Nghiên cứu nội dung kiến thức và bài tập phần nguyên tử, phân tử, liên kết trong chương trình hóa học phổ thông, các phần kiến thức có liên quan trong các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
MAI ĐÌNH NHƯỜNG
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN
“NGUYÊN TỬ, PHÂN TỬ, LIÊN KẾT HÓA HỌC”
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN DŨNG SỐ 2,
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
MAI ĐÌNH NHƯỜNG
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN
“NGUYÊN TỬ, PHÂN TỬ, LIÊN KẾT HÓA HỌC”
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN DŨNG SỐ 2,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần “nguyên tử, phân tử, liên kết hóa học” tại trường Trung học phổ thông Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang” đã hoàn thành Luận
văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Kim Long, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quố c Gia Hà N ội
Ngoài ra chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Bộ môn Hóa học trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Lê Kim Long, người đã luôn theo sát, hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang, các bạn đồng nghiệp gần xa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt Luận văn Thạc sĩ này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Giang, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Mai Đình Nhường
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DH : Dạy học
ĐS : Đáp số
ĐHSP : Đại học Sư phạm
ĐKTC : Điều kiện tiêu chuẩn
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
KLNT : Khối lượng nguyên tử
PGS.TS : Phó giáo sư Tiến sĩ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 4
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Phương pháp toán học 5
8 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 5
9 Đóng góp mới của đề tài 5
10 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Lý luận về bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông 6
1.1.1.1 Học sinh giỏi 6
1.1.1.2 Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học [10] 7
1.1.1.3 Vị trí, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi 7
1.1.1.4 Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc trung học phổ thông 8
1.1.1.5 Một số biện pháp tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học ở trường phổ thông [10] 9
1.1.1.6 Một số biện pháp về tổ chức bồi dưỡng cho học sinh giỏi Hóa học ở trường phổ thông 10
1.1.1.7 Đánh giá học sinh giỏi 11
1.1.1.8 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học 11
1.1.2 Hoạt động nhận thức và tư duy của học sinh trong quá trình dạy học hóa học12 1.1.2.1 Khái niệm nhận thức, tư duy [12] 12
1.1.1.2 Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo 13
1.1.2.3 Các thao tác tư duy, rèn luyện các thao tác tư duy của học sinh trong quá trình dạy và học hoá học 14
1.1.2.4 Những hình thức cơ bản của tư duy [7] 15
1.1.2.5 Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh 16
1.1.3 Phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông 17
1.1.3.1 Thực trạng PPDH hóa học ở trường trung học phổ thông 17
1.1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông 18
1.3.1.3 Phương pháp dạy học hiện đại [17] 19
1.3.1.4 Một số phương pháp dạy học hóa học cần được quan tâm [17] 20
1.1.4 Bài tập hóa học 22
1.1.4.1 Khái niệm bài tập 22
1.1.4.2 Phân loại 22
Trang 61.1.4.3 Tác dụng của bài tập hóa học 23
1.1.4.4 Sử dụng bài tập hóa học trong dạy học và trong công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa hiện hành 26
1.2.1.1 Nội dung, yêu cầu cơ bản của phần nguyên tử, phân tử, liên kết trong chương trình hóa học phổ thông 26
1.2.1.2 Vị trí, vai trò phần của phần nguyên tử, phân tử, liên kết và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông 27
1.2.2 Mức độ yêu cầu đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học tại tỉnh Bắc Giang 28
1.2.2.1 Một số nội dung trong các đề thi học sinh giỏi 28
1.2.2.2 Một số vấn đề mới và khó trong vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi 28
1.2.3 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang 29
1.2.3.1 Thực trạng dạy và học hóa học tại trường THPT Yên Dũng số 2 29
1.2.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học 30
1.2.3.3 Thuận lợi 32
1.2.3.4 Khó khăn, nhu cầu 32
Tiểu kết chương 1 34
CHƯƠNG 2 35
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN HÓA HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN DŨNG SỐ 2 35
2.1 Phương pháp sử dụng hệ thống lí thuyết và bài tập phần nguyên tử, phân tử và liên kết để bồi dưỡng học sinh giỏi 35
2.1.1 Biên soạn tài liệu giúp học sinh tự học ở nhà 35
2.1.2 Tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp 36
2.1.3 Kiểm tra, đánh giá 37
2.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi phần nguyên tử 38
2.2.1 Chuyên đề thành phần cấu tạo, kích thước, khối lượng nguyên tử 38
2.2.1.1 Nội dung chuyên đề 38
2.2.1.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 41
2.2.2 Chuyên đề hạt nhân nguyên tử, nguyên tố hóa học, đồng vị 41
2.2.2.1 Nội dung chuyên đề 41
2.2.2.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 48
2.2.3 Chuyên đề hóa học hạt nhân 48
2.2.3.1 Nội dung chuyên đề 48
2.2.3.1 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 57
2.2.4 Chuyên đề vỏ electron của nguyên tử 57
2.2.4.1 Nội dung chuyên đề 57
2.2.4.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 67
2.3 Chuyên đề phân tử và liên kết hóa học 67
2.3.1 Chuyên đề liên kết cộng hóa trị và liên kết ion 67
2.3.1.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 75
2.3.2 Chuyên đề Thuyết VB (Valent Bond - Liên kết hóa trị) và thuyết MO (Molecular Orbital - Obitan phân tử) 75
2.3.2.1 Nội dung chuyên đề 75
2.3.2.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 87
2.3.3 Chuyên đề liên kết hidro; liên kết Vanđecvan và liên kết kim loại 87
2.3.3.2 Phương pháp sử dụng của chuyên đề 94
Trang 7CHƯƠNG 3 96
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 96
3.1 Mục đích thực nghiệm 96
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 96
3.3 Đối tượng thực nghiệm 96
3.4 Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 96
3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 96
3.4.2 Tiến hành thực nghiệm 96
3.4.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 97
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 98
3.5.1 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 98
3.5.1.1 Tính các tham số đặc trưng 98
3.5.1.2 Lập bảng phân phối tần số, tần suất cho các nhóm đối chứng và thực nghiệm 98
3.5.2 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 101
3.5.3 Nhận xét thu được từ phía học sinh 102
3.5.4 Nhận xét thu được từ phía giáo viên 102
3.5.4 Đánh giá chung 103
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Khuyến nghị 106
3 Hướng phát triển của đề tài 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 109
Phụ lục 1: Phiếu tham khảo ý kiến Error! Bookmark not defined Phụ lục 2: Đề kiểm tra thực nghiệm và đáp án 112
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1: Thống kê tỉ lệ % nội dung kiến thức về nguyên tử,
phân tử và liên kết hóa học trong đề thi HSG cấp tỉnh một số
ứng của các bài kiểm tra
Bảng 3.6 Bảng điểm % số học sinh đạt điểm Xi và % số học
sinh đạt điểm Xi trở xuống (kiểm tra lần 2)
100
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 3.1 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích so sánh kết quả kiểm tra lần 100
Đồ thị 3.2 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích so sánh kết quả kiểm tra lần 101
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với mỗi Quốc gia thì yếu tố con người, yếu tố giáo dục luôn được
đề cao Mỗi thời đại, thời kì phát triển của đất nước lại có những chính sách riêng đối với con người Trải qua các thời kì phát triển, nước ta luôn coi
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”
Nghị quyết số 29NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI với nội dung: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” một lần nữa khẳng định yếu tố nhân tài, con người luôn được coi trọng và khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đào tạo
Trong việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tài thì trường phổ thông góp một phần vô cùng quan trọng, đó là bước khởi đầu, là nền móng để những tài năng trẻ bộc lộ khả năng của mình, sẵn sàng phục vụ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Thực tế đã chứng minh rằng, những trường danh tiếng là những trường đào tạo được nhiều thế hệ học sinh đạt các giải cao trong kì thi HSG quốc gia, quốc tế Tuy nhiên sân chơi dành cho đối tượng học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế mới chủ yếu dừng lại ở các trường THPT Chuyên, các trường chất lượng cao
Bắc Giang là tỉnh miền núi nghèo, tuy nhiên trong những năm vừa qua ngành giáo dục của tỉnh đã thực sự được quan tâm và đầu tư, số lượng, chất lượng các giải HSG Quốc gia đã tăng, có một vị trí đáng kể trong xếp hạng các tỉnh, đặc biệt là bộ môn Hóa học Nhưng thành tích cao đó vẫn chỉ dành cho các học sinh học tại trường THPT Chuyên của tỉnh Hàng năm, tỉnh Bắc Giang vẫn tổ chức kì thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, qua đó góp phần phát hiện và bồi dưỡng HSG cho các trường THPT đại trà trong toàn tỉnh
Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, qua các kì thi chọn HSG cấp
Trang 11tỉnh, trường THPT Yên Dũng số 2 luôn khẳng định được vị trí của mình qua việc liên tục lọt vào tốp 5 trường có thành tích cao nhất Trong vài năm trở lại đây HS của trường không đạt được các giải cao, trong đó đặc biệt là môn hóa học Không riêng tại trường THPT Yên Dũng số 2, tại nhiều trường THPT trên toàn tỉnh, mặc dù nhu cầu về nhân tài, về con người vẫn không ngừng tăng lên, nhưng công tác phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, cụ thể là đối tượng học sinh giỏi lại gặp nhiều khó khăn Có nhiều nguyên nhân có thể sử dụng để lý giải cho hiện tượng này: hiện nay các trường THPT chủ yếu dạy theo chương trình ban cơ bản với lượng kiến thức đơn giản; việc thi đại học, cao đẳng bằng hình thức trắc nghiệm khách quan không đòi hỏi độ sâu của kiến thức; việc thiếu sự quan tâm của gia đình và xã hội, vì mục đích của người học chỉ đơn giản là vào đại học do đó thiếu đi sự hứng thú học tập; sự hạn chế về chiều sâu kiến thức, sự va chạm với các mảng kiến thức khó của giáo viên còn hạn chế Trong đó đặc biệt Hóa học là môn học cần có kiến thức nền tảng, kiến thức đại cương vững chắc để lí giải sâu bản chất của vấn
đề Tài liệu tham khảo môn Hóa học tuy nhiều nhưng chưa phù hợp với công tác bồi dưỡng HSG tại tỉnh miền núi như Bắc Giang Giáo viên khi dạy bồi dưỡng hầu hết là phải tự tìm tòi tài liệu, dạy học theo kinh nghiệm bản thân
là chủ yếu, chưa có hệ thống
Với nội dung rộng và khó như phần nguyên tử, phân tử, liên kết vốn được đề cập khá ít ở sách giáo khoa hóa học lớp 10 ban cơ bản, học sinh chủ yếu học và lĩnh hội kiến thức theo hướng công nhận là chính, ít có phần giải quyết bản chất của vấn đề, là cơ sở nghiên cứu tính chất, liên kết Nếu không làm thỏa mãn được nhu cầu học tập của một bộ phận học sinh khá giỏi thì chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học không thể nâng cao
Với những khó khăn như trên, việc quan trọng của người giáo viên cần làm là cho học sinh thấy hứng thú, thấy có nhu cầu, động cơ được học Học sinh giỏi phải tự chủ động chiếm lĩnh kiến thức Hay nói cách khác, giáo viên phải làm người "đạo diễn" được quá trình học tập của học sinh
Trang 12Trong vài năm gần đây, xuất phát từ thực tế công tác bồi dưỡng HSG của bản thân và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp; với mong muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao thành tích bồi dưỡng HSG, qua đó góp phần vào việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần “nguyên tử, phân tử, liên kết hóa học” tại trường Trung học phổ thông Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu, ứng dụng sư phạm trong việc phát hiện và bồi dưỡng HSG của tất cả các bộ môn đều được quan tâm Đối với bộ môn Hóa học, cũng có nhiều đề tài được nghiên cứu:
“Phân loại, xây dựng tiêu chí cấu trúc các bài tập về hợp chất ít tan phục vụ cho việc bồi dưỡng HSG quốc gia” (2006) của Vương Bá Huy, ĐHSP Hà Nội
“Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng HSG phần kim loại lớp 12 THPT chuyên” của Trần Thị Thùy Dung (2007) ĐHSP Thành phố
HS chuyên, học sinh dự thi HSG Quốc gia, quốc tế, chưa có những mức độ phù hợp, đi từ dễ đến khó để bồi dưỡng đối tượng học sinh phổ thông đại trà
3 Mục đích nghiên cứu
Cải thiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua phần nguyên tử, phân tử và liên kết phù hợp với điều kiện thực tiễn tại trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 13+ Quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT
+ Hệ thống lí thuyết, bài tập phần nguyên tử, phân tử, liên kết và một
số biện pháp để bồi dưỡng học sinh giỏi trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học và công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Nghiên cứu nội dung kiến thức và bài tập phần nguyên tử, phân tử, liên kết trong chương trình hóa học phổ thông, các phần kiến thức có liên quan trong các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia
Tuyển chọn, hệ thống l í t h u yế t , bài tập trên để bồi dưỡng HSG theo các mức độ từ dễ đến khó phù hợp với lộ trình bồi dưỡng
Đề xuất phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua sử dụng hệ thống lí thuyết và bài tập
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả sử dụng của đề tài, rút ra các kết luận và để xuất cần thiết
6 Giả thuyết khoa học
Giáo viên xác định được đúng hệ thống kiến thức cần mở rộng, sử dụng hệ thống bài tập đa dạng, phong phú; kết hợp với phương pháp phát hiện, bồi dưỡng hợp lí theo các mức độ phù hợp với điều kiện thực tiễn của trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG, qua đó góp phần phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các nội dung liên quan: tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học hóa học
Phân tích và tổng hợp các số liệu, tài liệu đã thu thập được
Trang 14 Nghiên cứu các tài liệu về bồi dưỡng học sinh giỏi, các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát và đánh giá thực tiễn dạy học Hóa học và công tác bồi dưỡng HSG tại trường THPT Yên Dũng số 2: trao đổi kinh nghiệm, dự giờ, phỏng vấn học sinh,
Hệ thống đề thi HSG cấp trường, cấp tỉnh có liên quan đến phần cấu tạo nguyên tử, phân tử và liên kết hóa học
Thử nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của vấn đề nghiên cứu
7.3 Phương pháp toán học
Thống kê toán học để xử lí số liệu nghiên cứu
8 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Các phương pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học;
Hệ thống lí thuyết và bài tập phần nguyên tử, phân tử, liên kết dùng trong việc bồi dưỡng HSG tại địa bàn trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
9 Đóng góp mới của đề tài
Đề xuất một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng HSG phù hợp với điều kiện thực tiễn tại nhà trường và địa bàn tỉnh Bắc Giang
H ệ thống lí thu yế t, bài tập hóa học dùng trong công tác bồi dưỡng HSG, theo từng mức độ, phù hợp với điều kiện nhà trường
Đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trong việc tổ chức hoạt động học tập cho học sinh
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Trong chiến lược giáo dục phổ thông, nhiều nước coi giáo dục HSG là dạng giáo dục đặc biệt, cần chương trình đặc biệt
Cho dù quan niệm như thế nào thì mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG đối với các nước đều khá giống nhau ở một số đặc điểm:
Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp khả năng trí tuệ của trẻ
Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời
Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo
Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm
Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp cho xã hội
Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng hợp tác
Tạo điều kiện tốt nhất để phát triển khả năng, năng khiếu của HS
Định hướng nghề nghiệp
Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng giao tiếp, ứng xử với mọi tình huống xảy ra
Trang 16 Phát triển phẩm chất lãnh đạo
1.1.1.2 Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học [10]
"HSG hóa học phải là người nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơ bản đã được học, vận dụng tối ưu các kiến thức
cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới trong các kì thi đưa ra"
Hay, HSG có một số năng lực sau:
a) Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống HS có năng lực tiếp thu kiến thức vượt trội, tức là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý thức bổ sung và hoàn thiện kiến thức
b) Có năng lực ghi nhớ, tư duy tốt và sáng tạo, khả năng suy luận logic Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết so sánh, tổng hợp, khái quát hóa các sự vật hiện tượng
c) Có năng lực trình bày và diễn đạt chính xác, logic
d) Có năng lực kiểm chứng Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện, biết khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm
e) Có năng lực thực hành thí nghiệm tốt, khả năng quan sát, mô tả, nhận xét, giải thích các hiện tượng; vận dụng lý thuyết để điều khiển thực nghiệm và từ thực nghiệm kiểm tra các vấn đề lý thuyết
f) Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học g) Có khả năng vận dụng, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn
1.1.1.3 Vị trí, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Nghị quyết các đại hội Đảng toàn quốc lần VIII và IX, XI, đều xác định và nhấn mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực quan trọng tạo sự chuyển biến toàn diện trong phát triển giáo dục
và đào tạo”
Trang 17Luật giáo dục 2005 đã khẳng định mục tiêu của giáo dục “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực”
Không có nền có gốc thì không có cây cao bóng cả Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghiệp hiện đại
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác mũi nhọn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địa phương nói chung
Đối với các địa phương, việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, có chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
Với mỗi nhà trường, việc bồi dưỡng học sinh giỏi được coi là nhiệm vụ hàng đầu, bởi đó là nơi cung cấp kiến thức nền tảng, bồi dưỡng tư duy, góp phần quan trọng vào việc tạo ra những nhân tài sau này Hơn nữa, công tác bồi dưỡng HSG là tiêu chí quan trọng góp phần khẳng định vị thế, uy tín, chất lượng giáo dục của nhà trường; nó cũng khẳng định được danh dự, trình độ,
uy tín của giáo viên với học trò, với xã hội
1.1.1.4 Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc trung học phổ thông
Giáo viên cần phát hiện, nắm rõ từng học sinh về:
Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đầy đủ, chính xác của HS so với yêu cầu đặt ra
Khả năng tư duy của từng HS, đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức của HS một cách linh hoạt, sáng tạo
Một số tiêu chí đánh giá:
+ Mức độ đầy đủ, rõ ràng về mặt kiến thức
+ Tính logic trong bài làm của HS
Trang 18+ Tính chính xác, khoa học, chi tiết, độc đáo được thể hiện trong bài làm, cách diễn đạt của HS
+ Tính mới, tính sáng tạo (những đề xuất mới, những giải pháp mới, cách giải bài tập hay, ngắn gọn )
+ Mức độ làm rõ nội dung chủ yếu phải đạt được của toàn bài kiểm tra + Thời gian hoàn thành bài kiểm tra
+ Có khả năng ghi nhớ tốt
+ Kĩ năng thực hành, thí nghiệm
+ Có năng lực phê phán, biết chỉ ra cái đúng cái sai với vấn đề đặt ra
1.1.1.5 Một số biện pháp tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học
ở trường phổ thông [10]
a) Cần kích thích động cơ học tập của học sinh,
- Hoàn thiện những yêu cầu cơ bản
+ Tạo môi trường dạy – học phù hợp
+ Thường xuyên quan tâm tới đội tuyển
+ Giao các nhiệm vụ vừa sức cho HS và làm cho các nhiệm vụ đó trở nên thực sự có ý nghĩa với bản thân họ
- Xây dựng niềm tin và những kỳ vọng tích cực trong mỗi học sinh
+ Bắt đầu công việc học tập, công việc nghiên cứu vừa sức đối với HS + Làm cho HS thấy mục tiêu rõ ràng, cụ thể và có thể đạt tới được + Thông báo cho HS rằng năng lực học tập của các em có thể được nâng cao hoặc đã được nâng cao Đề nghị các em cần cố gắng hơn nữa Lu ô n khuyến khích và động viên kịp thời đối với từng HS (có chế độ khen thưởng rõ ràng)
Làm cho học sinh tự nhận thức được lợi ích, giá trị của việc được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi: Việc học trong đội tuyển là niềm vinh dự
Nó có tác dụng rất lớn với việc học ở trên lớp, với việc nắm vững bản chất vấn đề HS học đội tuyển luôn nhân được sự ưu ái của nhà trường, thầy cô và bạn bè
Trang 19b) Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý
Nội dung dạy học gồm hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tập tương ứng Trong đó, hệ thống lý thuyết phải được biên soạn đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát yêu cầu của chương trình; soạn thảo, lựa chọn hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp HS nắm vững kiến thức, đào sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và đồng thời phát triển được tư duy cho HS
Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho HS không cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và quá tải đồng thời phát huy được tối đa tính tích cực, tính sáng tạo và nội lực tự học tiềm ẩn trong mỗi HS
c) Kiểm tra, đánh giá
Để quá trình kiểm tra, đánh giá học sinh có hiệu quả tốt thì phải có tiêu chuẩn rõ ràng, việc đánh giá đúng sẽ giúp HS có động cơ học tập tích cực
để đạt được kết quả cao nhất
Đánh giá HSG cần dựa trên cơ sở: khả năng tinh thần, trí tuệ, sáng tạo
và động cơ học tập
Để đánh giá chính xác khả năng của HS giỏi cần sử dụng nhiều loại hình đánh giá, nhiều phương pháp: trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan, quan sát, phỏng vấn, thuyết trình, thảo luận…
Nội dung đề thi cần kiểm tra được một cách toàn diện trình độ của HS Tăng cường các câu hỏi yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời theo cách hiểu
Một số hoạt động mà giáo viên cần quan tâm:
Trang 20 Tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp
Bổ sung kiến thức cho học sinh
Tài liệu hướng dẫn tự học cho học sinh
Kiểm tra, đánh giá
1.1.1.7 Đánh giá học sinh giỏi
Hiện nay, khi bồi dưỡng, chúng ta thường đánh giá kết quả học tập của
HS trong đội tuyển bằng các bài kiểm tra, bài thi với việc biên soạn các câu hỏi có nội dung khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo của HS Chúng ta cũng đang chủ yếu đánh giá kiến thức của học sinh là chính, chưa chú trọng tới đánh giá năng lực của học sinh
Giáo viên có thể đánh giá khả năng, kết quả học tập của HS thông qua việc quan sát hành động của từng em trong quá trình dạy học, kiểm tra, hoặc phỏng vấn, trao đổi GV cũng nên tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, của học sinh khác trong quá trình tuyển chọn và bồi dưỡng Ngoài ra việc hướng dẫn
HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau hoặc đánh giá bằng nhận xét cũng có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng HSG
1.1.1.8 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
Một GV khi dạy bồi dưỡng HSG hóa học đòi hỏi phải có khá nhiều các kỹ năng và năng lực quan trọng như:
Năng lực trí tuệ, bởi muốn có trò giỏi thì người thầy trước tiên phải giỏi, hay như nhiều GV vẫn nói: GV dạy HSG phải hơn hẳn HS một cái đầu
Năng lực trình độ chuyên môn, khi người thầy có chuyên môn sâu
và vững có thể truyền đạt cho trò một cách chính xác và cặn kẽ các vấn đề cần quan tâm
Lập kế hoạch bồi dưỡng HSG phù hợp với năng lực của HS
Có kĩ năng giao tiếp, kĩ năng truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu, chính xác
Có kĩ năng lựa chọn và sử dụng PPDH phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học sinh
Biết giám sát, theo dõi, tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía học sinh và
Trang 21đồng nghiệp
Có kĩ năng tiến hành thí nghiệm và sử dụng các thiết bị hỗ trợ dạy học như tranh vẽ, máy tính, máy chiếu, phần mềm hóa học…
Có kĩ năng xây dựng bài tập và ra đề kiểm tra
Có kĩ năng nghiên cứu khoa học
Có phẩm chất đạo đức tốt, yêu thương, quý trọng học sinh, biết hi sinh cho mục tiêu giáo dục chung
1.1.2 Hoạt động nhận thức và tư duy của học sinh trong quá trình dạy học hóa học
1.1.2.1 Khái niệm nhận thức, tư duy [12]
Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận
thức, tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, có thể chia hoạt động này gồm hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (gồm
tư duy, tưởng tượng)
Nhận thức cảm tính là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của
sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan
Cảm giác là hình thức khởi đầu trong hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng
Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là những phép cộng đơn giản của cảm giác, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định
Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao, có tính chủ động tích cực, có mục đích là sự quan sát
Nhận thức lý tính
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh
Trang 22mới trên cơ sở những biểu tượng đã có
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm :
Tính định hướng, nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy
Bề rộng: Thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác
Độ sâu: Thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng
Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo
Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều
Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề
Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra
mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại
Như vậy, quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông
1.1.1.2 Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau:
Tính đổi mới: Biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới
Tính khuếch tán: Biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau
Trang 23 Tính độc đáo: Thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến
1.1.2.3 Các thao tác tư duy, rèn luyện các thao tác tư duy của học sinh trong quá trình dạy và học hoá học
Phân tích
Là quá trình tách các bộ phận của sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên của hiện thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ
và quan hệ giữa chúng theo một hướng xác định
Xuất phát từ một góc độ phân tích và hoạt động tư duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và kết luận khoa học Trong học tập, hoạt động này rất phổ biến
Tổng hợp
Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong việc xác lập tính chất thống nhất của các phẩm chất và thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật nguyên vẹn có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất và xác định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của
sự vật nguyên vẹn đó, trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy là đã thu được một sự vật và hiện tượng nguyên vẹn mới
Tổng hợp không phải là số cộng đơn giản của hai hay nhiều sự vật, không phải là sự liên kết máy móc các bộ phận thành chỉnh thể Sự tổng hợp chân chính là một hoạt động tư duy xác định đặc biệt đem lại kết quả mới về chất, cung cấp một sự hiểu biết mới nào đó về hiện thực
Ví dụ : Muối ăn (NaCl) là liên kết Na và Cl nhưng không phải là tổng số
đơn giản của hai nguyên tố Na và Cl
Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tư duy Đây là hai quá trình có liên hệ biện chứng Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp để phân tích đạt được chiều sâu bản chất hiện tượng sự vật Sự phát triển của phân tích và tổng hợp là đảm bảo hình thành của toàn bộ tư duy và các hình thức tư duy của học sinh
Trang 24 So sánh
Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ vai trò tích cực quan trọng
Việc nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng không thể có nếu không
có sự tìm ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật hiện tượng
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật hiện tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh Cũng như tư duy phân tích, tư duy tổng hợp thì tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển
Nhờ so sánh, người ta có thể tìm thấy các dấu hiệu bản chất giống nhau
và khác nhau của các sự vật Ngoài ra, còn tìm thấy những dấu hiệu không bản chất thứ yếu của chúng
Khái quát hoá
Khái quát hoá là hoạt động tư duy tách những thuộc tính chung và các mối liên hệ chung, bản chất của sự vật và hiện tượng tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc
Trong bất cứ hoạt động trí tuệ nào thì khái quát hóa cũng đóng vai trò quan trọng Kiến thức chỉ được coi là tri thức khi nó được xác lập có tính hệ thống Kiến thức rời rạc chỉ là kho tư liệu mà thôi Khái quát hóa luôn giúp học sinh hệ thống hóa được kiến thức, dễ nhớ, giảm tải nhờ tránh bớt học
"vẹt"
Nếu vận dụng tốt khái quát hóa, học sinh có thể nắm được vấn đề, giải quyết một bài toán mới chưa gặp nếu bài toán đó đã được khái quát trong vô
số bài toán trước đó
1.1.2.4 Những hình thức cơ bản của tư duy [7]
Khái niệm: Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng biệt của sự vật hiện tượng
Trang 25Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình tư duy, được xây dựng trên cơ sở các thao tác tư duy, nó làm điểm tựa cho tư duy phân tích và
là cơ sở để đào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới Ngoài ra, các hoạt động suy luận, khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ
sở để tư duy và đi sâu thêm vào bản chất của sự vật hiện tượng
Phán đoán: Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm,
sự phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong
Suy lý: là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để tạo thành một phán đoán mới
Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề) và các phán đoán có sau (gọi là kết luận) Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy
Suy lý diễn dịch: là suy lý đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt
Suy lý quy nạp: là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy lý này gắn bó mật thiết với nhau)
Loại suy: là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng
để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó Hình thức này thường được sử dụng khi học về các nguyên tố cùng một nhóm nào đó có tính chất tương tự nhau
Rèn luyện tư duy lôgic trong dạy học hóa học là tạo cho HS có phương pháp tư duy từ khái niệm đến phán đoán, suy lý thông thường qua mọi câu hỏi, mọi vấn đề và phải được tiến hành thường xuyên liên tục
1.1.2.5 Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh
Việc đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh thông qua quá trình dạy học môn hoá học chính là: Đánh giá khả năng nắm vững những cơ
sở khoa học một cách tự giác, tự lực, tích cực và sáng tạo của học sinh (nắm vững là hiểu, nhớ và vận dụng thành thạo); đánh giá trình độ phát triển năng
Trang 26lực nhận thức và năng lực thực hành trên cơ sở của quá trình nắm vững hiểu biết
Căn cứ vào chất lượng của quá trình lĩnh hội và kết quả của nó, có bốn trình độ:
Trình độ tìm hiểu: Nhận biết, xác định, phân biệt và nhận ra kiến thức tìm hiểu
Trình độ tái hiện: Tái hiện thông báo về đối tượng theo trí nhớ hay ý nghĩa (kiến thức tại hiện)
Trình độ kỹ năng: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống quen thuộc (kiến thức kỹ năng) Nếu thành thạo tự động hoá gọi là kiến thức kỹ xảo
Trình độ biến hoá: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách chuyển tải chúng vào những đối tượng và tình huống quen biết nhưng đã bị biến đổi hoặc chưa quen biết
Như vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên muốn rèn luyện, phát triển tư duy của học sinh cần phải có các biện pháp giảng dạy hợp lý để học sinh thực sự nắm vững hiểu biết một cách tự giác tích cực, tự lực giành được
những hiểu biết đó
1.1.3 Phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
1.1.3.1 Thực trạng PPDH hóa học ở trường trung học phổ thông
Hóa học là môn học có tính thực nghiệm cao, tuy nhiên hiện nay có nhiều lí do dẫn đến việc giáo viên vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình ghi bảng là chủ yếu Việc sử dụng thí nghiệm chủ yếu là thí nghiệm biểu diễn do
GV làm HS không được rèn luyện thao tác thực hành thí nghiệm
Hoạt động của học sinh vẫn chủ yếu là nghe, ghi chép, trả lời câu hỏi một cách thụ động do giáo viên nêu ra, rất ít có hoạt động tự đặt câu hỏi cho giáo viên Thời lượng dành cho việc học của học sinh là ít
Việc kiểm tra đánh giá vẫn chủ yếu mang tính một chiều do GV đánh giá HS mà chưa có việc HS đánh giá lẫn nhau, HS tự đánh giá
Trang 27GV chưa chú ý nhiều đến việc rèn luyện cho HS năng lực tự học, tự tìm tòi và giải quyết vấn đề từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Như vậy, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS
Trong các giờ học, HS ít được hoạt động, ít động não, không chủ động
và tích cực lĩnh hội kiến thức HS lúng túng khi phải giải quyết những câu hỏi vấn đề tổng hợp, đặc biệt là những vấn đề thực tiễn
1.1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
Luật giáo dục, năm 2005 đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH chú trọng đến việc phát huy tính tích cực chủ động của HS coi HS là chủ thể của quá trình dạy học Phát huy tính tích cực học tập của HS là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Nguyên tắc này đã được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc trên đã được chúng
ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và được coi là phương
hướng dạy học tích cực
Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục” được thông qua một lần nữa khẳng định quyết tâm đổi mới nền giáo dục, trong đó chú trọng đến PPDH Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông mà trọng tâm là đổi mới PPDH
Trong bộ môn Hóa học cần tăng tính thực nghiệm, áp dụng vào thực
tiễn, hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ
Trang 28động của học sinh.Bằng cách áp dụng nhiều PPDH khác nhau, tăng sử dụng kênh hình, các biện pháp hỗ trợ khác: tranh ảnh, thí nghiệm ảo
1.3.1.3 Phương pháp dạy học hiện đại [17]
PPDH hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây từ đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là cách thức DH theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế thường gọi PP này là PPDH tích cực; ở đó, giáo viên là người giữ vài trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy PPDH này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ
đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững Giáo án dạy học theo phương pháp tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạt động dạy của thầy và học của trò Ưu điểm của PPDH tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học Đặc điểm của dạy học theo phương pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lý tình huống song nếu không tập trung cao, học sinh sẽ không hệ thống và logic Yêu cầu của PPDH tích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinh chuẩn bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò
Cũng bởi PPDH tích cực tuy có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những yêu cầu cao như vậy, nên thực trạng công tác dạy học trong các nhà trường ở các
Trang 29cấp, các bậc học hiện nay còn không ít giáo viên dạy học vẫn rất lạc hậu chỉ theo lối diễn giảng đơn điệu, không đổi mới, không chú ý đến người học Nguyên nhân của tình trạng này là do: cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học ở các đơn vị còn rất thiếu thốn, do học sinh chưa chăm đều, số đông chưa chuẩn bị bài trước khi đến lớp, do bản thân người giáo viên thiếu năng động, học hỏi, chậm đổi mới, do các nhà trường quan tâm chưa thoả đáng đến việc cải tiến PPDH
Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp đồng bộ: tăng cường cơ
sở vật chất, đổi mới và tăng thêm các trang thiết bị phục vụ dạy và học hiện đại trong các nhà trường,
1.3.1.4 Một số phương pháp dạy học hóa học cần được quan tâm [17]
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt bộ môn hóa học là môn khoa học thực nghiệm, cũng là môn học đòi hỏi tư duy trừu tượng cao Các phương pháp dạy học truyền thống: vấn đáp, sử dụng thí nghiệm cần được sử dụng theo hướng tích cực Ngoài ra cần chú ý một số phương pháp sau:
- Vấn đáp tìm tòi: Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo
viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau
và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học
Có ba phương pháp vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi
- Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học,
nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học
Trang 30- Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự làm việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tổ phương pháp dạy học càng đổi mới Cũng cần lưu ý vấn đề thời gian, không gian lớp học, hoặc nếu HS không tích cực thì chỉ có một vài cá nhân trong nhóm thực sự làm việc, số khác ỷ lại các bạn; dạy học nhóm dễ tạo ra không khí ồn ào, ảnh hưởng tới cá tập thể lớp khác
Dạy học theo dự án
Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế
xã hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần được thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra
Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học
Trang 31Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh, chương trình hành động cụ thể,
Đối với môn hóa học, có khá nhiều phần kiến thức có thể áp dụng dạy học theo dự án, tuy nhiên cần lưu ý đến đối tượng học sinh, vấn đề kinh phí, thời gian thực hiện
1.1.4 Bài tập hóa học
1.1.4.1 Khái niệm bài tập
Theo từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) “Bài tập là bài giao cho HS làm để vận dụng những điều đã học”
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS c ầ n nắm được hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩ năng nào đó bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
1.1.4.2 Phân loại
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác nhau:
a) Dựa vào mức độ kiến thức: cơ bản, nâng cao
b) Dựa vào tính chất bài tập: định tính, định lượng
c) Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh: lý thuyết, thực nghiệm
d) Dựa vào mục đích dạy học: ôn tập, luyện tập, kiểm tra
e) Dựa vào cách tiến hành trả lời: trắc nghiệm khách quan, tự luận
f) Dưạ vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập:(lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc )
g) Dựa vào loại kiến thức trong chương trình: dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng oxihoá khử
Trang 32Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, người ta phân loại để nhằm phục vụ cho nhưng mục đích nhất định
1.1.4.3 Tác dụng của bài tập hóa học
BTHH có tác dụng làm cho học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái niệm
đã học Học sinh có thể nắm vững các khái niệm đã học thông qua việc giải các bài tập Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vũng kiến thức một cách sâu sắc
Ví dụ: khi học khái niệm về sự điện li, giáo viên mô tả lại liên kết trong phân tử NaCl là liên kết ion rất bền, nhưng cho vào nước nó tan dễ dàng Vậy loại lực gì ở đây đã tách được liên kết bền vững đó Từ đó định hướng tới vai trò của dung môi phân cực là nước
BTHH mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề thêm khối lượng kiến thức của học sinh
Thông qua kể vài câu chuyện có liên quan đến bài học giáo viên làm cho HS dễ dàng tiếp thu bài mới với một sự đam mê mới mà HS không hề cảm thấy bài học nặng nề hơn Ví dụ khi học về cao su lưu hóa, giáo viên có thể kể về câu chuyện của Gútđiơ 1 tay buôn đồng nát người Mỹ hay con mèo đã tìm ra cao su lưu hóa
BTHH có tác dụng củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hóa các kiến thức đã học
Có thể kể ở đây nhiều dạng bài tập, nhưng theo chúng tôi, có lẽ là dạng bài tập viết PTHH theo sơ đồ, điều chế các chất, có tác dụng to lớn nhất trong việc củng cố kiến thức 1 cách thường xuyên và hệ thống
BTHH thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo cần thiết về hóa học; đó là các kĩ năng về thực hành, về cách dùng từ, tư duy tưởng tượng,
BTHH tạo điều kiện phát triển tư duy logic của học sinh
BTHH có tác dụng giáo dục tư tưởng cho học sinh
Trang 33Ví dụ 1: khi học về cấu tạo nguyên tử giáo viên nêu sự nguy hiểm của bom hạt nhân
Ví dụ 2: những hi sinh và thành tựu to lớn của vợ chồng Mari quyri và Pie
Ví dụ 3: những cái giá phải trả, những suy nghĩ tiến bộ, không sợ khó khăn của Noben
Các BTHH có nội dung gắn với thực tiễn tạo cho học sinh hứng thú đối với khoa học hóa học
Ví dụ 1: Hãy giải thích câu tục ngữ: “lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” trên phương diện hóa học
Ví dụ 2: Xử lí nước thải của các nhà máy chứa các ion kim loại nặng
Bài tập dù có hay đến đâu nhưng nếu nó không được khai thác và sử dụng đúng cách, đúng mục đích thì tác dụng của nó mang lại chưa chắc đã cao Nó phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng nó, kể cả giáo viên và học sinh
1.1.4.4 Sử dụng bài tập hóa học trong dạy học và trong công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
Để học giỏi môn hoá học, học sinh cần có những phẩm chất và năng lực như: có hệ thống kiến thức hoá học cơ bản vững vàng, sâu sắc; có trình độ
tư duy hóa học phát triển (năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, suy luận lôgíc,…) có kỹ năng thực hành và vận dụng linh hoạt sáng tạo kiến
Trang 34thức hoá học đã có để giải quyết các vấn đề trong hóa học cũng như trong thực tiễn…
Vì vậy, phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện các kỹ năng là những yêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Trong dạy học hoá học, BTHH là một phương tiện và phương pháp rất có lợi thế để hình thành các kỹ năng và phát trtiển năng lực tư duy cho học sinh
a) Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc nghiên cứu phản ứng hóa học Việc nghiên cứu phản ứng hóa học có thể giúp học sinh đi đến những nhận xét có tính khái quát hoá cao, từ đó có thể giúp học sinh giải nhanh các bài toán hóa học
Ví dụ: Khi viết phản ứng của axit với dung dịch kiểm, HS dễ dàng nhận
thấy, bất kể là axit hay bazơ ta đều có số mol ion H+ = số mol ion OH
b) Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc đọc đề bài
Việc đọc và hiểu đề bài có vai trò rất quan trọng, yêu cầu HS phải hiểu được từ ngữ, ý đồ đề bài, các vấn đề phát sinh
Ví dụ: Cho các chất sau: C2H2; CH3CHO; CH3COOH; HCHO; HCOOH tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3 Có bao nhiêu trường hợp thu được kết tủa
Với bài toán này HS rất dễ nhầm lẫn về phản ứng tráng bạc, tạo kết tủa c) Bài tập để rèn luyện cách giải nhanh, thông minh
Đó là những bài tập khó, hay và trong quá trình tìm tới cách giải có tác dụng phát triển tư duy của HS Khi tư duy được họat hoá thì HS sẽ có cách giải bài toán thông minh nhất, đó là con đường đi đến kết quả ngắn nhất và sáng tạo nhất
Hiện nay việc phát hiện ra các cách giải nhanh, thông minh có vai trò rất quan trọng trong việc đạt kết quả cao trong các kì thi
d) Bài tập để rèn luyện khả năng suy luận, diễn đạt chính xác, logic Đây là những phẩm chất cần có của học sinh, thông qua BTHH học sinh có cái nhìn bao quát về các khả năng có thể xảy ra đối với một bài toán,
Trang 35tìm cách giải quyết vấn đề, lựa chọn phương án diễn đạt, nhờ đó HS có thể tự mình phát hiện ra vấn đề nhận thức mới trên cơ sở kiến thức đã có Vì vậy trong quá trình dạy hoá học cần thiết phải cho HS giải những bài tập đòi hỏi cao về khả năng suy luận, kỹ năng diễn đạt lôgíc, chính xác
e) Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hành
Năng lực thực hành là năng lực không thể thiếu của học sinh học hóa học Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học hiện nay, điều kiện thực hành còn gặp nhiều khó khăn về trang thiết bị, về quỹ thời gian Chúng ta có thể sử dụng BTHH theo một số hướng sau để rèn kĩ năng thực hành cho học sinh:
BTHH để chứng minh các thuyết, các nguyên lí
Các bài tập thực nghiệm như: tách, tinh chế, nhận biết, điều chế
Các bài tập giải thích những hiện tượng thực tiễn: tự nhiên, các kinh nghiệm dân gian
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa hiện hành
1.2.1.1 Nội dung, yêu cầu cơ bản của phần nguyên tử, phân tử, liên kết trong chương trình hóa học phổ thông
Trong chương trình hóa học phổ thông ban cơ bản, phần nguyên tử được phân bố trong 5 bài đầu tiên; phần liên kết hóa học được phân bố trong 3 bài; ngoài ra liên kết hidro còn được đề cập qua khi dạy về hóa hữu cơ Nội dung kiến thức yêu cầu trình bày được những kiến thức cơ bản nhất về nguyên tử (thành phần cấu tạo, kích thước, khối lượng; cấu tạo hạt nhân, lớp
vỏ nguyên tử, cách viết cấu hình electron nguyên tử, sự liên hệ giữa cấu tạo nguyên tử với tính chất ); phần liên kết cũng chỉ trình bày về liên kết cộng hóa trị và liên kết ion Với thời lượng bố trí dạy trên lớp khoảng 68 tiết nên rất khó cho học sinh tiếp thu cũng như vận dụng kiến thức phần nguyên tử, liên kết để giải thích bản chất liên kết, các vấn đề mang tính chất trừu tượng
về sau
Trang 36 Trong chương trình hóa học ban nâng cao; phần nguyên tử được bố trí
lí thuyết trong 7 bài; phần liên kết bố trí trong 6 bài Trong chương trình này phần nguyên tử được trình bày kĩ hơn, bao gồm các khái niệm obitan, , năng lượng của electron trong nguyên tử; các nguyên lí và quy tắc phân bố electron trong nguyên tử Phần liên kết đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của liên kết, đặc biệt là khái niệm lai hóa, trong đó trình bày các kiểu lai hóa cơ bản là sp; sp2; sp3 Phần này cũng đề cập đến khái niệm tinh thể Với nội dung kiến thức này đã một phần giải quyết được nhu cầu tìm hiểu bản chất thực sự của hóa học đối với những học sinh khá giỏi Tuy nhiên lượng kiến thức này chỉ đáp ứng phần nhỏ phục vụ các kì thi tuyển chọn HSG, lượng bài tập luyện tập còn ít, nhiều vấn đề liên kết chưa được giải quyết
Trong chương trình chuyên sâu của môn hóa, phần nguyên tử, phân tử
và liên kết được các GV rất chú trọng giảng dạy bởi nó cho phép tìm hiểu bản chất của vấn đề, hơn nữa yêu cầu trong các đề thi thường khá cao, đôi khi tương đương với chương trình hóa đại cương của bậc cao đẳng, đại học
1.2.1.2 Vị trí, vai trò phần của phần nguyên tử, phân tử, liên kết và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông
Phần nguyên tử, phân tử, liên kết hóa học là phần kiến thức đại cương
vô cùng quan trọng đối với hóa học Hiểu sâu sắc các phần kiến thức này là chìa khóa mở ra thành công sau này, khi mà học sinh hiểu được bản chất của vấn đề chúng sẽ yêu thích khám phá tìm hiểu một cách say mê, việc học sẽ trở thành nhu tự thân của chúng
Từ thực tế giảng dạy của nhiều giáo viên cho thấy, đối với chương trình phổ thông, học sinh khi học phần nguyên tử, phân tử, liên kết chủ yếu "công nhận" là chính, đặc biệt không thỏa mãn được sự say mê, khám phá của đối tượng học sinh giỏi, gây khó khăn cho công tác tuyển chọn, bồi dưỡng HSG
Việc mạnh dạn bố trí thời gian hợp lí cho học sinh phổ thông có cơ hội tiếp xúc với phần kiến thức nâng cao này, đặc biệt là đối tượng HSG sẽ nâng cao rõ rệt hiệu quả trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Trang 371.2.2 Mức độ yêu cầu đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học tại tỉnh Bắc Giang
1.2.2.1 Một số nội dung trong các đề thi học sinh giỏi
Bảng 1.1 Thống kê tỉ lệ % nội dung kiến thức về nguyên tử, phân tử và liên
kết hóa học trong đề thi HSG cấp tỉnh một số năm
1.2.2.2 Một số vấn đề mới và khó trong vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi
Cấu tạo nguyên tử, liên kết hoá học Sự lai hóa
Tích số tan, các hằng số cân bằng axit bazơ Tính pH , Ka , Kb
Pin điện hóa; sự điện phân
Các loại mạng tinh thể
Lý thuyết về phản ứng hoá học: Cân bằng hoá học, hiệu ứng nhiệt, nhiệt tạo thành, nhiệt đốt cháy, nhiệt hoà tan, năng lượng mạng lưới tinh thể, năng lượng liên kết, tốc độ phản ứng
Năng lương tự do Gibbs, chu trình Bocnơhabơ, định luật Hess
Hạt nhân nguyên tử
Hiện tượng phóng xạ, đồng vị phóng xạ, phản ứng hạn nhân
Chu kỳ bán huỷ, độ phóng xạ, sự phân rã các hạt , ,
Trang 38 Hiệu ứng cấu trúc trong hóa hữu cơ
Hoá lập thể chất hữu cơ
Cấu trúc và tính chất vật lý
Phản ứng hữu cơ và cơ chế phản ứng
Xác định cấu tạo chất hữu cơ
Tổng hợp hữu cơ
Trong đó các phần về hóa đại cương đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi, tuy nhiên nó lại được đề cập rất ít trong chương trình hóa học phổ thông cơ bản
1.2.3 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
1.2.3.1 Thực trạng dạy và học hóa học tại trường THPT Yên Dũng số 2
- Chất lượng học sinh
Bảng 1.2 Thống kê chất lượng học lực của học sinh qua các năm học
Bảng 1.3 Thống kê giải học sinh giỏi cấp tỉnh qua các năm học
Trang 39Trong hơn 40 năm từ ngày thành lập, thứ hạng thi HSG của trường luôn nằm ở tốp cao, tuy nhiên các giải chất lượng cao, còn ít Đặc biệt là môn Hóa học; chất lượng các giải không cao, còn bộc lộ nhiều thiếu sót trong công tác tuyển chọn và bồi dưỡng đội tuyển, bồi dưỡng HSG hóa học
Chất lượng giáo viên: Trong những năm qua, nhà trường duy trì
lượng giáo viên bộ môn Hóa học là 08 giáo viên; trong đó người độ tuổi rất trẻ (từ 26 32 tuổi) do đó vấn đề kinh nghiệm trong dạy học sinh mũi nhọn, dạy học sinh giỏi còn hạn chế; cũng không có giáo viên nào nằm trong số đội ngũ giáo viên cốt cán của Sở Giáo dục, cộng tác viên thanh tra, chuyên môn Trong 10 năm trở lại đây mới có 01 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; có 02 giáo viên có trình độ thạc sĩ
- Đánh giá thực trạng
Trong hơn 40 năm từ ngày thành lập, mặc dù chất lượng học sinh giỏi
có những thành tích đặc biệt, tuy nhiên các giải mũi nhọn (giải nhất) còn rất hạn chế; đặc biệt là trong các bộ môn khoa học tự nhiên Nhà trường cũng chưa từng có học sinh được nằm trong đội tuyển dự thi HSG Quốc gia; Olympic; các giải casio của tỉnh Đội ngũ giáo viên môn Hóa học nói riêng
và giáo viên nói chung có tuổi đời trẻ, mặc dù nhiệt tình, năng động trong giảng dạy, tích cực đổi mới, ham học hỏi, tuy nhiên kinh nghiệm trong bồi dưỡng, phát hiện học sinh giỏi còn hạn chế nên ảnh hưởng tới thành tích học
tập, cũng như thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường
1.2.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học
Công tác tuyển chọn: Trong những năm qua, công tác tuyển chọn học sinh giỏi của trường THPT Yên Dũng số 2, cũng như tham khảo của một số trường xung quanh chủ yếu dựa vào 2 cách: thông qua các bài thi tuyển chọn
và theo nhận xét cảm tính của giáo viên dạy nền, giáo viên dạy đội tuyển Đôi khi phần nhận xét cảm tính của giáo viên lại có tính chất rất quan trọng và có vai trò quyết định, thực tế đã chứng minh như vậy Ví dụ đối với bộ môn Toán trong kì tuyển chọn HSG năm 2005; kì chọn HSG môn Hóa học năm
Trang 402007; 2008; 2009; 2011 Việc quyết định học sinh để bồi dưỡng mũi nhọn phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên dạy
Công tác bồi dưỡng: công tác bồi dưỡng HSG của nhà trường trong nhiều năm gần đây vẫn theo hình thức dạy học theo phương thức truyền thống Tức là bằng kinh nghiệm của mình, giáo viên đưa ra vấn đề lí thuyết
bổ sung, đưa ra hệ thống bài tập, học sinh làm việc độc lập, sau đó là chữa bài Trong khoảng 5 năm gần đây, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được quan tâm từ lớp 10, còn trước đây chủ yếu là lên lớp 12 mới quan tâm Việc dạy học sinh giỏi vẫn chủ yếu nặng về kiến thức Trong 02 năm trở lại đây, việc đưa thêm nội dung thực hành thí nghiệm (mô tả, giải thích) vào đề thi, nên việc bồi dưỡng học sinh giỏi có chú ý đến kĩ năng thực hành thí nghiệm Như vậy việc bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường mới chủ yếu nhằm mục đích đi thi, cọ xát, khẳng định vị thế của nhà trường thông qua điểm số, thông qua những học sinh giỏi, hay người ta vẫn dùng cách gọi “gà nòi”
Công tác quản lí, hỗ trợ người học, hỗ trợ giáo viên: thực tế đã chứng minh, công tác tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi muốn thu được kết quả cần có sự quan tâm đặc biệt về phương diện quản lí Theo thông kê, những năm trước 2004, tỉ lệ học sinh giỏi của trường rất ít, do việc bồi dưỡng HSG ít được quan tâm, từ khi được quan tâm chỉ đạo, từng bước, nhà trường luôn nằm trong tốp 5 trường có thành tích bồi dưỡng HSG cao nhất Công tác chỉ đạo thể hiện đầu tiên ở khâu quan tâm tới đội ngũ giáo viên; xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng; tổ chức các hội nghị có sự tham gia của cả học sinh; mời cha mẹ học sinh tham gia Thường xuyên mời thỉnh giảng những giáo viên có năng lực từ các trường bạn đến giảng dạy Có những chính sách khen thưởng hợp lí với giáo viên và học sinh, do đó tạo được động lực cho giáo viên và học sinh phấn đấu dạy và học