1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI

30 735 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Du Lịch Và Du Lịch Sinh Thái
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch và Quản trị Du lịch
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 46,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn l

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI

Theo cách hiểu truyền thống thì du lịch là hoạt động nhằm thỏa mãn tính tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ, con người muốn biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về dân tộc, nền văn hóa, động vật, thực vật và địa hình ở những vùng, quốc gia khác

Dưới đây là một số khái niệm về du lịch dưới các góc độ khác nhau:

Địa lý: Du lịch là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú

thường xuyên của họ

Kinh tế: Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về

phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách tạo ra và của những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp, trước hết trong khách sạn, và tiêu dùng gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí (Picara Edmol)

Ý nghĩa hiện đại: Du lịch là một hiện tượng thời đại, dựa trên sự tăng trưởng về

nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên (Guer Freuler)

Tiếp cận cộng đồng: Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của 4 nhóm:

khách du lịch, đơn vị cung ứng, chính quyền và dân cư tại nơi du lịch tạo nên (Coltman)

Một cách tổng quát hơn, du lịch được hiểu là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích

Trang 2

phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.

Hay đó là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu này sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian nhàn rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Năm 1963 tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch ở Roma đã đưa ra khái niệm về

du lịch thống nhất của tổ chức du lịch thế giới: Du lịch là tổng hợp mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Tóm lại, Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội bao gồm 2 nội dung chính:

Kinh tế: Đó là hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế từ kinh doanh nguồn tài

nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn

Xã hội: là hoạt động giúp nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục

tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước, yêu hòa bình và tình đoàn kết

1.1.1.2 Khách du lịch

Xuất phát từ định nghĩa về du lịch được xác định tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1963 ở Roma, khách du lịch là những người hội tụ 3 tiêu chuẩn:

- Người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình

- Không phải theo đuổi mục đích kinh tế mà cụ thể là động cơ lao động kiếm tiền

- Thời gian và khoảng cách từ nơi cư trú đến nơi du lịch, thời gian kéo dài trong khoảng 24h đến 1 năm

Khách du lịch là một trong 4 nhóm nhân tố chính, tham gia vào quá trình diễn ra hoạt động du lịch: khách du lịch, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân tại địa phương

và chính quyền nơi đón khách du lịch

Khách du lịch thường được chia thành: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa Tại điều 20, chương IV của Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành năm 1999:

Trang 3

“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”

1.1.1.3 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng, một quốc gia nào đó.Nhóm các sản phẩm du lịch: xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trong hành trình du lịch thì chia thành các nhóm sản phẩm chính như:

- Du lịch vận chuyển

- Du lịch lưu trú ăn uống

- Dịch vụ tham quan giải trí

- Hàng hóa tiêu dùng, đồ lưu niệm

- Dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

Đặc trưng của sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, thành phần chính là dịch vụ (80 – 90% về giá trị) Do vậy việc đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch thường mang tính chủ quan, phụ thuộc du khách

Sản phẩm du lịch thường tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch như biển, núi, rừng, sông, suối, thác ghềnh…, hay du lịch văn hóa như: lễ hội, chùa chiền, di tích lịch sử…

Do hoạt động du lịch gắn liền với yếu tố tài nguyên tại một vùng, một địa phương nhất định nên sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được, không thể đưa sản phẩm

du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm

du lịch để thỏa mãn như cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian Chúng không thể cất đi và tồn kho như các loại hàng hóa khác

Trang 4

1.1.2 Đặc trưng của du lịch

Du lịch mang tính kinh tế

Ngành du lịch là ngành mà mục tiêu cơ bản của nó là ở chỗ thông qua thúc đẩy, xúc tiến cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch để tạo thu nhập của nền Kinh tế quốc dân Tuy nhiên cấu tạo chủ yếu của ngành du lịch là các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp này thực hiện các hoạt động kinh doanh du lịch, do đó mục tiêu cuối cùng

là tối đa hoá lợi nhuận Vì vậy ngành du lịch phải tiến hành hạch toán kinh tế Với quan niệm này, về cơ bản ngành du lịch phải là ngành mang rõ nét tính kinh tế

là những sản phẩm độc lập, riêng biệt mà là một “chuỗi dịch vụ” vừa kết hợp với nhau vừa đan xen với nhau, vừa lặp đi lặp lại nhiều lần Vì thế, sản phẩm và dịch vụ du lịch phải là sản phẩm tổng hợp của sự phối hợp liên ngành như công ty du lịch, đơn vị bán hàng lưu niệm du lịch… đồng thời bao gồm các đơn vị sản xuất của các ngành như dệt, xây dựng… và một số cơ sở sản xuất tư liệu phi vật chất như văn hoá, giáo dục, khoa học kĩ thuật, y tế, tài chính, hải quan, bưu điện… cuối cùng phải được khách du lịch chấp nhận

Du lịch mang tính phục vụ

Vì sản phẩm du lịch chủ yếu cung cấp dịch vụ thoả mãn nhu cầu khách du lịch như: dịch vụ thiết kế các chương trình du lịch, dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ vận chuyển khách bằng các phương tiện khác nhau, dịch vụ làm thủ tục liên quan tới quá trình du lịch, dịch vụ cho thuê chỗ trọ, dịch vụ phục vụ ăn uống… Do đặc điểm của dịch vụ là sản phẩm phi vật chất, vô hình, không nhìn thấy được, khó nhận biết được bằng các giác quan, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động như nguồn cung cấp dịch vụ, người mua dịch vụ (khách du lịch); quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ

Trang 5

diễn ra đồng thời, nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau được; dịch vụ không thể tổ chức sản phẩm trước, không thể lưu kho, hoặc dự trữ sử dụng dần.

Du lịch mang tính thời vụ

Tính thời vụ thể hiện ở thời gian hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm, xảy ra dưới tác động của một số yếu tố xác định, có yếu tố mang tính tự nhiên (sự thay đổi của thời tiết, khí hậu, sự vận động của mặt trời, mặt trăng, sự thay đổi bốn mùa), có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức kĩ thuật, có yếu tố mang tính tâm lý… thể hiện ở nhiều loại hình du lịch, nhất là ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa

Du lịch mang tính quốc tế

Cùng với sự phát triển của du lịch quốc tế, việc tìm mọi cách để thu hút khách nước ngoài tới nước mình du lịch đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, nếu muốn ngành du lịch phát triển Bởi vì kinh doanh du lịch quốc tế không chỉ tăng thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho đất nước Ngoài ra sự phát triển của du lịch quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau vì tình hữu nghị của nhân dân các nước, thúc đẩy giao lưu khoa học kĩ thuật văn hoá theo các hướng: kí kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và hãng du lịch, tham gia các tổ chức quốc tế về

du lịch

Du lịch mang tính nhạy cảm

Trong cung cấp dịch vụ cho khách du lịch cần bố trí chính xác về thời gian, có kế hoạch chu đáo, chi tiết về nội dung hoạt động du lịch, cần phải kết hợp hữu cơ, chặt chẽ giữa các khâu đi lại, ăn nghỉ, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Chỉ cần một khâu nào đó để xảy ra trục trặc ngoài ý muốn thì có thể gây nên hàng loạt phản ứng dây chuyền, làm mất sự phối hợp nhịp nhàng về cung cấp của toàn ngành du lịch, ảnh hưởng tới việc thực hiện mục tiêu và lợi ích kinh tế của ngành du lịch Ngoài ra, các yếu tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội v.v… đều ảnh hướng đối với ngành du lịch dẫn tới sự đình đốn du lịch như: động đất, biến đổi khí hậu , dịch bệnh…

Du lịch mang tính phụ thuộc

Trang 6

Tính phụ thuộc của ngành trước hết biểu hiện ở sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia mang tính định hướng tài nguyên du lịch Một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch cần có là tài nguyên du lịch phải độc đáo, hấp dẫn Hơn nữa, tính phụ thuộc của ngành du lịch còn biểu hiện ở tính phục thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân Nguồn khách là yếu tố sống còn của ngành du lịch, mà việc thu hút khách được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hoặc khu vực;

và ngược lại, trình độ kinh tế nước tiếp đón lại quyết định tới khả năng tiếp đón đối với khách du lịch và ảnh hưởng tới chất lượng các dịch vụ ở mức độ nhất định Biểu hiện khác nữa về tính phụ thuộc đó là sự phụ thuộc vào sự hợp tác toàn diện, sự phát triển hợp lý giữa các ngành, nghề có liên quan tới du lịch Bất cứ một ngành nghề nào đó có liên quan tới du lịch mà tuột khỏi “mắt xích” thì hoạt động kinh doanh của ngành du lịch sẽ khó có thể đạt được kết quả như mong muốn

1.1.3 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội

1.1.3.1 Đối với phát triển kinh tế

Du lịch có ảnh hưởng rõ nét lên nền kinh tế của địa phương thông qua tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch Quá trình này tác động lên lĩnh vực phân phối, lưu thông và do vậy có ảnh hưởng đến lĩnh vực khác nhau của quá trình tái sản xuất xã hội Du lịch đóng góp phần quan trọng trong GDP của vùng, nơi có hoạt động du lịch phát triển

Hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu chi của khu vực và đất nước

Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước du lịch làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước đến Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch nước ngoài Trong phạm vi một đất nước, cán cân thu chi được thực hiện giữa các vùng có trình độ kinh tế khác nhau, tuy không làm biến đổi cán cân kinh tế của đất nước song có tác dụng điều hòa nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự phát triển kinh tế của vùng du lịch, đặc biệt là đối với các vùng sâu vùng xa

Khi một địa phương trở thành một địa điểm du lịch thì các ngành kinh tế khác cũng được kích thích phát triển, đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp chế biến… ngành cung cấp hàng hóa cho du lịch Bên cạnh đó do các đòi hỏi cao của khách du lịch

Trang 7

nên có hàng hóa được sản xuất ra phải đảm bảo về mặt chất lượng, buộc các đơn vị sản xuất phải quan tâm đầu tư trang thiết bị và sử dụng công nhân có tay nghề cao.

Du lịch quốc tế cũng đem lại nguồn lợi xuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm được chi phí Đồng thời du lịch cũng là hoạt động xuất khẩu tại chỗ nên có thể xuất được cả những mặt hàng dễ hư hỏng mà ít bị rủi

ro như hoa quả, rau tươi…, các mặt hàng được tiêu thụ tại chỗ nên không cần đóng gói, bảo quản phức tạp

1.1.3.2 Đối với phát triển xã hội

Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho con người Trong một chừng mực nào đó thì du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động cho con người

Những chuyến du lịch tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, các khu thắng cảnh thiên nhiên có tác dụng giáo dục tinh thần yêu thiên nhiên, yêu văn hóa của đất nước Khi tiếp xúc trực tiếp với các công trình này, du khách mới thực sự cảm nhận được giá trị to lớn của chúng

Khi đi du lịch mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn, nhờ đó

du lịch là cơ hội tăng cường tình đoàn kết cộng đồng Mỗi chuyến du lịch còn thường

để lại cho du khách một số kinh nghiệm, tăng vốn hiểu biết về địa lý và kiến thức văn hóa nói chung

Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, do

đó nhu cầu về lao động tại địa phương sẽ tăng thêm nhằm phục vụ cho nhu cầu về nhân công của bản thân ngành du lịch và cả các ngành kinh tế khác, thông qua đó tạo thêm việc làm, giảm bớt nạn thất nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân

Phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn khi nó làm sống lại những ngành nghề thủ công truyền thống Bởi hiện nay du lịch văn hóa các làng nghề rất được du khách ưa thích, vì tâm lý muốn tìm hiểu cuộc sống văn hóa, lao động của người dân bản địa nơi

họ đến thăm Đồng thời du khách mỗi khi đi du lịch tại một địa phương nào đó thường muốn mua một vài sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm thủ công để làm kỉ niệm hay làm quà cho người thân, bạn bè

Trang 8

1.1.4 Xu hướng phát triển du lịch hiện nay

1.1.4.1 Du lịch là một xu thế tất yếu và ngày càng rộng lớn của thế giới

Du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người Khi mà đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì hoạt động du lịch ngày càng được mở rộng và hoàn thiện cả

về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, những bước đột phá lớn về khoa học công nghệ với những phát minh thế kỉ, hay sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp… đã mở ra khả năng đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí dễ dàng hơn Sự phát triển của phương tiện giao thông đã làm mất dần khái niệm xa xôi đối với khách du lịch, du khách có thể mau chóng và thuận tiện dù chỉ là đi du lịch ở một nơi rất xa so với nơi cư trú thường xuyên

Ở những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh, cuộc sống con người ngày càng văn minh hiện đại Và kéo theo đó, hàng loạt căn bệnh xuất hiện và trở nên phổ biến: stress, béo phì, tim mạch… khiến con người cần phải quan tâm nhiều ơn tới việc giữ gìn và bảo vệ sức khỏe của mình Bên cạnh đó, bầu không khí ngày càng ô nhiễm, hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ của trái đất tăng lên khiến du khách

có xu hướng muốn đi du lịch ở những nơi có bầu không khí trong trẻo và tự nhiên, những làng quê yên tĩnh với các lễ hội dân gian truyền thống

Phát triển cũng đồng nghĩa với việc năng suất lao động được nâng cao và con người được giải phóng sức lao động nhiều hơn Do đó có nhiều thời gian và điều kiện vật chất để dành cho du lịch giải trí, khám phá hơn Và với xu thế phát triển như hiện nay, nhu cầu giải trí khám phá sẽ không những mở rộng, đặc biệt theo chiều sâu Từ đó

có thể thấy du lịch sẽ trở nên phổ biến ở mọi nên trên thế giới

1.1.4.2 Xu hướng phát triển của cầu du lịch

Việc xác định xu hướng thay đổi của cầu về du lịch sẽ giúp chúng ta có định hướng chính xác hơn trong quá trình tìm ra các giải pháp để khai thác tiềm năng du lịch theo hướng đáp ứng đầy đủ và tốt các nhu cầu du lịch của du khách Trong thời gian tới, theo dự đoán thì cầu du lịch phát triển mạnh, có 4 xu hướng quan trọng sau:

- Sự thay đổi về hướng và phân bố của luồng khách du lịch: khu vực Đông Á – Thái Bình Dương thu hút khách ngày càng đông hơn, đặc biệt là các nước Đông Nam

Á Bên cạnh đó, vấn đề an ninh quốc phòng và an ninh chính trị cũng ảnh hưởng nhiều

Trang 9

đến cầu du lịch, du khách có khuynh hướng lựa chọn những điểm du lịch có mức độ an toàn cao.

- Sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch: mức chi tiêu tăng, trong đó tỉ trọng chi cho dịch vụ cơ bản (ăn, ở, vận chuyển) giảm, tỷ trọng chi cho dịch vụ bổ sung tăng (tham quan, giải trí, mua sắm hàng hóa và đồ lưu niệm)

- Sự thay đổi trong hình thức tổ chức chuyến đi của khách du lịch: khách chỉ sử dụng một phần dịch vụ của tổ chức kinh doanh du lịch, không sử dụng dịch vụ trọn gói nhằm tăng khả năng tự do của bản thân

- Sự gia tăng điểm đến du lịch trong một chuyến du lịch Du khách thích đi thăm nhiều nước, nhiều điểm du lịch trong cùng một chuyến đi du lịch của mình

1.1.4.3 Xu hướng phát triển của cung du lịch

Đối với các địa phương đang trong giai đoạn đầu khai thác tiềm năng du lịch thì hết sức cần thiết phải quan tâm tới xu hướng cung du lịch trên thị trường nhằm xây dựng kế hoạch khai thác cho phù hợp với nguồn tài nguyên và phù hợp với yêu cầu của thị trường, nắm bắt kịp thời xu thế phát triển Cung du lịch có các xu hướng chính như sau:

- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch

- Phát triển hệ thống bán sản phẩm du lịch

- Tăng cường hoạt động truyền thông du lịch

- Đẩy mạng CNH – HĐH trong du lịch: vận dụng KHCN để phát triển công nghiệp du lịch lữ hành, công nghiệp khách sạn, công nghiệp vận chuyển khách

- Đẩy mạnh quá trính khu vực hóa, quốc tế hóa sản phẩm du lịch

Tổng hợp tiềm năng bằng việc cho điểm từng chỉ tiêu, thang điểm cho từng chỉ tiêu tối đa là 4 điểm, tối thiểu là 1 điểm Hệ số điểm của từng yếu tố phụ thuộc vào từng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến sức hút du lịch tài nguyên Trong đó, độ hấp dẫn được tính tới hệ số 3; thời gian khai thác và môi trường tính hệ số 2; các yếu tố còn lại tính hệ số 1

Trang 10

Tổng điểm của tất cả 5 yếu tố, sau khi đã nhân với trọng số tương ứng sẽ là mức điểm phản ánh mức độ lớn hay nhỏ của tiềm năng du lịch Số điểm càng lớn chứng tỏ tiềm năng càng lớn và ngược lại.

1.2 DU LỊCH SINH THÁI VÀ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Du lịch sinh thái

1.2.1.1 Khái niệm

“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Đối với một số người DLST được hiểu đơn giản là sự kết hợp của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc Song đứng

ở góc độ nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã có từ đầu những năm 1800 Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi… đều được hiểu là DLST

Có thể nói cho đến nay khái niệm về DLST vẫn còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, với những tên gọi khác nhau Tuy nhiên, mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục để đi đến một số định nghĩa chung được chấp nhận về DLST, nhưng đa số các ý kiến tại diễn đàn quốc tế chính thức về DLST đều cho rằng: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái” Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan, được lý giải về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây

ra những tác động có hại đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa

Về nội dung, DLST là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc

để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương Nói một cách khác, DLST là loại hình du lịch với những hoạt động

có nhận thức mạnh về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội Ở đây thuật ngữ

“Du lịch trách nhiệm” luôn gắn liền với khái niệm DLST Vậy DLST là hình thức du lịch trách nhiệm, không làm ảnh hưởng đến các ý nghĩa bảo tồn thiên nhiên, không ảnh

Trang 11

hưởng đến môi trường mặt khác còn góp phần vào việc duy trì, phát triển cuộc sống cộng đồng người dân địa phương.

Một số cách hiểu về DLST:

Theo tổ chức bảo tồn thực vật hoang dã (World Wide Fund): DLST đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới những khu vực tự nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người địa phương phục

vụ tại đó

Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): DLST là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến thăm Ngoài ra DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người dân địa phương và du khách đến thăm

Theo hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển DLST 9/1999 tại Hà Nội: DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương

Nhận xét:

Mặc dù các định nghĩa về du lịch sinh thái có khác nhau về cách diễn đạt và ngôn

từ thể hiện, nhưng trong các định nghĩa trên đều có sự thống nhất cao về nội dung của DLST ở ba điểm:

Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn

hoang sơ hay tương đối hoang sơ gắn với văn hóa bản địa

Thứ hai: DLST có tính giáo dục môi trường cao và phải có trách nhiệm với môi

trường

Thứ ba: DLST phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cư dân địa phương và phải

có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương

Trang 12

1.2.1.2 Đặc điểm của du lịch sinh thái

Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên cả các yếu tố văn hóa bản địa: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét văn hóa bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các vườn Quốc gia và các khu bảo tồn tự nhiên có giá trị

Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt vì

nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Vì thế, trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiện, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường

Có giáo dục môi trường: Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là một yếu tố

cơ bản phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan là những hình thức quan trọng trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn

Giáo dục môi trường trong DLST có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của

du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn, và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của những khu tự nhiên

Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đó cũng là cách để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực

Trang 13

Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Việc thỏa mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú, là sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST Vì vậy, các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm

du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi Thỏa mãn những nhu cầu này của khách DLST chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn và bảo vệ những gì mà họ tham quan

1.2.1.3 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái

Hoạt động du lịch sinh thái cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

a, Tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn cho khách du lịch

DLST thường ở những nơi có địa hình hiểm trở, sông suối nhiều, nhiều vách núi cao, vì vậy vấn đề đặt ra cho các tổ chức du lịch là cần phải chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất và điều kiện sinh hoạt phòng khi có các sự cố xảy ra như: tai nạn do leo núi, chết đuối do tắm suối, rắn cắn…

Các tổ chức du lịch cần phải chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho một khu vực DLST đó là:

- Về hướng dẫn viên và nhân viên của khu du lịch cần phải có sức khỏe tốt, biết bơi lội, biết sơ cứu, cấp cứu trong các trường hợp khách du lịch bị xảy ra tai nạn… Các nhân viên bảo vệ luôn được bố trí ở các vị trí, những nơi có thể xảy ra tai nạn như: hồ bơi, thác nước…

- Về dụng cụ, phương tiện phục vụ du lịch như: phao bơi, dụng cụ leo núi, các phương tiện đưa đón khách du lịch phải đảm bảo độ an toàn, đủ tiêu chuẩn cho phép

b, Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua

đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường

tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết

đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực

Trang 14

c, Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái.

Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, DLST cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần được tuân thủ, bởi vì:

- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động DLST

- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự

đi xuống của hoạt động DLST

Với nguyên tắc này mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư trở lại để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái

d, Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

Được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi

vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với các giá trị của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm giảm sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này

sẽ tác động trực tiếp đến DLST Chính vì vậy, việc phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST

e, Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Trang 15

Đồng thời, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách… thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít

bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên và họ sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST

1.2.2 Sản phẩm du lịch sinh thái

1.2.2.1 Khái niệm

a, Khái niệm chung về sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

Sản phẩm du lịch bao gồm cả những yếu tố hữu hình và yếu tố vô hình Xét theo quá trình tiêu dùng của du khách trên chuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ bản sau:

- Dịch vụ vận chuyển

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống

- Dịch vụ tham quan, giải trí

- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm

- Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

b, Khái niệm sản phẩm DLST

Sản phẩm DLST là giá trị sinh thái và văn hóa bản địa được khai thác dựa trên các nguồn lực bản địa, với sự tham gia tích cực của cư dân bản địa Một mặt làm thỏa mãn nhu cầu DLST của du khách, mặt khác giáo dục môi trường và góp phần vào sự bảo tồn và phát triển điểm đến du lịch.

Có thể khái quát sản phẩm DLST bằng biểu thức sau:

Sản phẩm DLST = Giá trị sinh thái và văn hóa bản địa + Dịch vụ du lịch bản địa + hàng hóa bản địa.

Ngày đăng: 18/10/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các loại hình du lịch sinh thái - TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
Bảng 1 Các loại hình du lịch sinh thái (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w