Với nền kinh tế ngày càng phát triển , sự hội nhập vào thời đại công nghệ 4.0 Việt Nam chúng ta ngày càng tạo được cho mình chỗ đứng vững trên thương trường thế giới. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh việc thích nghi và lựa chọn cho mình những cách làm hiệu quả để đạt được lợi ích kinh tế cho bản thân là rất quan trọng. Và lựa chọn mô hình nhóm công ty cũng là một trong những sự thay đổi và thích nghi của các doanh nghiệp của nước ta hiện nay. Vậy nhưng mô hình nhóm công ty là một mô hình như thế nào và sự liên kết trong mô hình này ra sao thì ngay chính các pháp nhân trong và ngoài nhóm công ty cũng phải lưu ý để tránh hiểu nhầm về ván đề này. Với lý do đó em xin lựa chọn đề tài “Trình bày hiểu biết về sự liên kết trong mô hình nhóm công ty”.
Trang 1MỞ ĐẦU
Với nền kinh tế ngày càng phát triển , sự hội nhập vào thời đại công nghệ 4.0 Việt Nam chúng ta ngày càng tạo được cho mình chỗ đứng vững trên thương trường thế giới Đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh việc thích nghi và lựa chọn cho mình những cách làm hiệu quả để đạt được lợi ích kinh tế cho bản thân là rất quan trọng Và lựa chọn mô hình nhóm công ty cũng là một trong những
sự thay đổi và thích nghi của các doanh nghiệp của nước ta hiện nay Vậy nhưng
mô hình nhóm công ty là một mô hình như thế nào và sự liên kết trong mô hình này
ra sao thì ngay chính các pháp nhân trong và ngoài nhóm công ty cũng phải lưu ý
để tránh hiểu nhầm về ván đề này Với lý do đó em xin lựa chọn đề tài “Trình bày hiểu biết về sự liên kết trong mô hình nhóm công ty”
NỘI DUNG
I Khái niệm nhóm công ty
Quy luật vận động phát triển cuả nền kinh tế hàng hóa, quy Luật Cạnh tranh, trước những quy luật đó nhà kinh doanh cũng phải suy nghĩ và triển khai những
mô hình liên kết phù hợp nhằm tích tụ vốn, tăng khả năng cạnh tranh, phân tán rủi
eo, quản lý và kinh doanh hiệu quả Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế ngày càng phát triển và lớn mạnh, nhà kinh doanh phải xây dựng những mô hình liên kết kiểu mới để hình thành một tổ chức kinh doanh quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn, sức tranh cao hơn Và mô hình được cho là hiệu quả nhất là nhóm công ty :
“ Nhóm công ty là một tập hợp hai hay nhiều công ty, tương tác và có mối quan hệ lâu dài về kinh tế , công nghệ, thị trương, loại trừ sự cạnh tranh lẫn nhau, cùng nhau hướng tới mục tiêu tăng cường tích tụ, tập trung vốn và tối đa hóa lợi nhuận”
II Đặc điểm của nhóm công ty
Trang 21 Nhóm công ty được hình thành từ liên kết giữa các chủ thể kinh doanh độc lập tạo thành một tổ hợp
Trước hết nhóm công ty được hình thành dựa trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh trong nhóm công ty là những pháp nhân kinh doanh độc lập Liên kết giữa các chủ thể kinh doanh trong nhóm công ty được quy định tại các hợp đồng liên kết
Liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty hoàn toàn khác với liên kết giữa các thành viên trong công ty Liên kết giữa các thành viên trong công ty là liên kết hình thành từ qua hệ đầu tư góp vốn để trở thành đồng sở hữu chung của công
ty, giữa các tahfnh viên có mối quan hệ chặt chẽ, hoàn toàn độc lập về tư cách pháp
lý, quản lý và điều hành Tính trách nhiệm của các thành viên trong công ty được
cá biệt hóa, các thành viên dược tham gia quản lý, điều hành công ty ở tỷ lệ tương
ứn với tỷ lệ góp vốn vào công ty Liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty được hình thành trên cơ sở đầu tư vốn trực tiếp từ thành viên này vào thành viên khác hoặc việc cùng sở hữu, sử dụng chung cá dối tượng sở hữu công nghiệp hay nằm trong một chuỗi kinh doanh Các thành viên trong nhóm công ty độc lập về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình, tuy nhiêm các thành viên có thể chi phối lẫn nhau trong các hoạt động kinh doanh Các thành viên trong nhóm công ty không chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh chung của nhóm và cũng không chịu trách nhiệm trong trường hợp một thành viên khác của nhóm công ty làm ăn thua lỗ phá sản Thành viên trong nhóm công ty ràng buộc trực tiếp với nhau thông qua hợp đồng liên kết Mối liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty có thể liên kết chi phối hoặc những liên kết không mang tính chi phối
Trang 3a Liên kết chi phối
Nhóm công ty có liên kết chặt chẽ , chi phối là tập hợp của công ty chi phối và công ty bị chi phối Công ty chi phối (hay còn gọi là công ty mẹ) trong nhóm công
ty thường tồn tại ở mô hình cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, giữ quyền chi phối điều hành các hoạt động của các công ty bị chi phối (hay còn gọi là các công ty con) Công ty con tham gia vào nhóm công ty độc lập về pháp lý nhưng bị hạn chết trong quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính Các công ty thành viên trong nhóm công ty buộc phải tuân theo những quy định cứng, thống nhất trong toàn bộ nhóm công ty, công ty thành viên không thể rút khỏi nhóm công ty Cá liên kết trong nhóm công ty mang tính chi phối, dược hình thành trên
cơ sở đầu tư góp vốn và một số hình thức khác bao gồm:
- Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn
Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn là liên kết hình thành từ haojt động góp vốn cảu công ty mẹ vào công ty con Phần vốn góp của công ty mẹ chiếm tỉ lệ trong vốn điều lệ của công ty con đủ để chi phối hoạt động của công ty con Về bản chất, công ty mẹ chính là cổ dông, thành viên góp vốn của công ty con, tuy nhiên
cổ đông, thành viên này giữ quyền chi phối công ty con Theo lẽ thường, tỉ lệ vốn
để công ty mẹ chi phối công ty con được xác định là quá bán cho dù thực tế không phải trường hợp nào cũng như vậy
- Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động cuả công ty
Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động của công ty là hình thức công ty mẹ cử đa số người vào ban điều hành công ty con, chi phối hoặc quyết định phương thức hoạt động của công ty con Việc cử người quản lý từ công ty mẹ vào ban điều hành của công ty con có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Trong trường hợp trực tiếp, công ty con chấp nhận những điều kiện để trở thành thành viên nhóm công ty, cho phép công ty mẹ được bổ nhiệm các chức danh quản lý
Trang 4quan trọng của công ty, công ty mẹ được quyền sửa dổi, bổ sung điều lệ công ty bị chi phối Việc chấp nhận điều kiện này mở điều kiện cho công ty con cơ hội gia nhập nhóm công ty, từ đó được hưởng lợi ích từ nhóm công ty Trong trường hợp gián tiếp, công ty mẹ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của công ty con nhưng chưa ở mức chi phối, tuy nhiên sau khi bầu ban điều hành, với số cổ phần, phần góp nắm giữ công ty mẹ vẫn cứ dược đa số thành viên trong ban điều hành của công ty con
- Liên kết chi phối thông qua việc chuyển các quyền liên quan đén sở hữu công nhiệp và một số loại quyền khác
Liên kết hình thành từ việc công ty chi phối cho phép, nhường quyền cho cồn
ty bị chi phối sử dngj những quyền và lợi ích liên quan đến nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh, và tham gia vào một quá trình sản xuất công nghệ Công ty chi phối sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiếm sản xuất kinh doanh để áp đặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bị chi phối Nếu các công ty bị chi phối không tuân theo sự chỉ dẫn của công ty chi phối, công ty bị chi phối có thể bị khai trừ khỏi nhóm công ty, loại khỏi dây chuyền sản xuất, hoặc ngừng cấp các lợi thế về công nghệ, dẫn đến đình trệ sản xuất và đối mặt nguy cơ phá sản Bên cạnh đó, trong một số trường hợp công ty chi phối chuyển giao một số quyền mang tính chất độc quyền được Nhà nước giao (như quyền khai thác thiên nhiên) cho công ty bị chi phối Công ty bị chi phối hoàn toàn phụ thuộc và phải tuân theo chỉ dẫn của công ty chi phối nhằm hưởng các quyền mang tính độc quyền như trên
b Liên kết không mang tính chi phối
Bên cạnh liên kết vốn mang tính chi phối, trong nhsom công ty còn có những hình thức liên kết khác như liên kết về vốn nhưng không đủ mức chi phối, liên kết
về công nghệ, liên kết về thị trường, liên kết về nhân sự lãnh đạo, những liên kết này thường mang tính chất liên kết mềm được hình thành trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng Theo đó, công ty mẹ chia sử những lợi ích về công nghệ, về thị trường cho
Trang 5các chủ thể kinh doanh khác (gọi là thành viên liên kết) Công ty mẹ chi phối một phần hoạt động của thành viên liên kết, yêu cầu thành viên liên kết phải tuân thủ những nguyên tắc và chính sách kinh doanh của toàn bộ nhóm công ty Thành viên liên kết hoàn toàn độc lập cả về mặt pháp lí cũng như hoạt động kinh doanh thương mại Thành viên liên kết hoàn taofn độc lập cả về mặt pháp lý cũng như hoạt động kinh doanh thương mại Thành viên liên kết là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, những công ty này có thể dễ dàng trở thành thành viên nhóm công ty và cũng
có thể dễ dang chấm dứt tư cách thành viên của nhóm công ty Thafh viên liên kết thường phải trả phí sử dụng cho những lợi thế kinh tế mà công ty mẹ chuyển giao
2 Nhóm công ty là tổ hợp có danh tính và không có tư cách pháp nhân
Nhóm công ty là một tổ hợp có danh tính, danh tính của nhóm công ty để chỉ một tập hợp các pháp nhân độc lập, hoạt động trên cơ sở liên kết chặt chéc vì lợi ích kinh tế Danh tính của nhóm công ty để phân biệt giữa một tập hợp pháp nhân với các pháp nhân trong nhóm công ty và phân biệt với tập hợp pháp nhân khác Danh tính của nhóm công ty là một quyền tài sản, được xác định là một tên thương mại, là cơ sở để xây dựng hệ thống nhãn hiệu nhóm công ty Các pháp nhân độc lập trong nhóm công ty có quyền thụ hưởng giá trị tên thương mại, nhãn hiệu và phải trả phí
Xét từ khía cạnh liên kết của các pháp nhân tạo thành nhóm công ty và bản chất pháp lú của nhóm công ty, có thể thấy, nhóm công ty không có tư cách pháp nhân vì các lý do sau:
Thứ nhất, nhóm công ty không có tài sản độc lập Đặc trưng của pháp nhân
là phải sở hữu một tài sản độc lập và sử dụng những lợi ích từ tài sản của mình để thực hiện các mục đích của pháp nhân (đói với phán nhân kinh doanh đó là mục đích sinh lời) Tài sản cảu pháp nhân còn là cơ sở để pháp hnhân gánh chịu các rủi
ro phát sinh trong quá trình thực hiện ý chí của pháp nhân Sả nghiệp được thiết lập
Trang 6bằng những tài sản do thành viên của pháp nhân đóng góp thông qua việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho pháp nhân Tập đoàn kinh tế (TĐKT) được hình thành từ sự liên kết của các pháp nhân độc lập nhưng không xuất phát từ việc góp vốn chung Nhóm công ty không tiếp nhận sự chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn từ pháp nhân thành viên, do đó không hình thành tài sản riêng Nhằm duy trì hoạt động điều hành tại nhóm công ty, các pháp nhân thành viên thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính hoặc pháp nhân chi phối nhóm trích moọt phần lợi nhuận để chi trả các chi phí có liên quan Nguồn tài chính này là cần thiết để đảm bảo bộ máy quản trị thực hiện các trách nhiệm cần thiết trong hoạt động quản lý nhóm công ty Tuy nhiên, sự đóng góp hoặc trích quỹ này không làm hình thành sản nghiệp riêng cho nhóm công ty, mà thông thường pháp nhân có khả năng chi phối trong nhóm công ty sẽ thực hiện việc tiếp nhận các khoản đóng góp và chi trả
để duy trì bộ máy điều hành cho nhóm công ty
Thứ hai, nhóm công ty không có năng lực pháp lý Nhóm công ty là tập hợp
cảu nhiều pháp nhân, mỗi pháp nhân là một chủ thể pháp lý với năng lực pháp lý đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật Sự tập hợp của các pháp nhân trong nhóm công ty không hướng đến việchình thành một tổ chức kinh
tế mới tham gia thị trường nà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hóa lợi ích của từng pháp nhân kinh doanh độc lập Do đó, nhóm công ty không có năng lực pháp luật của một chủ theẻ pháp lý thông thường, cũng không cần đến sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thầm quyền về “sự ra đời” mình, từ đó không có năng lực hành vi để thực hiện các hoạt động nhân danh nhóm công ty Sự vận động của nhóm công ty chính là sự vận động của các pháp nhân độc lập trong nhóm Thông thường, pháp nhân chi phối nhóm công ty tiến hành giao dịch nhân danh chính mình để thực hiện giao dịch với danh nghĩa nhóm công ty phù hợp với nhu cầu quản lí, phát triển kinh doanh của nhóm công ty
Trang 7Thứ ba, nhóm công ty không chịu trách nhiệm về tài sản Nhóm công ty
không có tài sản riêng, không thể chịu trách nhiệm tài sản Giao dịch của nhóm công ty thực hiện thông qua công ty chi phối Mặt khác, nhóm công ty không có năng lực pháp lý, không nhân danh chính mình thực hiện các giao dịch dân sự hay thương mại Vì vậy, nhóm công ty không chịu trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụu pháp lý phát sinh từ hạot động của mình, đồng thời cũng không chịu trách nhiệm phsp lý thay cho các pháp nhân thành viên Trong trường hợp phát sinh các nghĩa vụ pháp lý từ giao dịch, pháp nhân chi phối chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập cảu pháp nhân đó
3 Nhóm công ty có cơ cấu phức tạp, nhiều cấp
Cơ cấu tổ chức nhóm công ty nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các công ty trong nhóm công ty Nhóm công ty chỉ có thể pháp triểnđược khi
có một cơ cấu tổ chức hợp lí, dể các bánh xe trong công ty vận hành một cách đồng
bộ, có hiệu quả Cơ cấu tổ chức của nhóm công ty phải xác định cụ thể vấn đề quyền hạn, trách nhiệm, phân cấp quản lý Đây là một yêu cầu phức tạp, vì các công ty trong nhóm tương đối độc lập, mỗi công ty có một cơ cấu quản lý riêng Các công ty trong nhóm công ty liên kếy với nhau trên cơ sở quan hệ về vốn, quan
hệ quản lý hoặc thông qua hợp đồng kinh tế, do đó việc xây dựng thông nhất một
cơ cấu quản lý là đòi hỏi không dễ thực hiện trong nhóm công ty
Nhóm công ty có thể có nhiều cấp Cấp một gồm công ty chi phối ban đầu (công
ty mẹ) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp 1) Cấp hai bao gồm công ty chi phối (là công ty con cấp một) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp hai) Các nhóm công ty có quy mô lớn, không có giới hạn về số cấp trong nhóm công ty, điều này dẫn đến số lượng thành viên trong nhóm công ty rất lớn Các công ty mẹ, công ty con cấp một, công ty con cấp hai đều mang chung một họ đó
có thể là thành tố trong tên của công ty mẹ ban đầu Ván đề quản lý hoạt động kinh doanh của các công ty ở cấp dưới không trực tiếp là hết sức khó khăn cho công ty
Trang 8mẹ của nhóm công ty Các nhóm coong ty phải thiết kế cơ chế kiểm soát thông suốt
từ công ty mẹ đến các công ty con ở những cấp khác nhau nhằm kiểm tra giám sát
và thực hiện có hiẹu quả hoạt động đầu tư kinh doanh của các công ty trong nhóm công ty
4 Nhóm công ty lớn về quy mô, sử dụng nhiều lao động, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, doanh thu cao
Nhóm công ty có sự tích tụ về vốn của các công ty trong tập đoàn, bao gồm công ty mẹ, công ty con, công ty thành viên, công ty liên kết Quy mô vốn của nhóm công ty được hình thành từ một quá trình tích tụ lâu dài, thông qua hoạt động thu hút nhà đầu tư và thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh Quy mô vốn lớn tạo ra cho tập đoàn năng lực cạnh tranh hiệu quả, phát triển đàu tư công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành, gia tăng lợi nhuận, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển của tưngf công ty trong tập đàon nói riêng và toàn bộ tập đàn nói chung
Nhóm công ty tập trung lực lượng lao động quy mô lớn, do các công ty thành viên trong tập đàon hạot động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, lực lượng lao động được phân hóa, từ lao động đươn giản tới lao động bằng tri thức sáng tạo, từ chuyên môn trung bình đến trình độ chuyên môn cao Như cầu nhân lực trong nhsom công ty lớn, quy trình tuyển chọn và đào tựo được thực hiện nghiêm túc Nhoám công ty khi tiến hành hoạt đọng đầu tư tại các quốc gia đều hỗ trợ giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại quốc gia tiếp nhận đầu tư
Nhsom công ty thực hiện hạot đọng đầu tư lớn, phạm vi hạot đọng rộng, lợi thế cạnh tranh tốt, trình độ quản lí cao, tối đa hóa lợi nhuận, do đó, nhóm công ty có khả năng đạt được doanh thu lớn và ổn định Các công ty trong nhóm công ty cũng được hưởng lợi từ sự phát triển chung của nhóm Khi nhóm phát triển, các công ty cung ứng dịch vụ cho tập đàon cũng có nguồn thu nhập ổn định, sinh lời hiệu quả
III Sự liên kết trong mô hinhg nhóm công ty
1 Sự liên kết trong mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty
Trang 9TĐKT, TCT không phải một doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân và không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Do
đó, các mệnh lệnh hành chính không được sử dụng trong điều hành các TĐKT, TCT Các doanh nghiệp là thành viên của TĐKT, TCT phải có tư cách pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất (Hội đồng thành viên hay Đại hội cổ đông) Chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị các công ty trong TĐKT, TCT tập hợp lại thành Hội đồng Chủ tịch tập đoàn, TCT dựa trên thỏa thuận giữa các thành viên của tập đoàn, TCT Hội đồng Chủ tịch bầu ra Chủ tịch tập đoàn, TCT Hội đồng Chủ tịch không thực hiện chức năng điều hành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh và tổ chức của các công ty thành viên, do đó, không có chức danh Tổng giám đốc tập đoàn, TCT
TĐKT, TCT được chia thành TĐKT, TCT nhà nước và TĐKT, TCT tư nhân, mỗi loại hình lại có những đặc điểm khác nhau
TĐKT, TCT nhà nước bao gồm công ty mẹ (doanh nghiệp cấp I), công ty con của công ty mẹ (doanh nghiệp cấp II), công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo, trong đó:
- Công ty mẹ là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và nằm dưới sự chi phối của Chính phủ
- Các doanh nghiệp cấp hai sẽ do công ty mẹ chi phối, doanh nghiệp cấp hai
có thể được tổ chức dưới các hình thức: công ty cổ phần, công ty TNHH, TCT theo hình thức công ty mẹ – công ty con, công ty liên doanh, công ty con ở nước ngoài Các doanh nghiệp liên kết của TĐKT, TCT nhà nước gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng, liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn, TCT Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên TĐKT, TCT nhà nước có tư cách pháp nhân; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, phần vốn của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung của tập đoàn, TCT Nhà nước
Trang 10là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư vào công ty mẹ Công ty mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, các doanh nghiệp liên kết
TĐKT, TCT tư nhân là những TĐKT, TCT thỏa mãn các điều kiện về quy mô
và cách thức liên kết như: Bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập
và có quy mô lớn; Hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; Gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác; Được tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con
2 Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ - công ty con
Đối với mô hình công ty mẹ công ty con, sự liên kết chỉ bắt đầu khi hội tụ được các điều kiện
Thứ nhất, công ty mẹ bỏ vốn vào công ty con (mô hình công ty mẹ – công ty con hình thành khi một công ty thực hiện đầu tư, góp vốn – trên 50% vốn điều lệ – vào một công ty khác) Thông thường, nếu số vốn đầu tư vào công ty khác không đạt mức quá bán, công ty nhận vốn sẽ không trở thành công ty con mà chỉ là công
ty liên kết với công ty góp vốn
Thứ hai, công ty mẹ đã phải được quản trị theo khoa học; nghĩa là nó đã có một nền nếp được ghi vào một hệ thống văn bản; việc quản trị dựa trên sự kiểm soát cách thực hiện các quy trình chứ không phải dựa trên niềm tin vào những người nhất định
Khi đã ở trong quan hệ mẹ – con, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính chất tương đối, tức công ty con này có thể
là công ty mẹ của một công ty khác Tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau