1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG LỊCH sử TRIẾT học PHƯƠNG tây

43 773 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 63,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY KHOA TRIẾT, GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY, TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY,,,,,,,,

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

Câu 1: Phân tích đặc điểm chủ yếu của triết học Hy Lạp cổ đại

1 Hoàn cảnh ra đời

- HL cổ đại khác với HL ngày nay về địa lý, nó bao gồm 1 vùng đất đairộng lớn: miền Nam bán đảo Ban Căng thuộc châu Âu, nhiều hòn đảo ở biển Êgiê,

và ven biển của bán đảo Tiểu Á

- TK X TCN, xã hội CXNT ở Hy Lạp tan rã cùng với nó là sự ra đời của

là nhà nước chủ nô dân chủ), (Spác chủ yếu pt nông nghiệp -> nhà nước chủ nô quýtộc)

- Triết học hình thành vào khoảng TK VI TCN trên cơ sở kinh tế làquyền sở hữu của chủ nô đối với TLSX và người nô lệ; xh có sự phân chia giai cấp;

có sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay -> hình thành 1 bộ phận cáctri thức triết học và khoa học, phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thủy.Mặt khác, chính lối tư duy có bài bản của thần thoại HL là 1 trong những yếu tốquan trọng hình hành triết học nơi đây

- Sự pt của NN, thủ CN, thương nghiệp, hàng hải -> sự pt của toán học,thiên văn học, khí tượng, vật lý…Do thời kỳ này khoa học chưa phân ngành, chonên đều được trình bày trong hệ thống triết học -> Triết học HL gắn liền với thựctiễn và khoa học

- Do vị trí địa lý thuận lợi, giao lưu mật thiết với các nền văn hóa AiCập, Lưỡng Hà cổ đại nên sự phát triển của triết học HL cổ đại có liên quan chặtchẽ và chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học phương Đông cổ đại

Trang 2

- Nội dung cơ bản của triết học HL cổ đại là cuộc đấu tranh giữa CNDV

và CNDT, giữa quan điểm vô thần và hữu thần, giữa khoa học và tôn giáo (đây là

sự khác biệt cơ bản so với tư tưởng triết học Ấn Độ, Trung Quốc cổ đại), tiêu biểu

là cuộc đấu tranh giữa “Đường lối Hêmôcrít” và “Đường lối Platon”

Tầng lớp chủ nô dân chủ đứng trên lập trường của CNDV, vô thần, đấu tranhthúc đẩy xã hội pt, còn tầng lớp chủ nô quý tộc đứng trên lập trường duy tâm và tôngiáo, lạc hậu, chống lại tầng lớp chủ nô dân chủ nhằm duy trì trật tự và địa vị xã hộicủa mình

- Triết học HL cổ đại đã đặt ra và giải quyết hầu hết các vấn đề triết họccăn bản chứa đậy mầm mống của tất cả các kiểu thế giới quan sau này (quan niệmthế giới quan, quan niệm con người, quan điểm về sự vận động xã hội, mầm mốngCNDV, CNDT…)

- Tính mộc mạc, chất phác và tính sơ khai, tự phát là đặc trưng của triếthọc HL cổ đại, đặc điểm khác đối với các hệ thống triết học duy vật và biện chứng

- Triết học HL cổ đại chia thành 3 thời kỳ chính:

+ Thời kỳ hình thành chế độ CHNL (Talet, Hêracrít, Pitago,Xênôphan, )

+ Thời kỳ phồn vinh của chế độ HL (Đêmôrít, Xôcrát, Platon, Arítxtốt)+ Thời kỳ tan rã của chế độ HL (Triết học Êpiquya, trường phái Platonmới, trường phái hoài nghi, chủ nghĩa khắc kỷ)

3 Đánh giá

- Nó không chỉ là cái phân biệt giữa 2 nền triết học Đông – Tây cổ đại

mà còn tác động tới các giai đoạn pt của triết học Tây Âu sau này

Trang 3

- Nó còn nói lên vị trí, vai trò của nền triết học HL cổ đại đối với lịch sửtriết học thế giới.

Câu 2: Làm rõ cuộc đấu tranh giữa triết học Đêmôcrít và triết học Platon trong lĩnh vực Bản thể luận.

1.2 Platon

- Platon (427 – 347 tr.CN), xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc

ở Aten, là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại,người mà theo Hêghen có ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển tư tưởng, tớivăn hóa tinh thần của nhân loại, “Nếu có ai đó là người thầy đầu tiên của nhân loạithì người đó là Platon và Arítxtốt”

- Ông là học trò của Xôcrát (470-399 tr.CN), 1 trong 7 vị hiền triết HL

cổ đại Ông để lại nhiều tác phẩm như: 34 thiên đối thoại và nhiều bức thư triết học(Teitet, Timei, Parmenit) Đặc biệt tác phẩm “Nước cộng hòa” có vị trí đặc biệtquan trọng trong triết học của ông Ông là người tôn sùng toán học

- Khi thầy Xôcrát của Platon bị chết bởi phán quyết của nền dân chủAten, Platon trở nên thù ghét quần chúng Từ đó ông chủ chương diệt tận gốc chế

độ dân chủ, thay vào đó là 1 chính thể do những nhà quý tộc điều hành

Trang 4

2 Khái niệm Bản thể luận

Trong triết học, bản thể luận, xuất phát từ tiếng Hy Lạp Οντολογία có nghĩa

bộ môn nghiên cứu về sự tồn tại và hình thành nên cơ sở của bộ môn siêu hình học.Bản thể luận tìm cách mô tả phạm trù tồn tại và các mối quan hệ của phạm trù tồntại để xác định nên thực thể và các kiểu thực thể bên trong khuôn khổ của tồn tại

Bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề sửdụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể Bảnthể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉ những thực thể nào, những

từ ngữ nào không, tại sao, và phạm trù kết quả là thế nào Vì thế bản thể luận còn là

cơ sở nền tảng cho nhiều chuyên ngành triết học khác

Một luận đề cơ bản của bản thể luận là: "Cái gì tồn tại?" Các nhà triết họckhác nhau có các câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi trên

3 Phân tích

3.1 Đêmôcrít: Học thuyết nguyên tử

- Ông cho rằng, thế giới được tạo thành bởi nguyên tử, chân không Ông

đã phát triển thuyết nguyên tử của Lơxíp – người thầy của ông – lên trình độ mới

+ Nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất, vững chắc nhất, không phân chia được,không nhìn thấy được, không màu, không mùi, không vị, không âm thanh và tồn tạivĩnh viễn Thế giới có vô vàn các nguyên tử

+ Chân không (theo vật lý) là 1 khoảng không gian nào đó, không chứa bất

kỳ cái gì, kể cả không khí Đêmôcrít thì quan niệm rằng, chân không là 1 khoảngkhông rỗng, trong đó các nguyên tử hoạt động Các nguyên tử vận động khôngngừng trong chân không Các nguyên tử tự thân vận động

+ Các nguyên tử đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về lượng, hình thức (cấutạo), về tư thế (xoay trở) và về trật tự (kế tiếp)

+ Sự hình thành, tan rã và sự khác nhau của các sự vật, hiện tượng là do sựkết hợp hay tách ra của các nguyên tử theo những cách thức khác nhau và phụthuộc vào sự khác nhau của các nguyên tử

- Trong quan niệm về vũ trụ của ông cũng không có chỗ cho thần thánh

Trang 5

tử cùng loại cố kết với nhau làm thành những vòng lớp nguyên tử, càng nặng càng

ở gần tâm, càng nhẹ càng ở xa tâm Đất, nước, lửa, không khí là những vòng ởtrung tâm cơn lốc Từ đó hình thành các hành tinh và trái đất

Nhìn chung ông có quan điểm duy vật khi giải quyết vấn đề cơ bản của triếthọc

3.2 Platon: Học thuyết ý niệm

- Theo Platôn vũ trụ này có hai thế giới là thế giới ý niệm và thế giớicủa các sự vật cảm tính (hay cảm biết được bằng giác quan)

+ TG ý niệm: Đứng trên lập trường duy tâm thần bí, Ông khẳng định rằng,bản nguyên của thế giới là “thế giới ý niệm”, mà ông gọi là “những ý tưởng cótrước”, một thế giới trừu tượng, bất biến, tĩnh tại, đông lạnh, không có sự sống Chỉ

có chúng mới tồn tại chân thực

Linh hồn là do thánh tạo ra, có động cơ (“thần tình ái”) và mục đích rõ ràng.Động cơ và mục đích đã khuyến khích các ý niệm vận động rồi in dấu ấn vào

“không tồn tại”, “hư vô” – cái mà ông gọi là “vật chất” – theo những “tương quantoán học”, những “hòa điệu” khác nhau mà sinh ra giới tự nhiên – “thế giới các sựvật cảm tính” muôn hình, muôn vẻ, xấu, đẹp khác nhau

Ví dụ: từ ý niệm “nhà” sinh ra những cái nhà cụ thể Từ ý niệm “cây” sinh ranhững cây cụ thể…

+ TG sự vật cảm tính: Thế giới các sự vật cảm tính chỉ là sản phẩm của “thếgiới ý niệm”, chỉ là “cái bóng” của chúng nên nó là “tồn tại không chân thực” Vìmọi cái trong nó luôn biến đổi, có sinh ra, có mất đi, nó chỉ là cái bóng của thế giới

ý niệm, do thế giới ý niệm quyết định Ý niệm của Platôn như là khuôn mẫu để thếgiới các sự vật cảm tính mô phỏng theo

Như vậy, ông đã có tư tưởng duy tâm khách quan về thế giới, cả hai thế giớinày theo ông đều là sản phẩm của thần

- TG ý niệm được tổ chức theo 1 trật tự đẳng cấp, chặt chẽ Những ýniệm đó không tồn tại một cách vô trật tự, hỗn độn

+ Ý niệm mức thấp nhất: Ý niệm một sự vật cụ thể

Trang 6

+ Ý niệm mức cao nhất: Ý niệm phúc lợi là ý niệm mọi ý niệm, soi rọi chomọi ý niệm, quyết định mọi ý niệm khác.

2 Khái niệm Nhận thức luận

Bộ phận trọng yếu của triết học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc và giá trị

về nhận thức của con người đối với thế giới

Trang 7

- Đêmôcrít đề cao cảm tính, quá trình nhận thức là từ cảm tính đến lítính.

+ Cảm tính (mờ tối): chỉ đem lại cho con người những thuộc tính riêng lẻ, bềngoài, nhưng chưa đi vào bên trong sự vật

+ Lí tính: sử dụng tư duy -> hiểu được những thuộc tính bên trong của sựvật, cắt nghĩa được bản chất của sự vật

- Platon: tuyệt đối hóa nhận thức lý tính Ông cho rằng, nhận thức cảmtính chỉ là những “tưởng tượng”, những “kiến giải” về “cái bóng của ý niệm” nên

nó không chân thực Chỉ có lý tính ở trình động “trực giác trí tuệ” mới thấy được “ýniệm”, đó mới là chân thực Không cần cảm giác, chỉ cần các thao tác của tư duy,ngẫm nghĩ xem mình đã có gì

3.4 Quá trình nhận thức đạt tới chân lý.

- Đêmôcrít: quan tâm lôgic hình thức, Coi lôgic là công cụ của nhậnthức, nhấn mạnh phương pháp quy nạp nhằm vạch ra bản chất của giới tự nhiên ->chân lý

- Platon: phương pháp biện chứng: hỏi + đáp -> linh hồn nhớ lại quákhứ

Trang 8

- Học thuyết của Hêraclit, phép biện chứng của ông nói riêng ở mộtchừng mực nào đó là sự xem xét về mặt triết học các sự kiện lịch sử và các chuyểnbiến xã hội diễn ra ở thời kỳ đó

- Hêraclit được xem là ông tổ của phép biện chứng Ông giữ vị trí trungtâm trong lịch sử phép biện chứng (PBC) Hy Lạp cổ đại Các nhà kinh điển chủnghĩa Mác-Lênin đã dành cho học thuyết của Hêraclit cụ thể là cho PBC của ông

sự đánh giá rất cao Lênin coi ông là “một trong những người sáng lập ra PBC”.Trong bảng tóm tắt cuốn “Những bài giảng về lịch sử triết học” của Hêghen, Lêninlưu ý, chính Hêghen cũng thừa nhận Hêraclit có ảnh hưởng đến ông Lênin cũngthừa nhận PBC của Hêraclit có tính chất khách quan Trong các luận điểm biệnchứng cơ bản của Hêraclit đặc biệt quan trọng là tư tưởng về sự thống nhất (hàihòa) và đấu tranh giữa các mặt đối lập

“Không ai tắm 2 lần trên 1 dòng sông”

“Sự vật vừa là nó vừa là cái khác” -> sự vận động, biển đổi liên tục

2 Tư tưởng biện chứng

2.1 Logos (quy luật) với tư cách là sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh giữa các mặt đối lập

- Lần đầu tiên được Hêraclit sử dụng với tư cách là một trong các khái niệm triết học cơ bản và trở nên rất phổ biến trong toàn bộ triết học cổ đại, đó là

thuật ngữ “Logos” Ở người Hy Lạp “Logos” tùy thuộc vào văn cảnh ngôn ngữ đã

có ý nghĩa rất khác nhau Hêraclit cũng đưa vào “Logos” nội dung không như nhau,chẳng hạn trong một câu nói của Hêraclit “Logos” có nghĩa là sự thống nhất củamọi cái hiện hữu

- Sự thống nhất ở đây có nghĩa là sự đồng nhất, hài hòa giữa các mặt đốilập Theo Hêraclit, ngày và đêm, thiện và ác… không phải là một – đó là điều mà aicũng hiểu Song có điều ngày và đêm, thiện và ác, cũng như mọi mặt đối lập tạothành một chỉnh thể thống nhất thì ít ai hiểu: vì ngày – đêm, mùa hè – mùa đông,chiến tranh – hòa bình… là nối tiếp nhau tạo thành tính chu kỳ và lặp lại nhất địnhnhưng người ta lại không hiểu được rằng bản thân tính chu kỳ và tính lặp lại đóđược quy định bởi sự thống nhất, hòa hợp giữa các mặt đối lập, tức là bởi “logos”phổ biến

Trang 9

- Khi coi lửa là bản nguyên vật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên củamọi dạng vật chất, toàn bộ thế giới hay vũ trụ chẳng qua chỉ là sản phẩm biến đổicủa lửa “hết thảy mọi sự vật đều chuyển hóa thành lửa, lửa cũng chuyển hóa thànhhết thảy sự vật” Hêraclit đã đi đến quan niệm về tính thống nhất của vũ trụ, ôngcho rằng vũ trụ - cái thế giới mà conngười đang sống trong đó thống nhất ở một cáiduy nhất là ngọn lửa vĩnh hằng, bất diệt Sự thống nhất ấy của vũ trụ được Hêraclithình dung như là sự lan tỏa hương vị với nồng độ khác nhau trong khói thuốc từmột điếu thuốc đang được đốt cháy bởi lửa Đánh giá quan niệm này của Hêraclit,

Lênin coi đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

- Trong quan niệm của Hêraclit “chiến tranh” hay “đấu tranh” là mộttrong các hình ảnh – khái niệm quan trọng nhất của ông Ông gọi chiến tranh là cha

đẻ và hoàng đế của mọi thứ hiện tồn Chiến tranh có thể biếnbmột số người trởthành thần thánh, số khác là người; nó biến một sốnbgười thành nô lệ, số khác làngười tự do “Chiến tranh” vừa là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vừa làsựbthống nhất của chúng Cuộc đấu tranh không những là sự đối lập mà cònblà sựliên hệ giữa các mặt đối lập Hêraclit còn cho rằng đấu tranh làbnguồn gốc của mọicái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt trong“sự sống” của mọi cái đangdiễn ra Mặt khác trong “sự sống” ấy là tính hòa hợp, tính có trật tự, tính hài hòa.Một chỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồn tại với các mặt đối lập của nó, giốngnhư cái ác bao giờ cũng tồn tại với các mặt đối lập của nó là cái thiện, cái chết vớimặt đối lập của nó là cái sống và ngược lại

Khi nói tới chiến tranh hay đấu tranh với tư cách là nguồn gốc của mọi sựvận động và biến đổi, Hêraclit cũng nói tới chiến tranh chính nghĩa “chiến tranh làphổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh” Đề cao chiến tranh và đấu tranh coi chiếntranh như ông hoàng, song Hêraclit cũng kêu gọi con người đừng có quá kiêu hãnh

về chiến tranh Ông cũng luôn cho rằng chiến tranh và đấu tranh một khi vượt quá

“độ”, bất chấp “sự công bằng”, “tính hợp lý” của vũ trụ sẽ bị chính vũ trụ trừngphạt

Quan niệm của Hêraclit về chiến tranh chính là quan niệm của ông về sự đấutranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong

vũ trụ Nếu vũ trụ là cái có thật tự, luôn vận động, biến đổi theo logos của nó vàtrong vũ trụ ấy “vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó” thì đấu tranh giữa cácmặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng phải diễn ra trong khuôn khổ của logos,

Trang 10

chứ không phải trong khuôn khổ của các vô trật tự của thói tùy tiện vốn mâu thuẫnvới logos của vũ trụ.

2.2 Sự thống nhất của Logos khách quan và logos chủ quan.

- Hêraclit là người đầu tiên đã đặt vấn đề nhận thức luận về quan hệgiữa logos chủ quan và logos khách quan của mình tức là khả năng thống nhất củachúng Hêraclit cho rằng logos thế giới con người (chủ quan) có đủ khả năng đểphù hợp với logos thế giới (khách quan) mặc dù điều đó diễn ra không phải thườngxuyên và hoàn toàn không phải ở mọi người Hêraclit phàn nàn rằng dù liên hệ,giao tiếp trực tiếp và thường xuyên với logos khách quan và chi phối mọi sự vậtnhưng logos đó vẫn xa lạ đối với nhiều người thường xuyên va chạm với nó, xongnhiều người vẫn không hiểu được nó Mặc dù vậy, logos khách quan về thực chất làthống nhất, là giống nhau và ở một chừng mực nào đó là đồng nhất

- Quan niệm của Hêraclit về logos chủ quan một cách vận động chứkhông phải đứng im Chỉ nhờ tính tích cực này con người mới có thể có lối thoát rathế giới sinh vật bên ngoài Dấu hiệu cơ bản về tính sáng suốt đích thực của conngười theo Hêraclit là ở việc nhận thức được logos của tồn tại, là nhận thức được

sự thống nhất giữa các mặt đối lập Hêraclit đã vạch ra một cách rất độc đáo sựthống nhất mâu thuẫn giữa logos và sự đa dạng của các sinh vật, biện chứng của cáiđơn nhất vàcác số nhiều nói chung Trên thực tế logos là phổ biến, vốn có ở sinhvật nhưng đồng thời về một phương diện nào đó lại nằm ở bên ngoài chúng Đặctrưng của Hêraclit là ý muốn thể hiện bản chất mâu thuẫn của logos khách quanqua logos chủ quan của tâm hồn con người

2.3 Học thuyết về dòng chảy

- Dựa vào việc nghiên cứu tự nhiên bằng quan sát trực tiếp và căn cứvào những kinh nghiệm cảm tính, Hêraclit đã khái quát thành một kết luận nổitiếng về vật chất vận động: “Mọi sự vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì tồn tại

mà lại cố định”; rằng “không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông bởi vì nước mới không ngừng chảy trên sông” ngay cả “mặt trời cũng mỗi ngày một mới” Với

quan niệm về vận động này, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã coi Hêraclit lànhà “triết học vận động”và gọi thuyết của ông là “thuyết về dòng chảy”

- Nếu các nhà triết học thuộc trường phái Mile chú ý nhiều về kết cấuvật chất thì Hêraclit lại chú ý nhiều về vận động Hình ảnh về ngọn lửa cũng là hình

Trang 11

ảnh sống động Tán thành quan niệm này của Heraclit, Hêghen đã lý giải “lửa là thời gian vật lý, nó là sự không yên tĩnh tuyệt đối” Hêghen còn nhận xét:

“Hêraclit nói: Tất cả đều là sinh thành, sinh thành ấy là nguyên tắc cái đó bao trong thành ngữ, cái tồn tại không hơn gì cái không tồn tại” Quan niệm về sự vận

động vĩnh viễn của vật chất hay học thuyết về “dòng chảy” chính là nguyên lý xuấtphát trong quan niệm của Hêraclit về vũ trụ là học thuyết xuyên suốt của ông

- Ở Hêraclit không những dòng sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên

và liên tục đổi mới, nhưng mặt khác ông lại cho rằng không có gì ổn định và bấtbiến hơn là dòng sông luôn chảy và hơn mặt trời luôn chiếu sáng Tính biến đổi củadòng sông không loại trừ sự đứng im, là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổnđịnh và bất biến, cũng như vậy chúng ta có thể nói rằng sự đứng im và tính xácđịnh của dòng sông không loại trừ sự vận động (chảy) của nó Hêraclit thừa nhận

sự thống nhất mâu thuẫn của vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu chứkhông phải là ở việc thừa nhận sự vận động là nhờ có sự hy sinh của đứng im

-> Đóng góp cơ bản của Hêraclit trong lịch sử PBC là cách trình bày đầu tiên

về quy luật thống nhất giữa các mặt đối lập Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫncủa các sự vật trong logos chủ quan và chỉ ra sự thống nhất biện chứng của nhậnthức và biện chứng của thế giới Trên con đường đó ông đã vấp phải các trở ngại

mà đến nay vẫn chưa khắc phục hoàn toàn Đó là vấn đề khả năng phản ánh bảnchất mâu thuẫn của các sự vật, kể cả bản chất mâu thuẫn của vận động vào logiccủa các khái niệm

2.4 Quan niệm của con người

- Trong lịch sử triết học Hy Lạp, Hêraclit không chỉ được coi là ngườisáng lập ra PBC mà còn là người có quan niệm độc đáo về con người Trong quanniệm về con người theo Hêraclit, con người có 2 mặ tđối lập là lửa và ẩm ướt, lửasinh ra linh hồn Nếu người nào đó có nhiều yếu tố lửa thì người ấy là người tốt vìlinh hồn người ấy khô ráo, sạch sẽ Còn người nào có nhiều yếu tố ẩm ướt là ngườixấu và trong con người luôn có sự đấu tranh và chuyển hóa dưới 2 mặt: bệnh tật vàsức khỏe, cái thiện và cái ác, cái đói và cái no, cái mệt mỏi và cái thú vị “Trong conngười chúng ta, sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, trước và sau đều là một, cáisau biến hóa thành cái trước, cái trước biến hóa trở lại thành cái sau”, “mọi vật sinh

ra duy nhất, duy nhất sinh ra mọi vật”

Trang 12

- Tính tương đối của nhận thức: “Tùy từng điều kiện hoàn cảnh màthiện – ác, tốt – xấu, có thể chuyển hóa cho nhau”

- Tính cụ thể của nhận thức: “Bò quý rơm hơn vàng”; “Nước biển làsạch nhất, là bẩn nhất”; “Con khỉ cho dù đẹp nhất cũng chỉ là xấu nhất so với conngười”

=> Sự vật vận động không ngừng, “Sự vật vừa là nó, vừa là cái khác”

=> mọi sv trong TG đều bao hàm trong nó các mặt đối lập.

=> Các mặt đối lập của sự vật luôn bổ sung cho nhau: “Bệnh tật làm cho sức khỏe quý hơn”, “Cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn”, “Mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi sung sướng hơn”, “Cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn”.

=> Các mặt đối lập còn chuyển hóa cho nhau, từ đó làm cho sự vật biến đổi: cái nóng thì lạnh đi, cái lạnh thì nóng lên.

Câu 5: Làm rõ những nội dung chủ yếu trong học thuyết tồn tại của Aritxtốt

1 Giới thiệu

- Aristotle sinh năm 384 TCN, tại Stagira, cách Thrace 300 km về phíaBắc, là thuộc địa của xứ Macedon Ông là một triết gia vừa là nhà khoa học lại vừa

là nhà vật lý Hy Lạp Cũng như Platon từng là học trò của Socrates, Aristotle cũng

là học trò của Platon Cha là quan ngự y nổi tiếng của triều đình Macedonia nên từ

Trang 13

nhỏ, Aristotle đã được học về thiên nhiên và sinh vật qua quan sát cũng như quacác tài liệu y học của phụ thân Niềm say mê sinh vật học và khoa học có thể nảy

nở từ hồi ông còn nhỏ tuổi

- Năm 17 tuổi (367 TCN), Aristotle đến Athens để theo học tại trườngAcademy (Hàn Lâm Viện) dưới sự hướng dẫn của Platon trong suốt 20 năm vànghiên cứu đủ mọi ngành học thuật từ toán học, văn học, sinh vật học cho đến triếthọc Có thể nói Aristotle không chỉ là một sinh viên mà đã trở thành trợ giáo củaPlaton tại Học Viện Aristotle chú trọng đặc biệt đến siêu hình học (metaphysics)-môn học nghiên cứu về “ý tưởng”, những gì bên ngoài và ở bên kia thực tại, khôngphụ thuộc vào giác quan - cùng thiên văn học và chính trị học Trong thời gian này,ông viết nhiều đối thoại được tán dương và rất hùng hồn Năm 347, ông sang ởTiểu Á và Mitilena, Leobos Năm 342, ông được vua Philip xứ Macedonia mời làmgia sư cho hoàng tử Alexander, người về sau trở thành Đại đế

- Năm 335, Aristotle quay lại Athens, mở trường Lyceum (Cao Đẳng),được Alexander Đại đế hỗ trợ, ông lập thảo cầm viên đầu tiên của loài người đểlàm cơ sở học hỏi Tại đây Aristotle và các học trò đi bách bộ dọc con đườngPeripatos rợp bóng cây 2 bên, vừa đi vừa bàn luận triết học, vì thế trường phái củaông được mệnh danh là trường phái Tiêu dao (Peripatetic) Tại đây ông cũng đãthành lập thư viện lớn đầu tiên bằng cách sưu tập hàng trăm thủ bản, bản đồ và vậtmẫu, được ông sử dụng trong khi giảng dạy Aristotle làm hiệu trưởng của trườngLyceum trong 12 hay 13 năm, thời gian này không chỉ giảng dạy và thuyết trình,nhưng trên hết là hình thành các ý niệm chính của ông về việc phân loại các ngànhkhoa học, mạnh bạo thiết lập một khoa lôgíc mới, và viết ra các ý niệm tiến bộ củaông về mọi lĩnh vực chính của triết học và khoa học

- Khi hoàng đế Alexander mất năm 323 TCN, một làn sống chốngngười Macedonia nổi dậy, Aristotle bị kết tội không sùng bái thần linh (vô đạo), đểtránh cho người Athens khỏi phạm tội lần thứ 2 chống lại triết học, nên ông đã bỏLyceum và trốn đi Chalcis, ông qua đời tại đây năm 322 TCN, do chứng bệnh tiêuhóa kéo dài, thọ 62 tuổi

- Sự nghiệp sáng tác của Aristotle thật đồ sộ với hơn 150 tác phẩm vềnhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài triết học ông còn thâm nhập vào hầu như tất cảcác nghành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, để lại nhiều công trình có giá trị.Những sáng tác của Aristotle thuộc về ba nhóm khoa học chính:

Trang 14

+ Nhóm các khoa học lý thuyết, lấy tri thức làm đối tượng, gồm siêu hìnhhọc (triết học đệ nhất), vật lý học (triết học đệ nhị), toán học, lôgíc học.

+ Nhóm các khoa học thực tiễn, lấy hành động làm đối tượng, gồm đạo đứchọc, chính trị học, kinh tế học

+ Nhóm các khoa học sáng tạo, lấy những gì hữu ích và gây ấn tượng do conngười sáng tạo ra làm đối tượng, gồm nghệ thuật, thi ca, các khoa học ngôn ngữ,các hoạt động có tính chất kỹ thuật

- Đối với triết học đệ nhất là những gì tồn tại đằng sau tự nhiên hữuhình Tự nhiên ở Aristotle không đồng nhất với thực tại Thực tại rộng hơn tựnhiên, tự nhiên chỉ là một phần của thực tại Siêu hình học nghiên cứu những bảnchất, hay của thực thể; ngược lại vật lý học, tức triết học đệ nhị, nghiên cứu nhữngnguyên nhân vật chất năng động của toàn bộ sự vật hữu hình; còn toán học nghiêncứu những vật bất động Triết học đệ nhất được nâng lên cấp độ khoa học về tinhthần, nhưng rộng hơn cả thần học, vì nó bao quát toàn bộ nguyên nhân và bản chấtcủa thực tại, với tính cách đó nó cũng lại là khoa học về tồn tại

=> Có thể hình dung trình tự nghiên cứu của triết học Aristotle như sau: đầutiên là logíc học như nhập môn vào các khoa học khác; tiếp theo vật lý học tìm hiểu

tự nhiên vô cơ, hữu cơ và đời sống con người; thứ ba là siêu hình học nghiên cứubản chất tồn tại; cuối cùng là đạo đức học và các khoa học ngôn ngữ văn chương…

2 Thuyết tồn tại

2.1 Phê phán Platon

- Aritote phê phán Platon trong vấn đề bản thể luận khi Platon chia thếgiới làm hai, “học thuyết ý niệm” “Platon là thầy nhưng chân lý vẫn quý hơn”, ôngcho rằng ý niệm của Platon là không có lợi cho nhận thức của con người, vì nóthuộc về thế giới bên kia – là cái phi thực thể, dựa vào nó con người không thểnhận thức được thế giới bên ngoài Thế giới ý niệm của Platon là thế giới đóng kín,biệt lập, do đó không giải thích được 1 thuộc tính quan trọng của thế giới là sự vậnđộng

- Ông cho rằng: bản chất của sự vật không thể thuộc về thế giới ý niệmbên ngoài sự vật Nó phải nằm trong sự vật, từ đó ông cho rằng những khái niệm,quy luật, không thể quy định sự tồn tại của sự vật, ngược lại chính sự tồn tại của sự

Trang 15

vật được phản ánh thông qua những khái niệm Đây là tư tưởng duy vật đầu tiênxuất hiện trong tư duy lí luận của Aritote Thế nhưng ông không hoàn toàn đồng ývới quan niệm của các nhà duy vật, khi giải thích về thế giới Vì thế ông càng đisâu vào thuyết nguyên nhân thì ông càng lập lại tư duy, duy tâm của Platon đã điqua.

-> Ông là 1 nhà nhị nguyên

2.2 Quan niệm về thế giới

- Nguồn gốc thế giới là thực thể vật chất Các sự vật khác nhau chỉ lànhững hình thức khác nhau của thực thể vật chất đó (quan điểm duy vật)

- Vận động: là 1 cái gì đó nói chung đang biến đổi Có 6 dạng vận động:vận động dịch chuyển vị trí (bên ngoài), số lượng, chất lượng, trạng thái, tính chất(vđ bên trong),… (MLN: vận động là mọi sự biến đổi nói chung)

- Lý thuyết hình dạng (học thuyết 4 nguyên nhân)

+ Sự vật ra đời từ 4 nguyên nhân: hình dạng (hình thức), mục đích, vật chất,tác động (vận động)

+ Sau đó, với quan niệm mục đích và vận động có sẵn trong hình dạng nênchỉ còn 2 nguyên nhân: hình dạng và vật chất

-> Ông khẳng định, nguyên nhân hình dạng là nguyên nhân có tính quyếtđịnh sự ra đời của các sự vật Nguyên nhân vật chất chỉ đóng vai trò thụ động, tồntại khả năng, tiềm năng

-> Hình dạng là nguyên nhân đi trước, có vai trò tích cực

-> Vật chất là nguyên nhân thụ động

=> Quan niệm, có những hình dạng có trước sự vật, tồn tại ở đâu đó, mọi sự vật

ra đời trên cơ sở khuôn theo những hình dạng đó

=> Ông rơi vào quan điểm “mục đích luận” – mọi sự vật ra đời đều phải có mụcđích trước

=> Duy tâm Sự vật ra đời do 4 nguyên nhân ông đưa ra chỉ là sự vật nhân tạo

do con người tạo ra, sự vật trong thế giới tự nhiên không như thế -> sai lầm củaAritxtot

Trang 16

2.3 Hình thức của linh hồn

- Linh hồn thực vật: sinh dưỡng, sinh trưởng VD: cây cối,…

- Linh hồn động vật: linh hồn của thực vật + biết vui, buồn, bộc lộ cảmxúc

- Linh hồn lý tính (tồn tại vĩnh viễn): con người, thượng đế Nó baogồm cả 2 linh hồn trên

3 Đánh giá

Sau Aritxtot, triết học bước vào triết học hoài nghi nên có giá trị không đáng

kể -> nghiên cứu triết học HL cổ đại kết thúc

Đây là nền triết học diễn ra hơn nghìn năm, để lại nhiều giá trị Những tưtưởng triết học mang tính thời sự cho đến cả hiện tại Và nó là viên gạch, nền móngvững chắc cho triết học hiện đại

Câu 6: Làm rõ những nội dung chủ yếu của triết học Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Triết học thời kỳ phong kiến ở Tây Âu từ khoảng TK IV đến TK XVI

1 Hoàn cảnh ra đời

- TK IV, chế độ CHNL tan rã (476) -> sự ra đời của xã hội phong kiếnvới các giai cấp giai cấp mới – giai cấp phong kiến, giai cấp nông nô,…

- Kinh tế: xã hội tập trung phát triển nông nghiệp

-> Xã hội trì trệ, lạc hậu, kém phát triển, diễn ra trong nhiều thế kỷ -> Trung tâm văn minh xã hội chuyển về các vùng nông thôn

-> Xã hội buồn tẻ, lạc hậu

- Mỗi vùng lãnh địa có 1 vị lãnh chúa -> quản lý cát cứ

- Tôn giáo: Đạo cơ đốc là 1 tổ chức giáo hội, chiếm 1/3 ruộng đất trong

xã hội Đầu công nguyên, xã hội HL thoái trào -> cuộc sống của người dân vô cùngcực khổ, họ đứng lên đấu tranh, nhưng bị đàn áp dã man -> họ cảm thấy mất niềm

Trang 17

tin vào cuộc sống -> họ tưởng tượng ra 1 vị chúa, mong chúa cho họ 1 cuộc sốngtốt đẹp -> chúa Jesu ra đời TK I, đó là tiếng nói của những người dân lao động.

Trước cuộc chiến tranh liên miên, chủ nô cảm thấy bất ổn -> chủ nô xin gianhập vào Đạo Cơ đốc, họ hiến đất đai, của cải cho giáo hội -> họ chiếm vị trí quantrọng trong giáo hội Họ thay đổi giáo lý của Đạo Cơ đốc -> nô dịch người nghèo

-> Ở thời kỳ này, kinh thánh được xem như luật pháp Xã hội bị thống trịbởi vương quyền và thần quyền Tôn giáo bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống của

xã hội, làm cho triết học, chính trị học, luật học biến thành các bộ môn của thầnhọc

=> Triết học bị tri phối rất mạnh của thần học nên nó phải có tính kinh viện, đây lànét đặc trưng tiêu biểu cho triết học thời kỳ này

- Từ TK XII, sản xuất hàng hóa, thương nghiệp, thủ công nghiệp khôiphục lại -> hình thành đô thị -> chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo: thời kỳ PhụcHưng

- Những nhà triết gia tiểu biểu: Ôguýtxtanh, Tômát Đacanh, RôgiơBêcơn

2 Những nội dung chủ yếu

2.1 Triết học Kinh viện

- Giữ vai trò chủ đạo Là 1 triết học thuần túy sách vở, tách rời cuộcsống, xa rời thực tiễn, xa lạ với mọi thực nghiệm khoa học Nó diễn ra trong nhàthờ, trường học của nhà thờ (tu viện) Các triết gia thời kỳ này đều là các triết giakinh viện Gốc của nó là triết học Đạo Cơ đốc

- ND: bảo vệ kinh thánh Chứng minh cho các tín đố tôn giáo: TG là doThượng đế sinh ra và an bài

-> Tất cả các triết gia đều là các triết gia kinh viện: Ôquýtxtanh, T.Đacanh, Rôgiê Bêcơn,… -> tin tưởng 1 cách nhiệt thành vào tôn giáo…

“Tôi tin bởi điều đó là phi lí” -> tuyên truyền niềm tin k có cơ sở vào nhữngđiều phi lí

“Cái đó là chân lý, bởi vì nó vô lí”

Trang 18

“Thượng đế tạo ra tất cả thì con người có tự do ý chí không?” Có 2 câu trảlời: “Có”, nghĩa là thượng đế không chi phối được con người; “không”, nghĩa là chỉlàm theo ý chúa, sẽ không làm sai gì, vì vậy sẽ không cần chúa

-> phủ định sự tồn tại của chúa

-> con người có tự do ý chí nhưng phụ thuộc vào chúa

2.2 Các nhà triết học đều đặt ra và giải quyết các vấn đề giữa cái chung

và các sự vật riêng lẻ

- Chủ nghĩa duy danh (khuynh hướng duy vật): trong thực tế chỉ có các

sự vật riêng lẻ là tồn tại., không có cái chung, cái chung chỉ là sự thỏa thuận củacon người

- Chủ nghĩa duy thực (khuynh hướng duy tâm): phủ nhận sự tồn tại củacác sự vật riêng lẻ, chỉ có cái chung mới tồn tại, khi có cái chung, từ cái chung mớisinh ra sự vật riêng lẻ

=> Biểu hiện đặc thù của cuộc đấu tranh của CNDV và CNDT ở thời kỳ này làcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩa duy danh xung quanh việcgiải quyết các vấn đề trung tâm của triết học

2.3 Các nhà triết học đều đặt ra và giải quyết mqh giữa khoa học và tri thức với tôn giáo và niềm tin.

- Trước TK XII, cho rằng tôn giáo và niềm tin cao hơn khoa hoc và trithức KH chỉ nghiên cứu TG tự nhiên nhưng Thượng đế tạo ra tự nhiên -> KHkhông bằng Thượng đế Niềm tin tự thân vận động, không phải chứng minh, trithức mới phải chứng minh

- Sau TK XII, KH thực nghiệm KH và tôn giáo độc lập với nhau KHđem lại cho con người 1 chân lý Tôn giáo cũng đem lại cho con người 1 chân lý ->hình thành tư tưởng “2 chân lý”

Trang 19

- Đảm bảo tính liên tục của triết học.

- Tư tưởng triết học tuy yếu ớt nhưng từng bước bác bỏ triết học củagiáo hội và tôn giáo

- Làm nhạt đi đáng kể tính mộc mạc, chất phác, ngây thơ của tư tưởngtriết học cổ đại, chuẩn bị cho con người tư duy bước sang thời kỳ mới

Câu 7: Làm rõ quan điểm của phái duy thực và phái duy danh, cho nhận xét trên lập trường duy vật biện chứng

1 Quan điểm

- Chủ nghĩa duy danh (khuynh hướng duy vật): trong thực tế chỉ có các

sự vật riêng lẻ là tồn tại., không có cái chung, cái chung chỉ là sự thỏa thuận củacon người (Đơn Xcốt là nhà duy danh lớn TK 18, sinh trưởng tại Anh): cái chungvừa tồn tại trong các sự vật (như là bản chất của các sự vật), vừa tồn tại sau các sựvật (như là khái quát, trừu tượng hóa khỏi các sự vật riêng lẻ)

- Chủ nghĩa duy thực (khuynh hướng duy tâm): phủ nhận sự tồn tại củacác sự vật riêng lẻ, chỉ có cái chung mới tồn tại, khi có cái chung, từ cái chung mớisinh ra sự vật riêng lẻ (Tômát Đacanh là nhà thần học đạo Cơ đốc, sinh tại Italia,nhà triết học kinh viện nổi tiếng: cái chung tồn tại trên 3 mặt: 1 là tồn tại trước sựvật, trong trí tuệ của thượng đế như là mẫu mực lý tưởng của các sự vật riêng lẻ, 2

là cái chung tồn tại khách quan trong các sự vật riêng lẻ, 3 là cái chung được tạo rasau các sự vật ở trong trí tuệ của con người, bằng con đường trừu tượng hóa các sựvật riêng lẻ)

1.1 Tômát Đacanh (1225 - 1274)

- Là đại biểu của phái Duy thực trong giai đoạn hưng thịnh của chủnghĩa kinh viện Học thuyết của ông được thừa nhận là triết học chính thức duynhất của giáo hội thiên chúa

- Tômát Đacanh nghiên cứu nhiều lĩnh vực: thần học, triết học, phápquyền, đạo đức, chế độ nhà nước và kinh tế Với 18 cuốn sách trong tuyển tập củaông, hợp thành bộ bách khoa toàn thư về hệ thống tư tưởng thống trị thời trung cổhưng thịnh

Trang 20

- Tômát Đacanh cho rằng triết học không có mâu thuẫn với thần họcnhưng triết học thấp hơn thần học, giống như lý trí con người thấp hơn “lý trí củathần” Giới tự nhiên do trời sáng tạo ra từ hư vô Sự phong phú, hoàn thiện và trật

tự của giới tự nhiên được quyết định bởi sự thông minh của trời Trật tự đó đượctrời quyết định theo thứ bậc như sau: bắt đầu từ các sự vật không có linh hồn, tiếnqua con người, tới các thần thánh và sau cùng là bản thân chúa trời Mỗi bậc dướiđều cố gắng đạt lên tới bậc trên, toàn bộ hệ thống mong tiến tới chúa trời TheoTômát, con người do chúa trời tạo ra theo “hình dáng của mình” và sắp xếp theocác đẳng cấp khác nhau Nếu người nào vượt khỏi đẳng cấp của mình là có tội vớichúa trời Chính quyền nhà vua là thừa lệnh “ý của trời” Quyền lực tối cao baotrùm hết thảy thuộc về giáo hội

-> Tóm lại, nguyên lý cơ bản của triết học Tômát Đacanh là sự hài hoàgiữa đức tin và lý tính, lý tính có thể chứng minh một cách hợp lý sự tồn tại củathượng đế và có thể bác bỏ những ý kiến chống lại chân lý của đức tin Vì thế ôngđược coi là nhà duy thực ôn hoà Bắt đầu từ năm 1879, hệ thống kinh viện của ôngđược coi là triết học chân thực của đạo thiên chúa và được các nhà tư tưởng chốngcộng sử dụng để đấu tranh chống lại thế giới quan khoa học mác xít

1.2 Đơn Xcốt (1265 - 1308)

- Được coi là nhà duy danh lớn nhất thế kỷ XIII

- Vấn đề chủ yếu mà Đơn Xcốt quan tâm là giải quyết mối quan hệ giữathần học và triết học Ông có ý tưởng muốn giải phóng triết học khỏi áp bức củagiáo hội, cắt đứt mối liên hệ giữa triết học với thần học Theo ông, thần học nghiêncứu thượng đế, còn triết học nghiên cứu hiện thực khách quan Lý trí của conngười, theo Đơn Xcốt, chỉ có thể nhận thức ở tồn tại những gì mà nó không thểtách rời khỏi các tài liệu cảm tính Cho nên, con người không có được một kháiniệm nào về bản chất phi vật chất như Chúa trời, Thượng đế Tuy nhiên, Đơn Xcốtkhông hạ thấp lòng tin tôn giáo Ông cho rằng, Thượng đế là một tồn tại bất tận,không thể chứng minh được bằng lý trí mà phải dựa vào lòng tin

- Đơn Xcốt đứng trên lập trường của phái duy danh trong việc giảiquyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Ông cho rằng cái chung không chỉ

là sản phẩm của lý trí, nó có cơ sở trong bản thân các sự vật Điều đó có nghĩa làcái chung vừa tồn tại trong sự vật với tính cách là bản chất của sự vật, vừa tồn tại

Trang 21

với tính cách là những khái niệm được lý trí của con người trừu tượng hoá khỏi bảnchất của sự vật.

- Về lý luận nhận thức, Đơn Xcốt cho rằng tinh thần và ý trí là hình thứccủa thân thể con người và gắn liền với thân thể con người đang sống do thượng đếban cho từ khi con người mới được sinh ra Tri thức của con người được hình thành

từ thần và từ đối tượng nhận thức Tinh thần tuy có sức mạnh to lớn trong nhậnthức, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức Chỉ có những sự vật đơnnhất và cá biệt là thực tại cao nhất

=> Biểu hiện đặc thù của cuộc đấu tranh của CNDV và CNDT ở thời kỳ này làcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩa duy danh xung quanh việcgiải quyết các vấn đề trung tâm của triết học

2 Nhận xét

DV này bỏ qua cái chung, cũng tức là DT Nhưng đặt vào bối cảnh thời kỳlịch sử, CNDD là xu hướng duy vật vì nó thừa nhận tồn tại khách quan của các sựvật

Câu 8: Phân tích những đặc điểm chủ yếu của triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng

Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng từ TK XV đến XVI

Phục Hưng: khôi phục lại nền văn hóa cổ đại

1 Hoàn cảnh lịch sử

- TK XV, các yếu tố TBCN bắt đầu xuất hiện, xuất hiện GCTS, với nhucầu tìm đến các tri thức khoa học, nên gcts tìm cách khôi phục lại những tri thứcthời cổ đại, song song với phát minh ra những tri thức mới

- Phát kiến địa lý:

+ 1492, tìm ra châu Mỹ -> tạo ra địa bàn phát triển của gcts

+ Tìm đường biển vòng quanh thế giới, là con đường mới để giao thương

Ngày đăng: 17/01/2016, 19:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w