ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Câu 1. Nguồn gốc ra đời của triết học? Sự biến đổi đối tượng của triết học qua các thời kì. Nguồn gốc ra đời: Triết học ra đời ở phương Tây và phương Đông gần như cùng một lúc vào đầu thế kỷ thứ VIII – VI TCN. Triết học ra đời ở 1 số trung tâm của văn minh cổ đại như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội: + Nguồn gốc nhận thức: Con người đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận. + Nguồn gốc xã hội: Đây là lúc lao động phải phát triển đến mức có sự phân chia thành lao động chân tay và lao động trí óc, xã hội có giai cấp xuất hiện. Vì vậy, từ khi triết học ra đời nó đã mang trong mình tính giai cấp, nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định. Đối tượng của triết học: Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Dưới thời Cổ đại, với nền triết học tự nhiên ở phương Tây, triết học bao gồm tất cả những tri thức mà con người có được: toán học, vật lý học, thiên văn học, siêu hình học,.. nên chưa có sự phân biệt đối tượng của triết học với đối tượng của khoa học. Đây là cơ sở hình thành nên quan niệm coi triết học là “khoa học của mọi khoa học”. Dưới thời Trung cổ, do sự thống trị của tôn giáo, triết học tự nhiên được thay thế bằng triết học Kinh viện nên nó phát triển một cách chậm chạp. Thực chất đây là giai đoạn phủ định nền văn minh cổ đại. Đối tượng của triết học kinh viện chỉ là chỉ là các vấn đề tự biện như niềm tin tôn giáo, thiên đường, địa ngục, chúng xa rời với cuộc sống. Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành dưới thời Phục hưng Cận đại cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò khoa học của các khoa học. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học. Hoàn cảnh kinh tế xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm khoa học của các khoa học, triết học Mác xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Mặc dù đối tượng của triết học còn gây tranh cãi, nhưng có thể thấy cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Câu 1 Nguồn gốc ra đời của triết học? Sự biến đổi đối tượng của triết học qua các thời kì.
* Nguồn gốc ra đời:
- Triết học ra đời ở phương Tây và phương Đông gần như cùng một lúc vào đầu thế kỷ thứ VIII – VI TCN
- Triết học ra đời ở 1 số trung tâm của văn minh cổ đại như: Trung Quốc, Ấn
Độ, Hi Lạp
- Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới,
về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
- Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc
nhận thức và nguồn gốc xã hội:
+ Nguồn gốc nhận thức: Con người đạt đến trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận
+ Nguồn gốc xã hội: Đây là lúc lao động phải phát triển đến mức có sự phân chia thành lao động chân tay và lao động trí óc, xã hội có giai cấp xuất hiện Vì vậy, từ khi triết học ra đời nó đã mang trong mình tính giai cấp, nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định
* Đối tượng của triết học:
- Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử
- Dưới thời Cổ đại, với nền triết học tự nhiên ở phương Tây, triết học bao gồm tất cả những tri thức mà con người có được: toán học, vật lý học, thiên văn học, siêu hình học, nên chưa có sự phân biệt đối tượng của triết học với đối tượng của khoa học Đây là cơ sở hình thành nên quan niệm coi triết học là “khoa học của mọi khoa học”
- Dưới thời Trung cổ, do sự thống trị của tôn giáo, triết học tự nhiên được thay thế bằng triết học Kinh viện nên nó phát triển một cách chậm chạp Thực chất đây là giai đoạn phủ định nền văn minh cổ đại Đối tượng của triết học kinh viện
Trang 2chỉ là chỉ là các vấn đề tự biện như niềm tin tôn giáo, thiên đường, địa ngục, chúng
xa rời với cuộc sống
- Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành dưới thời Phục hưng - Cận đại cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa học của các khoa học" Triết học Hê-ghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó Hê-ghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học
- Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm "khoa học của các khoa học", triết học Mác xác định đối tượng nghiên cứu
của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường
duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và
tư duy.
- Mặc dù đối tượng của triết học còn gây tranh cãi, nhưng có thể thấy cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của
tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh
Câu 2 Những vấn đề cơ bản của triết học Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng.
- Theo Ăng-ghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” Vậy vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn
để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn:
+ Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
+ Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Trang 3- Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái triết học và các học thuyết về nhận thức của triết học
* Phương pháp siêu hình
- Phương pháp siêu hình là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là
sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng
- Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật
riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.
- Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm
* Phương pháp biện chứng
- Phương pháp biện chứng là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
- Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái "hoặc là hoặc là " còn có cả cái "vừa là vừa là " nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó
Trang 4lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau
- Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Câu 3 Trình bày những nội dung căn bản của các nhà triết học: Heraclit, Democrit, Platon, Aristote.
* Heraclit:
- Quan niệm về thế giới:
+ Heraclit đứng trên lập trường duy vật cổ đại để giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể Ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi sự vật Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên sinh
ra chúng
+ Quan niệm này tuy sai lầm, nhưng giá trị triết học của luận điểm này nằm
ở chỗ: ông đã tìm bản chất tinh thần không phải ở ngoài vật chất mà ở chính thế giới vật chất Giá trị đó có tính định hướng cho sự tìm tòi bản chất đích thực của đời sống tinh thần
- Triết học:
+ Thế giới vận động theo trật tự mà ông gọi là logos: logos chủ quan và
logos khách quan, có quan hệ với nhau như quan hệ giữa khách thể và nhận thức
Sự phù hợp với logos khách quan là tiêu chuẩn để đánh giá tư duy con người
+ Phép biện chứng:
Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng, xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật
Tuy chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm như sau này nhưng phép biện chứng của Heraclit đã đề cập tới hầu hết những luận điểm cốt lõi của phép biện chứng dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý:
Một là, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Theo Heraclit, không có sự vật, hiện tượng nào đứng yên tuyệt đối mà đều trong trạng thái biến
Trang 5đổi, vận động, phát triển không ngừng Luận điểm bất hủ của ông: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông.”
Hai là, tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Heraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, hiện tượng đối lập nhau; các sự vật, hiện tượng mới không ngừng thay thế cái cũ Điều
đó làm vũ trụ phát triển và trẻ mãi không ngừng
Ba là, theo Heraclit, sự vận động, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos) Logos khách quan là trật tự khách quan mà mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu càng thông thái bấy nhiêu
* Đêmôcrit:
- Thuyết nguyên tử: Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được nữa,
hoàn toàn nhỏ bé và không thể cảm nhận bằng trực quan Theo quan niệm của Đêmôcrit, các sự vật là do các nguyên tử liên kết với nhau tạo thành
- Lý luận nhận thức:
+ Đặt ra và giải quyết một cách duy vật về vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức tự nhiên
+ Chủ nghĩa vô thần: Ông cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh vì con người bất lực trước những hiện thực khủng khiếp của tự nhiên Thần thánh chỉ
là sự nhân cách hóa những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người
* Platon:
- Là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm khách quan, đối lập với thế giới quan duy vật Ông đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duy vật, chống lại những đại biểu của chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ như Hêraclit, Đêmôclit
- Xây dựng Thuyết hồi tưởng thần bí trên cơ sở học thuyết về linh hồn bất
tử, tinh độc lập của linh hồn với thể xác quan sát được trong thế giới ý niệm
Trang 6- Sự phê phán của Aristote đối với học thuyết về ý niệm của Platon:
+ Platon coi ý niệm như một dạng độc lập tối cao, tách rời thế giới hiện thực không phản ánh thế giới hiện thực, tức là đã biến các khái niệm, phạm trù trở thành cái vô dụng đối với nhận thức sự vật Trái lại, ý niệm phản ánh các thực thể cảm biết, thế giới ý niệm phải thuộc về thế giới các sự vật
+ Vạch ra mâu thuẫn trong học thuyết về ý niệm của Platon: Một mặt Platon cho rằng ý niệm hoàn toàn tách biệt với các sự vật cảm biết, đồng thời, lại vừa khẳng định các sự vật là cái bóng của ý niệm
- Lý luận nhận thức:
+ Thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc kinh nghiệm và cảm giác
+ Ông coi nhận thức là một quá trình: từ cảm tính đến lý tính; đi từ cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến tư duy trừu tượng, từ khái niệm đến phạm trù, quy luật Ông cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính với nhận thức
lý tính: Đối tượng của nhận thức là hiện thực khách quan, cơ sở của nhận thức là cảm giác Cảm giác là sản phẩm của sự tác động của sự vật khách quan vào các giác quan của con người
+ Là người đầu tiên khởi xướng vấn đề phân loại các khoa học Ông chia khoa học làm ba dạng:
Các ngành khoa học mang tính thực tiễn: đạo đức, chính trị Ở đây, thực tiễn được hiểu là các hoạt động luân lý, chính trị của con người
Các khoa học sáng tạo: các hoạt động nghệ thuật, kỹ thuật
Các khoa học tự biện: triết học thứ nhất, toán học, vật lý…
- Đạo đức học:
+ Ông cho rằng, đạo đức phải phục vụ quyền lợi của nhà nước Sứ mệnh của nhà nước là phải đảm bảo cho mọi người (trừ nô lệ) sống hạnh phúc không chỉ về mặt của cải vật chất, mà còn phải đảm bảo công lý
+ Đạo đức phải gắn liền với hành vi của con người, tiêu chuẩn đánh giá một
cá nhân có đạo đức không phải ở lời nói mà ở hành động
Trang 7Câu 4 Thành tựu của triết học Hy Lạp cổ đại (Đề năm ngoái)
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Ở đó xuất hiện rất sớm và đạt được những thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học sau này Thời kì này nổi bật lên với tên tuổi của các nhà duy vật với những thành tựu triết học:
* Heraclit:
- Quan niệm về thế giới:
+ Heraclit đứng trên lập trường duy vật cổ đại để giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể Ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi sự vật Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên sinh
ra chúng
+ Quan niệm này tuy sai lầm, nhưng giá trị triết học của luận điểm này nằm
ở chỗ: ông đã tìm bản chất tinh thần không phải ở ngoài vật chất mà ở chính thế giới vật chất Giá trị đó có tính định hướng cho sự tìm tòi bản chất đích thực của đời sống tinh thần
- Triết học:
+ Thế giới vận động theo trật tự mà ông gọi là logos: logos chủ quan và
logos khách quan, có quan hệ với nhau như quan hệ giữa khách thể và nhận thức
Sự phù hợp với logos khách quan là tiêu chuẩn để đánh giá tư duy con người
+ Phép biện chứng:
Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng, xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật
Tuy chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm như sau này nhưng phép biện chứng của Heraclit đã đề cập tới hầu hết những luận điểm cốt lõi của phép biện chứng dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý:
Một là, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Theo Heraclit, không có sự vật, hiện tượng nào đứng yên tuyệt đối mà đều trong trạng thái biến đổi, vận động, phát triển không ngừng Luận điểm bất hủ của ông: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông.”
Trang 8 Hai là, tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Heraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, hiện tượng đối lập nhau; các sự vật, hiện tượng mới không ngừng thay thế cái cũ Điều
đó làm vũ trụ phát triển và trẻ mãi không ngừng
Ba là, theo Heraclit, sự vận động, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos) Logos khách quan là trật tự khách quan mà mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu càng thông thái bấy nhiêu
* Đêmôcrit:
- Thuyết nguyên tử: Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được nữa,
hoàn toàn nhỏ bé và không thể cảm nhận bằng trực quan Theo quan niệm của Đêmôcrit, các sự vật là do các nguyên tử liên kết với nhau tạo thành
- Lý luận nhận thức:
+ Đặt ra và giải quyết một cách duy vật về vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức tự nhiên
+ Chủ nghĩa vô thần: Ông cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh vì con người bất lực trước những hiện thực khủng khiếp của tự nhiên Thần thánh chỉ
là sự nhân cách hóa những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người
* Platon:
- Là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm khách quan, đối lập với thế giới quan duy vật Ông đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duy vật, chống lại những đại biểu của chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ như Hêraclit, Đêmôclit
- Xây dựng Thuyết hồi tưởng thần bí trên cơ sở học thuyết về linh hồn bất
tử, tinh độc lập của linh hồn với thể xác quan sát được trong thế giới ý niệm
*Aristote:
Trang 9- Sự phê phán của Aristote đối với học thuyết về ý niệm của Platon:
+ Platon coi ý niệm như một dạng độc lập tối cao, tách rời thế giới hiện thực không phản ánh thế giới hiện thực, tức là đã biến các khái niệm, phạm trù trở thành cái vô dụng đối với nhận thức sự vật Trái lại, ý niệm phản ánh các thực thể cảm biết, thế giới ý niệm phải thuộc về thế giới các sự vật
+ Vạch ra mâu thuẫn trong học thuyết về ý niệm của Platon: Một mặt Platon cho rằng ý niệm hoàn toàn tách biệt với các sự vật cảm biết, đồng thời, lại vừa khẳng định các sự vật là cái bóng của ý niệm
- Lý luận nhận thức:
+ Thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc kinh nghiệm và cảm giác
+ Ông coi nhận thức là một quá trình: từ cảm tính đến lý tính; đi từ cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến tư duy trừu tượng, từ khái niệm đến phạm trù, quy luật Ông cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính với nhận thức
lý tính: Đối tượng của nhận thức là hiện thực khách quan, cơ sở của nhận thức là cảm giác Cảm giác là sản phẩm của sự tác động của sự vật khách quan vào các giác quan của con người
+ Là người đầu tiên khởi xướng vấn đề phân loại các khoa học Ông chia khoa học làm ba dạng:
Các ngành khoa học mang tính thực tiễn: đạo đức, chính trị Ở đây, thực tiễn được hiểu là các hoạt động luân lý, chính trị của con người
Các khoa học sáng tạo: các hoạt động nghệ thuật, kỹ thuật
Các khoa học tự biện: triết học thứ nhất, toán học, vật lý…
- Đạo đức học:
+ Ông cho rằng, đạo đức phải phục vụ quyền lợi của nhà nước Sứ mệnh của nhà nước là phải đảm bảo cho mọi người (trừ nô lệ) sống hạnh phúc không chỉ về mặt của cải vật chất, mà còn phải đảm bảo công lý
+ Đạo đức phải gắn liền với hành vi của con người, tiêu chuẩn đánh giá một
cá nhân có đạo đức không phải ở lời nói mà ở hành động
* Socrates:
Trang 10- Dành phần lớn thời gian nghiên cứu về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan Bắt đầu từ ông, đề tài con người trở thành một trong những đề tài trọng tâm của triết học phương Tây Quan điểm của ông bàn đến vấn đề con người trong đời sống xã hội, mà trước hết là hành vi đạo đức
- Phương pháp triết học của ông gồm bốn bước:
+ “Mỉa mai”: nêu ra những câu hỏi mẹo mang tính châm biếm, mỉa mai nhằm làm cho đối tương sa vào mâu thuẫn
+ “Đỡ đẻ tinh thần”: giúp cho đối phương thấy được con đường để tự mình khám phá ra chân lý
+ “Quy nạp”: xuất phát từ cái riêng lẻ khái quát thành những cái phổ biến, từ những hành vi đạo đức riêng lẻ tìm ra cái thiện phổ biến của mọi hành vi đạo đức
+ “Định nghĩa”: chỉ ra hành vi như thế nào gọi là đạo đức, quan hệ như thế nào là đúng mực
- Bốn bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri thức chân thật, giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự trong đời sống xã hội
* Trường phái Milê:
- Tìm cách lý giải các vấn đề bản chất và khởi nguyên của thế giới dựa trên một số các khoa học sơ khai có được hồi đó, coi toàn bộ thế giới chúng ta như một chỉnh thể thống nhất, sinh ra từ một khởi nguyên duy nhất
- Talet: Talet cho rằng, nguồn gốc của thế giới là nước Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng
mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó
- Anaximan:
+ Anaximan cho rằng, nguồn gốc và cơ sở của mọi sự vận động là apêriôn Mọi sự vật không chỉ có bản chất là apêriôn mà còn xuất hiện từ nó Tự bản thân apêriôn sinh ra mọi thứ, đồng thời cũng là cơ sở vận động của chúng Apêriôn là nguồn gốc của sự thống nhất các sự vật đối lập nhau như nóng – lạnh, sống – chết… Toàn bộ vũ trụ được cấu thành từ apêriôn, tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng