Cách sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập về đại cương kim loại trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT .... Trong dạy học Hóa học, bài tập có tác dụng lớn về mặt trí dục và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Sư phạm hóa học với đề tài "Bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần
Kim loại, Hóa học 12"
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội; Các thầy giáo, cô giáo được mời giảng dạy tại trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Trần Trung Ninh người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh tại các trường thực nghiệm, cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Lê Khắc Huynh
Trang 4Đối chứng Điện phân dung dịch Điện phân nóng chảy
GV HDG
Giáo viên Hướng dẫn giải
HSGQG KTĐG
Học sinh giỏi quốc gia Kiểm tra đánh giá
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Theo hướng nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng hệ thống lí thuyết và bài tập Hóa học trong bồi dưỡng học sinh giỏi 5
1.1.2 Theo hướng nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức trong bồi dưỡng học sinh giỏi 5
1.2 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học ở trường THPT 6
1.2.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi 6
1.2.2 Hoạt động nhận thức và phát triển tư duy của HS trong quá trình dạy học 7
1.2.3 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Hóa học 9
1.2.4 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học 11
1.2.5 Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học 12
1.3 Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT 12
1.3.1 Khái niệm về bài tập 12
1.3.2 Phân loại bài tập Hóa học 13
1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT 14
1.3.4 Vị trí của bài tập trong quá trình dạy học 15
1.4 Một số vấn đề lí luận về sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học trường THPT15 1.4.1 Đặc trưng dạy học môn Hóa học 15
1.4.2 Sử dụng bài tập Hóa học để tích cực hóa người học 16
1.4.3 Sử dụng bài tập Hóa học nhằm phát hiện và BDHSG HH 16
1.5 Nội dung kiến thức phần kim loại trong các kì thi học sinh giỏi, thi đại học, cao đẳng 17
Trang 61.6 Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học ở trường phổ thông 17
1.6.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa 17
1.6.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường phổ thông tỉnh Quảng Ninh 18
1.6.3 Thực trạng dạy học hóa học và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học lớp 12 ở các trường phổ thông tỉnh Quảng Ninh 19
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI LÍ THUYẾT VÀ BÀI TẬP PHẦN ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI DÙNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 22
2.1 Phân tích cấu trúc chương trình sách giáo khoa Hóa học 12 phần kim loại 22
2.2 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập 22
2.2.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa 22
2.2.2 Theo năng lực nhận thức của học sinh 22
2.2.3 Theo dạng bài tập 23
2.3 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập Hóa học 23
2.3.1 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 23
2.3.2 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, đa dạng 23
2.3.3 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính vừa sức 23
2.3.4 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết cho học sinh 23
2.3.5 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học cho HS 24
2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 24
2.4.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập 24
2.4.2 Xác định nội dung của hệ thống bài tập 24
2.4.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập 24
2.4.4 Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập 24
2.4.5 Tiến hành xây dựng hệ thống bài tập 25
2.4.6 Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp 25
Trang 72.4.7 Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung 26
2.5 Hệ thống hóa các dạng câu hỏi lí thuyết về đại cương kim loại 26
2.6 Hệ thống hóa các dạng bài tập về đại cương kim loại 29
2.6.1 Bài tập cấu tạo tinh thể kim loại 29
2.6.2 Bài tập xác định tên kim loại 31
2.6.3 Bài tập kim loại tác dụng với phi kim 32
2.6.4 Bài tập kim loại và hợp chất của kim loại tác dụng với dung dịch axit 34
2.6.5 Bài tập kim loại, oxit, hiđroxit tác dụng với nước và dung dịch kiềm 36
2.6.6 Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch muối, dãy điện hóa 38
2.6.7 Bài tập phản ứng nhiệt luyện 40
2.6.8 Bài tập điện phân 41
2.6.9 Bài tập về pin điện hóa ∆G, ∆H, ∆E, Ka, Kp, Kc, độ tan, tích số tan 42
2.6.10 Các câu hỏi lí thuyết và bài tập về thực tiễn về kim loại và hợp chất 44
2.6.11 Hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp về đại cương kim loại 47
2.7 Cách sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập về đại cương kim loại trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT 67
2.7.1 Sử dụng bài tập nhằm phát triển năng lực nhận thức, rèn kĩ năng hóa học 67
2.7.2 Sử dụng hệ thống bài tập để tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp 80
2.7.3 Sử dụng bài tập để kiểm tra đánh giá 80
2.7.4 Sử dụng bài tập để xây dựng bài tập mới 80
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 86
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 86
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 86
3.3.1 Phạm vi thực nghiệm sư phạm 86
3.3.2 Đối tượng và cách thức tiến hành thực nghiệm sư phạm 86
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.4.1 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.4.2 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 91
Trang 8Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về những khó khăn của giáo viên trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi .19 Bảng 1.2 Kết quả điều tra về những khó khăn của học sinh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi … 20 Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra tương ứng của các bài kiểm tra 88 Bảng 3.2 Bảng điểm kiểm tra trung bình và độ lệch chuẩn tương ứng của các bài kiểm tra 88 Bảng 3.3 Phần trăm học sinh đạt điểm khá giỏi, trung bình, yếu kém 89 Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra số 1(sau tác động) 89 Bảng 3.5 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra số 2 (sau tác động) 90
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn lũy tích bài kiểm tra số 1(sau tác động) 90 Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn lũy tích bài kiểm tra số 2(sau tác động) 91
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài luôn được nhà nước ta rất coi trọng Bia tiến sĩ ở Quốc Tử Giám đã khắc những dòng bất hủ "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn” Đó là nguyên lí sống còn để dựng nước và giữ nước của ông cha ta
Ngày nay chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của sự văn minh hiện đại cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển Xã hội phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội “dựa vào tri thức”, dựa vào năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, trí tuệ thông minh tài năng sáng chế của con người.Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 của chính
phủ đã xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ, coi trọng phát triển năng lực người học Bởi vậy, “Nâng
cao dân trí - Đào tạo nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài” luôn là một nội dung quan
trọng trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta Việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về các môn học ở bậc học phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để góp phần đào tạo các em trở thành những nhân tài, thành nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững hơn trên con đường XHCN
Hiện nay công tác BDHSG được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công tác mũi nhọn, là tiêu chí thi đua của giáo viên trực tiếp giảng dạy nói riêng và của nhà trường nói chung Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy công tác phát hiện và bồi
Trang 12dưỡng học sinh có năng khiếu về các môn học nói chung và môn Hoá học nói riêng
ở trường THPT còn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được kết quả như mong muốn Trước hết là do kinh nghiệm của giáo viên trong việc phát hiện học sinh có năng khiếu về môn Hoá học còn thiếu, bản thân giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc xác định phẩm chất và năng lực cần có của học sinh giỏi Hoá học và các biện pháp nhằm phát triển các phẩm chất và năng lực đó
Trong dạy học Hóa học, bài tập có tác dụng lớn về mặt trí dục và đức dục: Giúp học sinh hiểu đúng, hiểu sâu hơn các khái niệm hóa học, củng cố và khắc sâu các kiến thức hóa học cơ bản, góp phần hình thành và rèn luyện các kĩ năng hóa học như kĩ năng thiết lập phương trình hóa học, kĩ năng tính toán; vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn Giúp học sinh phát triển tư duy, rèn trí thông minh và năng lực sáng tạo Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học
để giải đáp hoặc giải quyết những vấn đề được đặt ra trong học tập hoặc trong thực tiễn Bài tập Hóa học giữ một vai trò quan trọng trong dạy và học Hóa học, đặc biệt
là sử dụng hệ thống bài tập để phát triển năng lực khoa học như nhận thức, phát hiện - giải quyết vấn đề, sáng tạo, tự học cho học sinh Tuy vậy, hiện nay hệ thống bài tập dùng để BDHSG HH nói chung và đồng thời việc sử dụng hệ thống bài tập này trong quá trình BDHSG còn nhiều hạn chế nên công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của nhiều giáo viên chưa đạt được kết quả cao
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Bồi dưỡng học sinh giỏi thông
qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12”
2 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương về kim loại và đề xuất cách sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập đó BDHSG nhằm đạt thành tích cao trong các kì thi HSG cấp tỉnh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát hiện và BDHSG HH ở trường THPT
- Nghiên cứu nội dung kiến thức lí thuyết và bài tập đại cương kim loại
Trang 13- Tuyển chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập (tự luận và TNKQ) phần đại cương kim loại dùng để BDHSG trường THPT
- Đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại để BDHSG trường THPT
- Thực nghiệm sư phạm với hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại để BDHSG trường THPT
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT Đối tượng nghiên cứu là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học dựa vào
hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại, Hóa học 12
Phạm vi nghiên cứu là hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương
kim loại, Hóa học 12 để BDHSG ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng được hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại, Hóa học 12 có chất lượng tốt, đồng thời biết sử dụng nó một cách hiệu quả thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng BDHSG HH ở các trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học hóa học, các tài liệu về BDHSG, các đề thi học sinh giỏi,
- Phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra
- Thu thập tài liệu và truy cập thông tin trên internet có liên quan đến đề tài
- Đọc, nghiên cứu và xử lý các tài liệu
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực tiễn công tác BDHSG ở trường THPT
- Tập hợp và nghiên cứu nội dung sách giáo khoa lớp 12 và các đề thi học sinh giỏi, đề thi vào đại học và cao đẳng, các tài liệu tham khảo khác để tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ phần kim loại
Trang 14- Thông qua thực nghiệm sư phạm đánh giá chất lượng hệ thống bài tập từ đó đúc kết kinh nghiệm BDHSG ở trường THPT
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
7 Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Nội dung: Bài tập phần kim loại dùng BDHSG HH
- Đối tượng: HS dự thi HSG cấp tỉnh
- Địa bàn nghiên cứu và thực nghiệm: Trường Văn Lang, trường THPT Hòn Gai thuộc thành phố Hạ Long và trường THPT Đầm Hà thuộc huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 năm 2013 tới tháng 10 năm 2014
8 Đóng góp của đề tài
- Tuyển chọn và xây dựng được hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại có chất lượng giúp cho giáo viên có thêm nguồn tài liệu dùng trong việc BDHSG trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất được biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại trong việc BDHSG
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương: Chương 1: Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập BDHSG
Chương 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập phần đại cương kim loại dùng trong BDHSG HH ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 151.1.1 Theo hướng nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng hệ thống lí thuyết và bài tập Hóa học trong bồi dưỡng học sinh giỏi
- Phan Thị Hạnh Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập nâng cao hóa học vô cơ
phần kim loại dùng cho học sinh khá giỏi ở bậc THPT Luận văn thạc sĩ 2005;
- Nguyễn Thị Lan Hương Hệ thống lý thuyết và xây dựng hệ thống bài tập phần
kim loại dùng cho BDHSG và chuyên hoá học THPT Luận văn thạc sĩ 2007;
- Nguyễn Cửu Phúc Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại
lớp 12 THPT chương trình nâng cao Luận văn thạc sĩ 2010;
- Trần Thị Thùy Dung Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập BDHSG phần kim
loại lớp 12 THPT chuyên Luận văn thạc sĩ 2011;
- Nguyễn Văn Mai Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học
phần kim loại cho BDHSG THPT Luận văn thạc sĩ 2012;
- Lại Thị Quỳnh Diệp Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần
kim loại để BDHSG hóa THPT lớp 12 – Nâng cao Luận văn thạc sĩ 2013
1.1.2 Theo hướng nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức trong bồi dưỡng học sinh giỏi
- Vũ Anh Tuấn Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong
việc BDHSG hóa học ở THPT” Luận án tiến sĩ 2006;
- Đỗ Văn Minh Xây dựng hệ thống bài tập hoá học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy
trong BDHSG ở THPT Luận văn thạc sĩ 2007;
- Đào Thị Hồng Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học vô cơ nhằm phát
triển năng lực học sinh trong BDHSG ở trường THPT Luận văn thạc sĩ 2012;
Trang 16Tuy đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông nghiên cứu về vấn đề lí thuyết và bài tập kim loại lớp 12 và chủ yếu dành cho học sinh chuyên và nội dung nghiên cứu còn quá rộng và đa số các đề tài đều xây dựng trên cơ sở đặc thù của từng địa phương hoặc còn chung chung nên chưa phù hợp với đối tượng thi HSG ở tỉnh Quảng Ninh và đặc biệt là đối tượng
học sinh không chuyên, học sinh ngoài công lập vì vậy tôi lựa chọn đề tài “ Bồi
dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12” dành cho HS
THPT tỉnh Quảng Ninh nói chung và dùng để BDHSG tại trường THPT Văn Lang nói riêng
1.2 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường THPT
1.2.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi [9], [37]
Tài năng là vốn quý của nước nhà Tài năng sẽ có và đến nhờ năng khiếu song có năng khiếu cũng không trở thành tài năng được nếu không có quá trình giáo dục, bồi dưỡng một cách khoa học
Đồng chí Lê Khả Phiêu nguyên Bí thư trung ương Đảng đã từng nói: "Về nhân tài một mặt phải tìm được những cách thích hợp để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời cũng cần lưu ý là nhân tài sẽ có điều kiện xuất hiện trên một nền dân trí rộng
và trên cơ sở việc tổ chức đào tạo nhân lực tốt và nhân tài là người có trí tuệ sắc bén và những người có bàn tay vàng có những kỹ năng đặc biệt" [9]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định " Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong các nhân tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
GV và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt" [9]
Nhiệm vụ quan trọng của ngành Giáo dục là phải phát hiện những học sinh có
tư chất thông minh, có năng khiếu để bồi dưỡng thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế
Quá trình phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi các môn học ở bậc THPT là một quá trình mang tính khoa học nghiêm túc có tính chiến lược lâu dài trong suốt quá
Trang 17trình dạy học Đặc biệt đối với môn Hóa học là môn học mới chỉ được nghiên cứu
từ lớp 8 nên chỉ có quá trình này mới cung cấp được tương đối đầy đủ các kiến thức cần thiết cho học sinh và phát hiện chính xác khả năng học tập của các em, từ đó mới có thể tiếp tục đào tạo trở thành nhân tài cho đất nước.[37]
1.2.2 Hoạt động nhận thức và tư duy của học HS trong quá trình dạy học
1.2.2.1 Khái niệm nhận thức và tư duy [4], [10]
- Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng
và với các hiện tượng tâm lý khác Hoạt động nhận thức bao hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng)
- Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Vậy tư duy là một quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh
Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm:
+ Tính định hướng, nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy
+ Bề rộng: Thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác + Độ sâu: Thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của
sự vật, hiện tượng
+ Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức
và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo
+ Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều
+ Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề
+ Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra
mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại
Trang 18Như vậy, quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn Hoá học ở trường phổ thông
1.2.2.2 Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo [22]
Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau :
- Tính đổi mới: Biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới
- Tính khuếch tán: Biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau
- Tính độc đáo: Thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến
1.2.2.3 Những hình thức cơ bản của tư duy [4], [21], [22]
a Khái niệm: Khái niệm phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự
vật – hiện tượng, quá trình hiện thực Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm được hình thành từ trong quá trình lâu dài của con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới
b Phán đoán: Phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật – hiện
tượng và quá trình hiện thực Trong phán đoán bao giờ cũng thể hiện một ý nghĩa nhằm khẳng định hay phủ định hiện thực Phán đoán có tính đúng hoặc sai tuỳ thuộc vào điều khẳng định hay phủ định có thực hay không ở đối tượng được phán đoán
c Suy lý: Suy lý là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để
tạo thành một phán đoán mới
Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề)
và các phán đoán có sau (gọi là kết luận) Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy
- Suy lý diễn dịch: Là đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt
- Suy lý quy nạp: Là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy
lý này gắn bó mật thiết với nhau)
Trang 19- Loại suy: Là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó Đối với phát triển năng lực nhận thức của học sinh, khâu trung tâm là phát triển năng lực tư duy
1.2.3 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học
1.2.3.1 Định nghĩa về năng lực [38]
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, cũng như sự sẵn sàng hành động
1.2.3.2 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học [24], [38]
- Theo luật Hoa Kỳ định nghĩa: “HSG đó là những HS chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện ở động cơ học tập mãnh liệt và đạt kết quả xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là đối tượng cần có một
sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ giáo dục tương ứng với năng lực của con người đó”
- Theo PGS.TS Bùi Long Biên (Trường ĐH Bách Khoa): "HSG hóa học phải
là người nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơ bản đã được học, vận dụng tối ưu các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới trong các kì thi đưa ra"
- Theo PGS.TS Trần Thành Huế (Trường ĐHSP Hà Nội): Nếu dựa vào kết quả bài thi để đánh giá thì bài thi đó phải hội tụ những yêu cầu sau đây:
+ Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống.HS có năng lực tiếp thu kiến thức vượt trội, tức là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng, có ý thức bổ sung và hoàn thiện kiến thức
+ Có năng lực ghi nhớ, tư duy tốt và sáng tạo, khả năng suy luận logic, biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết so sánh, tổng hợp, khái quát hóa các sự vật hiện tượng
+ Có năng lực trình bày và diễn đạt chính xác, logic
Trang 20+ Có năng lực kiểm chứng, biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện, biết khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một
số lần kiểm nghiệm
+ Có năng lực thực hành thí nghiệm tốt, khả năng quan sát, mô tả, nhận xét, giải thích các hiện tượng; vận dụng lý thuyết để điều khiển thực nghiệm và từ thực nghiệm kiểm tra các vấn đề lý thuyết
+ Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có khả năng nghiên cứu khoa học + Có khả năng vận dụng để giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn Như vậy là một HSG hóa học thì người HS cần phải hội tụ các năng lực: tiếp thu kiến thức, suy luận logic, sáng tạo, kiểm chứng, thực hành hóa học
1.2.3.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực [3], [30], [38]
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái
gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để
có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng
bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học
Đổi mới PPDH và KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh được
tiến hành ở ba khâu quan trọng Một là: Đổi mới các yếu tố cơ bản của chương
trình giáo dục: Chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương
Trang 21trình định hướng năng lực và định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực
của chương trình giáo dục cấp THPT Hai là: Đổi mới PHDH bao gồm: việc cải
tiến các PPDH truyền thống thay thế bằng các PPDH nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh; kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học; vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, theo tình huống và định hướng hành động đặc biệt là việc tăng
cường sử dụng phương tiện dạy học, công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ,…Ba là: Đổi
mới KTĐG kết quả học tập của học sinh: chuyển từ đánh giá tổng kết sang đánh giá
quá trình; từ đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo; xem đánh giá như là một PPDH (tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học); tăng cường sử dụng CNTT trong kiểm tra,
đánh giá
1.2.4 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng HSG hóa học
Một giáo viên khi dạy BDHSG HH đòi hỏi phải có khá nhiều các kỹ năng và năng lực quan trọng như:
- Năng lực trí tuệ, bởi muốn có trò giỏi thì người thầy trước tiên phải giỏi
- Năng lực trình độ chuyên môn, khi người thầy có chuyên môn sâu và vững
có thể truyền đạt cho trò một cách chính xác và cặn kẽ các vấn đề cần quan tâm
- Lập kế hoạch BDHSG phù hợp với năng lực của HS
- Biết giám sát, theo dõi, tiếp nhận thông tin phản hồi từ HS và đồng nghiệp
- Có kĩ năng giao tiếp, kĩ năng truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu, chính xác
- Có kĩ năng lựa chọn và sử dụng PPDH phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học sinh
- Có kĩ năng tiến hành thí nghiệm và sử dụng các thiết bị hỗ trợ dạy học như tranh vẽ, máy tính, máy chiếu, phần mềm hóa học…
- Có kĩ năng xây dựng bài tập và ra đề kiểm tra
- Có kĩ năng nghiên cứu khoa học
- Có phẩm chất đạo đức tốt, yêu thương, quý trọng học sinh, biết hi sinh cho mục tiêu giáo dục chung
Trang 221.2.5 Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
1.2.5.1 Một số biện pháp phát hiện học sinh giỏi
- Làm rõ mức độ đầy đủ chính xác của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình SGK
- Làm rõ trình độ nhận thức và mức độ tư duy của từng học sinh bằng nhiều biện pháp và nhiều tình huống về lý thuyết và thực nghiệm để đo mức độ tư duy của học sinh
1.2.5.2 Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi
Đối với giáo viên, khi bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về môn Hóa học ta cần thực hiện các biện pháp cơ bản sau:
- Hình thành cho học sinh có kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc Đó là lý thuyết chủ đạo, là các định luật và các quy luật cơ bản của bộ môn
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng các lý thuyết chủ đạo, các định luật, các quy luật của môn học một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở bản chất hóa học của sự vật hiện tượng
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng dựa vào bản chất hóa học, kết hợp với kiến thức của môn học khác có được hướng giải quyết vấn đề một cách logic gọn gàng
- Rèn luyện cho học sinh khả năng phán đoán (quy nạp, diễn dịch, ) một cách độc lập sáng tạo giúp học sinh có cách giải bài tập nhanh hơn, ngắn gọn hơn
- Rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, giúp các em biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại những những dự đoán và biết dùng lý thuyết
- Hướng dẫn cho học sinh biết cách tự nghiên cứu tài liệu một cách hiệu quả
và xem đó là biện pháp không thể thiếu được trong công tác BDHSG
Như vậy đối với những giáo viên, khi đào tạo những học sinh có năng khiếu
về môn hóa học ta cần hướng dẫn học sinh học tập để các em được trang bị những kiến thức, những kỹ năng, giúp các em tự học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình
1.3 Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT
1.3.1 Khái niệm về bài tập [25]
Theo từ điển Tiếng Việt “Bài tập là bài giao cho HS làm để vận dụng kiến thức đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học”
Trang 23Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS cần nắm được hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩ năng nào đó bằng cách trả lời vấn đáp, viết hoặc có kèm theo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
1.3.2 Phân loại bài tập hóa học
1.3.2.1 Dựa vào tính chất của bài tập hóa học [22], [23]
- Bài tập định tính: Thường dưới dạng câu hỏi và không tính toán nhằm làm chính xác khái niệm; củng cố, hệ thống hóa kiến thức; vận dụng kiến thức vào thực tiễn Các dạng hay gặp: viết phương trình hóa học, hoàn thành chuỗi phản ứng, nhận biết, điều chế, tách chất, giải thích hiện tượng, bài tập về tính chất hóa học các chất,
- Bài tập định lượng: Là những bài tập gắn liền với tính toán, thao tác trên các
số liệu để tìm được số liệu khác, bao hàm 2 tính chất toán học (dùng phép tính đại
số, quy tắc tam suất, giải hệ phương trình,…) và hóa học (dùng ngôn ngữ hóa học, kiến thức hóa học và các phương trình hóa học xảy ra…)
- Bài tập thực nghiệm: Bài tập có liên quan đến kỹ năng thực hành như lắp dụng
cụ thí nghiệm, quan sát thí nghiệm để mô tả và giải thích hiện tượng thí nghiệm, làm thí nghiệm để thể hiện tính chất của một chất hoặc để phân biệt các chất,
- Bài tập tổng hợp: Là bài tập có tính chất bao gồm các dạng trên
1.3.2.2 Dựa vào hình thức của bài tập hóa học [22], [23]
Dựa vào hình thức của BTHH, có thể chia thành 2 loại: Bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận
- Bài tập trắc nghiệm: Là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời và yêu cầu học HS lựa chọn đáp án đúng hay viết thêm một từ hay một câu để trả lời Bài tập trắc nghiệm khách quan gồm các dạng: Điền khuyết, ghép đôi, đúng – sai, nhiều lựa chọn)
- Bài tập tự luận: Là loại bài tập đòi hỏi HS phải tự viết ra câu trả lời, thường gồm nhiều dòng ứng với mỗi câu hỏi hay mỗi phần câu hỏi
1.3.2.3 Dựa vào kiểu hay dạng bài tập [23]
Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:
- Bài tập xác định công thức phân tử hợp chất;
- Bài tập xác định thành phần % của hỗn hợp;
Trang 24- Bài tập nhận biết các chất;
- Bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp;
- Bài tập điều chế các chất,
1.3.2.4 Dựa vào nội dung kiến thức [22]
Căn cứ theo nội dung kiến thức, chẳng hạn theo nội dung kiến thức của chương trong sách giáo khoa lớp 12, ta có thể chia bài tập gồm các loại sau:
- Bài tập về đại cương kim loại;
- Bài tập về kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ;
- Bài tập về nhôm;
Có nhiều cách phân loại bài tập, mỗi cách phân loại có những ưu và nhược điểm riêng Tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể giáo viên có thể sử dụng hệ thống phân loại này hoặc hệ thống phân loại khác hay kết hợp các cách phân loại nhằm phát huy được các ưu điểm của mỗi loại
1.3.2.5 Bài tập hóa học định hướng phát triển năng lực [38]
Theo hướng dạy học tích cực, dạy học định hướng phát triển năng lực của HS thì trong các kì thi HSG ngoài các dạng bài tập truyền thống theo định hướng về nội dung thì còn có các dạng bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực của
HS và qua mỗi bài tập đó có thể đánh giá được khả năng vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống
1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT [22]
Việc sử dụng bài tập hóa học trong giảng dạy hóa học có nhiều ý nghĩa quan trọng trong nhiều mặt của công tác Giáo dục và Đào tạo nói chung và mục tiêu của môn Hóa học nói riêng, cụ thể là
1.3.3.1 Ý nghĩa trí dục
+ Làm chính xác hoá các khái niệm hóa học; củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào việc giải bài tập, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc
+ Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất
Trang 25+ Rèn luyện các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình hóa học, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học,…Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp HS
+ Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy
+ Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường
+ Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hoá lao động (lao động
có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc), tinh thần làm việc tập thể, làm việc nhóm
Như vậy ta có thể thấy rằng bài tập hóa học vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả
1.3.4 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học [22], [23]
GV có thể sử dụng bài tập ở bất cứ thời điểm nào, khi thấy nó phù hợp với mục đích và nhiệm vụ dạy học Ngược lại, GV hoàn toàn có thể không sử dụng bài tập khi điều đó không cần thiết cho công việc giảng dạy của mình
Bài tập hóa học không phải là nội dụng nhưng nó chứa đựng nội dung dạy học Bài tập phải phù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của HS
và phải phục vụ được ý đồ của GV Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trí của nó để bài tập trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống kiến thức cần truyền thụ
1.4 Một số vấn đề lí luận về sử dụng BTHH trong dạy học ở trường THPT
1.4.1 Đặc trưng dạy học môn Hóa học [22]
Đối với các môn học tự nhiên nói chung, môn Hóa học nói riêng thì việc sử dụng BTHH trong giảng dạy hóa học cũng là nét đặc trưng trong dạy học BTHH là
Trang 26phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Kiến thức học sinh tiếp thu được chỉ
có ích khi sử dụng và vận dụng nó Phương pháp sử dụng bài tập trong dạy học hóa học một trong các phương pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
- BTHH thể hiện được những đặc trưng kiến thức của bộ môn
- Các hình thức dạy học đều có thể sử dụng BTHH làm phương tiện
- BTHH thể hiện được sự đa dạng về các hình thức học tập
- Thông qua BTHH giúp người dạy và người học diễn đạt được tất cả những phương pháp tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,…
- Bài tập vừa là mục đích vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, bài tập cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành kiến thức
- BTHH giúp học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm, định luật đã học, rèn luyện ngôn ngữ hóa học cho học sinh, là phương tiện để củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức tốt nhất, qua việc giải BTHH giúp học sinh rèn luyện những đức tính tốt của bản thân như tính kiên nhẫn, chính xác, khoa học, linh hoạt, sáng tạo,…
1.4.2 Sử dụng bài tập hóa học để tích cực hóa người học [22], [23]
- Khi sử dụng BTHH, người học phải vận dụng tất cả các kĩ năng để giải quyết qua đó góp phần nâng cao năng lực nhận thức, năng lực tư duy
- Với hình thức sử dụng khi học tập ở nhà giúp học sinh nâng cao tính chủ động, khả năng tự học,…đó là cơ sở để tích cực hóa người học
- Bảo đảm nguyên tắc “Học đi đôi với hành” qua đó người học có thói quen vận dụng kiến thức vào đời sống từ đó có thái độ yêu thích môn học đó cũng là một nguyên nhân làm người học tích cực
- Thông thường BTHH được sử dụng dưới dạng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, qua đó rèn cho học sinh tính tự giác
- Sử dụng BTHH thường không bị lệ thuộc vào một khoảng thời gian hoặc một không gian học tập nào đó nên giúp cho học sinh linh động hơn trong học tập
1.4.3 Sử dụng BTHH nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
BTHH có thể sử dụng ở bất cứ công đoạn nào trong dạy học hóa học (hoạt động vào bài, củng cố, kiểm tra, ) Với dạy học hóa học hiện nay có rất nhiều hướng sử
Trang 27dụng bài tập Hướng sử dụng bài tập nào, mức độ đến đâu phụ thuộc vào mục tiêu của giáo viên giảng dạy và học sinh
- Hệ thống BTHH với sự đa dạng của các dạng bài tập sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng một cách đầy đủ
- Dưới cùng một nội dung kiến thức, BTHH có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, lời giải của bài tập theo nhiều hướng, với những học sinh có năng lực tư duy thì BTHH là tài liệu quan trọng để đo được năng lực tư duy, với một bài tập nhưng có nhiều cách giải khác nhau sẽ đánh giá được năng lực tư duy của HS, từ đó phát hiện và bồi dưỡng được HS trở thành HSG
1.5 Nội dung kiến thức phần Kim loại trong các kì thi học sinh giỏi, thi đại học, cao đẳng
Đề thi học sinh giỏi (tỉnh Quảng Ninh): Những bài toán về kim loại, hợp chất của kim loại thường chiếm khoảng 8 – 10 điểm/20điểm
Như vậy ta có thể thấy được nội dung phần kim loại trong các đề thi học sinh giỏi cũng như đề thi đại học chiếm khối lượng kiến thức tương đối lớn
1.6 Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông
1.6.1 Nội dung chương trình sách giáo khoa
Xu hướng dạy học hiện đại là tăng cường vai trò chủ động của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức mới, nhằm phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh, giúp cho học sinh có một phương pháp tư duy logic, sáng tạo Nội dung của chương trình và sách giáo khoa lớp 12 nói chung và các tài liệu hóa học khác hiện nay đã góp phần thực hiện mục tiêu đó
Hiện nay trên thị trường tài liệu dùng để BDHSG HH sách khá nhiều với số lượng bài tập lớn, đa dạng về loại hình bài tập và phong phú về nội dung góp phần tích cực vào việc phát hiện và BDHSG
Thực tế cho thấy hệ thống tài liệu dùng để giảng dạy hóa học ở trường THPT nói chung và tài liệu dùng để BDHSG nói riêng, hệ thống bài tập tuy có đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung nhưng số lượng bài tập có chất lượng dùng để phát hiện
và BDHSG vẫn còn tiếp tục cần bổ sung và chọn lọc để đáp ứng với yêu cầu của đề thi học sinh giỏi, thi đại học và cao đẳng hiện nay
Trang 281.6.2 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát hiện và bồi dưỡng HSG ở các trường phổ thông tỉnh Quảng Ninh
1.6.2.1 Thuận lợi
- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập “Chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài giai đoạn 2008 - 2020 với các phương hướng, mục tiêu cụ thể, đây là động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho đất nước”
- SGK hóa học đã được bổ sung, cập nhật khá nhiều kiến thức mới đặc biệt là các lý thuyết chủ đạo tạo điều kiện cho HS nghiên cứu Hóa học sâu hơn, rộng hơn
và có tác dụng kích thích động cơ học tập, phát huy khả năng tự học của HS
- Ở hầu hết các trường THPT, ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo, quan tâm động viên kịp thời, có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công việc bồi dưỡng HSG
- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết trong công tác bồi dưỡng HSG
- HS có rất ít quyền lợi từ kì thi HSG nên khó thu hút HS thi HSG
Tài liệu, chương trình học
- Chương trình học quá lớn đối với HS
- Tài liệu dạy chuyên hay tài liệu bồi dưỡng HSG ở các trường THPT rất ít Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu
Trang 29- SGK và các tài liệu tham khảo vẫn còn có nhiều điểm không khớp nhau về kiến thức, gây khó khăn cho GV và HS nghiên cứu
- Cách thức ra đề còn nhiều bất cập, kiến thức thực tiễn, thực hành còn hạn chế, chủ yếu kiến thức mang tính hàn lâm lí thuyết
1.6.3 Thực trạng dạy học hóa học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh
Để tìm hiểu về thực trạng dạy học hóa học và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
ở các trường THPT, chúng tôi đã phát phiếu điều tra cho các giáo viên và học sinh của các trường THPT Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về những khó khăn của giáo viên
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
lượng (%)
1 Giáo viên chưa xác định được vùng kiến thức cần
2 Dung lượng kiến thức quá lớn so với thời gian được
3
Giáo viên chưa tuyển chọn, xây dựng được hệ thống
bài tập phù hợp để phát hiện và bồi dưỡng học sinh
giỏi
14/15 93,3%
4 Tài liệu tham khảo còn hạn chế 13/15 86,7%
5 Chưa đổi mới phương pháp học cho học sinh 11/15 73,3%
6 Phương pháp sử dụng bài tập của giáo viên trong
7 Nội dung kiến thức hóa học còn trừu tượng nên không
gây được hứng thú, tình cảm cho học sinh 5/15 33,3%
8 Giáo viên còn còn thiếu kinh nghiệm trong việc lựa
chọn học sinh có năng khiếu hóa học 11/15 73,3%
9 Số học sinh có năng khiếu hóa học chưa nhiều 8/15 53,3%
Trang 30Bảng 1.2 Kết quả điều tra về những khó khăn của học sinh trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi
lượng (%)
1 Học sinh chưa xác định được kiến thức cần học tập 103/120 85,8%
2 Dung lượng kiến thức quá lớn so với thời gian học tập
3 Học sinh chưa có hệ thống bài tập phù hợp 106/120 88,33%
4 Tài liệu tham khảo còn hạn chế 61/120 50,8%
6 Nội dung kiến thức hóa học còn trừu tượng nên không
gây được hứng thú, tình cảm cho học sinh 60/120 50%
Từ những kết quả điều tra như trên, có thể nhận thấy rằng chất lượng học sinh giỏi chưa cao và chưa bền vững là do nhiều nguyên nhân Trong các nguyên nhân đó thì việc lựa chọn, xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp; phương pháp sử dụng bài tập thích hợp; việc xác định được vùng kiến thức cần nghiên cứu và phương pháp học tập của học sinh được xác định là các nguyên nhân chủ yếu
Việc sử dụng các PPDH hóa học theo hướng dạy học tích cực đã đạt kết quả khả quan Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan trong các tiết dạy chưa thường xuyên hoặc sử dụng chưa hiệu quả do cơ sở giáo dục không đầy đủ trang thiết bị dạy học và đồ dùng thí nghiệm và tinh thần trách nhiệm của giáo viên chưa cao
Việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học chưa nhiều, chưa thường xuyên và chưa chất lượng vì việc soạn hệ thống bài tập này muốn hay thường mất nhiều thời gian; Đặc biệt việc sử dụng bài tập thực nghiệm để giảng dạy còn rất hạn chế, rất ít số tiết có sử dụng dạng bài tập này để phục vụ cho việc giảng dạy
Trang 31Với thực trạng giảng dạy đó đã ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu kiến thức và hình thành năng lực của học sinh Các em không chủ động tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức nên kiến thức không sâu sắc, không chắc chắn, khả năng vận dụng kiến thức không hiệu quả trong thực tiễn,
Tiểu kết chương 1 Trong chương này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về cơ sở lí luận của đề tài, bao gồm các vấn đề chính sau:
Cơ sở lí luận
+ Nhận thức và tư duy của HS trong quá trình dạy học
+ Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học
+ Một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
+ Một số vấn đề lí luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT
+ Một số vấn đề về sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường THPT
Cơ sở thực tiễn
Bên cạnh việc nghiên cứu về các cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi đã tiến hành phân tích nội dung kiến thức phần kiến thức kim loại trong các kỳ thi học sinh giỏi, đại học và cao đẳng đồng thời tiến hành tìm hiểu tình hình thực tế về công tác dạy học hóa học và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT hiện nay tại tỉnh Quảng Ninh
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu đạt được về cơ sở lí luận cũng như thực tiễn, chúng tôi đã tuyển chọn và xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập phần kim loại để phục vụ cho công tác phát hiện và BDHSG
Trang 32CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI LÍ THUYẾT VÀ BÀI TẬP PHẦN ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Phân tích cấu trúc chương trình sách giáo khoa hóa học 12, phần kim loại
Chương 5: Đại cương về kim loại
Nội dung kiến thức trong chương cung cấp cho HS những khái niệm về vị trí, tính chất vật lí, tính chất hóa học chung của kim loại, dãy điện hóa, thế điện cực chuẩn của kim loại, sự điện phân, ăn mòn kim loại, nguyên tắc và phương pháp điều chế kim loại
Chương 6: Kim loại kiềm – kim loại kiềm thổ - nhôm
Sự nghiên cứu các nhóm kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm được thực hiện từ
vị trí và cấu tạo nguyên tử, tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế, một số hợp chất quan trọng của chúng Từ những kiến thức lí thuyết về cấu tạo nguyên tử, đại cương về kim loại tạo điều kiện cho HS dự đoán lí thuyết về tính chất các chất và dùng thí nghiệm kiểm chứng,
Chương 7: Crom – sắt – đồng
Đây là kim loại nhóm B có nhiều ứng dụng trong thực tiễn Khi nghiên cứu các kim loại này cũng yêu cầu HS biết vị trí, cấu tạo của chúng, các trạng thái số oxi hóa của chúng hiểu được tính chất, phương pháp điều chế các kim loại cũng như hợp chất của chúng
2.2 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập
2.2.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa
Hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập được sắp xếp theo chương trình SGK đã được chuẩn hóa, cấu trúc này có sự hợp lí vì được sắp xếp cùng chiều với chương trình học của HS, nhờ đó HS sẽ dễ dàng định hình được chương trình
2.2.2 Theo năng lực nhận thức của học sinh
Hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập được xây dựng phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh như từ biết, hiểu đến vận dụng và sáng tạo
Trang 332.2.3 Theo dạng bài tập
Hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập sắp xếp theo dạng kiến thức, dạng bài tập như: Bài tập về sơ đồ phản ứng, bài tập nhận biết, bài tập tách và tinh chế các chất, bài tập dùng đồ thị, bài tập biện luận lượng chất trước và sau phản ứng,…
2.3 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập hóa học
2.3.1 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi tuyển chọn và xây dựng nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học, bài tập cho đủ các dữ kiện Các bài tập không được thiếu chính xác về ngôn ngữ diễn đạt, nội dung thiếu logic chặt chẽ Giáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cách chính xác, đảm bảo logic và tính khoa học về mặt ngôn ngữ hóa học
2.3.2 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, đa dạng
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho học sinh Trước hết chúng tôi xác định từng bài tập Mỗi bài tập tương ứng với một kĩ năng nhất định vì bài tập không thể dàn trải cho mọi kĩ năng Toàn bộ hệ thống gồm nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho học sinh giỏi hóa học Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú Sự đa dạng của hệ thống bài tập sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên biệt một cách hiệu quả
2.3.3 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải đảm bảo tính vừa sức
Bài tập phải được tuyển chọn và xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Hệ thống bài tập phù hợp với mức độ phát triển tâm sinh lí, mức độ nhận thức của học sinh, những nội dung kiến thức của BTHH phải đảm bảo để học sinh
có thể sử dụng được, không mang tính đánh đố Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng, gây được hứng thú, kích thích trí sự tìm tòi quyết tâm đạt được kết quả chứ không mang tính chất ép buộc
2.3.4 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS
Nội dung kiến thức phần kim loại rất rộng, nhất là khi vào đội tuyển quốc gia, quốc tế thì yêu cầu về kiến thức kim loại đòi hỏi cao hơn rất nhiều Kiến thức mở rộng không chỉ là kiến thức lý thuyết nâng cao mà còn phải bổ sung các kiến thức thực tiễn để vận dụng vào đời sống Chính vì vậy, bài tập là công cụ tối ưu giúp bổ
Trang 34sung mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết cho HS một cách đa dạng, không gây nhàm chán mà còn mang lại nhiều hiệu quả tích cực
2.3.5 Hệ thống lí thuyết và bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện
kỹ năng hóa học cho học sinh
Hệ thống bài tập giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh như: năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, năng lực phân tích, suy luận, diễn đạt logic, chính xác,…các kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn
2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập
2.4.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập
Mục đích xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại nhằm phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh giỏi hóa học
2.4.2 Xác định nội dung hệ thống bài tập
Nội dung của hệ thống bài tập phải bao quát được kiến thức phần kim loại trong chương trình hoá 12, bao gồm:
- Hệ thống kiến thức đại cương về kim loại: Cấu tạo nguyên tử, cấu tạo tinh thể, tính chất vật lý, tính chất hóa học, điều chế, sự điện phân, ăn mòn kim loại
- Các kim loại nhóm A (nhóm IA, IIA, nhôm) và một số hợp chất quan trọng của chúng (oxit, hiđroxit, muối)
- Các kim loại nhóm B (Cr, Fe, Cu,Ag, Ni, Zn, Sn, Pb, Au,…) và một số hợp chất quan trọng của chúng
2.4.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập
Trang 35- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn nội dung thi chọn HSG cấp tỉnh, thành phố, nội dung thi chọn HSG quốc gia của Bộ Giáo dục và đào tạo, các kì thi Olympic hóa học trong nước và quốc tế
- Sưu tầm, phân tích các đề thi chọn HSG môn Hóa quốc gia, đề thi HSG của các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Nghệ An, An Giang,… từ các năm đến 2013
- Thu thập và tham khảo các tài liệu liên quan đến hệ thống bài tập cần xây dựng qua sách, báo, tạp chí, mạng internet
- Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những nội dung hóa học có liên quan đến thực tiễn của đời sống
2.4.5 Tiến hành xây dựng hệ thống bài tập
- Xây dựng bài tập bồi dưỡng HSG hóa học
Ngoài tuyển chọn, GV phải biết cách xây dựng bài tập phù hợp với trình độ nhận thức, rèn kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua một số cách sau:
+ Lược bớt hoặc chia nhỏ
+ Thay đổi mức độ yêu cầu hoặc hình thức bài tập
+ Thay đổi hình thức phát triển bài tập theo nhiều hướng
+ Xây dựng các bài tập tương tự nhau,
2.4.6 Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp
Sau khi xây dựng xong hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập, chúng tôi tham khảo ý kiến các đồng nghiệp về tính chính xác, tính khoa học, tính phù hợp với trình độ của học sinh, với mục đích BDHSG
Trang 362.4.7 Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung
Để khẳng định lại mục đích của hệ thống câu hỏi lí thuyết và bài tập là nhằm phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho học HSG HH, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm để bước đầu thử nghiệm sử dụng hệ thống bài tập và đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng hệ thống bài tập trong BDHSG HH
2.5 Hệ thống hóa các dạng câu hỏi lí thuyết về đại cương kim loại
Dạng 1: Hoàn thành sơ đồ chuyển hóa, viết PTHH điều chế kim loại
Bài 1: Viết PTHH của các phản ứng theo sơ đồ chuyển hóa sau:
Bài 3: Viết 3 PTHH của phản ứng trực tiếp điều chế
a Kim loại Fe b Kim loại Na c Kim loại Ag
Bài 4(HSG Vĩnh Phúc – 2010): Xác định các chất ứng với các kí hiệu và hoàn thành các phương trình hóa học theo sơ đồ sau
A + B + H2O có kết tủa và có khí thoát ra
C + B + H2O có kết tủa trắng keo
Al
(5) (6)
(8) (9) (11) (12) (7)
(10) (1) (2)
+ Fe, t0 (3)
+ dd H 2 SO 4 l (4)
đpdd (5) + KMnO 4 / H 2 SO 4 l
(7)
+ F (8)
+ dd NaOH (9)
+ O 2 + H 2 O (10)
t0 (11) + dd H 2 SO 4 l
(6)
Trang 37D + B + H2O có kết tủa và khí
A + E có kết tủa
E + B có kết tủa
D + Cu(NO3)2 có kết tủa ( màu đen)
Với A, B, C, D, E là các muối vô cơ có gốc axit khác nhau
Bài 5(HSG Nghệ An – 2010): Sục khí A vào dung dịch chứa chất B ta được rắn C màu vàng và dung dịch D Khí X có màu vàng lục tác dụng với khí A tạo ra C và F Nếu X tác dụng với khí A trong nước tạo ra Y và F, rồi thêm BaCl2 vào dung dịch thì có kết tủa trắng A tác dụng với dung dịch chất G là muối nitrat kim loại tạo ra kết tủa H màu đen Đốt cháy H bởi oxi ta được chất lỏng I màu trắng bạc Xác định
A, B, C, F, G, H, I, X, Y và viết phương trình hóa học của các phản ứng
Dạng 2: Giải thích hiện tượng hóa học
Bài 1: Nêu hiện tượng, giải thích và viết PTHH cho các trường hợp sau:
a Cho kim loại K vào dung dịch FeCl2
b Cho kim loại Al vào dung dịch Ba(OH)2 thu được dung dịch X Sục CO2 tới
dư vào dung dịch X
c Cho Zn vào dung dịch NH3 đặc
d Cho thanh Fe vào dung dịch CuSO4 đun nóng
e Cho kim loại Cu vào dung dịch H2SO4 loãng, sau đó sục liên tục khí O2 vào Bài 2(HSG Quảng Ninh – 2004): Cho một kim loại A tác dụng với một dung dịch muối của B Viết các PTHH trong các trường hợp sau và giải thích
a Có 2 chất khí
b Dung dịch mất màu xanh
c Có kim loại mới kết tủa bám lên kim loại A Lấy hỗn hợp kim loại cho tan hết trong HNO3 đặc, nóng thu được một dung dịch G chứa 3 muối và khí D duy nhất
d Có khí + kết tủa xanh và dung dịch D Lọc bỏ kết tủa lấy dung dịch D cho thêm một mẩu Cu sau đó nhỏ dung dịch HCl đến dư vào dung dịch D thấy có khí không màu F dễ hóa nâu ngoài không khí
e Có khí + kết tủa trắng + kết tủa xanh Lọc kết tủa sục NH3 dư vào thấy xuất hiện dung dịch màu xanh đặc trưng, còn một phần kết tủa không tan
Trang 38f Có khí + dung dịch K Sục từ từ CO2 vào ½ dung dịch K thấy kết tủa xuất hiện Sục từ từ HCl vào ½ dung dịch K thấy kết tủa xuất hiện sau đó tan dần khi dư HCl tạo dung dịch trong suốt Y Tiếp tục nhỏ NaOH từ từ vào dung dịch trong suốt Y thấy kết tủa xuất hiện sau đó tan dần khi dư NaOH
Bài 3: Hỗn hợp A gồm Fe3O4, Al, Fe, Al2O3 Cho A tan trong NaOH dư được hỗn hợp chất rắn A1 dung dịch B1 và khí C1 Khí C1 (dư) cho tác dụng với A đun nóng được hỗn hợp chất rắn A2 Dung dịch B1 cho tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng,
dư được dung dịch B2 Chất rắn A2 tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc, nóng được dung dịch B3 và khí C2 Viết các PTHH xảy ra
Bài 4: Vì sao Au, Pt lại tan được trong nước cường toan? Ag có bị nước cường toan
ăn mòn không? Tại sao? Tại sao Ag để lâu trong không khí bị xám lại
Bài 5: Trong công nghiệp người ta điều chế CuSO4 bằng cách ngâm Cu trong dung dịch H2SO4 loãng đồng thời sục O2 liên tục Giải thích, viết ptpư và chứng minh? Nếu điều chế CuSO4 bằng cách cho Cu tác dụng với H2SO4 đặc, nóng có hiệu quả hơn phương pháp trên đây hay không? Giải thích?
Bài 6: a Cho biết Cu(OH)2 tan trong axit dễ hơn hay trong kiềm dễ hơn Có thể coi
là hợp chất lưỡng tính không?
b Viết các PTHH trong các thí nghiệm sau:
- Đun nóng Cu(OH)2 với dung dịch NaOH đặc 50%
- Đun nóng kết tủa Cu(OH)2 trong nước ở 80-90 0C
Bài 7: Nêu và giải thích hiện tượng xảy ra khi:
- Cho bột Fe tác dụng với dung dịch CuSO4
- Cho từ từ dung dịch NaOH đặc đến dư vào dung dịch CuSO4 đun nóng
- Cho từ từ dung dịch NH3 đến dư vào dung dịch CuSO4
Bài 8: Canxi xianamit (CaCN2) là một loại phân bón đa năng có tác dụng tốt Nó có thể được sản xuất rất dễ dàng từ các loại hóa chất thông thường như CaCO3 Quá trình nhiệt phân của CaCO3 cho ra một chất rắn màu trắng XA và một chất khí không màu XB không duy trì sự cháy Một chất rắn màu xám XC và khí XD được tạo thành bởi phản ứng của XA với cacbon XC và XD còn có thể bị oxi hóa để tạo thành các sản phẩm có mức oxi hóa cao hơn Phản ứng của XC với nitơ taoh thành CaCN2
Trang 39a Viết tất cả các phương trình phản ứng xảy ra
b Khi thuỷ phân CaCN2thì thu được chất gì? Viết phương trình phản ứng
c Trong hóa học chất rắn thì ion CN22 có thể có đồng phân Axit của cả hai anion đều đã được biết (chỉ tồn tại trong pha khí) Viết công thức cấu tạo của cả hai axit và cho biết cân bằng chuyển hóa giữa hai axit trên dịch chuyển về phía nào? Dạng 3: Tách và nhận biết
Bài 1: Trình bày phương pháp hóa học nhận biết các kim loại riêng biệt sau: Na,
Ba, Mg, Fe, Cu
Bài 2: Bằng phương pháp hóa học hãy phân biệt 4 kim loại sau: Al, Zn, Cu, Fe Bài 3: Có 4 oxit sau riêng biệt: Na2O, Al2O3, Fe2O3 và MgO Làm thế nào để nhận biết được mỗi oxit bằng phương pháp hóa học chỉ được dùng thêm 2 chất
Bài 4: Chỉ dùng một hóa chất hãy nhận biết các kim loại: Mg, Zn, Fe, Ba
Bài 5: Có ba lọ đựng ba hỗn hợp dạng bột (I) chứa Al và Al2O3, (II) chứa Fe và
Fe2O3, (III) chứa FeO và Fe2O3 Dùng phương pháp hóa nhận biết ba mẫu bột trên Bài 6(HSG Vĩnh Phúc – 2013): Không dùng thêm thuốc thử, hãy trình bày cách phân biệt 5 dung dịch sau: NaCl, NaOH, NaHSO4, Ba(OH)2, Na2CO3.
2.6 Hệ thống hóa các dạng bài tập về đại cương kim loại
2.6.1 Bài tập cấu tạo tinh thể kim loại
Bài 1: Tinh thể đồng kim loại có cấu trúc lập phương tâm diện
a Hãy vẽ cấu trúc mạng tế bào cơ sở và cho biết số nguyên tử Cu chứa trong tế bào sơ đẳng này
b Tính cạnh lập phương a của mạng tinh thể, biết nguyên tử Cu có bán kính bằng 1,28 Å
c Xác định khoảng cách gần nhất giữa hai nguyên tử Cu trong mạng
d Tính khối lượng riêng của Cu theo g/cm3
Bài 2: Tinh thể CsCl có cấu tạo dạng lập phương như hình vẽ Biết r+= 1,69
Trang 40Bài 3: Cấu trúc mạng tinh thể của hợp chất ion NaCl được biểu diễn dưới đây: Trong
đó các quả cầu lớn (ion Cl-) phân bố theo kiểu lập phương tâm diện, các quả cầu nhỏ (ion Na+) phân bố ở tâm và ở giữa các cạnh của hình lập phương Biết r+ = 0,97
Bài 5: Tính bán kính nguyên tử gần đúng của Ca ở 200C, biết tại nhiệt độ đó khối lượng riêng của Ca bằng 1,55 g/cm3 Giả thiết trong tinh thể các nguyên tử Ca có hình cầu, có độ đặc khít là 74% Cho nguyên tử khối của Ca = 40,08
Bài 6(HSGQG – 2007): Thực nghiệm cho biết ở pha rắn, vàng (Au) có khối lượng riêng là 19,4g/cm3 và có mạng lưới lập phương tâm diện Độ dài cạnh của ô mạng đơn vị là 4,070.10-10m Khối lượng mol nguyên tử của Au là 196,97g/mol
a Tính phần trăm thể tích không gian trống trong mạng lưới tinh thể của Au