Bài thảo luận thứ 5 môn Luật dân sự phần hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nhóm 6 lớp CLC41B, giáo viên dạy Hoàng Thế Cường và Hoàng Vũ Cường.Lưu ý: nội dung bài chỉ mang tính tham khảo, không chính xác hoàn toàn, cẩn trọng trước khi xem.
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG
Giảng viên: Th.S Hoàng Thế Cường
Lớp: CLC41B
Khưu Hồng Linh 1653801013093
Trang 2BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM:
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG.
Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra.
Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
a) Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía bên kia tương ứng với mức độ lỗi của mình1 Trong pháp luật Việt Nam, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
• Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ (Điều 351 BLDS 2005)
• Trách nhiệm dân sự do vi phạm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 356, BLDS 2015)
• Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (Điều 357 BLDS 2015)
• Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc (Điều 358 BLDS 2015)
• Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 359 BLDS 2015)
• Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 360 BLDS 2015)
1 Lê Nết, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức 2016, tr 402.
Trang 3b) Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
Tại Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, quy định vừa nêu không đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm Đó là trách nhiệm bồi thường về vật chất và trách nhiệm bồi thường tổn thất vềtinh thần Nói cách khác, BLDS 2005, chưa rõ về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại2 Từ đó, BLDS 2015 đã bổ sung thêm Điều 360 với tiêu đề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ” Hướng sửa đổi nêu trên là thuyết phục và phù hợp với thực tiễn để giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại
Câu 2: Tòa án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình những khoản thiệt hại nào? Nêu rõ đoạn của bản án liên quan đến từng khoản thiệt hại được bồi thường.
Toà án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình những khoản thiệt hại:
• Bồi thường giá trị căn hộ theo giá Hội đồng định giá đã định.
Đoạn của bản án liên quan đến việc bồi thường này:
“Mặt khác, phía Công ty Bitexco, bà Bình và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cũng thống nhất huỷ hợp đồng nên việc huỷ hợp đồng mua bán căn hộ AE305 là phù hợp và như đã phân tích tại phần trên bà Bình không vi phạm nghĩa vụ thanh toán, việc buộc Công ty Bitexco phải bồi thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá là cũng đảm bảo quyền lợi của bà Bình nên có căn cứ được chấp nhận”
• Bồi thường tiền thuê nhà.
Đoạn của bản án liên quan đến việc bồi thường này:
“Tuy nhiên, như phân tích ở trên, việc bà Bình đi thuê nhà ở là có thực và đây làthiệt hại thực tế, bà Bình không có vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu của Bình
2 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
2016 (xuất bản lần thứ hai), phần số 273.
Trang 4buộc Công ty Bitexco phải bồi thường khoản tiền mà bà Bình đã thanh toán tiền thuê nhà 22.000 Đô la Mỹ tương đương 418.000.000 đồng (Tỷ giá đô la Mỹ ngày
27/04/2010 là 19.000đ/01USD), trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn
có căn cứ được chấp nhận”
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý
Thứ nhất, Bixtexco yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán căn hộ AE 305 là không có căn
cứ xác đáng vì theo như nhận định và căn cứ đưa ra trước Tòa, bà Bình không có hành
vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán
Thứ hai là “phía công ty Bitexco, bà Bình và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cùng thống nhất hủy hợp đồng”
Việc Tòa án buộc công ty Bitexco phải bồi thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá đã giúp bà Bình đảm bảo quyền lợi của mình trong tranh chấp, việc hủy hợp đồng mua bán là phù hợp nên khoản bồi thường là hợp lý căn cứ theo Khoản 2 Điều 307, BLDS 2005
Đối với khoản thiệt hại về tiền thuê nhà, hướng giải quyết của Tòa án cũng là hợp lý
Dù khoản thiệt hại này xuất hiện trước khi có hành vi hủy hợp đồng và theo người bảo
vệ cho nguyên đơn thì hợp đồng thuê không được chứng thực và giá thuê bà Bình không thông báo cho Bitexco tuy nhiên trên bà Bình có cung cấp hợp đồng thuê nhà
và biên nhận tiền thuê nhà nên đây là những thiệt hại thực tế mà bà Bình chịu tổn thất,
là khoản thu nhập bị giảm sút của bà Bình do hợp đồng không tiếp tục được thực hiện nên khoản tiền phải được đền bù
Câu 4: Đoạn nào cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần?
Trang 5Đoạn của bản án cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thát về tinh thần:
“Theo đơn yêu cầu phản tố của bà Bình ngày 18/11/2008 thì ngoài những yêu cầu đã xem xét ở trên bà Bình còn yêu cầu bồi thường về vật chất trong căn hộ AE305: do nước trào ngược dơ bẩn làm hư hỏng một số tài sản với trị giá là 5.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại tinh thần do chất lượng căn hộ không bảo đảm gây ảnh hưởng về tâm lý là 16.000.000 đồng”
Câu 5: Tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng không? Vì sao?
Thực ra, tổn thất về tinh thần hoàn toàn có thể tồn tại xuất phát từ việc không thực hiện đúng hợp đồng Bộ LDS 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (Điều 360), có thể suy ra là bao gồm cả thiệt hại về tinh thần Quy định này áp dụng cho nghĩa vụ dân sự nói chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Theo Khoản 1 Điều 361 cũng qui định:
” 1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.”
Tại Khoản 2, Điều 303, Luật Thương mại 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại: “2 Có thiệt hại thực tế” Theo đó phải có “thiệt hại thực tế”, tức là
có thể không chỉ có thiệt hại vật chất mà còn có cả thiệt hại tinh thần
Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản, tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng cũng được bồi thường và thực tiễn cùng theo hướng này
Trang 6Câu 6: BLDS 2005 và BLDS 2015 có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lí khi trả lời.
- Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 3, Điều 307, BLDS 2005 về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
“1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.
3 Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”.
Với quy định trên của BLDS 2005, tổn thất về tinh thần được bồi thường và quy định này áp dụng cho nghĩa vụ dân sự nói chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
- Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 3, Điều 361, BLDS 2015 về Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh
thần.
3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”.
BLDS 2015 đã quy định cụ thể tại Điều 361, thiệt hại về tinh thần do vi phạm nghĩa
vụ thì được bồi thường
Trang 7Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng.
Câu 1: Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về phạt vi phạm hợp đồng.
- Về mức phạt vi phạm, tại Khoản 2, Điều 422, BLDS 2005 quy định:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”.
Và tại Khoản 2, Điều 418, BLDS 2015 quy định:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy
- Tại Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005:
“3 Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại
thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm”.
Và Khoản 3, Điều 418, BLDS 2015:
“3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi
phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trang 8Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.
BLDS 2015 đã bỏ đi quy định “nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” của BLDS 2005, quy định này được bỏ
đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệt hại và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360, BLDS 2015)
Về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, BLDS 2015 vẫn theo hướng nếu không có thoả thuận cụ thể về việc kết hợp hai chế tài này thì thoả thuận phạt vi phạm loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hai (có thoả thuận về phạt vi phạm
mà không có thoả thuận về sự kết hợp thì chỉ áp dụng phạt vi phạm)3
* Đối với vụ việc thứ nhất:
Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng?
- Về đối tượng thực hiện: là khoản tiền buộc phải nộp cho một bên
- Về hình thức: đều được lập thành văn bản
- Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc), và không căn cứ vào thiệt hại thực tế
Câu 3: Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định là tiền đặt tiền cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
- Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định là tiền đặt tiền cọc
- Đoạn trong bản án cho thấy:
“Xét thấy, theo khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010
các bên đã thoả thuận: Ngay sau khi kí hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải
thanh toán trước cho bên bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền
3 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.372.
Trang 9đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng)
được xác định là tiền đặt cọc”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%?
Cách giải quyết của Tòa án là chưa hợp lí và thiếu thống nhất trong cách giải quyết
Về khoản tiền trả trước 30%, Tòa án đã xác định đây là tiền đặt cọc dựa trên khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại và Điều 358 BLDS 2005 Khoản tiền này dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, sau đó Tòa án lại nhận định rằng phía bị đơn đã không từ chối thực hiện hợp đồng mà hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng chonên khoản tiền 30% được xác định là khoản tiền dùng để thanh toán đợt giao hàng lần thứ nhất Theo hai bên thoả thuận thì sau khi kí hợp đồng, Công ty Tân Việt (bên mua)phải thanh toán trước cho Công ty Tường Long (bên bán) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, do đó theo quy định tại Khoản 2, Điều 358, BLDS 2005 số tiền 30% trên thuộc về bên bán khi bên mua từ chối thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế thì hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng nên khoản tiền trên phải được trả lại cho bên mua (Công ty Tân Việt) chứ không được dùng vào việc thanh toán cho giá trị đơn hàng thứ nhất
Do đó, cách giải quyết nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền và lợi ích họp pháp của nguyên đơn không được đảm bảo
* Đối với vụ việc thứ hai:
Trang 10Câu 5: Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?
Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn ở mức 8% giá trị hợp đồng theo Điều 301, Luật Thương mại 2005, do vậy mức phạt thoả thuận của hai bên 30% giá trị hợp đồng là không phù hợp và điều kiện này vô hiệu phần mức phạt Hợp đồng cao hơn 8% giá trị hợp đồng
Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài còn nhận định thêm nếu các bên đã có thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại thực tế tối đa là 30% tổng giá trị hợp đồng thì có thể xem xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, tổng mức bồi thường và phạt vi phạm không cao quá 30% giá trị hợp đồng (theo Điều 301, Luật Thương mại 2005)
Câu 6: So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục không? Vì sao?
So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định thuyết phục
Trước hết, Tòa đã dựa vào Điều 301 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định về
“mức phạt vi phạm” Vì mức thỏa thuận cao hơn nên Tòa lấy mức phạt 8% giá trị của hợp đồng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho bên vi phạm Mặc dù Khoản 2, Điều 422,
BLDS 2005 có quy định: “Mức phạt vi phạm do các bên quy định” nhưng mức phạt
như trong thoả thuận là quá cao Quy định về mức phạt trong BLDS để cho thấy các bên được tự do về mức phạt còn việc viện dẫn Luật thương mại cho thấy các bên bị giới hạn trong việc định đoạt mức phạt Do vậy, Luật Thương mại sẽ được ưu tiên hơn.Vậy, theo Luật Thương mại thì mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là đúng pháp luật, thuyết phục Tuy nhiên, căn cứ theo Khoản 2, Điều 422, BLDS 2005 quy
định Thực hiện hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm như sau: “Mức phạt vi phạm do
các bên thỏa thuận”; thì Quyết định này lại trái với quy định trong pháp luật dân sự.
Trang 11Câu 7: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Căn cứ vào Khoản 3, Điều 422, BLDS 2005 về Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm:
- Căn cứ vào Khoản 2, Điều 307, Luật thương mại 2005 về Quan hệ giữa chế tài phạt
vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại:
“1 Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
Luật thương mại 2005 cũng theo hướng nếu các bên không có thoả thuận thì phạt vi phạm không được kết hợp với bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có quy định khác
Câu 8: Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
- Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt hại
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên
bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng giá trị Hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo bất ngờ cho Bị đơn HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”
Trang 12Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng.
- Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúnghợp đồng:
+ Là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng
+ Cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế
và phải có lỗi của bên vi phạm
+ Mục đích chung của việc quy định cũng như áp dụng biện pháp này là nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng