Tuy nhiên với vị trí và vai trò của mình, môn GDCD ở trường THPT lại chưa được coi trọngtrong việc hình thành và phát triển cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứutrong trường học lẫn ngoà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Phương pháp dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường THPT
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===o0o===
NGUYỄN THỊ TÂM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC
GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Phương pháp dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường THPT
Người hướng dấn khoa học ThS Nguyễn Quang Thuận
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm khóa luận cũng như học tập tại trường, em nhậnđược sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Giáodục Chính trị cùng sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè Em xin chânthành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Quang Thuận đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệpđại học
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian
và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không thể tránh khỏinhững thiếu sót khi hoàn thành khóa luận Vì vậy, em rất mong nhận được sựđóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
Nguyễn Quang Thuận Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả học tập, nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 GDCD Giáo dục công dân
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2 TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY 10
1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp tự học trong trong dạy học môn GDCD lớp 10 10
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang 19
1.3 Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 hiện nay 25
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC GIANG 27
2.1 Quy trình sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Dũng số 2 27
2.2 Điều kiện thực hiện quy trình dạy học môn GDCD lớp 10 sử dụng phương pháp tự học cho học sinh THPT 31
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC GIANG 36
3.1 Kế hoạch thực nghiệm 36
3.2 Nội dung thực nghiệm 37
3.3 Kết quả thực nghiệm 54
3.4 Một số đề xuất nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT trong dạy học môn GDCD lớp 10 58
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1: Bảng kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng trước khi tiến hành thực nghiệm 54Bảng 3.2: Bảng kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng sau khi tiến hành thực nghiệm 56
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng trước khi tiến hành thực nghiệm 55Biểu đồ 3.2: Biểu đồ kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng sau khi tiến hành thực nghiệm 57
Trang 81 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động
có mục đích của con người Anhxtanh - nhà khoa học lớn của thế kỷ XX đã
từng khẳng định: "Ai không còn tò mò người đó sẽ chết", V.I.Lênin sau này cũng nói: "Học, học nữa, học mãi" Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là
một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của con người Trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ …lấy tự
học làm cốt” [10,tr.34] Tư tưởng về tự học qua hàng ngàn đời nay vẫn luôn
được con người coi trọng như một phương pháp để rèn luyện trí tuệ và nhâncách của mỗi người
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự tháchthức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải tạo ra nguồn nhânlực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hộitrong giai đoạn mới Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năngthu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện
và hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội Để
có năng lực đó con người phải học tập không ngừng, học tập suốt đời, ở mọinơi thông qua nhiều hình thức, trong đó phải lấy tự học làm cốt Do đó, cầnphải bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh ngay từ khi còn ởtrường phổ thông Xây dựng được năng lực tự học cho học sinh ở trường phổthông là tạo nền tảng cho học sinh phát triển năng lực tự học ở mức độ caohơn ở các cấp học và xa hơn nữa là đào tạo được những con người có khảnăng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội học tập suốt đời
Tuy vậy, phương pháp dạy học ở một số trường phổ thông hiện nay vẫnchủ yếu theo phương pháp dạy học truyền thống, theo kiểu đọc – chép haytruyền thụ một chiều, có kết hợp với đàm thoại Giáo viên chưa phải là người
tổ chức cho học sinh hoạt động, học sinh chưa biết phương pháp tự học theo
Trang 9hướng tích cực Hoặc thay vì phải minh họa cho học sinh hiểu kỹ về một vấn
đề nào đó thì giáo viên chỉ đọc cho học sinh ghi chép những nội dung chínhcủa bài học; thay vì hướng dẫn học sinh luyện tập, rèn luyện những kỹ năngthì giáo viên chỉ yêu cầu học sinh lặp lại theo mẫu một cách máy móc,…Phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghinhớ lý thuyết, thiếu kĩ năng thực hành áp dụng, chưa phát huy tinh thần tự học
và tự duy sáng tạo của người học
Với đặc thù là môn khoa học xã hội , môn GDCD có vị trí rất quan trọngtrong việc hình thành thành nhân cách, phẩm chất, năng lực cho học sinhTHPT và cung cấp hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đờisống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… bao gồm kiến thức của nhiều mônhọc khác Môn GDCD góp phần hình thành và phát triển phẩm chất năng lựcngười học; phát triển hoàn thiện các mặt: Đức, trí, thể, mĩ Tuy nhiên với vị trí
và vai trò của mình, môn GDCD ở trường THPT lại chưa được coi trọngtrong việc hình thành và phát triển cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứutrong trường học lẫn ngoài trường học dẫn đến hiệu quả học tập không cao và
HS không có kĩ năng và phương pháp tự học hiệu quả
Trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, nhiều quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam đã bắt đầu chú trọng vào việc sử dụng phương pháp tựhọc trong dạy học Người giáo viên không chỉ thuyết giảng trên lớp mà cònphải định hướng cho học sinh có khả năng tự học ở trường, ở nhà và xã hộikết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết từ đó giúp các
em phát triển toàn diện về kiến thức lẫn kỹ năng Trên thực tế hiện nay, hoạtđộng tự học của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó nhiều học sinh chưadành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tựhọc cho bản thân,… một phần người giáo viên chưa biết định hướng, dẫn dắthoạt động tìm hiểu hiểu kiến thức thông qua các nhiệm vụ học tập được giao
và phân công cho học sinh, dẫn đến việc học sinh không hiểu bài và không
Trang 10yêu thích môn học làm hoạt động dạy và học kém hiệu quả và chất lượngkhông cao Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp tựhọc nhằm phát triển bản thân người học, Nghị quyết 29 NQ-TW về đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu lên mục tiêu cụ thế “Đối với
giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[5,tr.3] Trên tinh
thần ấy, Đảng ta đã coi trong việc phát triển toàn diện các năng cho HStrong đó năng lực tự học là một trong những năng lực quan trọng nhất trongquá trình đất nước hội nhập toàn cầu ngày nay Việc phát triển năng lực tựhọc là việc cần thiết phả được diễn ra trong quá trình dạy học của cả GV lẫn
HS, đây được xem là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiếnlược giáo dục - đào tạo của đất nước Xuất phát từ những lí do trên, em xin
chọn đề tài : “Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp
10 ở trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang hiện nay” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Nghiên cứu về tự học trên thế giới
Trong nền giáo dục Phương Tây cổ đại, ý tưởng dạy học coi trọng ngườihọc và trao quyền tự chủ cho người học đã được chú ý đến từ khá sớm trong
đó có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate
(469-390 TCN), Aristote (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằngcách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận Sau đó cùng với những diễnbiến thăng trầm của lịch sử và sự phát triển nhận thức xã hội mà ý tưởng nàytiếp tục phát triển
Trang 11N.A.Rubakin (1862- 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào”[12] đã
trình bày nhiều vấn đề về phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sửdụng tài liệu và ông nhấn mạnh việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện
cơ bản để tích cực, chủ động trong tự học, phải tự mạnh dạn đặt ra câu hỏi và
tự mình lấy câu trả lời đó mới là phương pháp tự học Ông cũng cho rằng,nhiệm vụ của người thầy phải xây dựng được các bài tập nghiên cứu là mộttrong các biện pháp hình thành và phát triển năng lực tự học
Một tác giả khác là Raja Roy Singh trong cuốn “Nền giáo dục cho thế kỷ
21- Những triển vọng của Châu Á- Thái Bình Dương”[14], đã đưa ra những
nghiên cứu về vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên vàhọc tập suốt đời, ông đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trongviệc học tập thường xuyên, học tập suốt đời Ông quan niệm học tập do ngườihọc điều khiển và nhấn mạnh hoạt động học, vai trò của người học trong hoạtđộng học Ông cho rằng làm thế nào để cá nhân hóa quá trình học tập, để chotiềm năng của mỗi cá nhân được bộc lộ, phát triển đầy đủ đang là thách thứcchủ yếu đối với giáo dục
Công trình “Học tập một cách thông minh” [13] của Michael Shayer và
Philip Adey ( Bản tiếng anh: Learning Intelligence) đã đưa ra nhiều biện phápgiúp học sinh học tập một cách thông minh Các tác giả chú trọng vào tìmhiểu nhu cầu, mong muốn của học sinh từ đó đưa ra những gì cần giúp đỡ các
em trong quá trình tự học Bên cạnh đó 2 tác giả còn quan tâm đến giao tiếpcủa học sinh khi hoạt động nhóm thông qua những ghi chép về các đoạn hồithoại của các emcó thể kết luận mức hiểu bài cũng như mức độ tích cực củahọc sinh khi tự học
Richard Smith, giáo sư tại đại Đại học Warwick, trong cuốn sách “Tựhọc”[15], ông lại cho rằng tự học có nghĩa là người học tự chủ Theo ông đâykhông hẳn là một phương pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọngtrong giáo dục Ý tưởng về tự chủ của người học không phải là mới, ông còn
Trang 12gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: cá nhân hóa, người học độc lập.Điều này có nghĩa là người học phải có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm
và ra quyết định đối với việc học của mình
Như vậy, tự học là một khái niệm được ra đời rất sớm, lịch sử nghiêncứu về tự học bắt đầu muộn hơn và nó gắn liền với việc nghiên cứu người học
là trung tâm của quá trình giáo dục, cho đến ngày nay vấn đề tự học vẫn đượctiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa đặc tính của người tự học, tuynhiên với những thành công nghiên cứu bước đầu, các tác giả đã xác địnhđược tự học không hẳn là học một mình, tự học nên được diễn ra trong các cơ
sở giáo dục, vị trí để học thì do người học tự quyết định Các tác giả đã tậptrung vào quá trình nhận thức của chủ thể người học, tìm ra những yếu tố chiphối đến quá trình tự học để từ đó đề ra các biện pháp tác động tích cực đếnquá trình tự học của người học
2.2 Nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, hoạt động tự học được chú ý từ thời phong kiến khi màgiáo dục chưa phát triển Năng lực tự học được ghi nhận ở từng cá nhân kiệtxuất, tự học thành tài, nổi bật như thời nhà Trần có trạng nguyên NguyễnHiền đỗ trạng nguyên ở tuổi 13; Mạc Đĩnh Chi được xem là thần đồng nhohọc ở thế kỉ XIV hay thế kỉ XIX có Nguyễn Khuyễn - đốt lá đọc sách,… Đếnthời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nước ta vẫn còn rất hạn chế, phươngpháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều, người học chỉ cần họcthuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung mà không cần độc đáo Vấn đề tựhọc, năng lực tự học vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Khi nền giáo dụccách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát độngnghiên cứu và nêu cao tấm gương về tinh thần tự học cũng như phương pháp
dạy học Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác viết “Trong cách học phải
lấy tự học làm cốt ”[10,tr.34] Thời kì ấy tự học không phải chỉ là định hướng
cho con người vượt qua khó khăn của đời sống hiện tại mà còn là chú trọng
Trang 13nâng cao trình độ của bản thân để đáp ứng với thế giới ngày càng đổi mới vànhân dân Việt Nam ngày càng tiến bộ Tự học được xác định là một nhiệm vụchính trị.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX những nghiên cứu về tự học đã đượcnhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học,giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một số tác giả có công trình tiêubiểu là tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên, Trần BáHoành…
Tác giả Trần Bá Hoành, khi bàn về khái niệm tự học, tác giả cũng liệt kêcác dấu hiệu của người tự học như: Người học tích cực chủ động, tự mình tìm
ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình[8]
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng bàn về tự học: “Tự học là người học tích cực
chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”[9,tr.23].
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong“Luận bàn về kinh nghiệm tự học” nêu
lên đặc điểm của người tự học đó là tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiêntrì, không ngại khó ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó Tácgiả cũng chia tự học thành hai mức đó là tự học có hướng dẫn và tự học hoàntoàn [18]
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức,
GS Trần Phương cho rằng, học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức
là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiếnthức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thựchành những tri thức ấy [11]
Những nội dung nghiên cứu về tự học nêu trên, các tác giả Việt Nam đãchung một quan điểm đó là tự học là một quá trình học tập độc lập của người
Trang 14học và liệt kê các dấu hiệu để nhận diện người có khả năng tự học nhưng tựhọc chịu chi phối bởi những yếu tố nào thì chưa được làm sáng tỏ.
Trong môn GDCD, hoạt động tự học được thực hiện chủ yếu thông quaviệc cá nhân lĩnh hội tri thức từ GV trên lớp và thực hiện tự học thông qua cácnhiệm vụ, bài tập được giao về nhà từ GV, theo phương pháp tự học truyềnthống Hoạt động tự học chỉ chú trọng vào việc HS tự giác hoàn thành nhiệm
vụ từ GV mà không có những hoạt động tương tác giữa GV – HS, HS – GVtrên lớp học và ngoài lớp học Với phương pháp tự học theo kiểu truyền thốngnhư vậy sẽ làm giảm sự hứng thú môn học từ HS và không đem lại hiệu quảgiảng dạy cao
Hiện nay việc đi sâu nghiên cứu về sử dụng phương pháp tự học trong dạyhọc một môn học cụ thể kết hợp với việc giáo viên sử dụng các phương pháp,phương tiện dạy học để phát triển toàn diện năng lực cho HS đặc biệt là nănglực tự học đang dần được chú ý, với mục đích tạo cho HS có thật nhiều cơ hộiđược học tập, trải nghiệm một cách tự nhiên, thoải mái, không bị gò bó vớinhiều hình thức, biện pháp học tập đa dạng phát huy tính tích cực và nhậnthức trong học tập của học sinh Việc sử dụng phương pháp tự học trong việcgiảng dạy ở các nhà trường đang ngày càng được quan tâm không chỉ đại học
mà còn ở các bậc trung học Vì vậy, đề tài vận dụng phương pháp tự học
trong dạy học môn GDCD lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang nhằm kết hợp việc sử dụng các PPDH tích cực nâng cao hiệu quả tự
học, tự nghiên cứu của HS trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học mônGDCD nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp tự học trong dạy họcmôn GDCD và phát triển được năng lực tự học của HS trường THPT YênDũng số 2, tỉnh Bắc Giang
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập chung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp
tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnhBắc Giang;
- Xây dựng quy trình và điều kiện thực hiện quy trình sử dụng phươngpháp tự học trong dạy học môn GDCD
- Tiến hành thực nghiệm dạy học sử dụng phương pháp tự học cho họcsinh và đối chiếu rút ra kết quả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp tự học trongdạy học môn GDCD lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang.Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2 vàgiáo viên dạy GDCD của trường THPT Yên Dũng số 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Giới hạn trong nội dung môn GDCD lớp
10 trường THPT Yên Dũng số 2
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận lấy phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa,
khái quát hóa nhằm nghiên cứu nội dung cơ sở lí luận của đề tài; so sánh,phương pháp duy vật biện chứng nhằm tiến hành thực nghiệm sư phạm giữacác lớp…
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát nhằm tìm
hiểu hoạt động dạy và học của GV và HS, phương pháp thực nghiệm nhằm
Trang 16dạy học với giáo án 2 lớp, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kê toán học, thu thập tài liệu…
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn vềviệc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trườngTHPT Yên Dũng số 2
- Tiến hành thực nghiệm việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy họcmôn GDCD lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu vàgiảng dạy môn GDCD
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung khóa luận bao gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2 TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp tự học trong trong dạy học môn GDCD lớp 10
1.1.1 Quá trình dạy học môn GDCD ở trường THPT
Quá trình dạy học là một hệ thống những hành động liên tiếp và thâmnhập vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt đượcmục đích dạy học qua đó làm phát triển nhân cách của trò Quá trình dạy họcbao gồm nhiều thành tố như: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, phương pháp vàphương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy và trò với hoạt động học, kết quảdạy học,…
Trong dạy học nói chung và môn GDCD nói riêng, việc xác định mụctiêu là thành tố quan trọng trong quá trình dạy học Nếu không có mục tiêuxác định, sẽ không có bất kì cơ sở nào để lựa chọn nội dung giảng dạy,phương pháp giảng dạy và càng không thể đánh giá được hiệu quả, giá trị củamột bài giảng Khi mục tiêu được xác định rõ giúp GV có thể lựa chọn và sắpxếp nội dung, phương pháp truyền tải đến người học một cách tốt nhất Đồngthời là cơ sở để GV đánh giá được sự tiến bộ của HS theo chiều hướng vàmức độ nào Mục tiêu là cái đích mà cả GV và HS cần hướng tới GV cần xácđinh mục tiêu một bài học trên 3 phương diện bao gồm: Mục tiêu về kiếnthức, mục tiêu về kĩ năng và mục tiêu về thái độ Một hệ mục tiêu được đặt rađầy đủ cả về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ hướng toàn bộ quá trình dạyhọc đạt tới một hiệu quả dạy học tốt nhất
Môn GDCD ở trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hìnhthành thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và cung cấp trithức, kĩ năng sống cho người học, giúp hình thành nhân cách tốt đẹp Vì vậy,
để nâng cao hứng thú học tập cho HS học môn GDCD đã có nhiều phương
Trang 18pháp dạy học được áp dụng như: Phương pháp thuyết trình, phương pháp đàmthoại, phương pháp trực quan, phương pháp tự hoc, phương pháp thảo luậnnhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp dự án,… Các phương pháp dạyhọc này kết hợp với phương tiện dạy học như: sơ đồ, bảng biểu, đèn chiếusáng, ti vi, ngôn ngữ của GV,… đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạymôn GDCD trong trường THPT.
Trong quy trình dạy học môn GDCD, để có thể thành công trong dạyhọc, cần đòi hỏi cao trong sự chuẩn bị của cả người dạy và người học GV cầnchuẩn bị kĩ lưỡng từ kiến thức, giáo án bài giảng đến phương tiện dạy họcphục vụ cho bài giảng của mình đồng thời sự chuẩn bị của HS cũng đóng vaitrò quan trọng không kém, giúp cho bài giảng của GV đạt được hiệu quả caotrong việc xác định mục tiêu bài học
Tất cả quy trình dạy học đều được hiện thực hóa bằng hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS Hai hoạt động này thống nhất, biện chứng vớinhau Sự tác động qua lại giữa người dạy và học, phản ánh tính chất hai mặtcủa quá trình dạy học Thành công của quá trình dạy học phụ thuộc nhiều vàocác hoạt động dạy ở trên lớp của GV Người dạy phải điều khiển, suy nghĩ, raquyết định và lưạ chọn những hướng đi cụ thể để dẫn dắt, định hướng ngườihọc theo những hoạt động đã chuẩn bị sẵn Trong khi người học phải thựchiện quá trình học tập theo sự định hướng của GV Sau mỗi bài giảng GV cầnđánh giá, tổng kết để rút kinh nghiệm cho tiết giảng Hoạt động này giúp chongười dạy biết được điểm mạnh và hạn chế của bản thân mình và HS từ đó có
sự điểu chỉnh, cân nhắc và bổ sung cho những lần tiếp theo
1.1.2 Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học cho học sinh THPT
1.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Phương pháp là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp – “Methodos”
nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “cách thức nhận thức”, nguyên văn là con
đường đi tới một cái gì đó; có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích
Trang 19“PPDH là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.” [6,tr.13]
“PPDH GDCD là một khoa học, thuộc chuyên nghành khoa học giáo dục, một bộ phận của lý luận dạy học, là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giảng viên và sinh viên nhằm phát hiện những quy luật của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và PPDH
cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường Trung học.”[6,tr.13]
Tự học theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn là “ Tự mình dùng các giác quan
để thu thập thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào
đó, một kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng rồi biến chúng thành sở hữu của mình”[18, tr.80] Phát minh ra cái mới
cũng có thể coi là hình thức tự học cao cấp Thông qua những hoạt động tự
học làm người học phát triển năng lực tự học phục vụ cho việc nghiên cứu và
học tập
Tác giả Nguyễn Kì cũng bàn về khái niệm tự học, ông cho rằng tự học
là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằnghành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huốnghọc, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thửnghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học[9]
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học GS Trần Phương cũng đưa ra quan điểm về tự học: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ
yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”[11,tr.21].
Trang 20Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học
luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ
năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quảthông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi
HS phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩnăng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc
1.1.2.2 Các hình thức tự học và vai trò của tự học
Tự học bao gồm 2 hình thức cơ bản là tự học dưới sự hướng dẫn của GV
và tự học không có sự hướng dẫn của GV
Với hình thức thứ nhất là tự học có sự hướng dẫn của GV, quá trình họctập trên lớp là quá trình căn bản, cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản,khái quát về vấn đề được học GV giữ vai trò quan trọng trong việc địnhhướng cho HS, hướng dẫn cho HS phương pháp nghiên cứu, tự học ở nhàgiúp cho HS chủ động, nắm vững và chiếm lĩnh được trọn vẹn tri thức liênquan đến vấn đề đã học trên lớp Ngoài ra, với việc định hướng cho HS, GVcòn có một vai trò quan trọng trong việc giám sát, kiểm tra kết quả đạt đượccủa HS sau khi HS tự nghiên cứu ở nhà thông qua các buổi vấn đáp tại lớp
Tự học theo hình thức này sẽ gắn liền với nội dung bài học, theo sự sắp xếp
và giám sát của GV, nó sẽ giúp cho HS xác định được phương hướng, mụctiêu và giải pháp tốt nhất để hoàn thành bài học cũng như bổ sung thêm kiếnthức liên quan đến vấn đề đã được học
Hình thức thứ hai là tự học không có sự hướng dẫn của GV Ngoài việc
tự học theo sự hướng dẫn của GV, HS cũng phải tự chủ động tìm kiếm, họchỏi những vấn đề khác không liên quan đến bài học hay không được GV địnhhướng nhưng những vấn đề đó lại có thể bổ trợ tốt cho việc định hướng nghềnghiệp mình theo đuổi sau này Hình thức này sẽ kích thích sự ham học hỏi,tìm tòi của HS giúp HS hoàn thiện bản thân nhiều hơn, có thêm nhiều kiếnthức khác tạo thêm sự tự tin cho HS khi học tập Việc không có hướng dẫncủa GV giúp HS không bị gò bó, không bị ràng buộc nên có thể chủ động tưduy, khám phá ra những kiến thức, giá trị mới cho bản thân Tuy nhiên, HS
Trang 21cũng nên hỏi GV nếu cảm thấy có vướng mắc hoặc chưa hiểu hết nội dungliên quan đến vấn đề mình đang học tập để tránh tư duy lạc đường, có sángtạo nhưng không phù hợp dẫn đến hiểu sai vấn đề gây ảnh hưởng không tốtđến kết quả tự học của bản thân Ngoài ra, HS còn có thể tự học ở nhà theo sởthích, đam mê của bản thân Có thể đang theo học ban tự nhiên nhưng vẫnhoàn toàn có thể tìm hiểu những kiến thức liên quan đến ban xã hội khác chỉcần cảm thấy nó thú vị, bổ ích Việc tự học này sẽ giúp HS có một kiến thứctổng hợp, sâu rộng ở nhiều môn học khác nhau.
Hoạt động tự giác, tích cực của cá nhân trong quá trình tự học đóng vaitrò quyết định đến việc hình thành, phát triển nhân cách người học GS TạQuang Bửu đã khẳng định vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách:
Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôidưỡng trí sáng tạo Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường thìngười đó sẽ tiến xa Việc tự học của HS có vai trò hết sức quan trọng đối với
sự phát triển trí tuệ và nhân cách của các em Trí tuệ của HS được phát triểntrong quá trình tự học của các em bởi lẽ khi tự học các em luôn luôn phảiđộng não, tìm tòi, các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, suyluận logic,… thường xuyên được sử dụng đã mài sắc trí tuệ của HS Tư duyđộc lập của HS cũng được phát triển trong quá trình tự học của các em Việc
tự học của HS cũng góp phần không nhỏ tới sự phát triển nhân cách, tính kiêntrì, bền bỉ, theo đuổi mục đích đến cùng; Sự trung thực, say mê trong học tậpcũng là những phẩm chất nhân cách nổi bật của HS THPT Đây chính là hànhtrang cho các em sau khi tốt nghiệp THPT và chuyển lên các bậc học cao hơntại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học
1.1.2.3 Những năng lực hướng tới hình thành cho học sinh THPT trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố (26/12/2018), mụctiêu giáo dục cho học sinh phổ thông nhằm rèn luyện tốt cho các em 5 phẩmchất và 10 năng lực, đây sẽ là mục tiêu hướng đến trong chương trình cácmôn học, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy trong đó có môn GDCD
Trang 22Cụ thể, chương trình giáo dục phổ thông môn GDCD giúp học sinh hìnhthành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trungthực và trách nhiệm Những phẩm chất đạo đức này được hình thành, pháttriển gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân ViệtNam Gắn bó trực tiếp với chương trình GDCD lớp 10 (phần 2: Công dân vớiđạo đức).
Giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực của người công dânViệt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theoyêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá
và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là yêu cầu của sự nghiệp xây dựngnhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đó là: năng lực phát triển bản thân; năng lực điều chỉnh hành vi đạo đức,năng lực điều chỉnh hành vi pháp luật; năng lực giải quyết vấn đề về kinh tế.Đây là năng lực chuyên biệt trong môn GDCD mới
Năng lực tự học là một trong những năng lực chung được hướng đếnhình thành ở học sinh và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển cácnăng lực khác trong dạy học môn GDCD nói riêng và các bộ môn nói chung
Vì vậy bồi dưỡng năng lực tự học trong môn GDCD bằng việc sử dụngphương pháp tự học đóng vai trò hết sức cần thiết cho HS và từ đó thúc đẩyquá trình rèn luyện kỹ năng tự học cho HS, góp phần vào công cuộc đổi mớiphương pháp dạy học và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
1.1.3 Phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD
Dạy học không chỉ đơn thuần là đưa ra kiến thức cho học sinh mà điềuthực sự quan trọng là cung cấp cho học sinh phương pháp tự học, để học sinhkhông chỉ đạt kết quả tốt tại một thời điểm mà luôn có tâm thế cho việc traudồi và tìm hiểu kiến thức phục vụ cho công việc sau này
Phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD là hoạt động tự học của
HS diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV với sự hỗ trợ của các phương
Trang 23tiện, kỹ thuật dạy học trên lớp Với hình thức này việc tự học của HS chịu sựđịnh hướng và điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu giờ dạy đã xácđịnh Nếu như dạy học môn GDCD chỉ theo lối truyền thống như trước kia,cách dạy thụ động, một chiều, giáo viên thuyết giảng và học sinh thu nạp kiếnthức sẽ làm HS trở nên thụ động, ỷ lại vào giáo viên Sử dụng phương pháp tựhọc, lúc này việc tự học của HS sẽ có đủ các yếu tố: GV, bạn, SGK, tài liệu,trực quan… Với từng nội dung kiến thức HS sẽ có những hoạt động riêng, sựsáng tạo riêng thông qua sự điểu khiển của GV và từ đó hiệu quả học tập sẽkhác Kết quả của quá trình tự học của HS là sự thống nhất giữa sự hướng dẫncủa GV và sự tự giác học tập của HS.
Nội dung môn GDCD lớp 10 mang tính trừu tương, hàn lâm cao đặc biệt
là phần 1: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận
khoa học Để giúp học sinh hiểu được nội dung bài học, GV không chỉ phải
chuẩn bị giáo án kỹ lưỡng mà đòi hỏi sự cần cù, lắng nghe của HS trong việcnghiên cứu nội dung bài học trước khi đến lớp và chăm chú nghe giảng để đạtđược mục tiêu bài học GV thông qua giáo án kết hợp với các phương phápdạy học làm nội dung bài học thêm sinh động và những nhiệm vụ học tập đượcgiao của HS để khiến HS hiểu bài và kích thích sự hứng thú trong giờ học
GV là người hướng dẫn, tổ chức cho HS tự nghiên cứu tìm ra kiến thức
và tự thể hiện mình trong lớp học, GV là một trọng tài cố vấn Chẳng hạn khi
giảng dạy nội dung “Vai trò của đạo đức trong sự phát triển của cá nhân, gia
đình và xã hội”( bài 10: Quan niệm về đạo đức,SGK GDCD 10) GV sẽ sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm trong đơn vị kiến thức này, mỗi nhóm sẽtìm hiểu về vai trò của đạo đức trong một lĩnh vực vực cụ thể, lấy ví dụ vàliên hệ thực tiễn hiễn nay GV giao nhiệm vụ và HS sẽ phải tự hợp tác, tìmtòi, nghiên cứu để hiểu được nội dung kiến thức thông qua đọc SGK và liênkết các kiến thức đã học trong những tiết trước Dưới sự hướng dẫn của GV,
HS sẽ tự trình bày sản phẩm và sự hiểu biết của mình trước mọi người GV
Trang 24với vai trò một cố vấn sẽ đưa ra kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại(HS – HS ,GV – HS) để khẳng định kiến thức do HS tìm ra và GV sẽ là ngườikiểm tra đánh giá kết quả tự học của HS và cho điểm Sử dụng phương phápthảo luận nhóm trong trường hợp này mang lại hiệu quả cao trong việc pháphuy được năng lực tự học của HS kích thích khả năng tư duy cho HS Trongphương pháp tự học này, GV cần lựa chọn cao, rỗng rãi cả về nội dung lẫnphương pháp tổ chức học tập để đem lại hiệu quả cũng như sự hứng thú củangười học.
Trong quá trình tự học, HS luôn tự chủ, năng động và sáng tạo, biết họchỏi và đánh giá, biết so sánh và đối chiếu, biết kiểm nghiệm và xử lý tìnhhuống Quan trọng hơn là HS phải biết tự tìm cho mình một cách tự chiếmlĩnh tài liệu Song song với việc phát huy tối đa nội lực của học sinh trong quátrình tự học, vai trò của GV vô cùng quan trọng Nếu như việc tự học ngoài xãhội, người học có quyền chọn kiến thức để tự học và tự học một cách tự do.Thì tự học trong nhà trường có tính chất định hướng, GV có trách nhiệmhướng dẫn các em từ cách tự mình nghiên cứu SG đến việc điều chỉnh kiếnthức mà các em thu nhận được để có được lượng kiến thức chính xác nhất Ví
dụ như khi giảng dạy nội dung “Ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của công
dân trong việc bảo vệ môi trường” (bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại, SGK GDCD 10) GV sẽ giao nhiệm vụ học tập cho HS
trước khi dạy học Mỗi HS sẽ về tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ởkhu vực em đang sống gồm môi trường đất, nước, không khí, rác thải,… mức
độ ô nhiễm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục Qua đó, GV hình thành vàphát triển năng lực tự học cho HS với những cách suy nghĩ, tìm tòi để có thể
tự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề và tự nghiên cứu HS tự đánh giá, tự kiểmtra lại sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi, hợp tác với bạn bè và dựa vào kếtluận của GV, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện đồng thời tự rút kinhnghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình
Trang 25Trên cơ sở chương trình môn GDCD góp phần giúp học sinh hình thành,
phát triển các năng lực chung như: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Sự kết hợp hài
hòa giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọngdạy cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời đượcxác định là yếu tố quan trọng và nổi bật trong chương trình giáo dục phổthông mới Chính vì vậy, để phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho HStrong dạy học môn GDCD người GV cần áp dụng những PPDH, mô hìnhdạy học tích cực nhằm phát huy tối đa khả năng tư duy, học tập của HS.Thay vì đến lớp thụ động nghe bài giảng, rồi về nhà làm bài tập GV đóng vaitrò hướng dẫn HS (thông qua những chương trình học online, E-Learning đãđược giáo viên soạn và chuẩn bị trước cùng thông tin do học sinh tự tìm kiếm).Nhiệm vụ của HS là tự học kiến thức mới và làm bài tập mức thấp ở nhà trên
cơ sở nội dung kiến thức được GV thiết kế trước Sau đó trên lớp, HS sẽ được
GV tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau, chủ động tìm hiểukiến thức bài học dưới sự thiết kế bài giảng của GV và làm bài tập đã giao
trước đó (mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho
HS)
Phát triển năng lực tự học cho HS trong môn GDCD còn được diễn raphạm vi ngoài lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của môn học, giúp HS củng cốkiến thức trên lớp, hệ thống hóa nhằm ôn tập, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo dưới
sự hướng dẫn của GV HS sẽ tự tổ chức việc học tập của mình ở nhà theo yêucầu của GV với các nhiệm vụ học tập được giao Chẳng hạn, khi học xong
bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng( SGK GDCD 10),
GV sẽ giao nhiệm vụ học tập về nhà cho HS vận dụng sự hiểu biết để phântích sự phủ định trong phản ứng trao đổi sau: HCl + NaOH = NaCl +H2O Sựphủ định trong xã hội từ trước đến nay và trong giới sinh vật HS thông qua
sự hiểu bài, vận dụng các kiến thức được học sẽ giải quyết nhiệm vụ học tập
và kiểm chứng lại bằng hoạt động của GV và HS trên lớp Thông qua đó mức
Trang 26độ ghi nhớ và thông hiểu kiến thức sẽ tăng lên Mức độ tự học này đòi hỏi sự
tự giác của người học cũng như sự kiểm soát của GV để đem lại kết quả như
ý muốn
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
1.2.1 Khái quát về trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang
Yên Dũng là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử văn hoá và truyền thốngkhoa bảng Nơi đây tự hào là một miền quê hiếu học, từ xưa đã sinh ra và đàotạo cho đất nước nhiều hiền tài
Trước năm 1972, trên địa bàn huyện Yên Dũng chỉ có một trường cấp bađược xây dựng ở bờ Nam sông Thương Con em của 8 xã khu Đông Bắc củahuyện hàng ngày đi học phải đi đò qua sông và trải qua rất nhiều khó khăn.Trước thực tế đó, ngày 18/9/ 1972 Phó chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh HàBắc đã ký quyết định thành lập trường phổ thông cấp 3 Tân An (tiền thân củatrường THPT Yên Dũng số 2 ngày nay)
Trường THPT Yên Dũng số 2 ra đời vào giữa những năm tháng ác liệtcủa cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước, giặc điên cuồng ném bom miềnBắc, nên vừa mới ra đời, trường đã phải sơ tán về khu rừng Chuông thuộcthôn Trung xã Tân An (nay là thị trấn Tân Dân)
Ngày mới thành lập trường có 4 lớp tổng số 197 học sinh trong đó có hailớp 8 với 115 học sinh; một lớp 9 với 48 học sinh tách từ trường Yên Dũng số
1 và một lớp 8 của trường cấp 3 Ngô Sỹ Liên chuyển về Lúc đó, cơ sở vậtchất của nhà trường hầu như chưa có gì Được sự giúp đỡ của chính quyền,nhân dân và phụ huynh học sinh ngày 15/9/1972, toàn thể 16 thầy cô, nhânviên nhà trường cùng 197 học sinh hân hoan đón chào ngày khai giảng đầutiên trên ngôi trường mới – Trường cấp 3 Tân An
Vượt qua thử thách của thời kì đổi mới và những khủng hoảng kinh tếcủa thập niên 80-90, nhà trường vẫn giữ vững truyền thống dạy và học, được
Trang 27nhân dân trong huyện tin cậy, được ghi nhận với rất nhiều bằng khen, giấy khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc trong nhiều năm liên tục.
Cũng trong đoạn này, nhiều học sinh ưu tú của trường có mặt trong các
kì thi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia và đạt giải cao Hàng nghìn học sinh đã trưởngthành và trở thành những công dân ưu tú, giữ những chức vụ quan trọng trênnhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, quân sự,…của tỉnh
Sự thành công đó có được là nhờ tâm huyết của các thế hệ nhà giáo đãkhông ngại khó khăn, gian khổ, thiếu thốn để dìu dắt, dạy dỗ, truyền cảmhứng cho học sinh qua từng bài giảng, nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt của chi
bộ, Ban giám hiệu nhà trường qua từng thời kì, tiêu biểu như thầy Ngô Quang
Ấm, thầy Vũ Tuấn Ổn, thầy Hà Văn Thân cùng rất nhiều các thầy cô khác.Tính đến nay, nhà trường đã trải qua một chặng đường phát triển 50năm, đã thực sự vươn mình lớn mạnh để vừa khẳng định vị thế của một ngôitrường giàu truyền thống vừa nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh nhà
Từ 4 lớp học với 197 học sinh ngày đầu thành lập, hiện nay nhà trường
đã phát triển lên đến 36 lớp học với hơn 1.500 học sinh Từ 16 thầy cô củabuổi đầu, hiện nay đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí đã lên đến 92 người,nhiều thầy cô đạt trình độ thạc sĩ
Từ con số nhỏ nhoi, khiêm tốn là 7 phòng học tạm chỉ có tranh, tre, nứa,
lá, hiện nay nhà trường đã có 24 phòng học kiên cố, các phòng điều hành,phòng chức năng được trang bị khá tiện nghi Cảnh quan, môi trường sưphạm nhà trường ngày một đáp ứng yêu cầu Xanh - Sạch - Đẹp
Hiện nay Chi bộ nhà trường đã phát triển lớn mạnh, với 48 đảng viên vàliên tục trong nhiều năm đạt danh hiệu Chi bộ đảng trong sạch, vững mạnh.Công đoàn nhà trường còn mỏng về lực lượng những năm về trước, hiệnnay đã thu hút đông đảo cán bộ giáo viên tham gia và đã có nhiều hoạt độngtích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ giáo viên, được cấptrên ghi nhận và tặng nhiều bằng khen, giấy khen
Trang 28Nhà trường luôn lấy việc phát triển toàn diện cho học sinh làm phươngchâm giáo dục hàng đầu, vừa chú trọng đến việc nâng cao chất lượng văn hóa,vừa chú trọng phát triển kĩ năng sống cho học sinh và đưa các em hòa nhậpvào sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.
Chính vì thế, chất lượng văn hóa ngày càng được nâng cao, tỉ lệ học sinhtốt nghiệp ra trường những năm gần đây luôn đạt trên 95%; tỉ lệ học sinh đỗđại học, cao đẳng ngày một tăng; chất lượng giáo dục mũi nhọn được giữ ổnđịnh, đứng trong tốp các trường THPT số 1 của tỉnh; các phong trào văn nghệ,thể thao của trường luôn được chú trọng và đạt thành tích cao
50 năm, nhìn lại chặng đường đầy gian nan và thử thách mà thầy và tròtrường THPT Yên Dũng số 2 đã vượt qua, thật tự hào vì những cố gắngkhông mệt mỏi của bao thế hệ thầy cô giáo đã nhiệt tình cống hiến cho sựnghiệp chung Cũng thật tự hào vì những thành tích học tập của bao thế hệhọc trò đã dệt nên truyền thống cho ngôi trường Giờ đây, trường THPT YênDũng số 2 đã trở thành một ngôi trường có bề dày truyền thống, có uy tín vớinhân dân trong huyện, trong tỉnh
1.2.2 Thực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Dũng số
2, tỉnh Bắc Giang hiện nay
1.2.2.1 Ưu điểm
Hiện nay, môn GDCD ở trường phổ thông đã được xem là một môn họcquan trọng và được sử dụng là một trong những môn thi tốt nghiệp của HSTHPT Nó không còn làm nhiệm vụ “ tuyên truyền” hoặc “phổ biến” nữa màmột môn khoa học thực sự Ngoài việc cung cấp các kiến thức khoa học vềkinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức,… môn GDCD còn giúp hình thành vàphát triển những phẩm chất và năng lực cho HS
Ở trường THPT Yên Dũng số 2, môn GDCD được quan tâm và chútrọng trong dạy học Ngoài cơ sở vật chất đáp ứng được cơ bản đầy đủ, thuậnlợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phục vụ cho hoạt
Trang 29động học tập của cả GV lẫn HS Đội ngũ GV dạy môn GDCD không ngừngnâng cao trình độ vươn lên tự khẳng định chất lượng, làm tốt công tác giảngdạy, rèn luyện đạo đức, lối sống cho HS, góp phần đảm bảo chất lượng giáodục toàn diện của nhà trường Với sự cố gắng của bản thân cộng với sự quantâm, động viên, GV môn GDCD của Trường THPT Yên Dũng số 2 ổn định
về số lượng, đảm bảo về chất lượng Những yếu tố này là điều kiện để nângcao chất lượng giảng dạy, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng caohiệu quả dạy học môn GDCD Trong quá trình dạy học môn GDCD, GV dạymôn GDCD ở trường THPT Yên Dũng số 2 đã tích cực vận dụng các phươngpháp giảng dạy, vận dụng phương pháp tự học trong quá trình giảng dạy.Giúp HS vận dụng và hiểu bài thông qua các bài tập luyện tập trên lớp và làmbài tập về nhà Cùng với các hoạt động ngoại khóa, tiết học tự chọn tìm hiểunội dung kiến thức môn GDCD về các lĩnh vực đời sống GV dạy mônGDCD đang ngày càng khẳng định vai trò của môn học, góp phần quan trongtrong việc nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy của HS lẫn GV
Ở trường THPT Yên Dũng số 2, đa số HS đều ngoan, chăm chỉ có tinhthần học tập cao, phần lớn các em có tinh thần tự giác học tập, chịu khó vươnlên, có tinh thần ham học hỏi Được học dưới mái trường có bề dày về thànhtích, có nhiều HS vượt khó học giỏi, các em xác định được mục tiêu vàphương pháp học tập của mình Sự nỗ lực cố gắng của các em vừa để khẳngđịnh năng lực của bản thân vừa góp phần làm nâng cao thương hiệu của nhàtrường Ngoài giờ học trên lớp các em dành rất nhiều thời gian cho tự học, tựnghiên cứu Đây chính là nền tảng để GV giảng dạy các bộ môn phát triểnthêm năng tự học cho các em bằng nhiều phương pháp khác nhau Đặc biệtmôn GDCD là môn học gắn liền với đời sống thực tế của các em, nên nhiều
HS quan tâm nhưng do thời gian học môn chuyên, hầu như các em không cònthời gian để tìm hiểu, để nghiên cứu Nếu GV có phương pháp phù hợp sẽphát triển được năng lực tự học của HS ở môn học này
Trang 30Như vậy, có thể khẳng định Trường THPT Yên Dũng số 2 là một trongnhưng nơi có điều kiện tốt để đổi mới và vận dụng các phương pháp dạy họcmới vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.
1.2.2.2 Han chế
Ở trường THPT tất cả các môn học, tất cả các thầy cô giáo đều có nhiệm
vụ giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh bên cạnh việc dạy học kiếnthức của từng môn Môn GDCD với vị trí đặc thù của mình là giữ vai trò chủchốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi của người công dân gópphần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiếtcủa người công dân trong xã hội công bằng dân chủ, văn minh Nhưng hiệnnay, môn GDCD chưa được phát huy hết vai trò và vị trí của mìnhtrong trường THPT HS chưa ý thức được vai trò của môn học, xem nhẹ mônGDCD biểu hiện r rệt Theo kết quả điều tra bằng phiếu điều tra ở lớp 10a1
và 10a7 trường THPT Yên Dũng số 2, tôi nhận thấy hầu như học sinh chưabao giờ dành một qũy thời gian trên 30 phút để học môn GDCD và cũng ít có
HS đọc SG hoặc soạn bài trước ở nhà Trong giờ học có rất ít HS giơ tayphát biểu ý kiến, khi GV đưa ra câu hỏi và chỉ định thì HS mới miễn cưỡngđứng lên trả lời qua loa theo SGK Sự tìm tòi, đọc thêm tài liệu liên quan đếnbài học cũng chỉ có những HS giỏi hoặc khi được giao cụ thể Các em chobiết nhiều khi thấy một số vấn đề lý thú nhưng không biết tìm tài liệu nào Ởđâu Cách khai thác như thế nào GV dạy học môn GDCD đã chú ý vận dụngphương pháp tự học vào giảng dạy nhằm nâng cao khả năng hiểu bài và vậndụng kiến thức, tuy nhiên việc tự học chỉ dừng lại ở các hoạt động về nhà màchưa chú trọng đến việc hình thành năng lực tự học cho HS thông qua cáchoạt động trên lớp kết hợp với các phương pháp dạy học khác nhằm phát triểnnăng lực tự học của HS Bên cạnh đó, nội dung chương trình môn GDCD nóichung và lớp 10 nói riêng còn quá nặng về lý thuyết, chưa thực sự đáp ứngđược yêu cầu của người học Các phương tiện hỗ trợ dạy học GDCD ở trường
Trang 31hầu như không có, phần lớn do GV phải sáng tạo.Tài liệu tham khảo cho HS
và GV giảng dạy còn hạn chế Hơn nữa đây là môn học có tính thời sự caonên việc cập nhật tài liệu gặp nhiều khó khăn cho cả người dạy lẫn ngườihọc Với cách dạy truyền thụ một chiều làm cho HS không hứng thú và pháthuy hết năng lực và hiểu biết sẵn có của mình cũng như lòng say mê học hỏi
và thực tế đã diễn ra là thái độ không coi trọng giờ học tồn tại ở một số HS.Học theo cách này các em nắm được kiến thức trong SG còn khó, thì làmsao còn hứng thú để tìm tòi, học hỏi nghiên cứu sâu hơn bài học của mình để
mở rộng kiến thức, còn đâu cơ hội để đưa ra một phương pháp học, hìnhthành một thói quen tự học, để tự đào tạo mình, tự phát triển
Nếu như HS học môn GDCD cũng giành thời gian và tâm huyết như cácmôn học chuyên thì hiệu quả dạy học môn GDCD đối với sự phát triển nănglực tự học cho HS sẽ đạt hiệu quả cao hơn Vì HS rất thông minh và nhạy b n,
có lẽ do chưa gợi được hứng thú học tập, chưa tạo được tâm thế hứng khởicho HS trong giờ học, chưa kích thích sự tích cực, năng động trong tư duy của
HS để phát huy hết khả năng sáng tạo và kinh nghiệm trong tiếp nhận tri thức.Một trong nhưng khó khăn dẫn tới thực trạng trên cũng là do HS thiếu các kỹnăng tự học, chưa có cách học, chưa có đủ tài liệu và các phương tiện hỗ trợhọc tập Đặc biệt, do GV chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển năng lực
tự học cho các em, chưa phát huy hết vai trò tích cực, sáng tạo của HS trongquá trình dạy học Chính vì vậy, năng lực tự học môn GDCD của HS TrườngTHPT Yên Dũng số 2 còn hạn chế, dẫn đến kết quả học tập chưa tương xứngvới trình độ và khả năng của các em
Quan sát một số tiết dạy GDCD của GV trường THPT Yên Dũng số 2,tôi nhận thấy tất cả các GV hầu như rất hiếm khi sử dụng PPDH tự học vàobài giảng của mình cũng như giao nhiệm vụ học tập cho HS, chỉ khi có tiếtdạy thao giảng hay dạy GV dạy giỏi thì GV mới giao nhiệm vụ hay các tìnhhuống cho HS chuẩn bị và nghiên cứu trước bài đọc hi trao đổi trực tiếp với
Trang 32GV giảng dạy bộ môn thì đều nhận được câu trả lời như đã trình bày ở trên:
Do tâm lí HS coi nhẹ việc học tập môn GDCD, thời gian tự học hầu hết dànhcho các môn học khác,…
Để nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD, GV dạy bộ môn GDCDcần đánh thức tiềm năng của các em, tạo cho các em điều kiện để phát triển,tạo cho HS sự tự tin khẳng định mình trong học tập cũng như trong cuộcsống Đây là trách nhiệm vô cùng nặng nề và lớn lao của người GV nói chung
và GV giảng dạy môn GDCD nói riêng.Việc phát triển năng lực tự học cho
HS THPT trong giờ GDCD vẫn còn là một vấn đề khó khăn và dường nhưmới mẻ đối với cả HS và GV Chuyển đổi từ việc cung cấp tri thức cho HSsang việc phát triển năng lực tự học là việc vô cùng cần thiết hiện nay
1.3 Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 hiện nay
Trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng rất cần có phương pháp.Phải giúp cho người học bằng sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, dưới sự hướngdẫn của GV chiếm lĩnh được kiến thức bằng con đường ngắn nhất
Sử dụng phương pháp tự học trong trong dạy học môn GDCD là mộttrong những phương pháp cần thiết Trên thực tế sự tự học diễn ra trong mộnGDCD chưa được thực hiện một cách thường xuyên và phổ biến Đặc biệt nộidung môn GDCD lớp 10 chủ yếu gồm 2 phần, bao gồm những tri thức về triếthọc và đạo đức, các vấn đề xã hội, rất khô khan và trải rộng khiến HS khó lắmbắt kiến thức Vì vậy để giúp HS đạt được những yêu cầu về kiến thức, kĩnăng, thái độ theo mục tiêu của nội dung bài học thì vấn đề đặt ra cho chúng
ta là phải kết hợp phương pháp tự học với các phương pháp, kĩ thuật dạy họckhác để tạo ra tính tích cực, chủ động của HS, lôi cuốn các em vào nội dungbài học Việc sử dung phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10
sẽ giúp HS nắm bắt và khắc sâu được kiến thức thông qua sự chuẩn bị của các
em và sự tổng hợp, giám sát, hướng dẫn của GV trên lớp Thông qua đó HS
Trang 33có thể biết được những kiến thức đúng, sai trong quá trình tìm kiếm, chọn lọc
và rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình tìm kiếm vàlĩnh hội tri thức
Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào
tạo với mục tiêu GD theo tinh thần đổi mới là phát triển toàn diện về năng lực và phẩm chất người học Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát
triển cả phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề
Phương pháp tự học là một phương pháp dạy học tích cực có nhiều ưu điểm,
có thể đáp ứng những yêu cầu về việc phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của HS, giúp trang bị cho các em những kiến thức, kĩ năng giải quyếtnhững vấn đề trong cuộc sống Việc hình thành ở mỗi HS năng lực tự học làviệc làm hết sức cần thiết trong xã hội hiện đại
Trang 34CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN QUY TRÌNH
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC GIANG 2.1 Quy trình sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Yên Dũng số 2
2.1.1 Quy trình chuẩn bị bài giảng
- Xác định mục tiêu dạy học: Trong quá trình dạy học việc xác định mụctiêu bài giảng là nhiệm vụ rất quan trong, nó giúp cho GV xác định đượcphương pháp, phương tiện để có thể xác định các hoạt động phù hợp cho hoạtđộng dạy học Đầu tiên GV cần nghiên cứu nội dung dạy học, việc này sẽgiúp cho GV xác định đúng nội dung cơ bản, những kiến thức trọng tâm củabài học, từ đó định hướng quá trình tự học của HS Tiếp theo, GV cần nghiêncứu đối tượng của quá trình dạy học, vì khi hiểu r đối tượng của mình địnhdạy học giữa lớp nhận thức nhanh, đầu vào cao với lớp nhận thức chậm hơn
sẽ giúp cho GV xác định được khả năng, trình độ, năng lực nhận thức của các
em từ đó giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực của từng cá nhân từ đó tạo điềukiện tối đa giúp các em phát triển năng lực tự học
- Xác định các năng lực hướng tới hình thành và phát triển ở HS: Đây lànội dung quan trọng trong việc xác lập giáo án, căn cứ vào nội dung bài học
GV sẽ xác định những năng lực mà HS cần hình thành được sau tiết học Việcnày giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làmthông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giảiquyết các tình huống đặt ra Việc xác định năng lực chính là cái đích, đầu racủa tiết học Thông qua đó HS có thể hình thành được những năng lực như:năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề,…
- Xác định nội dung dạy học: GV cần xác định rõ hệ thống những kiếnthức trọng tâm, kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến bài học để HS có thể nắm vữngkiến thức bài học, tránh lan man đi sâu vào những kiến thức ngoài lề, không
Trang 35liên quan gây tốn thời gian và không đem lại hiệu quả trong dạy học Đốivới phương pháp tự học, GV cần xác định rõ những đơn vị kiến thức mà HSphải chuẩn bị, hoàn thành trước khi đến lớp, đó là những đơn vị kiến thức dễhiểu, phù hợp với trình độ và khả năng HS có thể độc lập hoàn thành vàchiếm lĩnh, tránh phân công những nhiệm vụ có liên quan đến đơn vị kiếnthức trừu tượng, khó hiểu dễ khiến HS hoang mang, không đáp ứng đượcyêu cầu bài học.
- Xác định phương pháp, kĩ thuật và phương tiện dạy học: Trong tiếntrình dạy học, phải căn cứ vào nội dung của từng phần, từng bài, từng đơn vịkiến thức để có thể lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học cho phù hợp vớinội dung của bài và các năng lực cần hướng đến GV cần chuẩn bị nhữngphương tiện, thiết bị hỗ trợ cho quá trình dạy học và phân công HS chuẩn bịnhững yêu cầu, nhiệm vụ phục vụ cho tiết học để cho hoạt động dạy và họcmang lại chất lượng và hiệu quả cao nhất
- Thiết kế bài giảng có sử dụng phương pháp tự học: Để thiết kế bài họctheo phương pháp tự học cho HS, tác giả tiến hành quy trình sau:
Trước tiết học mới diễn ra một tuần, GV sẽ giao nhiệm vụ tự học vềcho từng nhóm, cá nhân trong lớp, GV giới thiệu những tài liệu liên quan,SGK, những cách tìm tài liệu để HS tự học và tìm tòi theo cách của mình Cụthể GV phải thiết kế các câu hỏi, bài tập có liên quan đến nội dung tiết họcsắp tới ; Cung cấp những tài liệu, hay hướng dẫn HS tự học như thế nào; Cuốicùng GV phải nêu rõ yêu cầu của mình với HS, HS tiến hành tự học theonhóm hay cá nhân, trình bày kết quả tự học theo phương pháp nào,… và thờihạn hoàn thành và nộp nhiệm vụ
GV tiến hành theo các bước đã lên kịch bản sẵn trong giáo án GV kiểmtra bài cũ, giới thiệu bài mới và khám phá nội dung kiến thức của bài Đối với
HS việc thực hiện các nhiệm vụ học tập được tiến hành theo phương pháp tựhọc trong từng nội dung kiến thức theo hình thức thảo luận nhanh để giúp HS
Trang 36có thời gian ngắn chuẩn bị lại nội dung đã giao ở nhà Cụ thể: GV chia lớpthành các nhóm nhỏ có nhóm trưởng để điểu khiển thảo luận và đôn đốcthành viên làm việc Tiếp theo, nhóm được phân công phụ trách phần chuẩn
bị của GV sẽ lên trình bày kết quả tự học của cả nhóm và các nhóm khác sẽquan sát, nhận xét và phản biệt với ý kiến các nhân xoay quanh vấn đề củanhóm chuẩn bị GV là người quan sát, tổng kết và đánh giá kết quả tự học,làm việc nhóm của nhóm chuẩn bị GV đưa ra nhận xét và giải đáp nhữngthắc măc, phân xử những ý kiến trái chiều xoay quanh vấn đề Qua đó GV cóthể biết được HS lĩnh hội được bao nhiêu kiến thức, có hiểu vấn đề không từ
đó tổng kết những vấn đề trọng tâm của bài
- Hoạt động luyện tập, mở rộng: GV nên dành thời gian để cung cố bàihọc, đưa ra một số bài tập ngắn kiểm tra mức độ hiểu bài của HS và khái quátlại những kiến thức trọng tâm của bài học
- Dặn dò, nhắc nhở: GV giới thiệu bài mới của tiết sau, giao nhiệm vụhọc tập và hướng dẫn HS đọc SGK và tài liệu liên quan để phục vụ cho tiếthọc tiếp theo
2.1.2 Quy trình thực hiện bài giảng
Quy trình thực hiện bài giảng có sử dụng phương pháp tự học lớp 10 baogồm các hoạt động trên lớp cơ bản của GV và HS:
- GV ổn định tổ chức lớp, kiểm tra bài cũ
- GV dẫn giảng nội dung kiến thức mới của bài, dẫn dắt vào tìm hiểu nộidung bài học
*Bước tiến hành thảo luận:
- Mở đầu, GV chia nhóm và đưa ra các chủ đề thảo luận như hôm trước
đã giao, xác định yêu cầu, nhiệm vụ và quy trình, thủ tuc thảo luận, thời gianthảo luận Trong quá trình thảo luận GV phải yêu cầu có sự tham gia của tất
cả HS, GV làm nhiệm vụ quan sát các nhóm thảo luận, giải đáp những thắcmắc, không hiểu của HS Sau thời gian chuẩn bị, nhóm được giao nhiệm vụ sẽ