1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

22 363 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 64,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

AMỞ ĐẦU: 1 BNỘI DUNG: 2 INhững vấn đề lý luận chung: 2 1Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: 2 1.1Khái niệm: 2 1.2 Đặc điểm: 2 2Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra: 3 2.1 Khái niệm: 3 2.2 Đặc điểm: 3 3Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm nguy hiểm cao độ gây ra: 5 3.1 Khái niệm: 5 3.2 Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ: 5 4 Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra. 6 4.1 Khái niệm: 6 4.2 Đặc điểm của thú dữ: 7 IITrách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra: 9 1Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ): 9 2Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: 10 2.1Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu: 11 2.2Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng: 12 2.3Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật: 13 3Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại: 14 3.1Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại: 14 3.2Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng và tình thế cấp thiết: 15 IIIThực tiễn: 16 IVKiến nghị hoàn thiện: 18 CKẾT LUẬN: 19 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 1

I/Những vấn đề lý luận chung: 2

1/Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: 2

1.1/Khái niệm: 2

1.2/ Đặc điểm: 2

2/Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra: 3

2.1/ Khái niệm: 3

2.2/ Đặc điểm: 3

3/Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm nguy hiểm cao độ gây ra: 5

3.1/ Khái niệm: 5

3.2/ Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ: 5

4/ Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra 6

4.1/ Khái niệm: 6

4.2/ Đặc điểm của thú dữ: 7

II/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra: 9

1/Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ): 9

2/Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: 10

2.1/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu: 11

2.2/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng: 12

2.3/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật: 13

3/Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại: 14

3.1/Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại: 14

3.2/Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng và tình thế cấp thiết: 15

III/Thực tiễn: 16

IV/Kiến nghị hoàn thiện: 18

Trang 2

C/KẾT LUẬN: 19 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

A/MỞ ĐẦU:

Trong cuộc sống, không thể tránh khỏi những hành vi của con người hoặcngay cả khi tự thân tài sản gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp củacác cá nhân khác Khi gây thiệt đến các quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác thì tất yếu phải có bồi thường những thiệt hại đã gây ra cho người bị thiệthại Việc bồi thường này không có sự giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồngnhưng không nằm trong phạm vi thực hiện hợp đồng Chế định này gọi là bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là mộttrong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự trong lịch sửpháp luật thế giới Mỗi quốc gia khác nhau, trải qua những thời kì lịch sử, phụthuộc vào quan niệm, truyền thống lập pháp, điều kiện kinh tế - xã hội,…có

thời kì phong kiến cũng có những điều luật quy định quy định về trách nhiệmdân sự do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, một trong số những bộ luật cổ này

là Quốc triều hình luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm bồi thườngthiệt hại do hành vi của con người gây ra và bồi thường thiệt hại do tài sản gây

ra Một trong những tài sản được đề cập ở đây là thú dữ Thú dữ thường đượccon người nhắc đến là một loài rất hung dữ, lớn có khả năng gây thiệt hại rất caođối với con người Khi xảy ra những tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại thìvẫn còn nhiều tranh cãi do có nhiều luồng quan điểm trong việc giải quyếtnhững yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến thú dữ Do vậy, em quyết định

chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra- Lý luận, thực tiễn và kiến

nghị hoàn thiện pháp luật” Do tầm hiểu biết còn nhiều hạn chế , không thể

1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội,Giáo trình luật dân sự Việt Nam,tập 2, NXB Chính trị quốc gia Sự thât, Hà

Nội, 2017, tr373.

Trang 3

tránh khỏi những sai sót, mong quý thầy cô góp ý để bài tiểu luận của em đượchoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn.

B/NỘI DUNG:

I/Những vấn đề lý luận chung:

1/Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

1.1/Khái niệm:

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự theo đó,người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây thiệt hại cho người khác phải bồi thườngnhững tổn thất mà mình gây ra mà giữa người có hành vi trái pháp luật gây thiệthại và người bị thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng

1.2/ Đặc điểm:

Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệmpháp lý nói chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn cónhững đặc điểm riêng sau đây:

-Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệmdân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi một người hoặc tài sảngây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thườngthiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quyđịnh trong Bộ luật dân sự ở Điều 13 và Chương XX và các văn bản hướng dẫnthi hành Bộ luật dân sự

-Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉđặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vigây thiệt hại hoặc có sự kiện tài sản gây thiệt hại xảy ra trên thực tế, có mối

2 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội,Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2,NXB Chính trị quốc gia Sự thât, Hà

Nội, 2017, tr377.

Trang 4

quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại hay sự kiện tài sản gây thiệt hại vớithiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộcđối với trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp động do tài sản gây ra) Đây

là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồithường những thiệt hại do mình hoặc tài sản gây ra

-Về hậu quả: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn mang đếnmột hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây

ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phảiđược pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ khôngthể thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dùkhông thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của phápluật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy, thực hiệntrách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại

-Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gâythiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn được áp dụng

cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, ngườigiám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây rathiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, chủ sởhữu, người chiếm hữu, người quản lý sử dụng tài sản,

2/Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra:

2.1/ Khái niệm:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm dân

sự mà theo đó chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản phải gánhchịu hậu quả bất lợi về vật chất nhằm bù đắp những tổn thất do tài sản gây ra

3 Luận án tiến sĩ luật học Nguyễn Văn Hợi về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”

Trang 5

2.2/ Đặc điểm:

Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng có những đặc điểmriêng biệt sau:

Thứ nhất, hoạt động của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại

Hiện nay vẫn tồn tại hai luồng ý kiến xung quanh vấn đề tài sản gây thiệt hại

có hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản haykhông? Ý kiến thứ nhất cho rằng khi tài sản gây thiệt hại vẫn tồn tại hành vi tráipháp luật của chủ sở hữu hoặc các chủ thể khác, và hành vi trái pháp luật này cóthể tồn tại dưới dạng hành động hoặc không hành động và đó là nguyên nhândẫn đến thiệt hại Ý kiến thứ hai (cũng là quan điểm của em) cho rằng khi tài sảngây thiệt hại có thể tồn tại hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu hoặc các chủ thểkhác, nhưng hành vi này không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại Hành vi

đó là hành vi liên quan đến hoạt động quản lý tài sản, và thiệt hại xảy ra khôngphải là kết quả tất yếu của hành vi quản lý tài sản.Vì vậy, có thể thấy thiệt hạixảy ra là hậu quả của sự hoạt động của tài sản, tức là không tồn tại hành vi gâythiệt hại của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng tài sản

Thứ hai, lỗi không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng minh

Đối với trường hợp tài sản gây thiệt hại, người bị thiệt hại không cần phảichứng minh lỗi của chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng tàisản Thực tế cho thấy, lỗi là yếu tố gắn liền với hành vi trái pháp luật và có ýthức của con người Do đó, khi tài sản gây thiệt hại thì bản thân tài sản khôngthể bị coi là có lỗi, bởi vì hoạt động gây thiệt hại của tài sản không thể coi là mộthành vi có ý thức Tuy nhiên, điều này cũng không thể khẳng định khi tài sảngây thiệt hại thì không có lỗi của bất kỳ một chủ thể nào Bởi vì, sự tồn tại vàhoạt động của tài sản luôn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu hoặc một chủthể nhất định Mặc dù, người quản lý tài sản không có hành vi gây ra thiệt hại,nhưng việc tài sản thuộc sự quản lý của họ gây ra thiệt hại thì mặc nhiên xácđịnh là họ có lỗi trong quản lý tài sản

Trang 6

Thứ ba, về cơ sở xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Khi tài sản gây thiệt hại, việc xác định chủ thể bồi thường không chỉ dựa trên

cơ sở hành vi trái pháp luật mà còn dựa vào nguyên tắc hưởng lợi và gánh chịurủi ro do tài sản mang lại Do đó, khi xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại do tài sản gây ra, chúng ta không chỉ căn cứ vào độ tuổi, khảnăng nhận thức và năng lực về tài sản của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người

sử dụng tài sản tại thời điểm tài sản gây thiệt hại, mà còn phải căn cứ vào việcchủ thể có được hưởng lợi ích và các quyền năng đối với tài sản hay không?

Thứ tư, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường có thể xác định theo thỏa thuận

Đối với trường hợp tài sản gây thiệt hại, việc xác định chủ thể chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại về cơ bản vẫn do pháp luật quy định Theo đó, ngườiphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu, người được chủ sở hữuchuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản, hay của chủ thể khác (ngườichiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, người thứ ba,…) đều được quy định một cách

cụ thể trong từng trường hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định,việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra lạiphụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên Ví dụ khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự

năm 2015 quy định:“… nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử

dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

3/Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm nguy hiểm cao độ gây ra:

3.1/ Khái niệm:

Tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: “Nguồn nguy

hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện,

nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất

phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.”

Thế nhưng nguồn nguy hiểm cao độ trong Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ mangtính chất liệt kê, chứ chưa đủ để gọi khái niệm Do vậy, nghiên cứu sinh Nguyễn

Trang 7

Văn Hợi sau qua trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm khá đầy đủ trong luận ántiên sĩ của mình Nguồn nguy hiểm cao độ là:

“Nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản mà hoạt động của nó luôn

tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho con người và môi trường xung quanh với

mức độ cao hơn bình thường, mà chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng

và những người xung quanh khó có thể phòng tránh và phản ứng kịp thời.”

3.2/ Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ:

Từ khái niệm nêu ở trên, ta thấy được nguồn nguy hiểm có một số đặc điểmsau đây:

Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn “tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại bấtngờ cho con người hoặc gây thiệt hại về tài sản mà không phải bao giờ con

thấy, con người “không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệthại”5

Thứ hai, tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ cao hơn các loạitài sản khác Các loại tài sản khác thường chỉ gây thiệt hại với tần suất thấp(nhà sập xong là chấm dứt hoạt động gây thiệt hại, nhà bên cạnh thường khó cóthể sập theo).Tuy nhiên, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường xảy raliên tục (ví dụ các vụ cháy, nổ xăng dầu, ga, thuốc súng,…thường kéo dài liêntục cho đến khi các loại chất này được đặt cạnh nhau cháy hoặc nổ hết)

Thứ ba, Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường khó hạn chế, khắcphục Thường thì các loại tài sản khác gây thiệt hại xong thì dẫn đến hậu quảngay nên có thể dễ dàng khắc phục hậu quả, và thường thì việc gây thiệt hại

sẽ không tiếp tục (ví dụ, nhà đổ gây thiệt hại xong thì không còn gây thiệt hạinữa) Song, nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì không những chỉ xảy ranhững hậu quả trước mắt (hậu quả ngay), mà còn có thể gây ra những hậu quả

4 Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà Nội, Hà

Nộ,2009;

5 Trần Thị Huệ , “TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị

- Hành chính, Hà Nội, 2013, tr 76

Trang 8

tiếp theo mà con người khó có thể ngăn chặn (chất phóng xạ đã nhiễm khó khửsạch, thuốc nổ đã nổ một phần thì khó có thể hạn chế phần còn lại không nổ,…)

Thứ tư, Có thể gây thiệt hại ngay cả khi đang có sự quản lý chặt chẽ của conngười Do đó, đòi hỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng không những phảiquản lý chặt chẽ mà còn phải ngăn cản những người khác tiếp xúc với nguồnnguy hiểm cao độ

4/ Bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra

4.1/ Khái niệm:

Thú dữ được định nghĩa rất nhiều trong các sách chuyên khảo,luận văn, luận

án, các trang web khác Tuy vậy, những khái niệm này ở khía cạnh này hoặckhía cạnh khác vẫn có những hạn chế nhất định Theo quan điểm của em, kháiniệm thú dữ được định nghĩa trong luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh NguyễnVăn Hợi là hợp lý Thú dữ được định nghĩa như sau:

“Thú dữ là một trong những loài động vật ăn thịt, rất lớn, chưa được con

người thuần hóa, hoạt động mang tính bản năng cao, có thể gây thiệt hại cho

con người và các loài động vật khác 6 ”

4.2/ Đặc điểm của thú dữ:

Thú dữ có những đặc điểm riêng biệt, khác biệt so với những loại động vậtkhác, chúng có một số đặc điểm riêng sau:

Thứ nhất, thú dữ là một nguồn nguy hiểm cao độ Bồi thường thiệt hại do

cao độ được liệt kê bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tảiđiện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc,chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quyđịnh Hiện nay vẫn chưa có các nghị định hướng dẫn hoặc các nghị quyết của

6 Luận án tiến sĩ luật học Nguyễn Văn Hợi về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, tr 86.

7 Xem Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

8 Xem Khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Trang 9

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định chi tiết về các nguồnnguy hiểm cao độ khác Bởi trên thực tế có rất nhiều loài tuy nhỏ nhưng có khảnăng gây thiệt hại rất cao cho con người nhưng lại không được xếp vào thú dữ.

Ví dụ ong,

Thứ hai, thú dữ là một loài có kích thước lớn so với con người Chính vì kíchthước này nhưng vẫn chưa được thuần hóa nên thú dữ có khả năng gây thiệt hạicho con người là rất cao

Thứ ba, thú dữ là một loài có tính bản năng cao Thú dữ bao gồm hổ, báo, sư

những loài này là đặc tính săn mồi Do vậy, bất cứ lúc nào con người có thể nằmtrong tầm ngắm của chúng Khác với các loài súc vật khác, chỉ có thể tấn côngcon người khi chúng tự vệ, thì ở thú dữ, việc tấn công có thể xảy ra một cách bấtchợt và không thể lường trước

Thứ tư, thú dữ vẫn chưa được thuần hóa Trải qua lịch sử phát triển củamình, con người dần chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho các nhu cầucủa mình Trong đó việc săn bắn và thuần dưỡng động vật hoang dã thành vậtnuôi trong nhà là một trong những hoạt động có tính lịch sử của loài người Cácloài động vật hoang dã khi đã được con người thuần dưỡng thì đều sống thânthiện với con người Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, con người chưa thểthuần dưỡng được các loài thú dữ Mặc dù, rất nhiều tổ chức, cá nhân hiện đangnuôi nhốt một số loài thú dữ, nhưng đó cũng không phải là hoạt động thuầndưỡng thú dữ, mà chỉ là việc chế ngự tạm thời bản tính hung dữ của chúng.Đương nhiên, bản thân các loài thú dữ khi bị nuôi nhốt thì bản năng tính loài củachúng càng cao, nên trong quá trình nuôi nhốt, các chủ thể phải bảo quản vàtrông giữ hết sức cẩn trọng Chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây ra nhữngthiệt hại cho chính chủ sở hữu cũng như các chủ thể xung quanh

9 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội,Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2,NXB Chính trị quốc gia Sự thât, Hà

Nội, 2017, tr 425

Trang 10

Thứ năm, thú dữ là loài động vật có thể vượt khỏi tầm kiểm soát của conngười ngay cả khi con người đang trực tiếp kiểm soát chúng Thông thường,những loài động vật đã được thuần dưỡng sẽ lành tính hơn và thường chấp nhận

sự kiểm soát của con người, tức là hầu hết các loài động vật được thuần dưỡngnuôi trong nhà không thể vượt khỏi tầm kiểm soát của con người ngay cả khicon người đang không trực tiếp quản lý chúng (ví dụ: trâu, bò nhốt trong chuồngthường không có phản ứng vượt ra ngoài) Trong khi đó, thú dữ là loài động vật

“không chấp nhận” sự kiểm soát của con người, chúng luôn có ý thức phảnkháng lại trước sự quản lý của con người Ngay cả khi đang nằm trong sự kiểmsoát của con người, nhưng chỉ cần một sơ ý nhỏ của người quản lý, thú dữ sẽvượt khỏi tầm kiểm soát, thậm chí tấn công cả người đang quản lý Đây chính làđặc điểm cho thấy việc quản lý chặt chẽ thú dữ là vô cùng quan trọng, không thể

có bất cứ một sự lơ là nào trong việc quản lý thú dữ

II/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra:

Thú dữ được liệt kê là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ được quyđịnh tại Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 Do vậy, tất cả những quy phạmpháp luật điều chỉnh về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây racũng điều chỉnh bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra

1/Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ):

Hiện nay, vẫn còn rất nhiều nhằm lẫn giữa bồi thường thiệt hại do tài sản gây

ra và bồi thường thiệt hại do hành vi con người con người thông qua tài sản.Việc xác định đúng chủ thể gây ra thiệt hại là hết sức quan trọng để xác định cơ

sở pháp lý và chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường Cụ thể là:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý để áp dụng: Nếu thiệt hại do thú dữ gây ra thì cơ

sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là quy định tạiĐiều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra); Nếu thiệt hại xảy ra là do người sử dụng thú dữ gây

ra, tức là thiệt hại có liên quan đến thú dữ những không phải do tự thân thú dữ

Trang 11

gây ra thì cơ sở pháp lý được áp dụng là Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm

2015 (cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra nói

chung)

Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Nếu thiệt hại do tự

thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường

thiệt hại là chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng nguồn nguy hiểm cao

độ; Nếu thiệt hại do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chủ thể

chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ

hoặc các chủ thể có liên quan đến người sử dụng Ví dụ: Trường hợp hổ bị xổng

chuồng do tự thân hổ phá chuồng và gây ra thiệt hại cho người khác thì chủ sở

hữu, người chiếm hữu hoặc người sử dụng con hổ phải bồi thường Ngược lại,

do người quản lý bất cẩn trong việc trông giữ mà để hổ xổng chuồng và gây

thiệt hại cho người khác thì người quản lý phải bồi thường do hành vi bất cẩn

của mình

Để xác định được chủ thể gây ra thiệt hại có phải là thú dữ gây ra hay không

cần phải có 2 điều kiện:

Một là, phải có sự hiện diện tài sản gây ra thiệt hại là thú dữ

Hai là, thiệt hại phải do tự thân hoạt động của thú dữ gây ra.Ví dụ: thú dữ

xổng chuồng theo bản năng của nó tấn công những người xung quanh, gây thiệt

hại về sức khỏe, tính mạng của các chủ thể xung quanh,

2/Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Thông thường, khi tài sản gây thiệt hại, việc xác định ai phải bồi thường sẽ

căn cứ vào từng trường hợp cụ thể Nếu tài sản gây thiệt hại mà chủ thể đang

quản lý có lỗi trong việc quản lý, thì phải bồi thường Nếu tài sản gây thiệt hại

trong trường hợp người quản lý tài sản tuân thủ các quy định pháp luật về quản

lý tài sản, thì ai là người được hưởng quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi

ích do tài sản mang lại sẽ phải chịu trách nhiệm Nguyên tắc này hoàn toàn phù

hợp với lẽ công bằng Khi tài sản gây thiệt hại, người quản lý tài sản bị suy đoán

là có lỗi cho đến khi chứng minh mình không có lỗi trong việc quản lý tài sản

Ngày đăng: 25/03/2019, 13:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w