng máy móc nông nghiệp ngoài đồng ruộng, nhất là trong phun thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại và khử trùng
Nói đến an toàn lao động là đề cập đến các mặt:
- An toàn của quá trình sản xuất: Tính chất của quá trình sản xuất đảm bảo được tình trạng an toàn trong suốt thời gian qui định khi thực hiện các thông số đã cho (tiêu chuẩn Việt Nam-TCVN)
- An toàn của thiết bị sản xuất: Tính chất của thiết bị đảm bảo được tình trạng
an toàn khi thực hiện các chức năng đã qui định trong những điều kiện xác định và trong suốt thời gian qui định (TCVN)
- An toàn và sức khỏe nghề nghiệp: Là mục đích của công tác bảo hộ lao động đảm bảo an toàn và sức khỏe người lao động trong lao động
Trang 12- An toàn bức xạ: Trạng thái bức xạ có tính chất, thông số đảm bảo được an toàn cho con người và môi trường (TCVN).[1],[9]
1.1.2 Vệ sinh lao động
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động
Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại, trước hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại đối với cơ thể con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu tố trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinh lao động
Nội dung của vệ sinh lao động bao gồm:
- Xác định khoảng cách về vệ sinh
- Xác định các yếu tố có hại cho sức khỏe
- Giáo dục ý thức và kiến thức vệ sinh lao động, theo dõi quản lý sức khỏe
- Biện pháp vệ sinh học, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường
- Các biện pháp kỹ thuật vệ sinh: kỹ thuật thông gió, thoát nhiệt, kỹ thuật chống bụi, chống ồn, chống rung động, kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật chống bức xạ, phóng xạ, điện từ trường
Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên theo dõi sự phát sinh các yếu tố có hại, thực hiện các biện pháp bổ sung làm giảm các yếu tố có hại, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.[1],[9]
1.1.3 Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây cho cơ thể một tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời Có rất nhiều loại tai nạn lao động: ngã, đụng đập, điện giật, cháy, bỏng, dây curoa cuốn tóc làm lột da đầu, máy nghiền nát tay, các trường hợp nhiễm độc hóa chất cấp tính do sự cố, tai biến giảm áp cấp xảy ra đối với thợ lặn
Tại điểm 2.1 của Thông tư liên tịch số TLĐLĐVN của Liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, tai nạn lao động được giải nghĩa như sau:
Trang 13* Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ Luật lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc)
* Tai nạn được coi là tai nạn lao động trong các trường hợp sau:
- Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và:
+ Nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động
+ Nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công
- Tai nạn xảy ra do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc
Tất cả những trường hợp trên phải được thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý
* Tai nạn lao động được chia làm 3 loại:
- Tai nạn lao động chết người: là tai nạn lao động dẫn đến chết người (chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn; chết trên đường đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu; chết trong thời gian đang điều trị; chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra )
- Tai nạn lao động nặng: người bị tai nạn bị ít nhất một trong những chấn thương được qui định tại Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư này
- Tai nạn lao động nhẹ: là những tai nạn lao động không thuộc 2 loại tai nạn lao động nói trên.[1],[9]
1.1.4 Bệnh nghề nghiệp
Bệnh nghề nghiệp là hiện trạng bệnh lí mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp, do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động (Thông tư số 12/2006/TT-BYT, ngày 10/11/2006
về hướng dẫn khám bệnh nghề nghiệp)
Trang 14Người lao động có thể bị bệnh nghề nghiệp phải được hưởng chế độ bảo hiểm nên mỗi quốc gia đã qui định những bệnh nghề nghiệp có ở nước mình và ban hành chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp Vào thế kỉ XIX, thế kỉ XX, các nước Đức, Anh, Pháp, Italia đã lần lượt quy định những bệnh nghề nghiệp của nước mình
Hiện nay, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) xếp bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm gồm hàng trăm bệnh nghề nghiệp khác nhau.[1],[9]
Ở Việt Nam, cho đến nay đã có 28 bệnh nghề nghiệp được công nhận bảo hiểm
TT Tên bệnh TT Tên bệnh
1 Bệnh bụi phổi Silic 15 Bệnh do leptospira nghề nghiệp
2 Bệnh bụi phổi atbet hay bụi phổi
Bệnh viêm gan virus nghề nghiệp
3 Bệnh bụi phổi bông 17 Bệnh nhiễm độc asen và các
hợp chất asen vô cơ
4 Bệnh điếc nghề nghiệp 18 Bệnh nhiễm độc nicôtin
5 Bệnh rung chuyển nghề nghiệp 19 Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ
sâu
6 Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp (bức
7
Bệnh loét da, loét vành ngăn mũi,
viêm da, chàm tiếp xúc (bệnh da
10 Bệnh nhiễm độc benzen 24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp
11 Bệnh nhiễm độc mangan 25
Bệnh viêm loét da, viêm móng
và xung quanh móng nghề nghiệp
Trang 1512 Bệnh nhiễm độc thủy ngân 26 Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề
nghiệp
13 a Bệnh nhiễm độc chì vô cơ
b Bệnh nhiễm độc chì hữu cơ 27
Bệnh rung chuyển toàn thân nghề nghiệp
14 Bệnh lao nghề nghiệp 28 Bệnh HIV/AIDS nghề nghiệp
1.2 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động
1.2.1 Quan niệm về giáo dục an toàn vệ sinh lao động
Giáo dục ATVSLĐ làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được kiến thức về ATVSLĐ, cũng như ảnh hưởng của tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đến sức khỏe và đời sống con người Từ đó hình thành những kỹ năng tham gia tích cực, hiệu quả trong phòng ngừa cũng như giải quyết các vấn đề về ATVSLĐ
Giáo dục ATVSLĐ là một quá trình thường xuyên và lâu dài thông qua đó con người nhận thức được ý nghĩa của ATVSLĐ với sức khỏe con người.[9]
Giáo dục ATVSLĐ trong nhà trường trung học phổ thông với các mục tiêu
1.2.2 Phương pháp giáo dục an toàn vệ sinh lao động
* Phương pháp tiếp cận
- Tích hợp các kiến thức về an toàn vệ sinh lao động vào môn học theo mức độ: toàn phần, bộ phận và mức độ liên hệ
- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn
- Thông qua hoạt động ngoại khóa
* Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp liên quan, điều tra khảo sát
- Phương pháp thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy học thực nghiệm
Hiểu biết về an toàn
- Kiến thức, kỹ năng
- Dự báo các tác động
- Tổ chức hành động
Trang 16- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa nhà trường và cộng đồng địa phương trong hoạt động về giáo dục an toàn vệ sinh lao động.[9]
1.3 Dạy học tích hợp
1.3.1 Khái niệm tích hợp
Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy học Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Integration với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở
những bộ phận riêng lẻ
Theo từ điển Tiếng Anh -Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng
thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học , ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số , giáo dục môi trường , giáo dục an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức , Vâ ̣t
lí, Hóa học, Sinh ho ̣c… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
1.3.2 Quan niệm về dạy học tích hợp
Đó là việc giáo viên (GV) sử dụng phương pháp dạy học để thực hiện nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp
bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần Trong quá trình xây dựng sách giáo khoa các môn học, các tác giả có thể đã thực hiện tích hợp kiến thức để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhưng không thể đầy đủ và phù hợp với mọi đối tượng học sinh Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung cho phù hợp và phong phú hơn
Nguyên tắc tích hợp môn học: Để dạt mục đích môn học, phải thiết kế mục tiêu môn học theo quan điểm hướng vào việc tạo năng lực cho người học, và được cấu trúc lại theo yêu cầu gắn với cuộc sống; hình thành cho người học năng lực giải quyết vấn đề Các kiến thức phải đảm bảo có ý nghĩa với cuộc sống, đảm bảo tính khoa học, cập nhật và phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh
Trang 171.3.3 Các đặc trưng của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp có các đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Làm cho quá trình dạy học có ý nghĩa bằng cách gắn quá trình học tập với cuộc sống hàng ngày, không làm tách biệt “thế giới nhà trường” với cuộc sống Dạy học tích hợp dạy học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống một cách tự lực và sáng tạo Dạy học tích hợp không chỉ quan tâm đánh giá những kiến thức đã học mà đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong tình huống có ý nghĩa hay không
- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng vì dạy học tích hợp phải lựa chọn kiến thức, kỹ năng quan trọng và dành thời gian, các phương pháp hợp lý đối với quá trình học tập của HS
- Sử dụng kiến thức của nhiều môn học
1.3.4 Các kiểu tích hợp
- Tích hợp kiến thức: Các tác giả xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa xác định những nội dung có liên quan, hoặc đan xen, hoặc thống nhất trong các lĩnh vực nội dung học tập và tổ hợp chúng lại với nhau Kết quả của kiểu tích hợp kiến thức tạo ra các sản phẩm như: Môn học tích hợp, chương trình tích hợp
- Tích hợp dạy học: Là việc giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học để thực hiện các nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép, hoặc tích hợp toàn phần
1.3.5 Tác dụng của dạy học tích hợp
- Giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn hiệu quả nhất
- Làm cho bài học sinh động, hấp dẫn, HS dễ nhớ bài, khắc sâu kiến thức hơn
- HS học tập có hứng thú, sáng tạo, phát triển khả năng hợp tác, thảo luận nhóm
- Góp phần hình thành kĩ năng, giáo dục thái độ hành vi cụ thể để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống
- Tích hợp sẽ góp phần giải quyết vẫn đề quá tải trong dạy học
- Giúp học sinh nhận thức thế giới một cách tổng thể và toàn diện
1.4 Tích hợp giáo dục an toàn - vệ sinh lao động trong dạy học vật lí
1.4.1 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí
1.4.1.1 Sự cần thiết của việc giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí
Trang 18Cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay trên thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Sự phát triển khoa học kỹ thuật luôn có hai mặt: nâng cao năng suất lao động; nhưng đồng thời, trong phạm vi nhất định, cũng gây nguy hiểm và có hại đến đời sống, sức khỏe con người và hủy hoại môi trường Tình hình tai nạn lao động và bện nghề nghiệp tăng nhanh trên phạm vi thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển Không những trong lĩnh vực lao động mà trong cả lĩnh vực học tập ở các bậc học, đặc biệt là ở bậc phổ thông, cũng tiềm ẩn các yếu tố nguy hiểm và có hại đến đời sống, sức khỏe học sinh và hủy hoại môi trường Như trong quá trình dạy học Vật lí, giáo viên và học sinh luôn phải tiến hành các thiết bị thí nghiệm về cơ, nhiệt, điện, quang v.v Các nguy hiểm trong quá trình truyền động của động cơ có thể gây quấn, kẹp tóc; cường độ dòng điện lớn có thể gây bị điện giật; phóng điện gây bỏng; nổ khi áp suất của môi chất trong bình chứa vượt quá giới hạn bền cho phép làm tổn thương người v.v Ở khía cạnh khác, việc học tập của các học sinh trong suốt 4 đến 5 tiết học/ ngày, trong tư thế ngồi ở bàn học, trong điều kiện không khí, ánh sáng của lớp học, nếu không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh đều ảnh hưởng đến sức khỏe, gây nên bệnh tật Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Trong đó, nguyên nhân liên quan đến người lao động, chủ yếu là các nguyên nhân liên quan đến kiến thức, kỹ năng và thái độ về ATVSLĐ đóng vai trò đáng kể
Các chính sách về ATVSLĐ là chính sách kinh tế- xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ con người luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nhưng bên cạnh việc ban hành, hoàn hiện các văn bản pháp quy, chế độ, chính sách về bảo hộ lao động, thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo về và giữ gìn sức ATVSLĐ là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa hết sức to lớn
ATVSLĐ không chỉ là vấn đề đặt ra trong lĩnh vực sản xuất mà cũng là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết đang đặt ra trong các trường học, khi mà ở đây, hàng năm, các tai nạn đáng tiếc cũng như các bệnh học đường xảy ra càng ngày càng nhiều hơn
Việc giáo dục ATVSLĐ trong nhà trường cần và hợp lý nhất là thông qua việc dạy học các môn học ở trường phổ thông, trong đó có môn Vật lí Các hiện tượng,
Trang 19quá trình vật lí được nghiên cứu trong dạy học Vật lí luôn gắn với các yếu tố nguy hiểm cho con người, có hại cho sức khỏe Khi dạy học các hiện tượng, quá trình như vậy, bên cạnh các kiến thức, kỹ năng về khoa học Vật lí, học sinh cần học được các kiến thức cũng như kỹ năng về an toàn thân thể, giữ vệ sinh cho bản thân, cho môi trường sống Qua đó cũng hình thành ở học sinh quan điểm, thái độ và cách ứng xử đúng đắn về ATVSLĐ ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.[11]
1.4.1.2 Các mục tiêu giáo dục an toàn vệ sinh lao động cần được thực hiện trong dạy học Vật lí phổ thông
+ Các quy định xử phạt về hành vi vi phạm pháp luật ATVSLĐ
- Hình thành hệ thống kiến thức cụ thể về ATVSLĐ có liên quan đến nội dung chương trình vật lí phổ thông
+ Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong môi trường vật lí
+ Các biện pháp phòng chống tai nạn, xử lí tai nạn và bảo vệ sức khỏe trong môi trường vật lí
* Hình thành và phát triển kĩ năng liên quan đến ATVSLĐ trong dạy học vật lí
- Có kĩ năng phát hiện vấn đề về an toàn và vệ sinh lao động trong đời sống và trong học tập
- Có hành động cụ thể để đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động cho con người
và môi trường trong đời sống và trong học tập
- Có kĩ năng ứng xử và giải quyết kịp thời và hợp lí đối với các trường hợp mất an toàn và vệ sinh lao động xảy ra trong đời sống và trong học tập
Trang 20-Tuyên truyền, vận động thực hiện an toàn và vệ sinh lao động trong gia đình, nhà trường, xã hội
* Xây dựng thái độ đúng về ATVSLĐ
- Có nhận thức đúng về sự cần thiết đảm bảo ATVSLĐ trong đời sống và trong dạy học (học tập) vật lí
- Có các suy nghĩ để hành động đúng đắn về ATVSLĐ trong đời sống và trong dạy học (học tập) vật lí
- Tuyên truyền, vận động mọi người hiểu và hành động đúng về ATVSLĐ trong đời sống xã hội và trong học tập
- Ủng hộ, chủ động tham gia các hoạt động an toàn và vệ sinh lao động, phê phán hành vi gây hại cho sức khoẻ của con người trong cộng đồng.[11]
1.4.1.3 Các nội dung giáo dục ATVSLĐ cần thực hiện trong dạy học vật lí THPT
Nội dung chương trình Vật lí phổ thông đề cập đến các kiến thức về các lĩnh vực như: Cơ học, Nhiệt học, Điện học, Vật lí nguyên tử, hạt nhân Các kiến thức trong các lĩnh vực này đóng vai trò làm nguyên lý cơ bản cho các quá trình kỹ thuật, công nghệ sản xuất hiện nay Vì vậy, nội dung giáo dục ATVSLĐ cần được thực hiện trong khi dạy học Vật lí phổ thông là những vấn đề:
- Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong các quá trình cơ học, cụ thể là hoạt động của các thiết bị cơ khí, quá trình truyền động v.v cũng như các biện pháp ngăn ngừa, phòng tránh hay xử lí khi gặp tai nạn
- Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong các quá trình nhiệt học, cụ thể là hoạt động của các máy móc, thiết bị về nhiệt, các quá trình truyền nhiệt cũng như các biện pháp ngăn ngừa, phòng tránh hay xử lí khi gặp tai nạn
- Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong các hiện tượng, quá trình sản xuất, biến đổi, truyền tải năng lượng điện, cũng như các biện pháp ngăn ngừa, phòng tránh hay
Trang 211.4.1.4 Các yếu tố nguy hiểm và có hại thường gây tai nạn trong dạy học Vật lí
* Ảnh hưởng của vi khí hậu đến sức khỏe của giáo viên và học sinh
Điều kiện khí hậu nói chung là điều kiện về nhiệt độ không khí, độ ẩm, bức
xạ, vận tốc chuyển động của không khí
Điều kiện vi khí hậu là điều kiện khí hậu xét trong khoảng không gian hẹp Các yếu tố đặc trưng của điều kiện vi khí hậu và sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ tại chỗ làm việc cao hay thấp, thích hợp với cơ thể con người hay không tùy thuộc vào nhiệt độ không khí ngoài trời và phụ thuộc vào các hiện tượng phát nhiệt của quá trình làm việc Cơ thể con người luôn tự duy trì ở nhiệt độ không đổi trong khoảng 370
C0,5 Để duy trì thân nhiệt ở điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể thải nhiệt bằng cách truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ, bay hơi mồ hôi
Truyền nhiệt xảy ra khi nhiệt độ không khí xung quanh thấp hơn nhiệt độ cơ thể, lúc này cơ thể mất nhiệt Thải nhiệt bằng đối lưu là hình thức trao đổi nhiệt từ
da người ra ngoài không khí
Khi nhiệt độ trung bình của các bề mặt xung quanh thấp hơn nhiệt độ da người thì cơ thể phát ra các tia bức xạ Ngược lại, khi nhiệt độ trung bình của các bề mặt xung quanh cao hơn nhiệt độ da người thì cơ thể người nhận thêm nhiệt bức xạ
Khi nhiệt độ không khí xung quanh cao hơn 340C thì cơ thể còn cách thải nhiệt bằng bay mồ hôi
Ở điều kiện khí hậu lạnh, cơ thể tăng cường quá trình sinh nhiệt và hạn chế quá trình thải nhiệt để duy trì sự cân bằng nhiệt Tuy nhiên sự tự cân bằng nhiệt của
cơ thể người chỉ thực hiện được trong một phạm vi xác định
Khi làm việc trong điều kiện nhiệt độ không khí trên 340C, để cân bằng thân nhiệt, cơ thể phải tiết nhiều mồ hôi và kèm theo mồ hôi là một lượng muối ăn ,các chất khoáng khác trong cơ thể, do đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như gây chóng mặt, đau đầu, đau thắt ngực, buồn nôn Khi làm việc trong điều kiện nhiệt độ quá thấp có thể dẫn tới bệnh hen phế quản, viêm đường hô hấp, bệnh thấp khớp Tiêu chuẩn Việt Nam cho phép nhiệt độ tại chỗ làm việc không được vượt quá 300C
- Độ ẩm: Độ ẩm là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng số gam hơi nước có trong 1m3 không khí Để biểu hiện mức ẩm cao hay thấp, người ta đưa
ra khái niệm độ ẩm tương đối
Trang 22Độ ẩm tương đối là tỉ lên phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm cực đại Tiêu chuẩn độ ẩm tương đối cho phép từ 75% đến 85%
- Vận tốc chuyển động của không khí trong lớp học Vận tốc này quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe Tiêu chuẩn cho phép vận tốc chuyển động của không khí ở nơi làm việc không quá 3m/s Vận tốc thích hợp là 0,1 đến 0,3 m/s
- Bức xạ nhiệt: Bức xạ nhiệt là những hạt năng lượng truyền trong không gian dưới dạng sóng điện từ gồm các tia tử ngoại, tia hồng ngoại, tia sáng nhìn thấy Trong kỹ thuật, bức xạ nhiệt được biểu thị bằng đơn vị cal/cm2 phút và được đo bằng nhiệt kế cầu Tiêu chuẩn cho phép 0,5cal/cm2 phút
Các yếu tố vi khí hậu đã nêu trên ảnh hưởng đến việc tự điều hòa thân nhiệt
cơ thể người Vì vậy cần nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật
để chủ động kiểm soát và thay đổi các yếu tố vi khí hậu nhằm tạo điều kiện cho cơ thể duy trì sự thăng bằng nhiệt trong điều kiện thuận lợi, dễ chịu và thoải mái nhất cho cơ thể, góp phần nâng cao năng suất lao động và tránh gây ra bệnh nghề nghiệp Các biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu xấu:
Sự dụng hệ thống điều hòa nhiệt độ
+ Các biện pháp y tế:
Trang 23 Phân bố thời gian lao động và nghỉ ngơi hợp lí Phòng nghỉ giữa giờ cho giáo viên có tốc độ chuyển động của không khí thích hợp, tạo điều kiện cho cơ thể điều hòa thân nhiệt tốt nhất bằng đối lưu và bức xạ
Chế độ ăn uống hợp lý, đặc biệt là đảm bảo đủ nước uống cho giáo viên và học sinh, bố trí đủ các bình nước nóng và nước mát
- Chống lạnh: Bố trí các tấm che chắn để tránh gió lùa gây cảm lạnh Có thể thiết kế hệ thống gió nóng để sưởi ấm Mặc quần áo ấm, giữ ấm đầu và chân
* Ảnh hưởng của bụi và cách phòng tránh
- Khái niệm bụi:
+ Bụi là tập hợp các hạt có kích thước nhỏ (từ 0,001 tới vài chục m) tồn tại trong không khí dưới dạng bụi lắng hay bụi bay
+ Bụi lắng có kích thước từ 10m trở lên do chất rắn bị nghiền nhỏ tạo thành + Bụi bay có kích thước từ 0,001 đến 10m bao gồm tro, bụi khói, muội
- Tác hại của bụi:
+ Bụi gây sơ hóa phổi: Bụi thạch anh, amiăng khi xâm nhập vào phổi loại bụi này gây sơ hóa phổi làm giảm chức năng hô hấp
+ Bụi gây nhiễm độc chung: bụi chì, thủy ngân, benzen
+ Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban như bụi bông, gai, bụi một số loại gỗ + Bụi gây nhiễm trùng như bụi lông, xương
+ Bụi gây ung thu như bụi quặng, hợp chất crôm, bụi các chất phóng xạ + Bụi gây chấn thương mắt khi bắn vào mắt
- Các biện pháp phòng chống bụi trong môi trường lớp học
+ Luôn giữ vệ sinh trong và ngoài lớp học Ngăn chặn không cho bụi từ các nguồn phát sinh khác tràn vào lớp học
+ Sử dụng hệ thống thông gió cơ khí để hút bụi tự nhiên, tránh mắc các quạt điện thổi bụi phấn vào mặt giáo viên hoặc các học sinh ngồi ở những bàn phía gần bục giảng
+ Sử dụng loại phấn thực sự không bụi hoặc sử dụng bài giảng trình chiếu bằng máy tính, máy chiếu
+ Tổ chức kiểm tra sức khỏe định kì cho giáo viên và học sinh để kịp thời phát hiện ra các bệnh về phổi
Trang 24* Ảnh hưởng của ánh sáng đến sức khỏe của giáo viên và học sinh
- Một số khái niệm về ánh sáng
+ Ánh sáng nhìn thấy là những bức xạ điện từ cớ bước sóng nằm trong khoảng
từ 380nm đến 760nm tương ứng với các dải màu biến thiên liên tục đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Mỗi màu đơn sắc tương ứng với một bước sóng nhất định, một dải màu tương ứng với một dải bước sóng Độ nhạy của mắt người không giống nhau đối với từng bức xạ đơn sắc Mắt người nhạy nhất đối với bức xạ có bước sóng 555nm
+ Quang thông là đại lượng đánh giá khả năng phát sáng của vật Nó là phần công suất bức xạ của nguồn sáng có khả năng gây ra cảm giác sáng cho thị giác của mắt người
+ Cường độ sáng là đại lượng đặc trưng cho khả năng phát sáng theo các phương khác nhau của nguồn sáng Cường độ sáng theo phương n là mật độ quang thông bức xạ phân bố theo phương n đó và được kí hiệu la In, nó được đo bằng tỉ số giữa vi phân lượng quang thông bức xạ d và vi phân góc khối d theo phương n
Đơn vị đo cường độ sáng là Candela (Cd)
Candela là cường độ sáng đo theo phương vuông góc với tia sáng của mặt phẳng bức xạ toàn phần có diện tích 1/60000m2
+ Độ rọi là đại lượng để đánh giá độ sáng của một bề mặt được chiếu sáng
Độ rọi EM tại điểm M là tỉ số giữa lượng quang thông chiếu đến và vi phân diệc tích
dS được chiếu sáng tại điểm đó
dS
d
Đơn vị đo độ rọi là Lux (lx) Lux là độ rọi gây ra luồng sáng có quang thông
1 lumen chiếu đều trên diện tích 1m2
+ Độ chói là đại lượng để đánh giá độ sáng của một nguồn sáng hay một mặt sáng Nó là đặc trưng quang học của vật được mắt người trực tiếp thu nhận Đơn vị
đo độ chói là nit (nt) Nit là độ chói của một nguồn sáng diện tích 1m2 có cường độ 1cd khi ta nhìn thẳng góc với nó
- Quan hệ giữa ánh sáng và sự nhìn của mắt
Trang 25Sự nhìn rõ của mắt liên hệ trực tiếp với những yếu tố sinh lí của mắt Chúng
ta cần biết rõ mối liên hệ giữa yếu tố ánh sáng và khả năng nhìn rõ của mắt Ta phân biệt thị giác ban ngày và thị giác ban đêm
+ Thị giác ban ngày liên hệ tới sự kích thích của tế bào hữu sắc Khi độ rọi
EM 10lux thì tế bào hữu sắc cho cảm giác màu sắc và phân biệt chi tiết của vật quan sát Do đó khi EM 10lux thì thị giác ban ngày làm việc
+ Thị giác ban đêm liên hệ với sự kích thích tế bào vô sắc, khi độ rọi EM0,01lux thì chỉ có tế bào vô sắc làm việc
Khi EM = 0,0110 lux thì cả hai tế bào cùng làm việc
+ Quá trình thích nghi của mắt là thời gian cần thiết để mắt có thể nhìn rõ vật khi chuyển từ trường nhìn có độ sáng này sang trường nhìn có độ sáng khác Thực nghiệm cho thấy, khi mắt chuyển từ trường nhìn sáng sang trường nhìn tối cần từ 15
20 phút và từ trường nhìn tối sang trường nhìn sáng cần khoảng 8 10 phút mắt mới nhìn thấy rõ ràng
+ Tốc độ phân giải của mắt: Người ta đánh giá khả năng phân giải của mắt bằng góc nhìn tối thiểu mà mắt có thể nhìn thấy được vật Mắt có khả năng phân giải trung bình, nghĩa là có khả năng nhận biết được 2 điểm khác nhau trên vật dưới góc nhìn min 1' trong điều kiện chiếu sáng tốt Trong trường hợp cần phân biệt vật quá nhỏ ( <min) thì cho dù chiếu sáng tốt cũng khó phân biệt được rõ vật, khi
đó phải nhờ sự hỗ trợ của các dụng cụ quang
+ Độ tương phản giữa vật quan sát và nền Tỉ lệ độ chói giữa vật quan sát và nền chỉ mức độ khác nhau về cường độ sáng giữa vật quan sát và nền của nó Trong một phạm vi nhất định thì sự khác nhau càng lớn, nhìn vật quan sát càng rõ Tỉ lệ này được biểu thị bằng hệ số tương phản
n
n v B
B B
Trang 26khi tăng độ chói của nền thì độ nhạy tương phản tăng khá nhanh và đạt cực đại tại
Bn = 350 nit Nếu tiếp tục tăng Bn thì độ nhạy tương phản lại giảm nhanh vì khi đó
độ chói đã gây hiện tượng lóa mắt
Để mắt có thể nhìn rõ vật thì độ chói của nền phải lớn hơn ngưỡng độ chói
và độ tương phản thực tế phải lớn hơn giá trị độ tương phản ở ngưỡng thấy nhiều lần (K=8Kmin)
- Yêu cầu kĩ thuật khi thiết kế hệ thống chiếu sáng trong lớp học
+ Đảm bảo độ rọi yêu cầu đọc được sách, nhìn được chữ viết trên bảng
+ Hướng của ánh sáng không gây bóng đổ của học sinh hoặc các kết cấu của lớp học lên bảng hoặc vở học sinh
+ Tránh tạo ra hiện tượng lóa khi học sinh nhìn bảng
+ Bề mặt bảng có độ chói cao hơn độ chói của tường, trần lớp học, đảm bảo
+ Chiếu sáng bằng hệ thống đèn điện: Đến nay, nguồn sáng điện chủ yếu gồm hai loại: đèn dây tóc và đèn huỳnh quang
Đèn dây tóc phát sáng ổn định, không phụ thuộc nhiệt độ môi trường, có khả năng phát sáng tập trung, cường độ lớn và phát sáng ngay cả khi điện áp thấp hơn nhiều so với điện áp định mức của đèn Ánh sáng do loại đén này phát ra có quang phổ nằm trong vùng ánh sáng đỏ đến vàng rất phù hợp với tâm sinh lí con người Tuy nhiên, hiệu suất phát quang của loại đèn này thấp và khả năng phát sáng luôn kèm theo bức xạ nhiệt nên hiệu quả kinh tế thấp
Đèn huỳnh quang tạo nguồn sáng nhờ phóng điện trong chất khí Đèn huỳnh quang chiếu sáng dựa trên hiệu ứng quang điện Loại đèn này có hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài và cho quang phổ phát xạ gần với ánh sáng ban ngày
Trang 27Tuy nhiên, nó chỉ phát quang ổn định khi nhiệt độ môi trường không khí dao động trong khoảng từ 150C đến 350C Điện áp thay đổi 10% đã làm đèn không sáng được Ngoài ra ở đèn huỳnh quang còn có hiện tượng quang thông dao động theo tần số của điện áp xoay chiều gây khó chịu khi nhìn, có hại cho mắt
Cùng với đèn điện, thiết bị chiếu sáng còn có thêm các bộ phận như:
+ Bộ phận phản xạ để phản chiếu luồng sáng phát ra vào những hướng nhất định làm tăng hiệu quả chiếu sáng của đèn
+ Bộ phận khuếch tán có nhiệm vụ làm giảm độ chói của nguồn sáng, biến ánh sáng trực tiếp của đèn thành ánh sáng khuếch tán có cường độ nhỏ hơn để hạn chế khả năng gây lóa của đèn
+ Bộ phận khúc xạ nhằm phân bố lại ánh sáng của đèn, làm che tối, ngăn sáng để mắt không bị lóa
Tùy theo việc sử dụng đèn mà lựa chọn một hay nhiều các bộ phận kể trên.[11]
1.4.1.5 Các yếu tố nguy hiểm và có hại thường gây tai nạn trong phòng thí nghiệm Vật lí
* Những nguyên nhân gây ra chấn thương khi sử dụng máy móc, thiết bị và cách phòng tránh
- Những nguyên nhân gây ra chấn thương khi sử dụng máy móc thiết bị
+ Nguyên nhân do thiết kế
Đối với các máy và cơ cấu chịu lực nếu thiếu độ bền cơ học có thể làm rơi vật nặng, nổ vỡ bình chứa, gãy trục, vỡ bánh răng
Đối với các thiết bị nhiệt, nếu chọn vật liệu không đúng có thể làm cho độ bền giảm đi nhanh chóng do tác dụng nhiệt
Các bộ phận làm việc với tốc độ cao, có rung động, nếu không có biện pháp chống tháo lỏng, có thể làm văng các chi tiết gây nguy hiểm
Các thiết bị có cùng nguy hiểm, nếu không có biện pháp che chắn, cách li thích hợp, có thể dẫn tới tai nạn
+ Nguyên nhân do chế tạo
Ở các bình chịu lực, nếu dùng không đúng vật liệu, gò hàn không đảm bảo làm cho độ bền, độ khít, độ chịu nhiệt giảm đi
Trang 28 Ở những chi tiết chịu trọng tải động, nếu bề mặt gia công còn quá thô hoặc còn có vết xước thì khả năng chịu ứng suất mỏi giảm, khó làm việc lâu bền
Bu lông, êcu chế tạo không đúng kích thước qui định, lỏng quá sẽ bị trờn răng và nó
sẽ mất hoàn toàn khả năng chịu lực
Lắp ráp không đúng yêu cầu cũng làm cho máy hoạt động không tốt + Nguyên nhân do bảo quản và sử dụng: Muốn máy làm việc ổn định, có hiệu quả và lâu bền, phải có một chế độ bảo quản và sử dụng đúng yêu cầu kĩ thuật
và thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh cơ cấu an toàn
- Những biện pháp an toàn chủ yếu
+ Có cơ cấu che chắn và cơ cấu bảo vệ
+ Có cơ cấu phòng ngừa
+ Có cơ cấu điều khiển
+ Sử dụng các tín hiệu an toàn như: tín hiệu ánh sáng, tín hiệu âm thanh, màu sắc biển báo, các loại đồng hồ chỉ các thông số an toàn cho phép như mức nước, áp suất, nhiệt độ
+ Thử máy trước khi điều khiển
+ Trang bị phòng hộ cá nhân
* Các yếu tố nguy hiểm do sử dụng điện và các biện pháp kĩ thuật an toàn điện
Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể người
- Điện trở của cơ thể người: Điện trở của cơ thể người là một đại lượng rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của cơ thể mà còn phục thuộc vào môi trường xung quanh, điều kiện tổn thương Điện trở người có thể thay đổi từ khoảng 600 đến vài chục k Khi có dòng điện đi qua người, điện trở người giảm đi, vì da bị đốt nóng, mồ hôi thoát ra Điện áp đặt vào ảnh hưởng rất lớn đến điện trở người vì ngoài hiện tượng điện phân còn có “hiện tượng chọc thủng” Với điện áp 10V-30V đã xuất hiện “hiện tượng chọc thủng”, điện áp từ 250V trở lên điện trở người tương đương bị bóc hết lớp da
- Ảnh hưởng của trị số dòng điện giật:Dòng điện là nhân tố vật lí trực tiếp gây ra tổn thương khi bị điện giật Điện trở người hay điện áp đặt vào người chỉ là những đại lượng làm biến đổi trị số dòng điện mà thôi Khi nghiên cứu các hiện tượng sinh học về điện giật bằng các phương pháp đo lường đặc biệt và thận trọng, đã chứng
Trang 29minh được “khi dòng điện chỉ vào khoảng 50mA đến 100mA đã làm chết người” Hiện nay với dòng điện xoay chiều tần số 50Hz-60Hz, trị số dòng điện an toàn lấy bằng 10mA, với dòng điện một chiều trị số này là 50mA Bảng sau đây giới thiệu tác động của dòng điện lên cơ thể người:
Bảng 1.1 Tác động của dòng điện lên cơ thể người Cường độ
Nóng tăng lên
20-25 Tay không rời được vật có điện, đau,
khó thở
Nóng càng tăng lên, thịt co quắp lại nhưng chưa mạnh
50-80 Thở bị tê liệt, tim bắt đầu đập mạnh Cảm giác nóng mạnh, bắp
thịt ở tay co rút, khó thở 90-100
Thở bị tê liệt Khi dòng điện kéo dài 3 giây hoặc dài hơn, tim bị tê liệt đi đến ngừng đập
Thở bị tê liệt
- Ảnh hưởng của thời gian điện giật
+ Thời gian tác dụng của dòng điện ảnh hưởng đến điện trở người Thời gian tác dụng càng lâu điện trở người càng giảm vì lớp da bị nóng dần, lớp sừng trên da
bị chọc thủng ngày càng nhiều
+ Khi dòng điện tác động trong khoảng thời gian ngắn thì tính chất nguy hiểm phụ thuộc vào nhịp đập của tim Mỗi chu kì dãn của tim kéo dài khoảng 1 giây Trong một chu kì có khoảng 0,1 giây tim nghỉ làm việc và ở thời điểm này, tim rất nhạy cảm với dòng điện qua nó Do đó, nếu dòng điện qua người dài hơn 1 giây Do đó, nếu dòng điện qua người dài hơn 1 giây thế nào cũng trùng với thời
Trang 30điểm tim nghỉ làm việc Thí nghiệm cho thấy, dù dòng điện qua người lớn gần bằng 10mA mà không gặp thời điểm tim nghỉ làm việc thì cũng không nguy hiểm
+ Thời gian tác động của dòng điện còn phụ thuộc điện áp tiếp xúc
Bảng 1.2 Bảng tác động của dòng điện phụ thuộc điện áp tiếp xúc
đủ để cứ trong một chu kỳ chạy được 2 lần bề rộng tế bào thì chức năng sinh hóa của tế bào bị phá hủy nhiều nhất Với dòng điện có tần số cao thì khi dòng điện đổi chiều, ion không kịp đập vào màng tế bào Nếu tần số dòng điện càng tăng lên, đường đi của ion càng ngắn và mức độ kích thích tế bào càng ít Lúc tần số rất cao thì điện trường không ảnh hưởng đến chuyển động của ion, tế bào không bị kích thích nhiều Tuy nhiên, chúng ta chưa khẳng định được loại tần số nào nguy hiểm nhất và loại tần số nào ít nguy hiểm nhất
Trang 31- Điện áp cho phép: Dự đoán trị số dòng điện đi qua người trong nhiều trường hợp không làm được Điện trở người là một hàm của nhiều biến số mà mỗi biến số này lại phụ thuộc vào các hoàn cảnh khác nhau Vì vậy xác định giới hạn an toàn cho người không dựa vào “dòng điện an toàn” mà theo “điện áp cho phép” Tiêu chuẩn “điện áp cho phép” mỗi nước một khác, chẳng hạn: Ba Lan, Thụy Sĩ thì “điện
áp cho phép” là 50V; Hà Lan, Thụy Điển “điện áp cho phép” là 24V; Pháp “điện áp xoay chiều cho phép” là 24V; Nga tùy theo môi trường làm việc, “điện áp cho phép” có thể khác nhau 65V, 36V, 12V Ở Việt Nam “điện áp cho phép” là 42V với dòng điện xoay chiều và 110V đối với dòng điện một chiều
- Các dạng tai nạn điện: Chấn thương do điện là sự phá hủy cục bộ các mô của cơ thể người do dòng điện hoặc hồ quang điện Các đặc trưng của chấn thương điện là: + Bỏng điện là bỏng do dòng điện qua cơ thể hoặc do tác động đốt nóng của ngọn lửa hồ quang hay bột kim loại nóng bắn vào người
+ Dấu vết điện: Khi dòng điện chạy qua sẽ tạo nên các dấu vết trên bề mặt da tại điểm tiếp xúc với điện cực
+ Viêm mắt do tác dụng của tia cực tím hoặc tia hồng ngoại trong ánh sáng hồ quang điện
+ Điện giật: Dòng điện qua cơ thể người gây kích thích các mô kèm theo co giật
cơ ở các mức độ khác nhau như: Cơ co giật nhưng không bị ngạt; cơ bị co giật, người bị ngất nhưng vẫn duy trì được hệ hô hấp và tuần hoàn; người bị ngất, hoạt động của tim và hệ hô hấp bị rối loạn; chết lâm sàng
- Cấp cứu người bị điện giật:
+ Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện
+ Làm hô hấp nhân tạo
+ Xoa bóp tim ngoài lồng ngực
* Ảnh hưởng của trường tĩnh điện
- Các khái niệm chung về hiện tượng tĩnh điện
Hiện tượng tĩnh điện là hiện tượng tích điện ở một số loại nguyên vật liệu có tính cách điện, một số chất lỏng khi chúng bị cọ xát hoặc tiếp xúc với vật khác đã nhiệm điện hoặc đặt gần vật đã nhiễm điện Điện thế tĩnh điện có trị số thay đổi phụ thuộc vào loại vật liệu, điều kiện môi trường, độ ma sát, vận tốc chuyển động Khi
Trang 32đã tích điện đến điện thế cao, điện tích lớn (cường độ điện trường trong không khí
cỡ 3.106V/m) có thể phóng điện
Khi làm các thí nghiệm vật lý nghiên cứu về các hiện tượng nhiễm điện, máy phát tĩnh điện, máy phát điện hoặc động cơ điện có dùng bộ góp điện, máy Roomcop có thể vô ý chạm vào vật bị nhiễm điện và bị giật điện, có thể gây nguy hiểm hoặc gây cảm giác khó chịu Trong một số trường hợp, tia lửa điện phát sinh ở những chỗ nối điện không chặt, đóng mở công tắc, cầu dao; chập mạch; dây bị nóng
đỏ do quá tải Tia lửa điện tạo ra do phóng điện tích có cường độ không đáng kể (phần nghìn mA) nhưng nó là một loại mồi lửa phổ biến với nhiệt độ có thể tới
100000C, vượt quá rất nhiều nhiệt độ tự bốc cháy của nhiều chất Vì vậy, chúng có thể làm bắt lửa bất cứ một hỗn hợp cháy nào của hơi, khí hay bụi với không khí
- Các biện pháp phòng tránh ảnh hưởng của hiện tượng tĩnh điện
Để phòng tránh nguy hiểm của phóng điện do tĩnh điện, người ta áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, hoặc không để xuất hiện sự tích điện, hoặc trung hòa điện tích, hoặc dẫn điện tích xuống đất Các biện pháp thường sử dụng như:
+ Làm tăng độ ẩm của nguyên vật liệu và môi trường, thường độ ẩm của nguyên vật liệu trên 85% thì khả năng tích điện sẽ giảm đáng kể
+ Làm tăng điện dẫn của nguyên vật liệu (phun hay bôi một số chất để tăng độ dẫn điện của nguyên vật liệu)
+ Dẫn điện tích xuống đất:Dùng lược hay bàn chải bằng kim loại được nối đất + Trung hòa điện tích: Dùng thiết bị phát ra các ion để trung hòa điện tích trên nguyên vật liệu (dùng tia cực tím, tia Rơnghen, phóng xạ, điện trường)
Trang 33+ Tia phóng ra với tốc độ rất lớn, có thể đạt xấp xỉ tốc độ ánh sáng Tia
cũng làm ion hóa môi trường nhưng yếu hơn tia nên có thể đi được quãng đường dài hơn, tới vài mét trong không khí và có thể xuyên qua lá nhôm dày cỡ milimet
Có 2 loại tia : loại phổ biến là tia , đó là dòng các electron Loại hiếm hơn là tia , đó là các pôzitrôn
+ Tia là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn, cũng là hạt photon có năng lượng cao Nó có khả năng đâm xuyên mạnh hơn tia rất nhiều và có tác dụng hủy diệt tế bào
- Các cách bảo vệ cơ thể để không chịu tác hại của các tia phóng xạ
Chất phóng xạ có nhiều ứng dụng Tia phóng xạ được dùng để: phát hiện khuyết tật khi sửa máy, chống sâu bọ có hại, nâng cao năng suất cây trồng, làm sạch thực phẩm Tuy nhiên khi sử dụng chất phóng xạ hoặc chiếu xạ có thể gây nguy hiểm Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào hàm lượng và thời gian chiếu xạ, loại chất phóng xạ, trạng thái vật lí của nó, loại tia phóng xạ và năng lượng của tia, độ lớn bề mặt vật chiếu xạ
Để bảo vệ không chịu tác hại của tia chỉ cần một lớp không khí không lớn, một tấm nhôm hoặc kính mỏng Đối với tia người ta dùng nhôm, tủy tinh hữu
cơ, kính Với tia dùng các vách ngăn bằng chì, gang hoặc bê tông Đối với các tia Nơtron để cản ta dùng nước, paraphin và graphit Để tiêu tán cá Nơtron nhiệt chỉ cần một lớp cát-mi dày 1mm
Bảo vệ chiếu xạ bên trong cần có các phương tiện phòng ngừa tiếp xúc trực tiếp với các chất phóng xạ và lọt vào bên trong cơ thể Các chế phẩm đặt bên trong ống thủy tinh hoặc hộp kín Ống thủy tinh đựng trong hộp, thành ống được bảo vệ, khi di chuyển cần đặt trong bao gói Khi vận chuyển cần xe đặc biệt, cấm vận chuyển chất phóng xạ bằng các phương tiện giao thông công cộng
Khi làm việc ở khu vực có chất phóng xạ cần chú ý bảo vệ bộ phận hô hấp bằng dụng cụ thở, dùng các dụng cụ cách li để bảo vệ toàn thân nếu thời gian làm việc dài Để bảo vệ mắt khỏi tác hại của tia có tần số không lớn lắm có thể dùng kính chì, với tia dùng kính thủy tinh hữu cơ.[11]
Trang 341.4.2 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lý
Quá trình khai thác các cơ hội giáo dục ATVSLĐ cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
+ Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của bộ môn thành bài giáo dục an toàn vệ sinh lao động
+ Khai thác nội dung giáo dục an toàn vệ sinh lao động có chọn lọc, có tính tập trung vào những chương mục nhất định
+ Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của học sinh và các kinh nghiệm thực tế các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả năng để cho học sinh có ý thức thực hiện ATVSLĐ, đồng thời còn là hạt nhân tuyên truyền về ATVSLĐ
1.5 Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở trường THPT
Để phục vụ cho hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tìm hiểu về thực trạng giáo dục ATVSLĐ qua bộ môn vật lí của giáo viên và học sinh ở một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Hòa Bình năm học 2012-2013
1.5.1.Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy ho ̣c
Mặc dù, chương trình cải cách giáo dục trung học phổ thông đã đưa một số kiến thức về ATVSLĐ vào bộ môn Vật lí, nhưng thực tế việc thực hiện chưa mang lại hiệu quả rõ rệt thể hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng Khi điều tra và trao đổi với 20 giáo viên dạy Vật lí ở một số trường trung học phổ thông, chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 1.3 Kết quả điều tra giáo viên
Nội dung trao đổi Số ý kiến
đồng ý
Tỷ lệ
%
1 Về nội dung chương trình,SGK
- Chương trình chưa đề cập đến vấn đề ATVSLĐ một cách đầy
đủ và cụ thể
- Sách giáo khoa thể hiện còn sơ sài vấn đề ATVSLĐ
- Cần phải có một tài liệu hướng dẫn trong từng bài, từng
chương về vấn đề giáo dục ATVSLĐ
10/20 11/20 19/20
50% 55% 95%
Trang 352 Việc thực hiện nội dung giáo dục ATVSLĐ trong chương
trình vật lí
- Có chú ý lồng vào bài giảng
- Có lúc đưa vào có lúc không
- Chưa đưa vào bài dạy vì thời gian ít và tài liệu chưa đủ
4/20 9/20 7/20
20% 45% 35%
3 Tác dụng của giáo dục ATVSLĐ
- Giúp học sinh mở rộng kiến thức vật lí
- Giúp học sinh đảm bảo an toàn và vệ sinh cho bản thân cũng
như cho cộng đồng
- Giúp học sinh trong quá trình lao động sản xuất sau này
20/20
17/20 8/20
100%
85% 40% Kết quả trao đổi này cho thấy, vấn đề giáo dục ATVSLĐ tuy có vai trò nhất định và môn vật lí là một trong những môn học có nhiều điều kiện thuận lợi để giáo dục ATVSLĐ Nhưng giáo viên vẫn còn lúng túng nhiều trong việc đưa kiến thức ATVSLĐ vào bài dạy Giáo viên chưa vận dụng linh hoạt và cũng chưa kết hợp những kiến thức vật lí và kiến thức an toàn vệ sinh lao động Hơn nữa, vì chưa có một văn bản pháp lý nào nên việc giáo dục an toàn vệ sinh lao động chưa là vấn đề quan trọng, bắt buộc đối với giáo viên, nên kết quả thu được không đáng là bao Hầu như tất cả các giáo viên đều mong muốn có một tài liệu hướng dẫn về kiến thức và phương pháp giáo dục ATVSLĐ
Qua trao đổi với giáo viên, chúng tôi được biết nguyên nhân chủ yếu là:
- Quan niệm về giáo dục ATVSLĐ trong các môn học, cụ thể là môn vật lí chưa rõ ràng, chưa có quy định chặt chẽ về việc phải tiến hành giáo dục ATVSLĐ cho học sinh thông qua môn học, dạy ở mức độ nào, kiến thức gì, dẫn đến việc giáo viên có giáo dục ATVSLĐ hay không cũng chẳng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Hơn nữa, các kiến thức về ATVSLĐ đưa vào phải mất thời gian tìm tòi, suy nghĩ, phải đầu tư công sức cho nên họ thường ngại đề cập đến vấn đề này
- Việc cải cách giáo dục và cải cách sư phạm không đồng bộ, nên một số khóa trước kia ra trường chưa được trang bị thêm một số chuyên đề mới mang tính thời sự cấp bách như: giáo dục môi trường, giáo dục ATVSLĐ, khi bồi dưỡng giáo viên cũng chưa đề cập đến vấn đề này cho nên hiệu quả giáo dục ATVSLĐ không cao cũng là một thực tế
Trang 36- Tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, các phương tiện thiết bị dạy học, các tài liệu thông tin tuyên truyền còn quá ít ỏi nhất là đối với đại đa số các trường ở khu vực miền núi hay nông thôn Ở nhiều trường, ngay cả những phương tiện tối thiểu của môn vật lý như: đồ dùng thí nghiệm, tranh vẽ vẫn còn thiếu Vì vậy không thể đòi hỏi trang bị ngay được các phương tiện dạy học hiện đại như video, đèn chiếu, báo chí, internet những phương tiện này rất cần cho giáo dục ATVSLĐ
- Do thói quen trong giảng dạy từ trước đến giờ, giáo viên chỉ cung cấp kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa mà quên đi việc cung cấp kiến thức ứng dụng thực tiễn, trong đó có kiến thức về giáo dục ATVSLĐ
- Nhìn chung, trong các trường trung học phổ thông hiện nay ít có các hoạt động ngoại khóa, tham quan hay các diễn đàn vì vậy việc giáo dục ATVSLĐ cũng gặp khó khăn về mặt thực tiễn
Những lí do vừa kể trên đã ảnh hưởng không ít đến giáo dục ATVSLĐ trong nhà trường phổ thông nói chung và qua giảng dạy môn vật lí nói riêng Và như vậy, tất yếu cũng ảnh hưởng đến nhận thức của học sinh về vấn đề ATVSLĐ Đó là một thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp lãnh đạo liên ngành, của giáo viên và học sinh thì mới thực hiện được nhiệm vụ chiến lược của thời đại
1.5.2 Thực trạng hiểu biết và tình hình hứng thú và tích cực của học sinh đối với giáo dục an toàn vệ sinh lao động
Ở lứa tuổi học sinh THPT cũng có những đặc điểm về tâm sinh lí lứa tuổi chung Các em thường xuyên bộc lộ những hành động và cử chỉ hồn nhiên của lứa tuổi như tò mò, ham hiểu biết, có khát vọng nhận thức Mặt khác, các em lại có những suy nghĩ, ham muốn như người lớn Các em bước đầu cũng có ý thức về bản thân mình, về vị trí của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội; bắt đầu đã có xu hướng tích cực trong các hoạt động giáo dục như tính tự lực, lòng tự trọng, tự ái
Trong hoạt động nhận thức, các em chuyển dần từ sự nhận biết những khái niệm cụ thể sang những khái niệm trừu tượng, khái quát hơn Các em đã có khả năng tiến hành các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp và ứng dụng những kiến thức trong sách vở vào thực tiễn
Trang 37Ngoài những đặc điểm chung về tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh trung học phổ thông còn có những nét tính cách rất riêng là tinh thần hiếu học, cần cù, chăm chỉ Với những đặc điểm về tâm sinh lí lứa tuổi và những nét tính cách ấy của học sinh, việc giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong trường học là rất phù hợp và có nhiều điều kiện thuận lợi
Để tìm hiểu thái độ của học sinh đối với vấn đề an toàn vệ sinh lao động mà các em được biết qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi đã tiến hành thực hiện điều tra với 200 em học sinh ở 02 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Kết quả như sau:
Bảng 1.4 Bảng kết quả điều tra học sinh
Các vấn đề về an toàn - vệ sinh lao động
Phân vân
Không đồng ý
1 Việc không đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động
sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, cuộc
sống hiện tại và lâu dài của con người
2 Sự thiếu hiểu biết của người lao động về các
biện pháp bảo hộ lao động là một trong những
nguyên nhân gây nên tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp
3 Nghịch dây điện trong trường học chính là một
hành động gây mất an toàn lao động trong khu
vực trường
42% 30,5% 27,5%
4 Làm cho trường lớp gọn gàng, sạch đẹp chính
là hành động bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động
cho bản thân và bạn bè, thầy cô
36% 36,5% 27,5%
5 Đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động là nhiệm vụ
của mọi người, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên
trong nhà trường (là tầng lớp lao động chính của
đất nước trong tương lai)
38% 31,5% 30,5%
6 Đảm bảo an toàn- vệ sinh lao động là một hành
Trang 38Kết quả điều tra cho thấy, học sinh còn tỏ ra phân vân với ATVSLĐ với lí
do các em chưa hiểu cặn kẽ về vấn đề này
Để tìm hiểu hứng thú của học sinh đối với nội dung giáo dục ATVSLĐ trong hoạt động học vật lý, tôi đã tiến hành điều tra cùng đợt và thu được kết quả
của câu hỏi “Theo em, kiến thức vật lý được học nên liên quan đến nội dung nào?”
- Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp: 12%
- An toàn vệ sinh lao động : 30%
- Sức khỏe con người : 19%
- Đời sống hằng ngày : 39%
Như vậy, trong các nội dung kiến thức thực tiễn thì lựa chọn của học sinh về
an toàn vệ sinh lao động chiếm tỉ lệ khá lớn Nhu cầu được cung cấp kiến thức về vấn đề này đối với các em là cần thiết Vì vậy, chúng tôi thấy rằng việc giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong chương trình trung học phổ thông nói chung và vật lý nói riêng là thật sự cần thiết
Trang 39Kết luận chương 1
Trên cơ sở phân tích:
- Những vấn đề về ATVSLĐ và giáo dục an toàn vệ sinh lao động
- Những quan điểm về dạy học tích hợp và các kiểu dạy học tích hợp; vận dụng dạy học tích hợp đối với môn Vật lí
- Thực tiễn về vấn đề ATVSLĐ và tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Chúng tôi thấy rằng việc giáo dục ATVSLĐ trong chương trình trung học phổ thông nói chung và vật lý nói riêng là thật sự cần thiết và có thể thực hiê ̣n được
Do đó, tất cả những cơ sở lý luận và thực tiễn trên sẽ giúp chúng tôi vận dụng để xây dựng tài liệu và tổ chức dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật
lí 11 (chủ yếu là với chương trình SGK nâng cao) được trình bày ở chương sau
Trang 40CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÁC PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
Ở MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC VẬT LÍ 11 2.1 Mục tiêu tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 11
- Kĩ năng phát hiện vấn đề về ATVSLĐ trong đời sống và học tập
- Kĩ năng hành động cụ thể để đảm bảo ATVSLĐ cho con người và môi trường trong đời sống và trong học tập
- Kĩ năng ứng xử và giải quyết kịp thời và hợp lý đối với các trường hợp mất ATVSLĐ xảy ra trong đời sống và trong học tập
- Tuyên truyền, vân động thực hiện ATVSLĐ trong gia đình, nhà trường và