1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ việt nam

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 483,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xây dựng cơ sở lý thuyết về QLNN về ATVSLĐ trong các DN bao gồm nội dung QLNN về ATVSLĐ trong DN xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách về ATVSLĐ; tổ chức thực hiện các quy định pháp

Trang 1

ĐÀM KHẮC CỬ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN,

VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 934 04 10

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS,TS TRẦN THỊ MINH CHÂU

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ ngày tháng năm 2021

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia

và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Con người cũng vừa là lực lượng sản xuất, vừa là đối tượng phục vụ của sản xuất Chính vì thế, bảo đảm an toàn tính mạng và phòng tránh bệnh nghề nghiệp (gọi chung là bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động - viết tắt là ATVSLĐ) cho người lao động (NLĐ) vừa có ý nghĩa đối với NLĐ, Ý nghĩa với doanh nghiệp (DN) và ý nghĩa với xã hội

Bảo đảm ATVSLĐ là lĩnh vực phức tạp, trong đó quyền lợi, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, nhất là giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và NLĐ, đan xen với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau Chủ DN với tư cách NSDLĐ có động cơ trốn tránh nghĩa vụ thực hiện các giải pháp bảo đảm ATVSLĐ để giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận NLĐ buộc phải đấu tranh, thường qua các tổ chức công đoàn, gây áp lực với giới chủ để có được điều kiện lao động (ĐKLĐ) bảo đảm ATVSLĐ Trong cuộc đấu tranh này NLĐ cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước và các

tổ chức chính trị, xã hội khác

Nhận thức rõ yêu cầu chính đáng của NLĐ, nhà nước ở nhiều quốc gia đã đề ra các quy định pháp lý buộc NSDLĐ trong các DN phải xây dựng và vận hành hệ thống ATVSLĐ, coi đó là một trong những yếu tố cấu thành của quy trình sản xuất Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra các tuyên bố và khuyến nghị chính phủ các nước cần hành động mạnh mẽ hơn nữa trong lĩnh vực này

Ở Việt Nam, ngay từ khi kết thúc chiến tranh, Nhà nước đã quan tâm đến lĩnh vực ATVSLĐ Điều này thể hiện trong các văn bản: "Điều lệ tạm thời về bảo hộ lao động" ban hành tháng 12 năm 1964, "pháp lệnh bảo hộ lao động" ban hành tháng 9 năm 1991 Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, Nhà nước Việt Nam càng quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ NLĐ nói chung, bảo đảm ATVSLĐ nói riêng Bộ luật Lao động Việt Nam (1995) đã giành chương XII quy định về ATVSLĐ Tính từ năm 1995 đến năm 2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến ATVSLĐ, chăm sóc sức khỏe người lao động Hàng năm Việt Nam đã tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia về ATVSLĐ Các cơ quản lý nhà nước đã xây dựng và ban hành gần 500 tiêu chuẩn Quốc gia về ATVSLĐ Ngày 25/6/2015 Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật số 84/2015/QH13 về ATVSLĐ, tạo dựng khung khổ pháp lý đồng bộ, nhất quán cho cơ quan nhà nước, DN và NLĐ thực hiện Từ khi Luật ATVSLĐ có hiệu lực thi hành đến nay, hệ thống đảm bảo ATVSLĐ đã được nhiều DN thiết lập và vận hành thường xuyên NLĐ đã được tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện để có nhận thức tốt hơn về quyền lợi, trách nhiệm và kỹ năng thực hiện ATVSLĐ Chính sách đối với NLĐ bị tai nạn hoặc làm việc trong các lĩnh vực có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) được thực thi minh bạch, công khai

Tuy nhiên, thực trạng thực hiện ATVSLĐ ở Việt Nam còn thấp so với yêu cầu Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ) chưa giảm đáng kể, thậm chí có năm còn tăng lên Chẳng hạn, năm 2019 số vụ TNLĐ trong cả nước là 7130 (tăng 40 vụ so với năm 2018: 7.090, mặc dù có giảm 619 vụ so với năm 2017) Số người chết do TNLĐ năm 2019 là 610 người; số người bị thương nặng là 1.592, giảm không đáng

Trang 4

kể so với năm 2018 Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội (Bộ LĐTBXH) thiệt hại về vật chất do TNLĐ xảy ra năm 2018 khá lớn: chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, là 1.494 tỷ đồng; thiệt hại về tài sản là 5,0 tỷ đồng; tổng số ngày nghỉ do TNLĐ là 127.034 ngày Nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều DN chưa quan tâm đầu tư cải thiện điều kiện làm việc của NLĐ và quản lý nhà nước (QLNN) trong lĩnh vực này chưa đạt mục tiêu đặt ra

Giao thông đường bộ (GTĐB) có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường, góp phần đưa hàng hóa và con người đến mọi ngõ ngách, địa bàn trong cả nước, xuất khẩu ra nước ngoài Các DN GTĐB xây dựng các công trình đường bộ và cung ứng dịch vụ vận chuyển bằng các phương tiện GTĐB, chủ yếu là ô tô Mỗi DN GTĐB thường sử dụng lực lượng lao động không lớn, nhưng có yêu cầu cao về tính độc lập, tự chịu trách nhiệm cao về cung ứng dịch vụ cho khách hàng Ngoài ra, NLĐ trong các DN GTĐB còn phải có sức khỏe dẻo dai để đảm nhiệm các công việc nặng nhọc, làm việc trong môi trường căng thẳng, nhiều rủi ro, tiềm ẩn TNLĐ và BNN Hơn nữa, những TNLĐ trong lĩnh vực GTĐB không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của bản thân NLĐ, mà còn gây tai nạn cho những người tham gia giao thông khác Vì thế, bảo đảm ATVSLĐ trong các DN GTĐB không những cần thiết cho NLĐ, mà còn cho xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc đảm bảo ATVSLĐ trong các DN GTĐB Việt Nam còn quá nhiều bất ổn dẫn đến nhiều vụ tai nạn thương tâm do lái xe bất cẩn gây tai nạn cho mình và cho người khác, tai nạn trên các công trường xây dựng cầu đường không phải hiếm Theo báo cáo về tình hình TNLĐ hàng năm của Bộ LĐTBXH, những vụ tai nạn giao thông chiếm tỷ trọng lớn trong số các vụ TNLĐ gây thương vong và chết người Mặc dù Chính phủ, Bộ LĐTBXH, Bộ GTVT, Bộ Y tế đã

có nhiều văn bản chỉ đạo cũng như đề ra các quy định pháp lý nhằm giảm thiểu tình trạng tai nạn trên các công trường xây dựng đường bộ và do các phương tiện vận chuyển hàng hóa và vận chuyển hành khách của các DN GTĐB gây ra, nhưng cho đến nay, tình trạng tai nạn GTĐB ở Việt Nam vẫn còn trầm trọng

Để giảm tai nạn GTĐB, trong đó có yêu cầu bảo đảm ATVSLĐ cho người lao động trong các DN GTĐB, cần tăng cường trách nhiệm quản lý của cả cơ quan nhà nước lẫn giới quản trị DN, trước hết là tăng cường quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền Đó là lý do cần nghiên cứu đề tài "Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong DN GTĐB Việt Nam" Ngoài ra, còn lý do ở Việt Nam, cho đến nay, chưa có công

trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống về chủ đề này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý thuyết và thực tiễn QLNN về

ATVSLĐ trong DN GTĐB Việt Nam và đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh vực này nhằm không những giúp DN thực hiện ATVSLĐ tốt hơn cho NLĐ, mà còn góp phần giảm TNLĐ trong cả nước

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, quá trình nghiên cứu đề tài đã hoàn thành các nhiệm vụ:

Trang 5

Một là, phân tích khung lý thuyết của QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB Hai là, tổng hợp có phân tích, so sánh kinh nghiệm QLNN của nước ngoài về

ATVSLĐ trong DN GTĐB và rút ra bài học cho Việt Nam

Ba là, phân tích thực trạng QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB ở Việt Nam

giai đoạn 2010-2019

Bốn là, đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường QLNN nhằm giảm

TNLĐ và BNN trong DN GTĐB Việt Nam cho giai đoạn đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận án là QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: nội dung QLNN về ATVSLĐ trong DN giao thông

đường bộ được tiếp cận theo chức năng quản lý của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ATVSLĐ bao gồm: Ban hành khung khổ pháp lý về ATVSLĐ trong DN GTĐB; tổ chức triển khai thực hiện các quy định pháp lý về ATVSLĐ trong DN GTĐB; kiểm tra, giám sát quá trình tuân thủ các quy định pháp lý về ATVSLĐ trong DN GTĐB

Phạm vi về chủ thể quản lý: Chủ thể QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB

giới hạn ở các cơ quan trung ương và chính quyền cấp tỉnh Đối tượng QLNN giới

hạn ở các DN kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ và các DN xây dựng các công trình đường bộ

Phạm vi về thời gian: Thực trạng QLNN về ATVSLĐ đối với DN GTĐB

Việt Nam được khảo sát trong giai đoạn từ năm 2010-2019 Các đề xuất cho giai đoạn từ nay đến 2030

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

Trang 6

Một là sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các kết quả nghiên cứu lý thuyết và dữ liệu thứ cấp đã có để hình thành khung phân tích lý thuyết và căn cứ để phân tích thực trạng QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB Việt Nam; Hai là tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với cán bộ quản lý và người lao động làm việc trong các DN GTĐB

5 Điểm mới của Luận án

5.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

- Tổng thuật các thành quả nghiên cứu lý thuyết của các học giả trong nước

và quốc tế để đi đến một số luận điểm có thể kế thừa là: ATVSLĐ có lợi cho NLĐ,

DN và xã hội; hệ thống quản lý ATVSLĐ quốc gia phải có sự tham gia của nhà nước, NSDLĐ, NLĐ và tổ chức xã hội của NLĐ; coi trọng các biện pháp phòng ngừa và liên tục cải tiến; cấu thành hệ thống quản lý ATVSLĐ gồm: Hoạch định; Thực hiện; Điều chỉnh

- Xây dựng cơ sở lý thuyết về QLNN về ATVSLĐ trong các DN bao gồm nội dung QLNN về ATVSLĐ trong DN (xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách về ATVSLĐ; tổ chức thực hiện các quy định pháp lý và chính sách ATVSLĐ; kiểm tra, giám sát, chế tài trong lĩnh vực ATVSLĐ); mục tiêu QLNN về ATVSLĐ trong

DN GTVT (thiết lập đầy đủ các quy định pháp lý về ATVSLĐ trong DN; nâng cao tinh thần tự giác thực hiện các quy định và tiêu chuẩn về ATVSLĐ của NSDLĐ và NLĐ; đảm bảo các DN tuân thủ nghiêm minh các các quy định, tiêu chuẩn về ATVSLĐ trong DN; thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực bảo đảm ATVSLĐ trong DN); các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về ATVSLĐ trong DN (đặc điểm của doanh nghiệp; trình độ phát triển của khoa học công nghệ theo ngành nghề; các quy định, tiêu chuẩn quốc tế mà nhà nước cam kết thực hiện; nhận thức và sự ủng hộ của xã hội; tác động của các tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp; nhận thức và quyết tâm của nhà nước trong quản lý lĩnh vực ATVSLĐ; tiềm lực tài chính của chính phủ; thẩm quyền và cơ cấu bộ máy QLNN về ATVSLĐ; trình độ, năng lực, đạo đức của đội ngũ cán bộ QLNN về ATVSLĐ

5.2 Những điểm mới rút ra từ các kết quả nghiên cứu, khảo sát

- Tập hợp có phân tích kinh nghiệm QLNN về ATVSLĐ của một số nước trên thế giới và rút ra bốn bài học cho Việt Nam là: xây dựng khung pháp lý thống nhất, hợp lý, toàn diện về ATVSLD; kế thừa các mô hình quản lý ATVSLĐ của các nước thành công; thiết lập và kiện toàn các cơ quan QLNN về ATVSLĐ; nâng cao nhận thức của bản thân NLĐ

- Mô tả rõ nét thực trạng QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB Việt Nam, rút

ra được 04 thành công (hệ thống văn bản pháp lý về ATVSLĐ có tính hệ thống, toàn diện; tổ chức thực hiện khung khổ pháp lý và chính sách về ATVSLĐ đã được cải thiện; hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực ATVSLĐ đã được tăng cường; các dịch vụ hỗ trợ trong lĩnh vực ATVSLĐ đã được Nhà nước triển khai); 04 hạn chế (khung khổ pháp lý về ATVSLĐ chưa thực sự đồng bộ với các quy định pháp lý chuyên ngành; phối hợp giữa các cơ quan nhà nước chưa tốt; tác động của thanh tra còn thấp so với yêu cầu; các hoạt động dịch vụ hỗ trợ còn nghèo nàn); 07 nguyên nhân của hạn chế (ý thức của người sử dụng lao động và

Trang 7

người lao động về ATVSLĐ chưa cao; tiềm lực của DN GTVT và cơ sở huấn luyện ATVSLĐ còn yếu; hệ thống GTĐB còn nhiều bất cập; công đoàn cơ sở chưa phát huy tốt vai trò của mình; cơ quan và lãnh đạo chính quyền chưa thật sự quan tâm và đầu tư thích đáng cho công tác đảm bảo ATVSLĐ; tiến độ hoàn thiện pháp luật, tổ chức nghiên cứu, xây dựng hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATVSLĐ còn khá chậm; Việc xử lý các vụ TNLĐ nghiêm trọng và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe)

- Đề xuất 03 phương hướng (Coi việc bảo đảm ATVSLĐ trong các DNGTĐB; ứng dụng nhanh thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào lĩnh vực QLNN về ATVSLĐ; hoàn thiện QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB hướng tới các mục tiêu, nhiệm vụ của giai đoạn mới) và 05 giải pháp (bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp

lý về an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp; hoàn thiện tổ chức bộ máy quản

lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong trong giao thông đường bộ Việt Nam; đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam; tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát và thanh tra về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam; một số giải pháp hỗ trợ)

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án được trình bày trong 4 chương, 8 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.1.Các công trình nghiên cứu về bản chất và vai trò của bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Trong giai đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu thế kỷ XIX, giới quản trị DN cũng như nhà nước tư sản chưa coi trọng vấn đề bảo đảm ATVSLĐ cho NLĐ tại nơi làm việc Đến những thập kỷ 50-60 của thế kỷ XX, nhất

XVIII-là sau khi xuất hiện Tổ chức lao động thế giới (ILO), những yêu cầu tối thiểu về phòng tránh TNLĐ và BNN tại nơi làm việc mới được nhà nước tư sản và giới quản trị DN quan tâm nhiều hơn

Đặc biệt, các tổ chức chuyên môn, các nhà nghiên cứu và hoạt động chính trị của ILO đã tích cực tuyên truyền, vận động để thay đổi quan điểm của các chính phủ, các tổ chức xã hội, giới quản trị DN và NLĐ về tầm quan trọng của bảo đảm ATVSLĐ trong DN ILO cho rằng, mục đích của "Hệ thống quản lý ATVSLĐ" là góp phần bảo vệ người lao động khỏi các nguy cơ rủi ro, dần tiến tới loại trừ mọi TNLĐ, BNN, giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến quá trình lao động đặt trong mối

quan hệ chặt chẽ với q uá trình hợp lý hóa sản xuất và tăng năng suất lao động

Trang 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về hệ thống quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động

Các nghiên cứu đã thống nhất với quan điểm của ILO coi việc được đảm bảo ATVSLĐ là một trong những quyền cơ bản của con người, nhấn mạnh các biện pháp bảo vệ NLĐ mang tính phòng ngừa, kiến nghị phương pháp tiếp cận hệ thống ATVSLĐ với ba chủ thể tham gia chính là NSDLĐ, cơ quan nhà nước quản lý ATVSLĐ và NLĐ với bốn khía cạnh của các giải pháp thực hiện là: chính trị, kỹ thuật, văn hóa và quản lý

Trên cơ sở những thành của nghiên cứu trong nước kết hợp với thành quả nghiên cứu của các tổ chức quốc tế, cơ quan phụ trách về ATVSLĐ của một số nước đã xây dựng mô hình mẫu về hệ thống ATVSLĐ áp dụng cho nước họ Một số

mô hình có giá trị tham khảo là mô hình của Anh, Mỹ, Canada và cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về trách nhiệm quản lý của nhà nước

trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Nhà nước tư sản từng bước đề ra các quy định pháp luật chế định thời gian, điều kiện làm việc và mức lương tối thiểu của công nhân Thanh tra lao động cũng được thành lập và duy trì để giám sát sự tuân thủ pháp luật lao động của giới chủ Quan điểm của ILO về QLNN đối với lĩnh vực ATVSLĐ là: Chính phủ đề ra các yêu cầu về ATVSLĐ trong luật cũng như ban hành các qui định về ATVSLD và giám sát thực hiện

1.1.4 Các công trình nghiên cứu về những nh n tố ảnh hưởng đến hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động

Có nhiều ý kiến khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống quản lý ATVSLĐ Về cơ bản các nhà nghiên cứu nước ngoài đưa ra các yếu tố sau: thái độ của lãnh đạo cao cấp của DN đối với quản lý ATVSLĐ; nhận thức và ý thức tự giác thực hiện các biện pháp ATVSLĐ của NLĐ; quan điểm của giới cầm quyền về tầm quan trọng của ATVSLĐ; kinh phí của chính phủ chi cho lĩnh vực ATVSLĐ; hiệu lực của

bộ máy QLNN về ATVSLĐ, nhất là thanh tra ATVSLĐ …

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về bản chất và vai trò của bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Ở Việt Nam, trước khi có Luật ATVSLĐ, vấn đề ATVSLĐ được đề cập trong chủ đề chung là BHLĐ trong Bộ luật Lao động Thời kỳ này, các ý kiến đều nhất trí

đề cao vai trò của BHLĐ, coi BHLĐ là các biện pháp khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, độc hại, tạo điều kiện lao động thuận lợi cho NLĐ, để ngăn ngừa TNLĐ, bảo vệ sức khỏe, góp phần bảo vệ

và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động; bảo đảm ATVSLĐ không chỉ có ý nghĩa đối với NLĐ mà còn mang lại lợi ích cho DN và có ích cho xã hội

Trang 9

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về hệ thống quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động

Nhất trí với ILO, các nhà nghiên cứu trong nước cho rằng, BHLĐ (hay ATVSLĐ) là các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức, quản lý, KT-XH, khoa học, công nghệ nhằm cải thiện ĐKLĐ, bảo đảm ATVSLĐ, phòng chống TNLĐ

và BNN, bảo vệ tính mạng và sức khỏa cho con người trong lao động Để giải quyết vấn đề ATVSLĐ nhất thiết cần sự tham gia của 4 bên là nhà nước, NSDLĐ, các tổ chức xã hội và NLĐ Các giải pháp bảo đảm ATVSLĐ cần phối hợp đồng bộ trên bốn khía cạnh: pháp luật, kỹ thuật, tổ chức quản lý và KT-XH

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về trách nhiệm quản lý của nhà nước

trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Nhiều công trình nghiên cứu trong nước đã chỉ ra 9 nhiệm vụ mà nhà nước phải đảm trách trong lĩnh vực ATVSLĐ, đó là: ban hành văn bản pháp luật để quản

lý và điều hành thống nhất hoạt động ATVSLĐ; xây dựng chiến lược, chương trình quốc gia, kế hoạch thực hiện ATVSLĐ; huy động nguồn lực thực hiện ATVSLĐ; tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ QLNN về ATVSLĐ; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

về ATVSLĐ; kiểm tra, thanh tra ATVSLĐ; tạo điều kiện để các tổ chức quần chúng tham gia phong trào ATVSLĐ; hợp tác quốc tế về ATVSLĐ

1.2.4 Các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp

Các công trình trong nước đã chỉ ra rằng, các yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ATVSLĐ là: năng lực của các cơ quan QLNN, nhất là năng lực của lực lượng thanh tra; Khung khổ pháp luật quốc gia; Nhận thức và sự tham gia của lãnh đạo DN vào quá trình quản lý ATVSLĐ; Nhận thức vày ý thức tự giác thực hiện các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ

1.2 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC LỰA CHỌN NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những khoảng trống chưa được nghiên cứu thấu đáo

1.2.1.1 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Một là, cần áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ quốc gia với sự tham gia của

bốn bên là nhà nước, NSDLĐ, NLĐ và tổ chức xã hội của họ

Hai là, phương thức bảo đảm ATVSLĐ coi trọng phòng ngừa là chủ yếu

Ba là, coi trọng biện pháp phòng ngừa rủi ro do chúng gây ra đối với an toàn

và sức khoẻ NLĐ

Bốn là, hệ thống quản lý ATVSLĐ gồm yếu tố cơ bản: hoạch định; thực hiện,

kiểm tra, đánh giá, hoàn thiện

Năm là, QLNN nhằm bảo đảm ATVSLĐ gồm các nội dung: xây dựng khung

khổ pháp lý của hệ thống quản lý ATVSLĐ trong các DN; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tập huấn về ATVSLĐ; hỗ trợ DN thực hành hệ thống quản lý ATVSLĐ; thanh tra, kiểm tra, giám sát ATVSLĐ trong DN

Trang 10

Sáu là, các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về ATVSLĐ là: Ý thức chấp hành

pháp luật về ATVSLĐ và năng lực quản lý của NSDLĐ, của tổ chức đại diện cho NLĐ và bản thân NLĐ; bộ máy và cán bộ QLNN về ATVSLĐ; trình độ phát triển kinh tế - xã hội; các khuyến nghị, công ước quốc tế

Bảy là, các giải pháp là kiến nghị nhà nước hoàn thiện văn bản pháp luật về

ATVSLĐ; thiết lập bộ máy QLNN về ATVSLĐ và cung cấp đủ nguồn lực cho vận hành bộ máy hiệu quả; thiết kế các chính sách hỗ trợ phù hợp; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tập huấn về ATVSLĐ

1.2.1.2 Những khoảng trống chưa được nghiên cứu thấu đáo

Những khía cạnh cụ thể như sau chưa được nghiên cứu làm rõ:

Một là, nhà nước cần hoạch định những nội dung gì trong Luật và các văn

bản dưới luật để đảm bảo yêu cầu về ATVSLĐ phù hợp với trình độ phát triển kinh

tế và thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

Hai là, nhà nước cần phải chế định như thế nào về trách nhiệm của NSDLĐ

trong lĩnh vực đảm bảo ATVSLD trong DN

Ba là, nhà nước nên hỗ trợ như thế nào để giúp các DN và NLĐ thiết lập và

vận hành tốt hệ thống đảm bảo ATVSLĐ

Bốn là, các tổ chức xã hội, ngành nghề của NSDLĐ và NLĐ có ảnh hưởng

như thế nào đến vận hành hệ thống đảm bảo ATVSLĐ trong DN

Năm là, đặc điểm ngành nghề có ảnh hưởng như thế nào đến việc xây dựng

và vận hành hệ thống đảm bảo ATVSLĐ trong

Sáu là, các nước đang phát triển, do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, cần

thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo ATVSLĐ như thế nào để vừa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, vừa đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm cung ứng ra thị trường…

1.2.2 Những vấn đề lựa chọn nghiên cứu trong luận án

Một là, về mặt lý thuyết, nhà nước có vị trí, vai trò và chức năng gì để bảo

đảm ATVSLĐ trong DN GTĐB?

Hai là, Nhà nước Việt Nam đã thực thi QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB

Việt Nam trong giai đoạn 2010-2019 như thế nào?

Ba là, để nâng cao hiệu quả QLNN về ATVSLĐ trong DN GTĐB Việt Nam

trong giai đoạn đến năm 2030 cần đổi mới, cải tiến như thế nào?

Để giải quyết ba câu hỏi trên, nghiên cứu sinh cần thu thập bằng chứng để chứng minh ba giả thuyết sau đây:

Giả thuyết 1: Nhà nước cần can thiệp để đảm bảo ATVSLĐ trong các DN GTĐB Việt Nam

Giả thuyết 2: QLNN về ATVSLĐ trong các DN GTĐB Việt Nam còn bất cập

so với yêu cầu

Giả thuyết 3: có thể có thể hoàn thiện QLNN về ATVSLĐ trong các DN GTĐB Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2025

Khung phân tích trong luận án dựa trên sơ đồ logich sau:

Trang 11

Nhân tố ảnh hưởng Nội dung QLNN về

ATVSLĐ trong DN GTVT

Mục đích QLNN về ATVSLĐ trong DN GTVT

2.Tổ chức kiểm tra, giám sát

3 Khen thưởng và kỷ luật

- Bảo vệ người lao động khỏi các nguy hiểm và bệnh nghề nghiệp trong quá trình sản xuất

- Hỗ trợ DN xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo ATVSLĐ

- Thực thi nghiêm túc các cam kết quốc tế

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1.1 Khái niệm an toàn, vệ sinh lao động

ATVSLĐ là hệ thống những giải pháp tổ chức, quản lý, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật mà tổ chức sử dụng lao động và bản thân NLĐ phải thực hiện nhằm ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, ngăn ngừa việc gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động đi đôi với các giải pháp đối phó với những ảnh hưởng từ quá trình lao động có thể làm cho người lao động suy giảm sức khỏe

2.1.2 Đặc điểm của an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ

Thứ nhất, môi trường làm việc của NLĐ cũng rất khắc nghiệt và tiềm ẩn

nhiều nguy cơ rủi ro gây tai nạn hoặc bệnh tật

Thứ hai, môi trường làm việc phân tán, tính lưu động cao đòi hỏi tính tự giác

cao của NLĐ trong thực hiện các biện pháp ATVSLĐ

Thứ ba, về mặt kỹ thuật, các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ trong các DN

GTĐB cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ phải được thiết kế đồng bộ với thiết kế thi công công trình và thiết kế các phương tiện vận tải; Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, quy phạm kỹ thuật đã được ban hành; Tập trung vào khâu công việc có nguy cơ cao xảy ra tai nạn; phân tích kỹ các nguyên nhân tai nạn, nguy cơ xảy ra tai nạn để tìm các giải pháp phòng ngừa

Thứ tư, bảo đảm ATVSLĐ trong các DN GTĐB không những là cần thiết đối

với NLĐ, DN, mà còn là yêu cầu tất yếu đối với xã hội, bởi vì các tai nạn do các

DN giao thông đường bộ gây ra không chỉ gây tác động tiêu cực đến NLĐ trong

DN, mà còn gây tác hại trực tiếp cho những người khác như người lưu thông trên đường, người sống gần công trường xây dựng…

Trang 12

2.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

2.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước sử dụng pháp luật và tiềm lực kinh tế để điều chỉnh hành vi của cá nhân,

tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

2.2.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Quản lý nhà nước về ATVSLĐ là việc nhà nước sử dụng công cụ pháp luật tác động có tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào các mối quan hệ lao động, các hành vi hoạt động của con người và các hoạt động liên quan đến ATVSLĐ nhằm phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm, bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong và đồng thời nhằm phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động

2.2.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

2.2.2.1 Đặc điểm quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Ngoài đặc điểm chung của QLNN là mang tính cưỡng bức tuân thủ đối với đối tượng quản lý, sử dụng các công cụ chuyên biệt của nhà nước như quyền lực chính trị, sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước, hướng tới lợi ích chung của xã hội, QLNN về ATVSLĐ trong DN còn có một số đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, nhà nước phải xác định rõ phạm vi can thiệp của cơ quan nhà nước

vào lĩnh vực quản trị DN là nhằm mục đích đảm bảo mức độ ATVSLĐ tối thiểu mà

xã hội yêu cầu nhằm bảo vệ lợi ích của NLĐ

Thứ hai, dù QLNN về ATVSLĐ là các quy định mang tính quyền lực nhà

nước và các DN buộc phải tuân thủ, nhưng quá trình hoạch định và quá trình triển khai thực hiện có sự tham gia của DN

Thứ ba, QLNN về ATVSLĐ trong DN là hoạt động đòi hỏi phải được tổ chức

thống nhất từ khâu hoạch định các quy định pháp lý, tổ chức truyền tải đến đối tượng quản lý và kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử phạt nghiêm minh

Thứ tư, QLNN về ATVSLĐ trong DN là hoạt động đòi hỏi tính liên tục và

tương đối ổn định

Thứ năm, QLNN về ATVSLĐ trong DN cũng là một trong những hoạt động

của nhà nước hướng các DN tới mục tiêu phát triển bền vững

2.2.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Một là, cơ quan nhà nước phối hợp với NSDLĐ và NLĐ triển khai thực hiện

hệ thống ATVSLĐ, qua đó bảo đảm rằng, các biện pháp ATVSLĐ được triển khai một cách hợp lý tại nơi làm việc

Trang 13

Hai là, thông qua việc triển khai các hoạt động quản lý của mình một cách

hiệu quả, cơ quan QLNN về ATVSLĐ góp phần tạo ra được những kết quả cụ thể trong DN như nâng cao mức độ an toàn tại nơi làm việc, tăng cường sự tham gia của người lao động vào công tác ATVSLĐ tại nơi làm việc, tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn bảo vệ lợi ích của NLĐ

Ba là, quản lý về ATVSLĐ của cơ quan nhà nước còn đem lại nhiều lợi ích

thiết thực cho DN như: giảm thiểu số vụ tai nạn và tình trạng ốm yếu của NLĐ qua

đó góp phần giảm chi phí mà DN phải chi trả cho NLĐ khi gặp tai nạn, khuyến khích NLĐ làm việc nhiệt tình, nâng cao thu nhập của NLĐ và lợi nhuận kinh tế của DN

Bốn là, quản lý về ATVSLĐ của cơ quan nhà nước còn đem lại cho xã hội

nhiều lợi ích như góp phần to lớn vào thực hiện định hướng phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng sống của NLĐ, thực hiện tiến bộ xã hội ngay trong từng

DN Ngoài ra, đối với NSDLĐ trong DN, QLNN về ATVSLĐ còn hỗ trợ giới quản trị DN tổ chức hợp lý quá trình lao động, giảm xung đột do mâu thuẫn lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, khuyến khích NLĐ trung thành với DN…

2.2.3 Mục tiêu, nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

2.2.3.1 Mục tiêu quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Một là thiết lập các quy định và tiêu chuẩn về ATVSLĐ cũng như quyền và

nghĩa vụ của NSDLĐ và NLĐ về ATVSLĐ trong DN Mục tiêu này được đo bằng mức độ phủ lấp toàn diện và tính hợp lý của các quy định, tiêu chuẩn về ATVSLĐ trong DN

Hai là đảm bảo mọi NSDLĐ và NLĐ đều nhận được thông tin đầy đủ và

nhận thức đúng tầm quan trọng của các quy định và tiêu chuẩn về ATVSLĐ trong

DN Mục tiêu này thể hiện qua kết quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục luật pháp

về ATVSLĐ trong DN cũng như kết quả hỗ trợ của nhà nước trong tập huấn cho người quản lý và NLĐ về kỹ năng thực hiện ATVSLĐ

Ba là đảm bảo các DN tuân thủ nghiêm minh các các quy định, tiêu chuẩn về

ATVSLĐ trong DN Mục tiêu này thể hiện ở kết quả các hoạt động thanh tra, kiểm tra ATVSLĐ cũng như tốc độ giảm các vụ TNLĐ và BNN qua thời gian

Bốn là kiểm soát tình hình tai nạn và BNN trong nền kinh tế thông qua việc

theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về TNLĐ, BNN; kết quả thực hiện các chương trình, hồ sơ quốc gia, dịch vụ công về ATVSLĐ

Năm là thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực bảo đảm ATVSLĐ trong DN

Mục tiêu này có thể được đo bằng các thông số về kết quả nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật phòng ngừa tai nạn, BNN trên phạm vi quốc gia cũng như hợp tác quốc tế

2.2.3.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

Một là, đảm bảo tính hiệu lực, ổn định, liên tục, thống nhất, công khai, minh

bạch trong QLNN về ATVSLĐ đối với DN

Ngày đăng: 03/04/2021, 13:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w