Bản quy chế kèm theo gồm: 03 chương, 16 điều quy định chi tiết các nội dung, phạm vi, đối tượng điều chỉnh và các nguyên tắc thực hiện; Quyết định số 1665/QĐ-UBND TP Hà Nội của UBND thàn
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HANEL XỐP NHỰA
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, cho phép em bày tỏ lòng biết ơn chân thành với các thầy cô của trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã truyền đạt kiến thức và chỉ bảo tận tình cho những sinh viên của trường, trong đó có em Đặc biệt, đối với TS GVCC Vũ Thị Kim Xuyến đã hướng dẫn giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Xin được gửi lời cám ơn chân thành tới các cán bộ công nhân viên tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa đã tạo điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu, tìm kiếm và sử dụng tài liệu trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản khóa luận này, em đã gặp khá nhiều khó khăn do trình độ còn hạn chế và chưa đủ kinh nghiệm trong thực tế nên không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Vì thế, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô trong trường cũng như các bạn đọc Những ý kiến đóng góp của mọi người sẽ giúp em nhận ra hạn chế và qua đó em có thêm những nguồn tư liệu mới trên con đường học tập cũng như nghiên cứu sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em tên là Nguyễn Thị Bích Ngọc, em thực hiện chọn đề tài: “Thực trạng văn
hóa công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
chuyên ngành Quản trị văn phòng
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em trong thời gian qua Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ĐHNVHN Trường đại học Nội Vụ Hà Nội HNP Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa CBCNV Cán bộ công nhân viên
Trang 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đánh giá mức độ ghi nhớ nội quy quy định quy chế của CBCNV
Biểu đồ 2.2: Cảm giác môi trường cảnh quan của HNP đem lại cho khách hàng
Biểu đồ 2.3: Mức độ hài lòng của CBCNV về điều kiện cơ sở vật chất, không gian, địa điểm làm việc
Biểu đồ 2.4: Hiện tượng mất đoàn kết trong nội bộ
Biểu đồ 2.5 Khảo sát đánh giá lòng trung thành của CBCNV
Biểu đồ 2.6: Khảo sát đánh giá sự tự nguyện tại HNP
Biểu đồ 2.7 Khảo sát đánh giá sự nỗ lực trong thực hiện công việc
Biểu đồ 2.8 Khảo sát đánh giá tính sáng tạo trong thực hiện công việc
Biểu đồ 2.9: Mức độ hài lòng của khách hàng về thái độ, cách thức làm việc của CBCNV Biểu đồ 2.10 Đánh giá sự hài lòng trong bố trí công việccủa CBCNV khối sản xuất Biểu đồ 2.11 Đánh giá nhu cầu luân chuyển công việc của CBCNV khối sản xuất Biểu đồ 2.12: Mức độ động viên và khích lệ cấp dưới của lãnh đạo
Biểu đồ 2.13: Mức độ quan tâm và lắng nghe ý kiến của lãnh đạo với cấp dưới
Biểu đồ 2.14: Mức độ chấp hành quyết định của cấp trên
Biểu đồ 2.15: Mức độ hài lòng của khách hàng về thái độ, cách thức làm việc của CBCNV Biểu đồ 2.16 Khảo sát mức độ hài lòng về đồng phục
Biểu đồ 2.17 Khảo sát cảm giác khi mặc đồng phục
Biểu đồ 2.18: Đánh giá chung về việc tổ chức các hoạt động phong trào
Biểu đồ 2.19: Đánh giá của CBCNV khối sản xuất về việc tổ chức các hoạt động phong trào
Bảng 2.1: Nội dung Phiếu khảo sát
Bảng 2.2: Đối tượng trả lời phiếu khảo sát
Bảng 2.3 Bảng chi tiêu cho các hoạt động phong trào tại HNP
Sơ đồ 1:Cơ cấu tổ chức HNP
Sơ đồ 2:Mô hình mạng lưới bán hàng của Công ty cổ phần Hanel - Xốp nhựa
Sơ đồ 3: Hệ thống kênh phân phối của Công ty cổ phần Hanel - Xốp nhựa
Trang 6MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 6
1.1 Một số quan niệm 6
1.1.1 Quan niệm về văn hóa 6
1.1.2 Quan niệm về công sở 9
1.1.3 Quan niệm về văn hóa công sở 11
1.2 Vai trò của văn hóa công sở 13
1.2.1 Văn hóa công sở góp phần nâng cao ý thức con người 13
1.2.2 Văn hóa công sở góp phần vào thực hiện mục tiêu chung 14
1.2.3 Văn hóa công sở góp phần vào sự ổn định trong hoạt động của tổ chức 14
1.2.4 Văn hóa công sở góp phần tạo nên bản sắc riêng cho hoạt động của tổ chức 15
Tiểu kết chương 1: 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÔNG TY 16
CỔ PHẦN HANEL – XỐP NHỰA 16
2.1.Khái quát về Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 16
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 16
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của công ty Hanel Xốp nhựa 17 2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 18
2.2 Thực trạng VHCS tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 19
Trang 72.2.1 Thiết kế Phiếu khảo sát và thu thập dữ liệu 19
2.2.2 Hệ thống giá trị cốt lõi của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 19
2.2.3 Nội quy, quy chế làm việc của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 21
2.2.4 Môi trường cảnh quan 25
2.2.5 Đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc của đội ngũ CBCNV 30
2.2.5.1 Đạo đức, lối sống 30
2.2.5.2 Tác phong làm việc 32
2.2.6 Kỹ năng giao tiếp ứng xử của đội ngũ CBCNV 33
2.2.6.1 Giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ 34
2.2.6.2.Trang phục tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 37
2.2.6.3 Nghi thức nơi công sở: 39
2.3 Đánh giá thực trạng về văn hóa công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa 43
2.3.1.Những thành tựu 43
2.3.2 Hạn chế 45
Tiểu kết chương 2 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VĂN HÓA CÔNG SỞ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN HANEL XỐP NHỰA 49
3.1 Nâng cao nhận thức lãnh đạo, cán bộ nhân viên về văn hóa công sở 49
3.2 Xây dựng giá trị văn hóa mới và tuyên truyền phổ biến giáo dục việc thực hiện văn hóa công sở cho đội ngũ CBCNV 51
3.3 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan tới Văn hóa công sở 53 3.3 Đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cảnh quan 55
3.4 Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCNV 56
3.5 Tạo động lực cho CBCNV 58
3.6 Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện 59
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế Việt Nam cũng đã
và đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Sự cạnh tranh đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực và ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi sự thích nghi và phát triển linh hoạt kịp thời của các cơ quan tổ chức Trong tình cảnh đó, văn hóa công sở (VHCS) ngày càng thể hiện được vai trò của mình đối với sự phát triển của các công sở, cơ quan hành chính nhà nước và các doanh nghiệp Không có một quốc gia nào, cơ quan
tổ chức nào có thể trường tồn khi không có bản sắc văn hóa riêng, và khi các luồng văn hóa nước ngoài đang xâm lẫn trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh thực hiện văn hoá công sở là “cú huých” quan trọng và cần thiết để tạo lợi thế cạnh tranh, cơ hội phát triển cho các cơ quan doanh nghiệp VHCS ra đời với sứ mệnh gắn liền với văn minh phát triển, tạo nên bản sắc, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của các
cơ quan tổ chức, là tổng hòa các giá trị hữu hình và vô hình được các thành viên trong các cơ quan tổ chức bảo tồn, duy trì và phát huy từ quá khứ đến hiện tại, là thành quả trí tuệ sáng tạo của con người, từ đó tạo nên bản sắc của cơ quan tổ chức
Văn hóa công sở là một đề tài được quan tâm và bàn luận nhiều trong thời gian qua với nhiều góc độ khác nhau Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể bắt gặp nhiều vấn đề liên quan tới VHCS từ những câu chuyện, thái độ, hành vi ứng xử, hình ảnh, ấn tượng v.v ở rất nhiều nơi Bên cạnh những hoạt động chuyên môn thì hoạt động VHCS ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp làm việc và hoạt động hiệu quả của đơn vị, đặc biệt đến vị thế của cơ quan đó trong quá trình hội nhập Để thành công trong hội nhập thì VHCS không thể đứng ngoài thị trường Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa (HNP) là một trong những công ty cổ phần hóa đầu tiên ở Hà Nội Với thế mạnh là thiết bị hiện đại, công nghệ cao, lao động lành nghề, hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO, bề dày hoạt động suốt 24 năm qua và ngày càng có những bước phát triển vững chắc Bởi vậy, công ty rất chú trọng đến việc thực hiện VHCS để thực thi nhiệm vụ chiến lược trong sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện VHCS, bên cạnh những kết quả
đã đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập chưa thống nhất, cần phải có sự
nhìn nhận khách quan Do đó em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng văn hóa
công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa” để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận
tốt nghiệp chuyên ngành Quản trị văn phòng
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa công sở là vấn đề, đề tài được nhiều nhà nghiên cứu và các em quan tâm Nhà nước đã ban hành các bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên qua đến việc thực hiện văn hóa công sở Tiêu biểu là Quyết định số 129/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước Bản quy chế kèm theo gồm: 03 chương, 16 điều quy định chi tiết các nội dung, phạm vi, đối tượng điều chỉnh và các nguyên tắc thực hiện; Quyết định
số 1665/QĐ-UBND TP Hà Nội của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy tắc ứng xử nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội, quy tắc gồm 4 chương, 14 điều áp dụng cho các tổ chức cá nhân làm việc, sinh sống, tham quan, học tập tại hà Nội, định hướng những việc nên làm và không nên làm tại những điểm công cộng
Bên cạnh đó còn có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu khác về văn hóa công sở như sau:
- Võ Bá Đức (2012), Cẩm nang văn hóa ứng xử và giao tiếp công sở, Nhà xuất
bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách gồm 8 chương với nội dung là: Tìm hiểu về văn hóa; Những nội dung cơ bản về văn hóa công sở; Văn hóa doanh nghiệp; Doanh nhân
và văn hóa doanh nhân; Văn hóa ứng xử học đường và văn hóa ứng xử bệnh viện; Quy trình tổ chức các sự kiện: Hướng dẫn chi tiết về quy trình tổ chức các loại sự kiện và những lễ tiết, nghi thức đón tiếp, phục vụ khách; Những kỹ năng giao tiếp và những phép ứng xử cơ bản: Hướng dẫn rất rõ ràng và sinh động những kỹ năng giao tiếp và những nguyên tắc ứng xử hiện đại, giúp chúng ta có thể tự rèn luyện để tự hoàn thiện nhân cách của mình; Kỹ năng và phương pháp soạn thảo văn bản
- Nguyễn Văn Thâm (2001), Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách đề cập tới những vấn đề chung về tổ chức hoạt động của các công sở hành chính; vai trò của văn phòng, của kỹ thuật và kỹ năng hành chính, điều kiện làm việc và thiết bị trong điều hành công sở; Một số vấn đề
về kỹ năng lãnh đạo và quản lý trong công sở hành chính và đưa ra kiến nghị một số biện pháp để đổi mới kỹ thuật hành chính, nâng cao kỹ năng trong điều hành hoạt động của các công sở nước ta hiện nay và một số vấn đề liên quan đến lãnh đạo, quản
lý công sở trong tương lai
- Thu Uyên (2006), Nghệ thuật giao tiếp và ứng xử nơi công sở, Nhà xuất bản
Văn hóa thông tin, Hà Nội Cuốn sách trình bày về: Tầm quan trọng và cách tiến hành của việc giao tiếp; Đi xin việc phải ứng xử như thế nào để được tuyển dụng; Nghệ thuật giao tiếp nơi công sở; Quan hệ giao tiếp giữa cấp trên - cấp dưới - đồng sự, bạn đọc có thể tìm được cách thức giao tiếp, ứng xử và cách ăn mặc trong ngày đầu đi xin
Trang 10việc để tạo được thiện cảm với nhà tuyển dụng, đặc biệt để thắt chặt hơn mối quan hệ giữa đồng nghiệp, tạo tình cảm tốt đẹp lâu dài
- Lê Như Hoa (2014), Quản lý văn hoá nơi công sở, Nhà xuất bản Lao động, Hà
Nội Cuốn sách trình bày những vấn đề lí luận về quản lí văn hoá nơi công sở; nội dung chủ yếu về quản lí văn hoá nơi công sở và phương hướng, giải pháp tăng cường quản lí văn hoá nơi công sở
- Tân Tân, Thu Hằng, Nguyễn Đông (2005), Văn hóa công sở, Nhà xuất bản
Phụ nữ, Hà Nội Nội dung đề cập đến: Gồm cách ứng xử văn hoá nơi công sở: cách ăn mặc, trang điểm đến các mối quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp và bí quyết để thành công trong sự nghiệp
- Nguyễn Hoàng Lê (2011), Phong cách làm việc chuyên nghiệp của sếp và
nhân viên: Ứng xử văn phòng, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội Sách có nội
dung: Những kĩ năng và cách làm việc chuyên nghiệp của nhân viên và của lãnh đạo
và cách ứng xử với đồng nghiệp nơi công sở để thành công trong cuộc sống
Và có nhiều bài báo mạng, bài viết của các em chuyên môn đề cập đến vấn đề
văn hóa công sở như: “Đôi điều suy nghĩ về việc thực hiện Quy chế văn hóa công
sở”(2009) của Trương Thị Hiền trên Báo điện tử Đắc Lắc; “Văn hóa công sở đôi điều suy ngẫm “(2012) của Mai Hồng trên Báo Hải quan Quảng Bình; “Luận bàn về văn hóa công sở” (2011) của Trần Mai Ước trêm Tạp chí Đại học Sài Gòn số 7, “Những nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước”
(2016) của ThS Nguyễn Huyền Hạnh trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước, “Lạm bàn về
văn hoá công sở” (2013) của Hà Đăng Khoa trên Trang thông tin điện tử huyện Ngọc
Hồi.v.v
Đã có nhiều tài liệu, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị làm nền tảng vấn đề văn hóa công sở như:
- Luận án tiến sĩ của Lê Thị Trúc Anh về đề tài “Văn hóa giao tiếp trong công
sở hành chính (trường hợp TP.HCM từ năm 1986 đến nay)”(2012) Luận án này đã
góp phần đánh giá thực trạng về văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính (nhấn mạnh về hoạt động tiếp dân), tạo thêm nguồn dữ liệu thực tiễn làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách, giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế trong công sở hành chính của Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngân về đề tài “Văn hóa công sở ở Quận
Tây Hồ hiện nay” (2010) Đề tài chỉ cho chúng ta biết thêm về văn hóa công sở ở Quận
Tây Hồ vào năm 2010 và một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động văn hóa công sở ở Quận Tây Hồ
Trang 11- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà về đề tài: “Văn hóa công sở trong
các cơ quan hành chính cấp tỉnh ở Bắc Ninh hiện nay”(2015)
- Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Lan Phương “Phát triển văn hóa công sở tại chi
cục hải quan Hải Dương”(2015) Luận văn đã trình bày về tình hình thực tế tại
Chi cục Hải quan Hải Dương, luận văn thực hiện phân tích và đưa ra các đánh giá chủ quan về tình hình phát triển văn hóa hoạt động của Chi cục; Đưa ra quan điểm về việc phát triển VHCS tại Chi cục Hải quan Hải Dương và đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho việc củng cố và phát triển VHCS tại Chi cục được thiết thực, hiệu quả hơn
- Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Quyên về đề tài “Hoàn thiện văn hoá công sở tại
cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Thái Nguyên”(2013) Luận văn đã trình bày về cơ
sở lý luận về văn hoá và văn hoá công sở ; Thực trạng văn hoá công sở tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Thái Nguyên và đánh giá chung về thực trạng văn hoá công sở cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Thái Nguyên sau khi đã điều tra 02 nhóm đối tượng là cán bộ công chức viên chức Bảo hiểm xã hội và khách hàng; Giải pháp hoàn thiện văn hoá công sở tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Thái Nguyên về các nhân tố vật chất i với các nhân tố tinh thần
- Luận văn cử nhân của Vũ Thị Phụng về đề tài “Một số giải pháp nâng cao văn
hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước” (2007)
- Khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Lan Hương về đề tài “Tìm hiểu quy định của
một số cơ quan Nhà nước về văn hóa giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công nhân, viên chức”
- Khóa luận tốt nghiệp của Đặng Trần Nha Trang về đề tài “Thực trạng và giải
pháp xây dựng văn hóa công sở tại Ngân hàng TMCP thương mại An Bình” (2015)
- Khóa luận tốt nghiệp của Cao Thị Thùy Linh về đề tài “Vai trò của văn phòng
trong việc xây dựng văn hóa ứng xử tại một số doanh nghiệp vừa và nhỏ” (2015)
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Kim Chi về đề tài “Nâng cao hiệu quả
Văn hóa công sở tại Viện Thông tin khoa học – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” (2016)
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực trạng văn hóa công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa (theo đề nghị của giảng viên hướng dẫn)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của VHCS như khái niệm VHCS và vai trò của VHCS tại HNP
- Khảo sát và đánh giá thực trạng VHCS tại HNP
- Nghiên cứu và đưa ra những giải pháp hoàn thiện tình hình VHCS tại HNP
Trang 125 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng VHCS tại HNP
Phạm vi nghiên cứu: Tại HNP từ năm 2014 đến nay
6 Giả thuyết nghiên cứu:
Việc đi vào tìm hiểu về thực trạng VHCS tại HNP là góp phần đánh giá việc thực hiện VHCS, tạo thêm nguồn dữ liệu thực tiễn làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách, giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế về VHCS tại tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa Và cũng là góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, minh bạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoạt
động có hiệu lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra quan sát, phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp ghi chép, chụp ảnh
- Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát (theo đề nghị của giảng viên hướng dẫn)
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa công sở
- Chương 2: Thực trạng văn hóa công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa công sở tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1 Một số quan niệm
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một một hiện tượng khách quan, là lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống tinh thần của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp nhưng trong quá trình phát sinh và phát triển, đời sống văn hóa của con người vẫn chịu sự quy định của những quy luật chung và đều hướng tới những chuẩn mực cụ thể Quy luật bao giờ cũng có tính khách quan, và quy luật xã hội hình thành từ hoạt động có ý thức của con người, các chuẩn mực xã hội về lối sống, nếp sống đều do con người đặt ra, chịu sự quy định chặt chẽ của các điều kiện khách quan, quy định các hoạt động của chính con người
Nghiên cứu về các quy luật, chuẩn mực của sự hình thành và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của xã hội và của con người cho thấy văn hóa xã hội phát triển không ngừng Con đường phát triển của nó không phải là vòng khép kín hay đường thẳng mà là theo hình xoắn trôn ốc bởi sự phát triển này không có giới hạn và hội tụ 3 yếu tố: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Chính vì vậy, quan niệm văn hóa đa nghĩa và có rất nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Các học giả ở mỗi đất nước, dân tộc trong mỗi thời kì lịch sử, ngành nghề khác nhau đều có những cách lý giải riêng về văn hóa Cụ thể là ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn
hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Trong cuốn “ Văn hóa Việt Nam và cách
tiếp cận mới” Giáo sư Phan Ngọc xuất bản năm 1994 cho biết trên thế giới có khoảng
trên 400 định nghĩa về văn hóa Điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của quan niệm này
Nhưng ở trong đề tài này, chúng ta không nên coi văn hóa như một hoạt động riêng biệt mà phải xem xét ở góc độ là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu
và năng lực bản chất của con người, hướng con người vươn tới những giá trị thiện-mỹ, là hoạt động nhằm tạo ra những giá trị, chuẩn mực xã hội, xây dựng nhân cách của con người Với góc độ này, văn hoá hiện diện ở mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như sản xuất tinh thần của con người, trong mọi quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối với thiên nhiên
chân-Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo
Trang 14trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" [26] , tức là văn
hóa ám chỉ toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình
Ở Việt Nam, thuật ngữ “văn hóa” được mượn trong tiếng Hán cổ chỉ việc “văn
trị, giáo hóa” để phân biệt với việc dùng võ lực, nghĩa là lấy cái đẹp, kiến thức để giáo
hóa, giáo dục con người nhưng lại hiểu theo nghĩa “văn hóa” có nguồn gốc từ phương Tây
Ở phương Tây năm 1871, quan niệm văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi
trên thế giới do nhà nhân chủng học Edward Burnett Tylor đưa ra: “văn hóa là một
tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội” [26] Định nghĩa Tylor miêu tả thuần túy và khách quan,
không mang tính chuẩn tắc Ở đây, văn hóa đã được định nghĩa theo những gì mà văn hóa bao hàm, biểu hiện toàn thể đời sống xã hội của con người, các đặc trưng văn hóa thuộc
về phạm vi tập thể, văn hóa được phổ biến lưu truyền, không do di truyền sinh học
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài
người thì C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa là biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.” Với quan niệm trên, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng là
bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất; Văn hóa tinh thần
là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Như vậy, nói tới văn hoá là nói tới con người, tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Do vậy, văn hoá có mặt trong mọi hoạt động của con người Nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành
và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử
Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor định nghĩa về văn hóa trong Thập kỷ
quốc tế phát triển văn hóa năm 1987 -1988 như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động
các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống
và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [21;Tr6] Định
nghĩa của Mayor có một điểm đáng lưu ý là đã chỉ ra được văn hoá làm nên nét khác biệt giữa các cộng đồng dân tộc, tiếp cận với cái bản thể của văn hóa, chỉ ra hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu là yếu tố cốt lõi, là nền tảng tinh thần của nó Đặc biệt là
“yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” đã tạo nên hệ thống các biểu tượng
Trang 15mang tính đa dạng Nhưng sự khác biệt giữa các hệ thống biểu tượng không phản ánh được hết bản chất nội hàm văn hóa theo cách toàn diện Vì thế, những sự khác biệt này phải được thống nhất trong một chỉnh thể nền văn hóa chung để tạo nên hệ thống các giá trị, có thể xem đó là vấn đề mang tính quy luật của sự hình thành và phát triển của bất kỳ nền văn hóa nào trên thế giới
Trên tinh thần của UNESCO Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của BCHTW khoá
VIII đã nhận định rằng: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [8;Tr114] Nhìn chung đội ngũ
CBCNC trong HNP là lực lượng có bản lĩnh vững vàng, hoạt động có mục đích, có ý chí phấn đấu mạnh mẽ, tính tự chủ cao, sáng tạo trong công việc, trung thành với cơ quan tổ chức Với quan niệm này, văn hóa đã trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức phát triển, sức mạnh tiềm tàng và bản lĩnh, cốt cách của dân tộc Văn hoá được lưu giữ, chắt lọc, kế thừa và phát triển, phát huy qua các thế hệ nên đã thấm sâu vào mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc và xã hội để làm nền tảng cho sự phát triển tất yếu Mỗi quốc gia, dân tộc phát triển không thể chỉ dựa vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, tài chính mà còn phải chủ động phát huy tối đa nguồn lực con người, là làm cho văn hóa thấm sâu vào trong các lĩnh vực và hoạt động xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người biến thành
"nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển"
Theo một số học giả, quan niệm văn hóa cũng có những điểm riêng như TS Đỗ
Minh Cương: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá
trị của các tổ chức, cộng đồng người, trước hết là hệ các giá trị chân – thiện – mỹ”
[6;Tr18] Quan niệm này đã chỉ ra rằng văn hóa là phương tiện đắc lực để con người
“điều chỉnh” bản thân và cuộc sống của mình theo định hướng vươn tới những giá trị
chân, thiện, mỹ
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -
Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông
tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người
sáng tạo ra trong lịch sử"[28] GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đưa ra quan niệm về văn
hóa được nhiều người đánh giá là tương đối phù hợp và đầy đủ: “Văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình.” [26]
Mỗi người nhìn nhận văn hóa dưới một góc độ khác nhau Vì vậy, việc có nhiều quan niệm văn hóa khác nhau không có gì là đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm cho vấn đề được hiểu theo một cách phong phú và toàn diện hơn Đặc biệt là Chủ tịch Hồ
Trang 16Chí Minh – một nhà tư tưởng vĩ đại đã đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn” [27;Tr28]
Với quan niệm trên, Hồ Chí Minh đã thể hiện tầm nhìn xa khẳng định rõ vai trò
to lớn của văn hóa với con người và xã hội cùng những đặc trưng cơ bản của văn hóa trước cả định nghĩa về văn hóa của UNESCO năm 1982 Người tiếp cận từ ý nghĩa của văn hóa đối với cách mạng nước ta và đã chỉ ra nguồn gốc, cấu trúc và mục tiêu của văn hóa Cũng từ quan niệm này, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng: văn hóa do con người sáng tạo ra và phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện của con người
Vào Hội nghị văn hóa toàn quốc tổ chức tháng 11-1946, Hồ Chí Minh đã khẳng
định "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" [1;Tr1] và sau này UNESCO đã xác nhận:
“Văn hóa là hệ điều tiết xã hội” [21;Tr7] Cụm từ “soi đường” hay “hệ điều tiết” đều
đã gián tiếp khẳng định vai trò định hướng của văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội Văn hóa là bánh lái của con tàu vượt bao phong ba bão tố để đến bến bờ ước mơ
1.1.2 Quan niệm về công sở
Có thể nói, công sở bắt nguồn từ tổ chức và luôn hoạt động với tư cách là một
tổ chức của xã hội con người (khác với các tổ chức tự nhiên), được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ nhất định
Trên phương diện lịch sử, thuật ngữ “công sở” được sử dụng ở Phương Tây từ cuối thế kỷ thứ XVIII cùng với thuật ngữ “cơ quan” Nó được hiếu theo cả nghĩa rộng
và nghĩa hẹp gồm: một là cơ quan quản lý, hai là trụ sở làm việc của các cơ quan Còn xét về thuật ngữ công sở ở Việt Nam Trước hết là xét về mặt ngữ nghĩa thì “công” là
chung, “sở” là trụ sở Dựa trên cơ sở này, trong cuốn Từ điển từ và ngữ Việt Nam thì
GS Nguyễn Lân đã định nghĩa “công sở là chỗ làm việc của cơ quan nhà nước” Trong Từ Điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên cũng cho rằng “công sở là trụ
sở cơ quan, xí nghiệp nhà nước”
Tuy nhiên, ở trong nhiều trường hợp trong thực tế, trong lĩnh vực tổ chức và quản lý nhà nước, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ khía cạnh vật chất, địa điểm hoạt động, hay còn gọi là trụ sở, nơi công vụ được tiến hành hoặc dịch vụ công được cung
cấp Cụ thể là theo Quyết định số 213/2006/QĐ-TTg ngày 25/9/2006 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế Quản lý công sở của cơ quan hành chính nhà nước thì có trình bày rõ là công sở quy định trong quy chế kèm theo là nơi làm việc bao gồm: nhà
Trang 17làm việc và các công trình phục vụ hoạt động của cơ quan trong khuôn viên đất của
công sở đó Tại khoản 1 điều 70 của Luật cán bộ, công chức 2008 có nêu rõ hơn về khái niệm này “Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc” [15] Để xem xét toàn diện hơn về thuật ngữ “công sở”, em xin đưa ra vài
quan niệm như sau:
Theo nghĩa cổ điển: Công sở là một tổ chức được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước để tiến hành công việc chuyên ngành của nhà nước
Xét về mặt nội dung công việc: hoạt động công sở nhằm thoả mãn các lợi ích chung của cộng đồng, do vậy cần được sự bảo vệ kiểm tra của Nhà nước và chỉ có Nhà nước mới thoả mãn các nhu cầu này [10;Tr4]
Xét về hình thức tổ chức: công sở là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được nhà nước hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình Hình thức tổ chức công sở do Nhà nước quy định và lệ thuộc và phương thức điều hành của bộ máy Nhà nước Hiện nay ở nước ta có các loại công sở như công sở hành chính, công sở sự nghiệp [10;Tr4] Như vậy, bản chất của công sở là một loại tổ chức và do đó có đặc trưng của một tổ chức
Xét về ý nghĩa tổ chức Nhà nước: công sở là trụ sở làm việc của cơ quan Nhà nước, do Nhà nước lập ra để giải quyết công vụ [10;Tr4] Ở đây, khái niệm công sở gần nghĩa với cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước
Xét trên phương diện pháp lý: Công sở là một pháp nhân, được sử dụng quyền lực công để giải quyết công việc theo luật định
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa tổng quát về công sở: tổ chức của
hệ thống bộ máy nhà nước hoặc là các tổ chức mang tính chất công ích được nhà nước công nhận thành lập chịu sự điều chỉnh cùa luật hành chính và các luật khác, bao gồm các cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước.Công sở là các tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính; là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản
để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho bộ máy quản lý nhà nước, là nơi phối hợp hoạt động của các thành viên và bộ phận trong tổ chức theo một cơ chế nhất định hợp pháp và thực hiện nhiệm vụ được giao; là nơi tiếp nhận đề nghị,yêu cầu, khiếi nại của dân Do đó, công sở là một bộ phận quan trọng hợp thành của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước
Viện nghiên cứu hành chính thuộc Học viện hành chính quốc gia đã xuất bản
cuốn “Thuật ngữ hành chính” vào năm 2002 và có đưa ra quan niệm về công sở nghĩa
Trang 18rộng, là chỉ các cơ quan Nhà nước nói chung, bao gồm các cơ quan trong hệ thống quyền lực Nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp); các cơ quan trong hệ thống quyền lực Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp); các cơ quan tòa án và viện kiểm sát nhân dân các cấp;
Nghĩa hẹp, công sở được hiểu là các cơ quan hành chính Nhà nước (bao gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan trực thuộc) Còn trong một phạm
vi hẹp nữa, công sở được dùng đồng nghĩa với trụ sở - địa điểm làm việc của một cơ quan [12;Tr21]
Dựa vào tính chất nội dung: Công sở hành chính và công sở sự nghiệp Trong
cuốn “Hỏi đáp về Quản lý hành chính nhà nước” (Nhà xuất bản Lý luận - Chính trị
năm 2008) do TS Nguyễn Hữu Khiển, TS Trần Thị Thanh Thủy làm Chủ biên nhận định "Công sở hành chính là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được nhà nước công nhận, bao gồm cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước
Công sở hành chính có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do
luật công chức quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước
hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng" Công sở sự nghiệp: là tổ
chức đặt dưới sự quản lý của nhà nước, thực hiện các hoạt động có tính chất nghiệp vụ riêng biệt, phụ vụ cho sản xuất kinh doanh và cho sinh hoạt, nói cách khác đó là những đơn vị cơ bản để thực hiện nhiệm vụ của ngành
1.1.3 Quan niệm về văn hóa công sở
“Văn hóa công sở” là cụm từ khá quen thuộc trong cuộc sống hiện nay trong
các phương tiện truyền thông, văn bản quản lý nhà nước, Tùy theo mục đích sử dụng
mà hiện nay có nhiều định nghĩa về văn hóa công sở cả về mặt học thuật cũng như thực tế giao tiếp Tuy nhiên, có thể hiểu một cách “nôm na” rằng, VHCS chính là văn hóa trong môi trường làm việc nơi công sở Dựa trên những cơ sở lý luận trên, ta có thể chọn ra một vài định nghĩa tiêu biểu về văn hóa công sở:
Theo nghĩa rộng, VHCS là tổng thể các giá trị tài sản tinh thần và vật chất ở nơi công sở Theo nghĩa này thì PGS.TS Vũ Thị Phụng đã đưa ra quan niệm như
sau: “VHCS là tổng hoà những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm trình độ nhận
thức, phương pháp tổ chức, quản lí, môi trường – cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao” [14;Tr10]
Trang 19Còn theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung thì VHCS được hiểu: “toàn bộ những giá
trị tạo nên nề nếp, hiệu quả hoạt động của cơ quan bao gồm những giá trị văn hóa vật thể (cơ sở vật chất, môi trường làm việc ở công sở, quần áo, trang phục, phù hiệu của công chức làm việc tại công sở ) và văn hóa phi vật thể (văn hóa ứng xử, giao tiếp, văn hóa lãnh đạo, văn hóa nghe và trả lời điện thoại )”[7]
Xét từ khía cạnh “công sở bắt nguồn từ tổ chức” thì có rất nhiều học giả cho
rằng VHCS là văn hóa tổ chức trong một công sở cụ thể Văn hóa tổ chức được quan niệm là hệ thống những giá trị, niềm tin, sư mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại như những giả thiết không bị chất vấn về truyền thống và cách thức làm việc của tổ chức mà mọi người trong đó đều tuân theo khi làm việc Chính văn hóa tổ chức cho phép người ta phân biệt được các tổ chức với nhau thông qua những phương thức điều hành khác nhau Văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, đến phương thức tồn tại và phát triển của tổ chức
Trong cuốn Từ điển tra cứu về Quản lý nhà nước và quản lý địa phương của
Học viện công vụ Liên bang Nga, VHCS đã được tiếp cận từ góc độ này: “Tập hợp
các định hướng và giá trị, chuẩn mực do truyền thống hay thói quen tạo nên đặc trưng riêng của công vụ tại các cơ quan Nhà nước, thể hiện ở mục tiêu của tổ chức, quan điểm thái độ của con người đối với công việc, cách xử lý xung đột, ” [11]
Vấn đề VHCS nảy sinh từ vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính mà nó là một bộ phận cấu thành Khái niệm trên đã nêu lên những khía cạnh quan trọng nhất của VHCS như quan hệ giữa cá nhân trong giải quyết công việc, các chuẩn mực xử sự, nghi thức tiếp xúc hành chính, phương pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, chỉ huy và ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của nhân viên,
Cũng từ gốc độ này, tác giả Nguyễn Thị Thu Vân quan niệm VHCS với phạm
vi nghĩa hẹp hơn: “hệ thống các giá trị , các quy tắc giao tiếp ứng xử, chuẩn mực đạo
đức của cán bộ công chức, các phương thức, cách thức quản lý gắn với viện tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công sở…”[24;Tr23-30]
Còn TS.Đào Thị Ái Thi cho rằng: “Văn hóa công sở là một dạng đặc thù của
văn hóa xã hội bao gồm các giá trị, chuẩn mực, vẻ đẹp và cách hành xử trong hoạt động công sở, mà các thành viên trong công sở cùng tiếp nhận để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở và phục vụ cộng đồng với sự tác động của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã hội” [8;Tr16] Bên cạnh đó, tác giả Minh Phúc
cũng đưa ra quan niệm: “Văn hoá nơi công sở, nói một cách khái quát, là một loạt
hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác Văn hoá công sở còn là một hệ thống được
Trang 20hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin giá trị về thái
độ của cán bộ làm việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việc trong công sở
và hiệu quả hoạt động của nó” [13]
Trong cuốn “Hỏi đáp về Quản lý hành chính nhà nước” (Nhà xuất bản Lý luận
- Chính trị năm 2008) thì các tác giả đã quan niệm “Văn hóa công sở là một sự pha
trộn riêng biệt của các giá trị, niềm tin, trông đợi và chuẩn mực được phát triển và duy trì trong công sở, tạo nên một dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt công sở này với công sở khác.’’
Tóm lại, từ những góc độ tiếp cận khác nhau mà chúng ta có nhiều quan niệm
khác nhau về VHCS Nhưng ta có thể hiểu VHCS là một loại hình văn hóa gồm một
loạt các hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mỗi quan hệ, tương tác của mình với những người khác; là những giá trị vật chất tinh thần thể hiện qua nhận thức, qua phương thức tổ chức quản lý các hoạt động công vụ nhằm mục đích hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ được giao để đạt được mục tiêu và hiệu quả cao VHCS còn được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử mà các thành viên
trong công sở thừa nhận và tuân theo để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở và phục
vụ xã hội VHCS không chỉ thể hiện đạo đức phẩm chất của các thành viên trong khi thực hiện nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ văn hóa của mỗi người, qua đó nêu bật lên sự văn minh nền nếp, kỷ cương, tác phong công nghiệp của tổ chức Bản chất của VHCS là hệ thống những quy ước, giá trị mà con người đưa vào đó để điều chỉnh các mối quan hệ tương tác giữa con người trong các hoạt động công sở theo hướng tích cực, nhằm đạt được mục đích chung Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, VHCS được cấu thành bởi nhiều yếu tố như: hệ thống các giá trị; kỹ năng giao tiếp, ứng xử; đạo đức, lối sống; tác phong, lề lối làm việc; cơ sở vật chất; các yếu tố ngoại hiện của công sở…
1.2 Vai trò của văn hóa công sở
1.2.1 Văn hóa công sở góp phần nâng cao ý thức con người
Văn hoá công sở cũng giống như bất cứ loại hình văn hoá nào khác, là một loạt hành vi và quy ước để hướng con người tới những giá trị chân – thiện – mỹ, là điều kiện phát triển tinh thần và nhân cách của con người Văn hóa giúp con người có thể hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần như ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, lòng
tự trọng,…Từ đó phát triển tinh thần và nhân cách của mỗi người góp phần vào sự phát triển của tập thể, là động lực phát triển của mọi hoạt động trong các cơ quan tổ chức Cụ thể hơn là HNP xây dựng được VHCS tiến bộ, văn minh, hiện đại thì sẽ có nền nếp làm việc khoa học, có kỷ cương, dân chủ, niềm tin cho các thành viên trong
Trang 21cơ quan tổ chức, góp phần nâng cao hiệu quả trong công việc, khiến họ cảm thấy thoải mái hơn, thúc đẩy họ tự nguyện phấn đấu, cống hiến cho công việc
Có thể nói VHCS chính là thước đo sự văn minh, là một trong những thước đo phản ánh trình độ văn hóa của các cơ quan đơn vị, tức là phản ánh sự nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở Con người sẽ quyết định VHCS, quyết định sự thành bại cũng như dấu ấn ghi lại của tổ chức trong suốt quá trình tổ chức đó hoạt động Con người tác động đến việc hình thành VHCS đồng thời văn hóa với những giá trị bền vững được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc từ quá khứ đến hiện tại, tương lai; từ môi trường bên trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác động trở lại góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, đạo đức cho con người
1.2.2 Văn hóa công sở góp phần vào thực hiện mục tiêu chung
Nói tới VHCS thì người ta thường liên tưởng đến phẩm chất, năng lực, tác phong lối sống của con người trong công sở Trình độ VHCS của một cơ quan tổ chức phản ánh được tình hình những thành viên trong đơn vị đó thể hiện năng lực, mức độ đóng góp vào công sở ra sao Bên cạnh đó VHCS vừa là “chất trung hòa” vừa là “chất keo dính” để gắn kết các thành viên trong cơ quan tổ chức với nhau, các tập thể với nhau để tạo ra khối thống nhất, tập trung sức mạnh tập thể để đạt mục tiêu chung
Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển và tiến bộ xã hội Sự ra đời của VHCS xuất phát từ chính vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính Một công sở chỉ làm tròn nhiệm vụ và chức năng của nó khi tạo dựng được mối quan hệ tốt giữa các thành viên của tổ chức trong công việc, các chuẩn mực ứng
xử, các nghi thức tiếp xúc hành chính, ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài cơ quan Hoàn thiện VHCS để tiến tới một môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả Từ đó tạo bầu không khí cởi mở giúp con người thoải mái khi làm việc, đưa tới chất lượng và hiệu quả công việc lên cao
1.2.3 Văn hóa công sở góp phần vào sự ổn định trong hoạt động của tổ chức
Xây dựng VHCS là xây dựng lề lối, nền nếp làm việc khoa học, có trật tự kỷ cương, tuân theo những nội quy, quy định chung để tạo ra một nề nếp làm việc khoa học, kỷ cương và dân chủ
Vai trò của văn hóa còn được thể hiện trong sự định hướng giải quyết đúng đắn các vấn đề trong từng thời kỳ và mối quan hệ giữa hiện đại hóa công sở với việc thực hiện sự công bằng cho các thành viên trong công sở Chỉ có như vậy mới phát huy được các hạn chế vẫn còn tồn tại trong công sở Vì muốn có sự ổn định thì phải công bằng trong phân phối lợi ích cho các thành viên, phải công bằng về đánh giá nhân sự; đòi hỏi việc đánh giá cán bộ, công chức phải dựa vào hiệu quả công việc, chứ không thiên lệch về chức vụ, bằng cấp, thiên vị, tình cảm riêng
Trang 22VHCS gắn kết, tạo sự thống nhất đồng thuận của các thành viên thông qua hệ thống các giá trị chuẩn mực chung từ đó tạo ra nguồn lực nội sinh cho sự phát triển theo xu hướng chung, giữ vững được thăng bằng và ổn định cho những bước phát triển của tổ chức
1.2.4 Văn hóa công sở góp phần tạo nên bản sắc riêng cho hoạt động của tổ chức
Trong môi trường làm việc năng động và chuyên nghiệp như hiện nay, bên cạnh việc sáng tạo để tìm ra những cách riêng giúp làm việc nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn thì có một cách tốt để xây dựng giá trị bản thân đó là hình thành những thói quen,
lề lối làm việc, phương cách ứng xử cùng hành vi văn minh, lịch sự chốn công sở
Như đã phân tích, khái niệm về VHCS khá rộng, vì vậy các quy định VHCS rất
đa dạng và phong phú, bao trùm nhiều vấn đề, một số quy định đã được điều chỉnh bởi các văn bản có hiệu lực pháp lý cao: luật, pháp lệnh…Tùy theo từng điều kiện hoàn cảnh, thời gian, vị trí địa lý, chức năng, chi phí, chiến lược mà các tổ chức sẽ xây dựng những dấu ấn riêng về hình ảnh của tổ chức mình Mặt khác, mỗi cá nhân, mỗi thành viên trong tổ chức hành chính ấy sẽ tạo ra văn hóa và bản sắc riêng cho cơ quan
tổ chức Đó là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm tích lũy vào mỗi cá nhân, biểu hiện ở hệ thống quan niệm và hành xử của cá nhân ấy trong đời sống thực tiễn Sự gắn kết và trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức hành chính là nhờ vẻ đẹp, giá trị của văn hóa truyền thống tạo nên sự đoàn kết giữa chặt chẽ giữa các cá nhân với tập thể với nhân dân sẽ là nền tảng quan trọng cho mối quan hệ ấy và từ từ điều chỉnh để ngày càng tốt đẹp hơn
Tiểu kết chương 1:
Văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh của dân tộc Đó chính là tấm thẻ căn cước để phân biệt văn hóa này với văn hóa khác VHCS là một bộ phận trong chỉnh thể của cả nền văn hóa cũng không nằm ngoài hệ giá trị đó Bất kì một cơ quan, công ty, đơn vị hay tổ chức nào đó cũng đều cố gắng xây dựng riêng cho mình những nét văn hóa tiêu biểu không trùng lặp với bất cứ đơn vị nào Đối với HNP cũng như vậy, tất cả các yếu tố cấu thành nên VHCS: các nội quy, quy chế làm việc, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động, hệ thống các giá trị đạo đức lề lối làm việc của cán bộ công nhân viên (CBCNV) chuẩn mực ứng xử giao tiếp và các hình thức ngoại biên cũng đều mang một hình thức riêng biệt góp phần làm nên nét đậm đà bản sắc trong nền văn hóa chung của dân tộc Có thể nói rằng trong mỗi cơ quan, công ty, đơn vị, yếu tố con người là quan trọng nhất, con người, văn hóa tạo nên một bản sắc văn hóa thương hiệu riêng không lẫn đâu được, đó cũng là yếu tố làm nên nét riêng biệt văn
hóa công sở của HNP
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN HANEL – XỐP NHỰA
Trên cơ sở lý luận đã trình bày ở chương 1, em tiến hành khảo sát thực tế về những vấn đề về VHCS tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa Đây cũng là nội dung trọng tâm của đề tài
2.1.Khái quát về Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa là một trong những công ty cổ phần hóa đầu tiên của Hà Nội được thành lập theo theo quyết định 1559/CP-UB ngày 9/12/1994 của UBND thành phố Hà Nội, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 063606 của Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội, trên cơ sở là công ty con của công ty mẹ Hanel với vốn điều
lệ là 5.500.000.000 đồng ( năm tỷ năm trăm triệu đồng), số cổ phiếu là 55.000 cổ phiếu với mệnh giá cổ phiếu là 100.000 VND / cổ phiếu Với thế mạnh là thiết bị hiện đại, công nghệ cao, lao động lành nghề, hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO, HNP
đã tạo ra các sản phẩm xốp và nhựa phục vụ cho các ngành công nghiệp của nền kinh
tế quốc dân và đối tác tin cậy của các tập đoàn lớn đầu tư vào Việt Nam
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa có tên giao dịch quốc tế bằng Tiếng Anh là Hanel plastics joinstock company (Viết tắt là HNP) Tính tới thời điểm hiện tại thì HNP đã hoạt động được 23 năm HNP nằm tại địa chỉ B15 Đường CN số 6, Khu Công Nghiệp Sài Đồng B, Q Long Biên, Hà Nội Số điện thoại văn phòng là 844.38753213, Fax là 844.38752436
và các chi tiết cấu kiện từ nhựa Những mặt hàng cụ thể như: Các tấm xốp định hình
để chèn các mặt hàng điện tử, dụng cụ đo lường; Làm bao gói các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp thực phẩm; Các sản phẩm xốp khối, các tấm cách âm, cách nhiệt phục vụ cho các công trình xây dựng và xốp mũ xe máy
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Từ khi thành lập đến nay, HNP không ngừng mở rộng thị trường, đồng thời phát triển sản xuất Sự lớn mạnh của HNP được thể hiện qua các mốc phát triển quan trọng như sau:
Trang 24Năm 1993: HNP khởi nguồn từ cơ sở sản xuất với diện tích mặt bằng của công
ty là 4500m2 đất trong đó có 2000m2 mặt bằng cho khu vực làm việc , nhà xưởng sản xuất; HNP được thành lập chính thức vào năm 1994 và xây dựng nhà máy xốp tại Vĩnh Tuy, Hoàng Mai, Hà Nội; Vào năm 2000 đến năm 2002, HNP được cấp chứng nhận ISO 9002, đồng thời xây dựng nhà máy nhựa cao cấp, nhà máy xốp Sài Đồng tại Khu công nghiệp Sài Đồng B - Long Biên - Hà Nội, chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất xốp tại Vĩnh Tuy về nhà máy mới Thành quả công ty đã đạt được vào tháng 10/2003 là được trao tặng Huân chương Lao động hạng 3, vào tháng 11/2003: HNP được cấp chứng nhận ISO 9001 : 2000; tháng 10/2005: Thành lập công ty Cổ phần Hanel Mirolin Từ năm 2005 đến năm 2007: HNP được trao tặng cúp vàng "ISO chìa khóa hội nhập"và được cấp chứng nhận ISO - 14001 Trong khoảng thời gian từ 2008 đến năm 2010, HNP đầu tư sản xuất sản phẩm màng hút và xây dựng Nhà máy nhựa cao cấp số 2 tại Khu công nghiệp Sài Đồng B - Long Biên - Hà Nội Trong năm 2011, HNP được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP Từ năm 2012 cho đến năm 2016, HNP được công nhận top 500 Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất VN-FAST 500 và chứng nhận Top 100 “Thương hiệu phát triển bền vững”, doanh nghiệp thuộc VN-FAST 500 Đặc biệt, HNP vinh dự được chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng 2.DN thuộc VN – FAST 500.Doanh nghiệp thuộc VN – FAST 500, sau đó HNP còn được chứng nhận 500 doanh nghiệp triển vọng xuất sắc nhất Việt Nam và chứng nhận hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của công ty Hanel Xốp nhựa
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa là một công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập theo quy định của Nhà nước HNP là công ty con của công ty mẹ Hanel – là công ty quốc doanh, vì thế HNP mang những đặc điểm của cả các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân nhưng hầu hết các khách hàng đối tác của HNP là người nước ngoài, mặt khác HNP còn có tính chất là một công ty gia đình Những đặc điểm này có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành văn hóa công sở của HNP
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa là một doanh nghiệp sản xuất thương mại nên hai chức năng chính của công ty là tạo ra sản phẩm từ xốp, nhựa và tổ chức lưu thông hàng hoá thông qua trao đổi mua bán Cụ thể hơn, HNP thực hiện những chức năng sau: Chức năng cung ứng hàng hoá: HNP sản xuất ra những sản phẩm từ xốp và nhựa phục vụ cho những ngành công nghiệp và tiêu dùng khác nhau của nền kinh tế quốc dân Mọi sản phẩm của HNP không những được giao đến khách hàng đủ về số lượng
mà chất lượng cũng luôn được đảm bảo; Chức năng thương mại: HNP thực hiện giá trị của hàng hoá bằng cách xuất khẩu tại chỗ những sản phẩm sản xuất ra cho các công ty
Trang 25nước ngoài và các công ty liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư cung cấp cho những doanh nghiệp có nhu cầu
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa có những nhiệm vụ: nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, sản xuất và kinh doanh các mặt hàng từ nguyên liệu nhựa và các chi tiết cấu kiện bằng nhựa phục vụ các ngành công nghiệp; Quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn kinh doanh theo đúng chế độ tài chính, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh của các cổ đông; Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước; Nâng cao hiệu quả và đạt được mục tiêu thu tối đa các khoản lợi nhuận hợp lý, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, tăng lợi tức cho các cổ đông, đóng góp cho ngân sách nhà nước và không ngừng phát triển HNP ngày càng lớn mạnh
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa được thành lập để huy lập và sử dụng vốn có hiệu quả trong việc sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm theo chức năng và ngành nghề theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa được phép lập kế hoạch và tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ công ty, phù hợp quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện các biện pháp thích hợp để đạt được mục tiêu của công ty Công ty
cổ phần Hanel Xốp nhựa được phép tiến hành hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác được pháp luật cho phép và được Đại hội đồng cổ đông thông qua
Cơ cấu tổ chức của HNP thể hiện qua sơ đồ (phụ lục 1) gồm: Hội đồng quản trị:
Chủ tịch - Ông Nguyễn Quốc Bình; Giám đốc công ty - Ông Nguyễn Quốc Cường;
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa có 6 phòng ban chức năng gồm: Phòng tổ chức hành chính, phòng Kinh doanh, phòng Kế toán, phòng Kế hoạch vật tư, phòng Quản lý chất lượng, phòng Quản lý kỹ thuật; Khối sản xuất của HNP gồm: Nhà máy sản xuất xốp, nhà máy sản xuất nhựa 1, nhà máy sản xuất nhựa 2; Ngoài ra công ty còn có bếp
ăn riêng để đảm bảo cho công nhân viên được ăn uống đủ chất trong quá trình làm việc.Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa có tổng cộng 390 cán bộ công nhân viên, trong
đó có nữ chiếm tỷ lệ 36,4%; nam chiếm 63,6% Số lượng lao động trong HNP cũng
có khi thay đổi tuỳ thuộc vào kế hoạch sản xuất thời vụ, để đảm bảo tiến độ, khối lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng Số lao động của HNP trong khối phòng ban
là 46 người chiếm 19,6% tổng số lao động, trong đó phần lớn đều có trình độ trên hoặc ngang Đại học, tuy số lượng ít nhưng họ là những người có trình độ, kinh nghiệm và là nền tảng của HNP
2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phù hợp với chức năng nhiệm vụ khi mới thành lập, HNP sản xuất kinh doanh chủ yếu các sản phẩm làm từ nguyên vật liệu nhựa như xốp và các chi tiết cấu kiện từ
Trang 26nhựa Tuy nhiên khi mới thành lập HNP quan tâm nhiều đến sản xuất những mặt hàng thế mạnh xuất khẩu tại chỗ phục vụ cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Nhưng hai năm gần đây với một số thay đổi trong bộ máy quản trị và chiến lược kinh doanh – HNP đã chú trọng hơn về hoạt động kinh doanh thương mại Do đó doanh thu
từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 đã đạt 130% kế hoạch và tăng hơn 16 tỷ
so với cùng kỳ năm 2015 Trong đó hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải cũng đạt khoảng 2,5 tỷ HNP đã có những khách hàng trung thành và là những khách hàng chính: Công ty điện tử Hà Nội; Công ty TNHH đèn hình Orion -Hanel; Công ty Canon Việt Nam; Công ty TNHH Toto Việt Nam; Công ty TNHH Panasonic Home appliances Việt Nam; Công ty TNHH MTS Việt Nam; Công ty điện tử LG - Electronics Việt Nam; Công ty điện tử Daewoo -Hanel; Tổng công ty hàng không Việt Nam; Công ty TNHH điện lạnh Hoà Phát Trong quá trình sản xuất kinh doanh, HNP cũng không quên thúc đẩy hoạt động mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng mới Nhờ đó Công ty luôn đạt được mức doanh thu vượt kế hoạch và thể hiện được tầm quan trọng của mình trên thị trường
2.2 Thực trạng VHCS tại Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Để thu thập được thông tin đánh giá sơ cấp về thực trạng VHCS tại HNP, em đã xây dựng Phiếu khảo sát, kết hợp với phỏng vấn cá nhân trực tiếp tại HNP và phương pháp nghiên cứu khóa học khác
2.2.1 Thiết kế Phiếu khảo sát và thu thập dữ liệu
Phiếu khảo sát được thiết kế bao gồm 41 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 13) Nội dung của Phiếu khảo sát được tóm tắt trong bảng 2.1(xem phụ lục 03), có những câu hỏi bao quát được cả 2 nội dung và câu hỏi được thiết kế cho 3 đối tượng: CBCNV khối sản xuất, CBCNV khối văn phòng, khách hàng đến liên hệ công việc với HNP được tóm tắt trong bảng 2.2 (xem phụ lục 03) để có thể tìm hiểu kỹ về các mặt đặc sắc trong VHCS của HNP Dựa vào thông tin sơ cấp từ các phiếu điều tra và dữ liệu thứ cấp, em tiến hành phân tích dữ liệu để tìm ra thực trạng VHCS ở HNP như sau:
2.2.2 Hệ thống giá trị cốt lõi của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Về cơ bản, các giá trị văn hóa xây dựng trong hơn 23 năm hoạt động của HNP được duy trì và phát triển trên cơ sở phù hợp với chiến lược, tầm nhìn và triết lý kinh doanh Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa có tầm nhìn: Với nỗ lực vươn lên không ngừng nghỉ, Hanel plastics luôn khẳng định vị thế là một công ty hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực cung cấp và sản xuất các sản phẩm xốp, nhựa Đóng góp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, hướng tới vươn ra thị trường quốc tế, trở thành một khâu trong chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu; Sứ mệnh của HNP là: “Toàn thể cán
bộ, công nhân viên Hanel plastics luôn đoàn kết, sáng tạo, đổi mới không ngừng nhằm
Trang 27tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, là nhà cung cấp tin cậy của mọi đối tác trong và ngoài nước Xây dựng Công ty phát triển trên cơ sở vì một môi trường bền vững, vì chất lượng cuộc sống và trách nhiệm với cộng đồng xã hội” [29]; Phương châm của HNP là “Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp” [29]; HNP có Chiến lược phát triển bền vững cùng Chính sách chất lượng và môi trường với nội dung như sau: Với Chiến lược phát triển kinh doanh theo chiều sâu, HNP định hướng đặt trọng tâm vào nguồn CBCNV, công ty coi sự hài lòng của nhân viên, sự hài lòng của khách hàng và có trách nhiệm với xã hội là mục tiêu cao nhất để phát triển doanh nghiệp; Chính sách chất lượng là Hiểu rõ yêu cầu của khách hàng để cung cấp cho họ các sản phẩm và dịch vụ phù hợp; Không ngừng cải tiến, đổi mới nhằm nâng cao năng suất chất lượng, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, góp phần vào việc tái chế và giảm chất thải công nghiệp; Lãnh đạo công ty cam kết cung cấp đủ nguồn lực để hệ thống quản lý chất lượng và môi trường hoạt động đúng quy định của pháp luật; đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh[29] Trong chính sách này, HNP không ngừng cải tiến, đổi mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng,góp phần vào việc tái chế và giảm chất thải công nghiệp; Chính sách môi trường là : Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường nói chung
và bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp nói riêng, HNP không ngừng hướng tới áp dụng các giải pháp công nghệ xanh trong quá trình sản xuất cũng như xử lý chất thải Với chúng em, bảo vệ môi trường luôn song hành cùng với kinh doanh sản xuất và điều đó làm nên sự phát triển bền vững của công ty [29] Chính sách chất lượng và môi trường của HNP được trưng bày trên tường của mỗi nhà máy để nhắc nhở CBCNV (Xem ảnh 1, phụ lục 02); Văn hoá HNP có giá trị cơ bản là tập thể đoàn kết, kết nối ước mơ, vững bước tiến vào ngày mới luôn được cán bộ công nhân viên thể hiện hàng ngày qua các nội dung như : Mọi thành viên đều phát triển; Tinh thần cầu tiến, ham học hỏi; Không ngừng sáng tạo; Trung thực, trách nhiệm, giàu nhiệt huyết; Đoàn kết, yêu thương, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau; Chuyên nghiệp hóa, quốc tế hóa; Hiệu quả trong công việc; Lao động có kỷ luật, sáng tạo, đáp ứng cao nhất nhu cầu khách hàng; luôn quan tâm lợi ích của khách hàng, cổ đông, công ty đối tác và cộng đồng, chia sẻ lợi ích các bên cùng phát triển bền vững
Trong quá trình phỏng vấn, đa số CBCNV không nhớ được các nội dung đã nêu trên, chỉ 10% số người được phỏng vấn trả lời vắn tắt được khoảng 70% các nội dung
về hệ thống giá trị cốt lõi của HNP, con số 10% thuộc về những người giữ chức vụ quản lý và thuộc bộ phận kinh doanh
Trang 282.2.3 Nội quy, quy chế làm việc của Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa
Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng lề lối, nề nếp làm việc khoa học, có trật
tự kỷ cương, tuân theo những nội quy, quy định chung nhưng không mất đi tính dân chủ Với các đặc điểm riêng biệt của công ty cổ phần, bên cạnh Điều lệ công ty, nội quy quy chế đóng vai trò là một công cụ hữu ích để quản lý các hoạt động nội bộ đối với HNP Loại hình công ty cổ phần thường gặp khó khăn về hoạt động quản lý công
ty Nguyên nhân là công ty cổ phần hóa có số lượng thành viên tham gia góp vốn và cùng kinh doanh tương đối lớn, là loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau và không hạn chế số lượng thành viên mua cổ phần để góp vốn Việc ban hành nội quy quy chế có thể là xem một giải pháp hữu ích trong việc điều hành bộ máy doanh nghiệp bên cạnh Điều lệ công ty, giúp các cổ đông góp vốn hay cổ đông sáng lập để điều hành công ty với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, chuyên nghiệp
Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa hiện chưa có văn bản Quy chế VHCS cụ thể cho toàn công ty nhưng một số nội dung liên quan tới VHCS được lồng ghép vào và các nội quy khác Nội quy lao động trong phạm vi đơn vị sử dụng lao động được xem
là có giá trị như một đạo luật, nên khi lồng ghép VHCS vào nội quy thì những nội dung này sẽ có tính cưỡng chế, có hiệu quả hơn quy chế, vì lãnh đạo HNP nắm bắt được tâm lý người lao động thường tuân thủ nội quy nghiêm túc hơn quy chế Bên cạnh đó, HNP là công ty con của Công ty TNHH MTV Hanel-1 công ty quốc doanh, dẫn đến rất nhiều chính sách, nội quy quy định, chế độ đãi ngộ, của HNP dựa theo các văn bản hành chính quy định cho các cơ quan công quyền Vì thế, HNP chưa ban hành văn bản hành chính cụ thể về VHCS mà áp dụng các văn bản hành chính Nhà nước Lãnh đạo HNP yêu cầu CBCNV của Phòng Tổ chức hành chính cập nhật các văn bản hành chính Nhà nước cần áp dụng và thông báo cho các CBCNV khác đọc những văn bản này Tuy nhiên lãnh đạo không ra bất kì hình thức kiểm tra hay xử phạt CBCNV về nội dung của những văn bản trên, nên đa số CBCNV không đọc, hoặc đọc qua rồi quên làm trở ngại trong việc hoàn thiện VHCS cho HNP Nhưng nhờ áp dụng
Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008, ISO 14001:2004 và ISO 50001, 5S Kaizen vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức nên môi trường VHCS của HNP vẫn hiện đại và chuyên nghiệp Các văn bản hiện hành trong công
ty có nội dung liên quan tới VHCS là: Sổ tay cán bộ công nhân viên gồm nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần Hanel
xốp nhựa Nội dung của văn bản này dựa trên Luật Doanh nghiệp, Điều lệ Công ty,
Hợp đồng lao động, Nội qui, qui định của Công ty, Quyết định của Giám đốc Công ty
số 133/2008/QĐ – HPC, Quyết định của Giám đốc công ty số 01/2009/QĐ – HPC; Nội quy lao động gồm:Kỷ luật lao động ,trách nhiệm cá nhân,thời gian lao động, trật
Trang 29tự làm việc cơ quan, an toàn lao động và vệ sinh lao động nơi làm việc; bảo vệ tài sản
bí mật sản xuất (Phụ lục 04); Nội quy ra vào công ty: quy định về thời gian, tác phong
cử chỉ và ý thức nhân viên trong việc vào ra công ty và tiếp khách ( Xem ảnh 4, phụ lục 02) Nội quy này không chỉ dành cho các CBCNV trong HNP mà còn dành cho cả khách đến HNP để liên hệ công việc Vì thế nội quy này trưng bày ở vị trí dễ nhìn trước các phòng làm việc của bảo vệ - nơi đầu tiên khách phải đặt chân đến HNP ( Xem ảnh 2-3, phụ lục 02); Nội quy nhà máy (Xem mẫu ở phụ lục 05): quy định về trang phục , ý thức, tác phong cử chỉ, quyền lợi và kỉ luật với nhân viên trong nhà máy Lãnh đạo chú trọng chất lượng sản phẩm, sự an toàn và vệ sinh của CBCNV trong nhà máy nên đã đặc biệt cho ban hành văn bản này; Nội quy phòng cháy chữa cháy (Xem ảnh 4, Phụ lục 02) được ban hành kèm theo quyết định số 213/QĐ-VP ngày 09 tháng
07 năm 2014 Do sản phẩm của HNP là chất dễ cháy và tổn thất nghiêm trọng nếu hỏa hoạn diễn ra nên lãnh đạo HNP đặc biệt chú trọng vào vấn đề phòng cháy chữa cháy Trước tường chính của mỗi nhà máy đều có trưng bày nội quy này cùng hộp cứu hỏa treo bên cạnh và biển cấm lửa, hướng dẫn dập lửa cùng vòi nước ở gần đó (Xem ảnh 5-6, phụ lục 02); Quy trình mua bán, sử dụng và cấp phát các đồ dùng, trang thiết bị văn phòng và các dịch vụ khác thuộc phòng tổ chức hành chính quản lý (Phụ lục 06); Thỏa ước lao động tập thể: các quy định về: Việc làm và bảo đảm việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, phụ cấp lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, thể thức giải quyết tranh chấp lao động; ăn giữa ca; phúc lợi tập thể; trợ cấp việc hiếu, hỷ; Quy chế tính điểm thi đua [Phụ lục 07] Trong quy chế này liệt kê nhiều nguyên tăc cần tuân thủ để có một môi trường VHCS chuyên nghiệp Do quy chế này ảnh hưởng trực tiếp đến lương tháng của các CBCNV nên các nội dung trong quy chế này được các CBCNV nắm giữ rất kĩ;Quy chế bình chọn thi đua: Bình bầu A,B,C ,căn cứ biểu hiện và đóng góp của người được bầu trong thời gian qua, tương ứng người được bầu sẽ nhận đượcphần thưởng A,B,C;Quy định chấm điểm các nhà máy; Quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc của công ty Hanel Xốp nhựa (Phụ lục 08); Quy chế sử dụng hòm thư góp ý công ty ban hành kèm theo Quyết định số 176/2015/QĐ-HPC (Phụ lục 09); Chương trình đào tạo cán bộ công nhân viên của công ty (Phụ lục 10); Ngoài ra còn ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình cụ thể như mặc trang phục,an toàn lao động ; Bên cạnh những văn bản có mang tính chất cưỡng chế này, lãnh đạo HNP ký ban hành những văn bản có tính chất “mở” mang tính khuyến khích như văn bản “Cải tiến nhanh và dễ” (phụ lục 11)
Số văn bản hành chính được ban hành trong HNP không nhiều, phần lớn nội dung cơ bản của các văn bản nội quy, quy định đều được tóm tắt và tập trung trong
Trang 30Nội quy lao động và Chương trình đào tạo cán bộ công nhân viên của công ty Điều này giúp các thành viên trong HNP dễ nhớ, dễ tìm nội dung, không có tâm lý lo ngại vì ước thúc hành động theo quá nhiều văn bản hành chính cho biết về: thời gian làm việc
và nghỉ ngơi của CBCNV trong HNP Số giờ làm việc của CBCNV khối văn phòng của công ty phải đủ 8h/ngày và đủ 40h/tuần, làm từ thứ 2 đến thứ 6 Lao động làm việc
ở các phân xưởng sản xuất phải làm đủ 8h/ngày và đủ 48h/tuần, làm việc từ thứ 2 đến thứ 7 Giờ làm việc mùa hè giống với mùa đông Tuy nhiên, trong thực tế, CBCNV khối văn phòng của HNP làm việc từ thứ 2 đến thứ 7 trong tuần đầu tháng và cuối tháng, những tuần còn lại thì chỉ cần làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 Nhưng với những tuần đông khách, nhiều việc thì họ phải làm cả thứ 7 lẫn chủ nhật Còn lao động làm việc ở các phân xưởng sản xuất thì làm việc cả tuần Vậy nên, CBCNV trong HNP vẫn
có thể vận dụng linh hoạt nội quy tùy theo tình hình thực tế Với CBCNV bộ phận văn phòng, thời gian làm việc từ 8h sáng đến 5h chiều với thời gian nghỉ trưa trong ngày: 12h – 13h 30’, CBCNV khối văn phòng được phép nghỉ từ 11h30’ khi đã xong việc HNP bố trí xe đưa đón các CBCNV thuộc khối văn phòng giúp cho CBCNV tránh được nỗi lo bị kẹt xe, ách tắc giao thông, bị chậm giờ Thời gian nghỉ trưa của HNP tương đối phù hợp với lực lượng lao động có tuổi đời trung bình cao Với lao động bộ phận sản xuất, thời gian làm việc chia làm 3 ca 4 kíp Giờ làm việc ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ, thời gian nghỉ trưa trong ngày là 12h – 13h 30’, thực tế cho thấy vào những ngày có khối lượng công việc nhẹ, không có lãnh đạo xuống kiểm tra thì các lao động ở khối sản xuất có thể nghỉ ngơi đến 14h Số giờ làm thêm trong ngày được quy định như sau: Với ngày làm việc bình thường không quá 50% số giờ trong 01 ngày; khi áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; Vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần, không quá 12 giờ trong 1 ngày khi làm thêm Tổng số giờ làm thêm trong 1 năm không vượt 200 giờ
Theo kết quả khảo sát, đa số CBCNV đều thực hiện nghiêm túc thời gian làm việc Được biết, vào thời gian bắt đầu triển khai các quy định trên, vẫn có một vài trường hợp đi muộn nhưng với biện pháp kỉ luật trừ lương, kỉ luật mạnh tay của công
ty nên những trường hợp phạm lỗi trên hầu như không còn Nhất là khi công ty áp dụng mức chấm điểm bình bầu A, B, C, D cho các mức khen thưởng với những người
có sáng kiến và không phạm lỗi, chấm công bằng thẻ từ Mặt khác, tính chất của công việc khiến thời gian làm việc của CBCNV khối văn phòng và khối sản xuất có điểm khác nhau Thời gian làm việc của CBCNV khối sản xuất khá đều đặn và cố định theo nội quy, còn thời gian đến làm việc của CBCNV khối văn phòng còn phải tùy thuộc vào yêu cầu của lãnh đạo và đối tác khách hàng
Trang 31Về cơ bản, bộ quy chuẩn, quy chế, nội quy của HNP tương đối đầy đủ trên các mặt hoạt động của một công ty cổ phần, một doanh nghiệp sản xuất thương mại Về lĩnh vực sản xuất, HNP luôn có đầy đủ các quy định đảm bảo chất lượng và an toàn, hiệu quả và tránh được rủi ro đi kèm với nguyên tắc bảo đảm an toàn lao động và bí mật sản xuất kinh doanh Về vấn đề quản lý và phối hợp, các phòng ban tại HNP cũng
có những quy tắc quy trình nhất định Do vậy, nếu các CBCNV nắm vững được hoàn toàn nội quy, quy trình, quy chế thực hiện sẽ khiến cho mọi hoạt động trong HNP dễ dàng nhanh chóng hơn Qua khảo sát của em, 100% CBCNV khẳng định định rằng họ
có đọc các nội quy, quy định, quy chế của HNP nhưng khi được hỏi một nội dung bất
kì thuộc về nội quy, quy định, quy chế của HNP thì có đến 90% CBCNV không nhớ
rõ Khi CBCNV chính là người sẽ thực hiện các văn bản quy định, nội quy, quy chế của HNP mà không nhớ rõ thì không thể đảm bảo các quy định sẽ được thực hiện đúng Đồng nghĩa, sẽ có sai sót và rủi ro gây mất thời gian trong công việc
10% 0%
90%
Không nhớ rõ Nhớ rõ
Biểu đồ 2.1: Đánh giá mức độ ghi nhớ nội quy quy định quy chế của CBCNV
Nguồn: Tác giả khảo sát
Vào thời gian đầu triển khai nội dung của những nội quy quy chế này, tập thể CBCNV của HNP đã gặp nhiều rắc rối Nhưng sau quá trình có sự cố cắng của cả tập thể cùng sự kiên quyết của lãnh đạo HNP để nắm vững những nội quy quy chế, những lần thi vấn đáp với sự có mặt của các đoàn kiểm tra ngoài công ty thì nề nếp trong HNP đã đi vào khuôn khổ Chính sách lương thưởng của HNP có đóng góp không nhỏ trong giai đoạn này: người trả lời sai hoặc không thuộc sẽ không nhận được lương, nhưng nếu hoàn thành tốt sẽ được khen thưởng Các chính sách kích thích vật chất, kích thích tinh thần khác nhau như khen thưởng hàng năm, khen thưởng 6 tháng, và việc Lãnh đạo hoàn thành được những cam kết đã cho ra khiến các CBCNV an tâm gắn bó với HNP trước sự mời gọi của các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp
Hiện nay, các CBCNV của HNP luôn ý thức kiểm soát các hành vi cá nhân của mình kể cả bên trong phòng làm việc hay ngoài phạm vi của HNP để không làm ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của HNP mình đồng thời thường xuyên cập nhật các thông tin văn bản mới, các quy định của Pháp luật, của đơn vị mình công tác có liên quan đến lĩnh vực, công việc chuyên môn nhằm nắm bắt và điều chỉnh kịp thời mọi
Trang 32hành vi, thái độ ứng xử đúng chuẩn mực Đa số các CBCNV đều thực hiện tốt nội quy quy định, nhưng do tâm lý chủ quan nên một số cá nhân đã không để ý tới một số quy tắc, điển hình là quy tắc về an toàn lao động vì thế đã gây ra một số tai nạn nghề nghiệp Tuy nhiên khá may mắn là những vụ việc này rất ít xảy ra, con số thương vong
do tai nạn nghề nghiệp ở HNP trong những năm gần đây là 0%
Tóm lại, chính sự quan tâm kịp thời về vấn đề nội quy, quy chế nơi làm việc đã làm nên bệ đỡ đắc lực cho HNP hoàn thiện VHCS Cùng với việc thực hiện tốt các quy định của cơ quan, môi trường cảnh quan có tác động không nhỏ tới tinh thần, hiệu quả làm việc và lòng tự hào của CBCNV về công việc, về nơi làm việc của mình
2.2.4 Môi trường cảnh quan
Mỗi một cơ quan, tổ chức đều có cảnh quan và cách bài trí công sở riêng, tuy nhiên dù bài trí như thế nào đều phải tuân thủ theo nguyên tắc khoa học, lịch sự và văn minh Qua quá trình khảo sát, em nhận thấy môi trường cảnh quan của HNP như sau:
* Cảnh quan bên ngoài:VHCS được thể hiện từ hình thức bên ngoài đến các
yếu tố bên trong Trụ sở làm việc của công ty nằm trong Khu Công Nghiệp Sài Đồng
B, Q Long Biên, Hà Nội Đây là khu vực công nghiệp có các luồng đường khá rộng
thông thoáng, lưu lượng xe lưu thông không dày đặc, gần với siêu thị lớn, các trường
học, tạo điều kiện thoải mái cho những nhân viên trong công ty muốn chuyển nhà gần nơi làm việc HNP có 3 nhà máy, 1 trụ sở chính, 1 bếp ăn tập thể (xem ảnh 7, phụ lục 02) Cách bố trí tương đối gọn gàng hợp lý Trụ sở được xây dựng ở vị trí thông thoáng cao ráo, xung quanh không có nhà cao tầng che ánh sáng, trụ sở được thiết kế bởi công ty xây dựng chuyên nghiệp Qua khảo sát, các vấn đề về hướng, bố cục, địa điểm của trụ sở HNP tương đối khá.Biển tên của HNP được đặt tại cổng chính địa chỉ B15 Đường CN số 6 , Khu Công Nghiệp Sài Đồng B, Q Long Biên, Hà Nội Tại cổng chính của trụ sở HNP, biển tên được thiết kế đẹp, trang trọng bằng cẩm thạch có logo của HNP Tuy nhiên logo trên biển tên là logo cũ của HNP chưa được đổi sang logo hiện tại (Xem ảnh 8, phụ lục 08)
Khối văn phòng đặt bên cạnh nhà máy nhựa, mặt bằng Văn phòng với diện tích khoảng 60 - 80 m2 không quá đồ sộ nhưng được trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất., diện tích sân bị chiếm dụng khá nhiều để đặt hàng và để xe chở hàng qua lại nhưng vẫn trồng cây xanh mát mắt để tạo tính thẩm mỹ (xem ảnh 7, phụ lục 02) Ở sân trước trụ sở được đặt cột cờ để treo cờ vào những ngày lễ tiết (xem ảnh 9, phụ lục 02) Mốc
cờ gồm 3 cột, Quốc kỳ được treo trang trọng vào giữa, hai bên là cờ của HNP Cờ của HNP có màu xanh dương và in logo màu đỏ của HNP
Biểu trưng (logo) của HNP lấy từ thể hiện thương hiệu HANEL- công ty mẹ, là
cánh chim đầu đàn trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Thủ đô nói
Trang 33riêng và của cả nước nói chung Năm 2012, để bước vào một giai đoạn mới, Hanel quyết định thay đổi biểu trưng cũ hình tròn màu vàng với hình răng cưa ở giữa để phù hợp với tầm nhìn và mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.Biểu trưng mới có cấu trúc bởi
2 phần (chữ và biểu tượng) Phần biểu tượng là chữ H cách điệu với ý nghĩa H là Hà Nội, Hi Technology (công nghệ cao) và là chữ viết tắt của Hanel Điểm nhấn của chữ
H cách điệu này hình thành ngọn lửa nằm trong vòng tròn biểu tượng toàn cầu Phần biểu tượng này cũng chính là hai chữ S cách điệu song song với nhau ghép thành chữ
H nằm trong hình tròn đánh dấu hình dáng đất nước trên bản đồ thế giới, chữ S còn lại thể hiện sự song hành đem đến thành công của Hanel Màu của biểu trưng này hoàn toàn là màu đỏ cờ nguyên chất – màu tượng trưng cho sức mạnh và khao khát không ngừng vươn tới đỉnh cao “Theo quan niệm Phương đông thì màu đỏ cũng là màu mang lại sự may mắn và sung túc cho sự phát triển bền vững”
Nhà để xe của HNP đang trong quá trình xây dựng, nên các CBCNV để xe máy
ở vị trí góc khuất cạnh phòng bảo vệ, không có mái che, ngay trước cổng ra vào (Xem ảnh 3, phụ lục 02); Trụ sở chính nằm bên cạnh Nhà máy xốp, bếp ăn nằm bên cạnh Nhà máy nhựa I (Xem ảnh 12, phụ lục 02); Khối sản xuất được sắp xếp rất gọn gàng sạch sẽ, lối đi rộng rãi để thuận tiện chuyển hàng, ở trước mỗi nhà máy đều có trồng cây xanh để tạo tính thẩm mĩ và tốt cho sức khỏe CBCNV (Xem ảnh 13, phụ lục 02) Bên cạnh các nhà máy để thùng rác công cộng (Xem ảnh 14, phụ lục 02), mỗi ngày công ty xử lý rác thải môi trường sẽ tới xử lý Ở mỗi cổng của mỗi nhà máy của HNP đều có bộ phận thường trực cơ quan làm việc 24/24h để bảo vệ, giữ gìn an ninh; có gắn niêm yết công khai bảng nội quy ra và cơ quan để mọi người nắm rõ và chấp hành nghiêm chỉnh (Xem ảnh 2-3, phụ lục 02) thể hiện thái độ chuyên nghiệp Trên tường của trụ sở làm việc được dán banner có nội dung về thực hiện 5S với kích thước rất lớn để nhắc nhở toàn bộ CBCNV của HNP luôn nhớ, luôn làm theo và duy trì 5S là một phương pháp đơn giản, tốn ít chi phí lại mang lại hiệu quả cao nên 5S đã được HNP áp dụng để xây dựng môi trường làm việc sạch sẽ, khoa học Ngay trên lối ra vào của mỗi nhà máy đều có tấm bảng khẩu hiệu với nội dung “Không có chất lượng thì không có tín nhiệm, không có tín nhiệm thì không có khách hàng”, bên dưới còn có nội dung được dịch sang tiếng Anh “ No quality no credit, no credit no customers” (Xem ảnh 15, phụ lục 02)
* Cảnh quan bên trong: Điều kiện làm việc tốt giúp CBCNV phát huy tối đa
hiệu quả làm việc và ngược lại Vì thế Ban Giám đốc Công ty luôn chú ý cải thiện điều kiện làm việc dựa trên nguồn lực hiện có của Công ty Các phòng làm việc tuy không lớn nhưng được tổ chức sắp xếp tương đối khoa học, hợp lý, tạo cảm giác thoải
Trang 34mái cho CBCNV của công ty và cho khách đến thăm Phòng làm việc của giám đốc và phó giám đốc nằm trên tầng 2, là dạng phòng làm việc khép kín Các phòng làm việc còn lại được bố trí sắp xếp theo mô hình văn phòng mở Trước mỗi một phòng ban chức năng đều có biển ghi tên bộ phận Bên trong các phòng không trồng cây xanh nhưng khu vực cầu thang có để 2 bồn cây cảnh (Xem ảnh 16, phụ lục 02), khu vực hành lang và lan can tầng 2 đặt nhiều bồn cây cảnh Ở trước phòng làm việc của ban lãnh đạo có nhiều cây xanh Ngoài ra, ở trước trụ sở có trang trí một chậu cây bưởi lớn
để vừa tạo nên sự hài hòa tươi mát dù công ty không trồng nhiều cây xanh, vừa có ý trấn trạch (Xem ảnh 17, phụ lục 02) Đại sảnh của trụ sở có máy chấm công, camera theo dõi, bảng tin thông báo (Xem ảnh 18, phụ lục 02) Ngoài ra vị trí dưới gầm cầu thang được bố trí thành kho chứa đồ ngăn nắp ( Xem ảnh 19-20, phụ lục 02)
Tất cả các phòng làm việc, hội họp, phòng điều hành kho, bãi của HNP đều được trang bị máy điều hòa, hệ thống thông khí, cửa kính chống bụi, chống ồn, trang
bị văn phòng đầy đủ Trong phòng làm việc của Giám đốc, ngoài bàn làm việc còn có bàn để họp, điều hòa, bàn thờ, các tủ kệ trang trí, thảm trải, tranh ảnh, đồ thủ công mỹ nghệ có ý nghĩa phong thủy Phòng của Phó giám đốc nhỏ và đơn giản hơn với bàn làm việc và một số đồ trang trí nội thất, điều hòa Còn trong các phòng làm việc khác, các bộ phận được sắp xếp theo luồng công việc để tối thiểu hóa việc di chuyển hoặc trao đổi công việc sao cho phù hợp với diện tích của Phòng ( Xem ảnh 22, phụ lục 02)
Khi khách tới thì sẽ vào Phòng Tổ chức Hành chính được bố trí ngay ở cửa chính, bên trái là phòng họp, bên phải là nơi tiếp khách ( Xem ảnh 23, phụ lục 02) Khu lễ tân của một công ty sẽ quyết định phong thái của công ty Bước vào công ty khách hàng sẽ vào khu lễ tân trước tiên, một khu vực tiếp đón khách sạch sáng đẹp và thân thiện sẽ có được thiện cảm của khách hàng cũng như nâng cao tầm vóc công
ty Khu vực lễ tân của HNP khá đơn giản, không cầu kì, không màu mè và thời trang Khu
lễ tẫn được chia ra với khu làm việc bằng bức tường có logo cỡ lớn của HNP Ngoài ra, trên vách tường trước bàn làm việc của văn thư là giá đặt các giải thưởng danh giá, ảnh chụp công ty và một số bằng khen tiêu biểu (Xem ảnh 24, phụ lục 02) Bên cạnh đó là bảng thông báo được chia làm 4 ô để gắn lên 4 nội dung hoạt động trong từng thời kì nhất định, gồm có: Thông báo nội bộ, thông báo bên ngoài, lịch trực 5s, các loại giấy
tờ khác (Xem ảnh 25, phụ lục 02) Vị trí tiếp khách đối diện với vị trí lễ tân, được chia
ra bằng vách ngăn để tạo không gian riêng Khu vực tiếp khách của Phòng Tổ chức hành chính nằm ngay cạnh khu lễ tân, dễ dàng cho việc liên hệ, gặp mặt.(Xem ảnh 26, phụ lục 02)
Trang 35Màu sắc: Các phòng lát gạch nền màu trắng xanh, các bức tường màu trắng và
vàng nhạt, trần màu trắng tạo không khí ấm áp sạch sẽ Phần lớn đồ nội thất đều mang phong cách tối giản, làm bằng gỗ, đem lại cảm giác dễ chịu thanh thản Tổng thể thì màu sắc trong phòng khá ôn hòa nhã nhặn, không gây nhức mỏi mắt, gam màu ấm áp dịu nhẹ phù hợp để xây dựng môi trường thân thiện cởi mở
Ánh sáng: CBCNV trong công ty được làm việc trong một môi trường hiện đại
và thoải mái với hệ thống máy lạnh, hệ thống chiếu sáng, bố trí hợp lý, khoa học không ảnh hưởng đến mắt, hệ thống điện và có một phòng nước, phòng vệ sinh riêng
để phục vụ cho từng phòng ban
Âm thanh: Phòng được lắp kính chống ồn nên tuy chưa hoàn toàn giảm hết các
tiếng ồn do máy móc thi công ở bên ngoài nhưng vẫn ở trong mức độ cho phép, không khiến người nghe khó chịu
Nhiệt độ: Công ty thường bật điều hòa với nhiệt độ 24 – 27°C vào mùa hè,
mùa đông ít bật, nhiệt độ trong phòng làm việc khá dễ chịu
Bố cục: Các CBCNV có bàn làm việc riêng phù hợp với nhiệm vụ công việc mà
có sự sắp xếp vị trí khác nhau tuổi, mệnh, tính chất công việc Các góc nhọn được che bằng các tủ hồ sơ hoặc vách ngăn Các CBCNV được tự mình sắp xếp cắc thiết bị và trang trí chỗ làm việc của mình theo sở thích riêng
Trang thiết bị văn phòng: Tương đối đầy đủ, mỗi bàn đều có máy vi tính, giá để
hồ sơ, lịch bàn, một số văn phòng phẩm, điện thoại bàn Các trang thiết bị được bố trí khoa học hợp lý gồm máy vi tính samsung màn hình tinh thể lỏng, máy in, máy fax đa năng, máy photocopy cỡ lớn, điện thoại bàn, thiết bị hội nghị gồm máy chiếu và máy tính xách tay cùng màn chiếu, văn phòng phẩm Tùy theo đặc thù từng phòng mà đội
kỹ thuật của HNP sẽ cho nâng cấp dần hệ thống máy tính Ngoài ra thì ở các phòng cũng lắp máy camera để lãnh đạo có thể nắm bắt được tình hình làm việc và hoạt động của nhân viên mà không cần ra khỏi phòng
Ngay cạnh khu lễ tân là phòng họp, trong phòng họp bố trí đủ bàn ghế họp, máy chiếu, máy tính xách tay, màn chiếu, ti vi, ổ đĩa, tủ kính đựng đồ, bảng chống lóa, 2 máy điều hòa Ngoài ra trong phòng có 2 cửa sổ lớn phủ rèm xếp li, thường được mở
ra để lấy ánh sáng tự nhiên (Xem ảnh 27, phụ lục 02) Phòng họp thường là nơi lãnh đạo thường bàn chuyện với những người có địa vị hay những đối tác quan trọng, là nơi làm việc của những chuyên gia, vì thế nên bố trí 1 phòng họp giản dị gọn gàng nhưng vẫn thể hiện được tính chuyên nghiệp của công ty là rất quan trọng Theo khảo sát của
em, khi các khách hàng tới liên hệ công việc với HNP được hỏi về môi trường cảnh quan của HNP có tạo được sự thân thiện thoải mái khi họ đến không thì đại đa số khách hàng cho rằng họ cảm thấy tương đối thân thiện thoải mái (70%), số còn lại cho
là thân thiện thoải mái (30%), không có ai cảm thấy khó chịu
Trang 3670%
0%
Thân thiện thoải mái
Tương đối thân thiện thoải mái
Không cảm thấy thoái mái
Biểu đồ 2.2: Cảm giác môi trường cảnh quan của HNP đem lại cho khách hàng
Nguồn: Tác giả khảo sát
Bên trong các nhà máy lắp đặt đủ các thiết bị chiếu sáng tại nơi làm việc, lắp đặt thêm quạt thông gió, quạt gió, quạt đối lưu đảm bảo đủ ánh sáng, không bị ngột ngạt, các cây nước luôn sẵn sàng (Xem ảnh 29, phụ lục 02) Tuy nhiên nhiệt độ và tiếng ồn ở trong các nhà máy rất khó khống chế Đặc biệt là vào mùa hè, do vật liệu xây dựng nhà máy nên có nhiều thời gian khiến cho nhiệt độ trong xưởng cao hơn nhiệt độ bên ngoài từ 3-4°C Với thế mạnh thiết bị hiện đại, công nghệ cao, đây là ưu thế quan trọng tạo nên sự thành công của công ty Công ty có sự quan tâm thường xuyên về cơ sở vật chất trang thiết bị với hệ thống quản lý toàn diện, đảm bảo cả trong công tác và an toàn lao động trong môi trường làm việc
Bếp ăn của HNP rất sạch sẽ, gọn gàng, tông màu trắng xanh làm chủ đạo Bên trong bếp ăn có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết Trong phòng có các bảng thông báo hoặc lời nhắc (Xem ảnh 30, phụ lục 02) Phòng có nhiều cửa sổ, lấy ánh sáng tự nhiên làm chủ yếu, trong phòng có hệ thống quạt và thông gió bố trí đầy đủ hợp lý
*Qua khảo sát cho thấy đa số ý kiến của CBCNV cảm thấy hài lòng (64%), thậm chí rất hài lòng (5%) về điều kiện cơ sở vật chất nơi làm việc Một số ý kiến cảm thấy bình thường, không khen, không chê chiếm 31% Điều đặc biệt là 100% các CBCNV khối văn phòng đều cảm thấy hài lòng, những người cảm thấy bình thường đều thuộc về khối sản xuất Nguyên nhân là do điều kiện cơ sở vật chất của khối sản xuất, cụ thể là ở trong các nhà máy tuy rằng rất hiện đại, khá tốt so với mặt bằng chung nhưng chưa giải quyết được vấn đề như tiếng ồn, nhiệt độ, Có 5% lao động trong khối sản xuất cảm thấy rất hài lòng
Nguồn: Tác giả khảo sát
Trang 37Mặt khác, qua khảo sát từ thực tế, 100 % CBCNV của HNP đều cho rằng HNP
có đầy đủ trang thiết bị cần thiết Bên cạnh đó, chúng ta thấy được môi trường cảnh quan của HNP tương đối sạch đẹp, quy củ, trật tự Khi phỏng vấn các thành viên lâu năm trong HNP, em được biết kết quả tốt đẹp này có được nhờ thực hiện 5S thành công
2.2.5 Đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc của đội ngũ CBCNV 2.2.5.1 Đạo đức, lối sống
Tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của VHCS Lối sống
là toàn bộ hoạt động sinh sống của con người trên mọi phương diện bao gồm mọi quan
hệ về giao tiếp, hành vi, nếp nghĩ trong tất cả các lĩnh vực Khi nói đến lối sống, không thể nào không nói đến đạo đức Nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa cho rằng “Tiến bộ đạo đức trở thành chỉ tiêu quan trọng nhất của tiến bộ văn hoá, vì tiến bộ đạo đức là tiêu chuẩn căn bản của sự phát triển toàn diện của nhân cách, mà sự phát triển này chính là cái phong vũ biểu của trình độ văn hoá nói chung của một xã hội, của tiến bộ
xã hội”
Ban lãnh đạo HNP có sự kết hợp linh hoạt giữa các phong cách lãnh đạo để đạt được hiệu quả hoạt động quản lý cao nhất Lãnh đạo HNP luôn giữ vững lập trường, quan điểm, tôn trọng pháp luật; chấp hành nghiêm túc trong công việc và hòa nhã với mọi người, chấp hành tốt các nguyên tắc, chế độ, kỷ luật công tác, nghiêm khắc với bản thân Lãnh đạo HNP luôn tuân thủ đúng các nội quy, quy định của công ty và là tấm gương sáng cho toàn thể CBCNV trong công ty học tập và noi theo Lãnh đạo HNP không chỉ quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của CBCNV mà còn quan tâm đến đời sống tinh thần của CBCNV, tạo sự gần gũi thân thiết, rút ngắn khoảng cách giữa lãnh đạo và CBCNV trong công ty Lãnh đạo công ty luôn tổ chức các hoạt động thể thao, văn hóa, văn nghệ, du lịch cho toàn thể CBCNV trong công ty được tham gia nhằm tạo thời gian thư giãn, giúp các nhân viên có tinh thần thoải mái hơn sau quá trình làm việc căng thẳng và có đủ năng lượng tinh thần sức khỏe để sẵn sàng đón nhận công việc nhiệm vụ mới.Ngay từ khi thành lập, doanh nghiệp, lãnh đạo HNP đã xác định CBCNV của công ty là chìa khóa quan trọng giúp cho sự phát triển bền vững, vì thế các CBCNV không chỉ phải không ngững rèn luyện nâng cao tay nghề và kỹ năng chuyên môn mà còn phải chăm lo tới đời sống tinh thần của mình, ở đây cụ thể là đạo đức và lối sống Thực tiễn cho thấy, đại bộ phận CBCNC dù ở cương vị nào cũng phải vượt qua khó khăn, thử thách, cố gắng thực hiện
và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ; giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức
tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với tập thể Qua khảo sát, khi được hỏi các CBCNC: “ Ở cơ quan ông/bà có hiện tượng mất
Trang 38đoàn kết trong nội bộ không?” thì có 10% ý kiến trả lời là “Có” Trong đó, 100% CBCNV khối văn phòng trả lời là “Không”
Biểu đồ 2.4: Hiện tượng mất đoàn kết trong nội bộ
10%
90%
Có Không
Biểu đồ 2.5 Khảo sát đánh giá lòng trung
Nguồn: Tác giả khảo sát
Khi thực hiện phỏng vấn về lòng trung thành với Công ty, có 25% trả lời là rất trung thành với Công ty, 29% trả lời có trung thành, 3% tùy thuộc vào cách hành xử của lãnh đạo là 0% và không trung thành là 1% Thực tế tại Công ty Hanel, tỷ lệ bỏ việc chủ yếu là ở bộ phận công nhân sản xuất trực tiếp (khoảng 9%) Lý do chủ yếu là CBCNV muốn chuyển về gần nhà làm, và lao động là sinh viên muốn đi làm lấy thêm kinh nghiệm Nhưng nhìn chung, đặc điểm của lực lượng lao động của HNP tương đối
ổn định, lao động tăng-giảm biến động ít Ngoài ra Chi bộ Công ty cổ phần Hanel Xốp nhựa đặc biệt quan tâm tới Phát triển Đảng viên Chi bộ công ty lập nhiều kế hoạch giáo dục và bồi dưỡng nhiều quần chúng ưu tú để giới thiệu và đề nghị kết nạp cho đảng viên mới Việc này nhằm tạo điều kiện môi trường thuận lợi để họ được phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức để được đứng trong hàng ngũ của Đảng, hàng năm thì có 100% ứng cử viên được kết nạp Đảng thành công Trong khoảng thời gian 2014 - 2016, trên 90% đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ; trong đó
có 10% đảng viên được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Qua con số doanh thu hàng năm khá cao của HNP và các sản phẩm chất lượng được đánh giá cao, thể hiện rằng
cả lãnh đạo và nhân viên đã làm việc hết mình, hiệu quả
Tóm lại, CBCNV trong công ty luôn đi làm đúng giờ, tiết kiệm bảo vệ tài sản của công ty, luôn giữ gìn vệ sinh tạo môi trường doanh nghiệp sạch đẹp và văn minh Thực tế đã cho thấy, hầu hết CBCNV trong HNP có tinh thần khắc phục khó khăn, cần
cù, chịu khó, tích cực học hỏi, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, trung thực và luôn tuân thủ nội quy quy chế công sở và pháp luật Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, một số CBCNV vẫn đang bộc lộ ra những những thiếu sót cần khắc phục về mặt phẩm chất đạo đức như: sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, ganh ghét người khác; Một số CBCNV chưa thường xuyên học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác hạn chế, làm việc nửa vời, tự ý đơn giản hóa công việc mà bỏ qua những bước bắt buộc khiến cho phần việc do cá nhân ấy phụ trách không có chất lượng và hiệu quả rõ rệt
Trang 392.2.5.2 Tác phong làm việc
Tác phong được định nghĩa là “lề lối và cách thức làm việc và đối xử” (Nguyễn
Lân, 2002: Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt) Tác phong đẹp là sản phẩm của một nền văn hóa của tổ chức mạnh, môi trường làm việc văn minh và người lãnh đạo có tâm,
có tài Ban lãnh đạo HNP luôn chú trọng xây dựng đội ngũ CBCNV có tác phong và lề lối làm việc văn minh lịch sự, thể hiện tính chuyên nghiệp, trở thành tác phong công nghiệp thực sự Trải qua thời gian rèn giũa, cùng với đầu tư của ban lãnh đạo và sự cố gắng của cả tập thể, tác phong và lề lối làm việc của CBCNV đã đi vào nề nếp chung, thể hiện nếp sống tương đối văn minh với các tiêu chí làm việc có tinh thần, thái độ, kiến thức và kỹ năng đạt chuẩn của công việc mà nghề nghiệp đòi hỏi Một trong những biểu hiện của tác phong lối sống của CBCNV đó là thái độ với công việc Khi công việc chưa hoàn thành, tùy theo tính chất công việc và mức độ cần thiết mà các CBCNV ở lại hay ra về thể hiện trách nhiệm với công việc Qua điều tra cho thấy có 2% rất sẵn sàng và 93% sẵn sàng làm thêm giờ, 5% thì tùy lúc, 0% trả lời không vì còn
Nguồn: Tác giả khảo sát
Vào lúc thời gian công ty có nhiều việc thì rất nhiều CBCNV tự nguyện ở lại khoảng 15-30 phút để hoàn thành những công việc dang dở mặc dù khi đã hết giờ làm việc Tuy nhiên, một số CBCNV vẫn còn có sự đùn đẩy trách nhiệm nhưng hầu hết họ đều chủ động trong công việc Có thể nói, bên cạnh những ưu điểm cơ bản, một số ít CBCNV còn bộc lộ, trách nhiệm xử lý công việc chưa cao Một số CBCNC chưa thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực hạn chế, làm việc cầm chừng qua ngày, không có chất lượng và hiệu quả rõ rệt, coi công việc như là chỗ trú chân an toàn Bên cạnh tính tự giác của các cá nhân thì thể hiện sự nỗ lực của CBCNV trong thực thi nhiệm vụ được giao Qua quá trình khảo sát khi được hỏi về sự
nỗ lực của mình trong công việc, có 22% trả lời rất nỗ lực, 78% nỗ lực, 0% phần nào
đó nỗ lực và 0% ít nỗ lực
Trang 40Biểu đồ 2.7 Khảo sát đánh giá sự nỗ lực trong thực hiện
Biểu đồ 2.8 Khảo sát đánh giá tính sáng tạo trong
thực hiện công việc
7%
93%
thỉnh thoảng sáng tạo
luôn sáng tạo
Nguồn: Tác giả khảo sát
Điều này cho thấy các CBCNV của HNP rất cố gắng làm việc và chăm chỉ, có tinh thần trách nhiệm cao Tuy nhiên, với quy trình giải quyết công việc có sẵn, rập khuôn, nếu CBCNV không chủ động vận dụng linh hoạt sẽ dễ dẫn đến chậm trễ hoặc tốn nhiều công sức, thậm chí làm trì trệ quá trình công việc Do vậy việc tìm tòi, sáng tạo trong công việc luôn được đề cao trong mọi tổ chức Kết quả khảo sát về vấn đề này có 0% phiếu trả lời trong công việc được giao rất sáng tạo, và 93% luôn sáng tạo, thỉnh thoảng sáng tạo trong công việc được giao là 7% và 0% là không sáng tạo trong công việc được giao) Trong các ý kiến, 100% CBCNV khối văn phòng trả lời luôn sáng tạo trong công việc được giao bởi vì tính chất công việc văn phòng đòi hỏi tính linh hoạt cao, thường phải xử lý nhiều tính huống bất ngờ Từ biểu đồ ta thấy được tính sáng tạo của CBCNV khối sản xuất thấp hơn CBCNV khối văn phòng bởi vì số quy trình cho các công việc của CBCNV khối sản xuất nhiều hơn, nhiều công việc của CBCNV khối sản xuất đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt về an toàn lao động và vận hành các trang thiết bị nên CBCNV khối sản xuất không dám sáng tạo trong một số công việc Nhìn chung, chính tác phong của các CBCNV là một trong những nguyên nhân chính làm nên bầu không khí làm việc thoải mái, hòa đồng mọi người luôn chan hòa, giúp đỡ nhau trong quá trình làm việc Đội ngũ CBCNV đều mang tác phong chuyên nghiệp, nhanh nhẹn, tự giác, khéo léo, vui vẻ, nhã nhặn, có ý thức cao trong giữ gìn hình ảnh của công ty, giải quyết công việc dứt khoát, có nguyên tắc nhưng nhẹ nhàng, tôn trọng người giao tiếp: nói năng mạch lạc, đi đứng đàng hoàng, ánh mắt thiện cảm, phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự, có ý thức giữ yên lặng trong những giờ làm việc căng thẳng, ứng xử linh hoạt trước các trường hợp, khéo léo trong giao tiếp, dễ hòa đồng
2.2.6 Kỹ năng giao tiếp ứng xử của đội ngũ CBCNV
Văn hóa công sở nói chung và văn hóa ứng xử nơi công sở nói riêng chính là thước đo sự văn minh của mỗi CBCNV hay nói khác đi nó phản ánh sự nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở Việc giao
tiếp ứng xử của đội ngũ CBCNV nơi công sở thể hiện những tính chất đặc thù của hoạt
động thi hành công việc Do vậy giao tiếp trong thực thi công việc của các CBCNV