1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn học nhà văn quá trình sáng tác

17 258 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu vô cùng hữu ích trong ôn luyện HSG. Tài liệu cập nhật những vấn đề lí luận một cách chính xác, khoa học đặc biệt là trong quá trình vận dụng làm bài.Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống trong các hiện tượng riêng biệt của nó, hình tượng bao hàm sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính chung và cá biệt. Nó hiện ra một cách cụ thể, độc đáo, không lặp lại nhưng chứa đựng những thuộc tính chung của hiện tượng, sự vật, chứa đựng quy luật chung của đời sống, là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận. Hình tượng nghệ thuật chuyển tải tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ. + Hình tượng nghệ thuật có thể tồn tại qua giá trị vật chất nhưng giá trị của nó bao giờ cũng ở phương diện tinh thần. Người đọc không chỉ thưởng thức cuộc đời thực trong tác phẩm mà còn cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn trong cuộc đời ấy. Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ nghệ thuật bằng ngôn từ nghệ thuật. + Hình tượng nghệ thuật là phương tiện giao tiếp đặc biệt, không chỉ là thế giới đời sống mà còn là thế giới biết nói. Thông qua các chi tiết, nhân vật, cảnh vật và quan hệ giữa các nhân vật, nhà văn gửi gắm tình cảm của mình đến với bạn đọc, truyền cho người đọc cách cảm, cách nghĩ về cuộc đời, gợi lên một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống.

Trang 1

VĂN HỌC – NHÀ VĂN – QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

I Văn học

1 Khái niệm văn học: Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của cuộc sống xã

hội và con người

- Nghĩa rộng: Văn học sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật Theo nghĩa này thì không chỉ có văn bản thơ, truyện, kịch, mà các văn bản hịch, cáo, chiếu, biểu, sử kí của thời trung đại hoặc kí, tạp văn của thời hiện đại đều có thể coi là văn học

- Nghĩa hẹp: các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình tượng bằng tưởng tượng) như sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, phú,

2 Văn nghệ thuật

- Hình tượng nghệ thuật là gì ?

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống trong các hiện tượng riêng biệt của nó, hình tượng bao hàm

sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính chung và cá biệt Nó hiện ra một cách cụ thể, độc đáo, không lặp lại nhưng chứa đựng những thuộc tính chung của hiện tượng, sự vật, chứa đựng quy luật chung của đời sống, là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận

- Hình tượng nghệ thuật chuyển tải tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ.

+ Hình tượng nghệ thuật có thể tồn tại qua giá trị vật chất nhưng giá trị của nó bao giờ cũng ở phương diện tinh thần Người đọc không chỉ thưởng thức cuộc đời thực trong tác phẩm mà còn cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn trong cuộc đời ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ nghệ thuật bằng ngôn từ nghệ thuật

+ Hình tượng nghệ thuật là phương tiện giao tiếp đặc biệt, không chỉ là thế giới đời sống mà còn là thế giới biết nói Thông qua các chi tiết, nhân vật, cảnh vật và quan hệ giữa các nhân vật, nhà văn gửi gắm tình cảm của mình đến với bạn đọc, truyền cho người đọc cách cảm, cách nghĩ về cuộc đời, gợi lên một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống

a Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật

- Ngôn từ là chất liệu để tạo nên tác phẩm văn học “Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học” (M.Gorki) Ngôn ngữ giàu tính hình tượng nhất và giàu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm và tác động thẩm mĩ đến người đọc Cần phân biệt: + Nghệ thuật ngôn từ là bàn về đặc trưng cơ bản của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu

+ Ngôn từ nghệ thuật là kết quả của những biện pháp tu từ cùng những quy tắc tổ chức lời văn nhằm góp phần bộc lộ những giá trị tư tưởng thẩm mĩ trong một tác phẩm cụ thể

- Ngôn từ văn học có tính nghệ thuật và thẩm mĩ

- Ngôn từ văn học dùng để sáng tạo hình tượng, tức là nói tới một thế giới tưởng tượng

- Ngôn từ văn học mang tính biểu tượng và tính đa nghĩa, tính hình tượng, tính truyền cảm, tính chính xác và tinh luyện

Trang 2

Ngoài ra còn ngôn từ văn học còn có một số đặc trưng khác như: tính cá thể, tính hệ thống, tính đa phong cách

b Kĩ năng riêng của tính phi vật thể của ngôn ngữ

Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên hình tượng văn chương là ngôn từ đã khiến cho hình tượng văn chương mang tính phi vật thể

Do lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học chỉ xây dựng được hình tượng “phi vật thể”, có khả năng tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người

Ngôn từ giúp văn học đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh được tất cả những gì mắt thấy tai nghe, tái hiện được cả mùi, vị, nắm bắt được những điều mơ hồ, vô hình nhưng có thật trong cảm giác của con người

Với chất liệu ngôn ngữ, văn chương cũng tạo ra những hình tượng, bức tranh, những hình tượng văn chương lấy ngôn từ làm chất liệu chỉ tác động vào trí tuệ, gợi lên liên tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc, do đó mà ít xác định hơn, mơ hồ hơn

Tính phi vật thể có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất kì giới hạn nào Chỉ có ngôn ngữ văn học mới tái hiện cụ thể, sinh động nhất từng hiện tượng, sự vật – cái mà những loại hình nghệ thuật khác không thể làm được Cái hữu hình, thơ mộng của đời sống trong không gian và thời gian làm sao hội hoạ, kiến trúc có thể tái tạo được ? và ta có thể cảm nhận được bằng cả thị giác, thính giác, xúc giác những âm hưởng ấy

Tóm lại, với phương tiện ngôn ngữ, văn chương lại hầu như không bị giới hạn về quy mô phản ánh cuộc sống, cả thời gian lẫn không gian Sử dụng ngôn ngữ mang tính phi vật thể để tạo dựng hình tượng, các nhà văn còn có thể đi sâu vào thế giới bên trong của hiện thực, mở ra chân trời tưởng tượng về thế giới tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người Và hình tượng văn học có sức gợi sâu xa, tạo nên tính đa dạng trong quá trình cảm thụ, lúc này, người đọc không chỉ là người chiêm ngưỡng, cảm thụ mà còn là người đồng sáng tạo các hình tượng, tạo nên một thế giới thứ ba trong tâm hồn mình Đó là những kĩ năng của tính phi vật thể của ngôn ngữ, là đặc điểm sức mạnh của văn chương

c Tính đa nghĩa của ngôn từ nghệ thuật.

- Tính đa nghĩa thực ra là làm cho chúng có nhiều tầng nghĩa

- Tính biểu tượng làm cho ngôn từ văn học có khả năng biểu đạt rộng và phong phú hơn so với ngôn từ trong giao tiếp thông thường, vì vậy mà ngôn từ văn học thường có tính đa nghĩa, biểu hiện những ý ngoài lời, làm cho biên độ nghĩa của từ luôn được mở rộng: nghĩa đen – nghĩa bóng; nghĩa chính – nghĩa phụ; nghĩa biểu hiện – nghĩa tình thái Ngôn ngữ văn chương dung chứa cả ý nghĩa bề mặt lẫn bề sâu, cả những đặc trưng hiển hiện lẫn những đặc trưng ngầm của sự vật, hiện tượng, có lúc nó khai thác sự phong phú của các sắc thái nghĩa để nói lên nhận thức về cuộc sống và biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người

- Tính đa nghĩa của ngôn từ nghệ thuật được tạo nên từ những phương thức nào ? Nhờ các hình thức của phép chuyển nghĩa được sử dụng như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, tượng trưng, mà một từ vốn chỉ định một sự vật, hiện tượng nào đó có thể chuyển sáng chỉ định một sự vật, hiện tượng khác trong ngữ cảnh thích hợp Tác giả thường cố làm cho ngôn từ có sức sống – sức sống trinh nguyên hoặc sức

Trang 3

sống mới, không để cho các từ ngữ nằm bẹp trong câu, làm cho chúng tạo được hình khối đồng thời có sức ngân vang Chính phép chuyển nghĩa làm cho khả năng vận dụng của một nhà văn trở nên phong phú hơn, với một số lượng từ hữu hạn, có thể diễn tả những sự vật, hiện tượng vô hạn

- Tác dụng của tính đa nghĩa

+ Tính đa nghĩa làm cho câu văn, lời thơ không chỉ có nghĩa tường minh mà còn chứa đựng nghĩa hàm ẩn, do đó lời văn nghệ thuật thường hàm súc, lời ít ý nhiều, “ý tại ngôn ngoại”

+ Ngôn từ là công trình sáng tạo vĩ đại của con người trải qua hàng ngàn năm lịch sử - tiêu biểu bật nhất cho bản chất và sức mạnh của con người Ngôn từ trong văn học không hề là vẻ đẹp của đồ trang sức hay trò chơi phù phiếm – mà đó là vẻ đẹp toả ra từ tâm hồn và ánh lên từ cuộc sống, qua sự mài giũa và tinh luyện của tác giả Dùng ngôn từ làm chất liệu sáng tác, văn chương có những đặc điểm, ưu thế đáp ứng được yêu cầu phản ánh cuộc sống một cách phong phú đa dạng mà các nghệ thuật khác không có được Nói như Pau-tốp-xki: “Thơ ca có một đặc tính kì lạ Nó trả lại cho chữ cái tươi mát, trinh bạch ban đầu Những chữ tả tơi nhất mà chúng ta đã nói đến cạn cùng, đến mất sạch tính chất hình tượng, đối với chúng ta còn lại chẳng khác gì một cái vỏ chữ, nhưng chữ ấy trong thi ca lại sáng lấp lánh, lại kêu giòn và toả hương.”

d Các chức năng, các ý nghĩa và giá trị của văn học:

“Văn học đâu chỉ là chuyện văn chương mà thực chất là cuộc đời” Từ đời sống mà ra văn học và trở lại tác động đến đời sống làm cho cuộc sống của chúng ta có thêm ý nghĩa phong phú Vì thế văn học giúp con người thấy rõ mục đích cuộc sống của mình, giúp con người trau dồi tư tưởng, tình cảm, đạo đức ngày một tốt đẹp hơn Với tầm quan trong như thế thì chức năng, ý nghĩa, giá trị của văn học thật hữu ích cho chúng ta đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu

* Chức năng của văn học

Văn học có chức năng quan trọng đối với cuộc sống con người Con người cần đến văn học vì văn học làm cho đời sống tinh thần của con người đẹp hơn Như Tố Hữu viết: “Làm cho con người sống đầy

đủ hơn cuộc sống của mình, biết rõ mình là cái gì, mình là ai, phải sống sao cho phải, biết hết những khả năng vĩ đại của mình” Vì vậy văn học là một hoạt động đa chức năng

- Chức năng nhận thức

+ Văn học thức tỉnh con người trước cái trăm năm, đặt con người đối diện với cái nghìn năm và giúp con người nhìn lại chính mình

+ Văn học mở ra cho chúng ta một chân trời mới, đưa ta đến những miền chưa đến, cho ta sống những gì ta đánh mất, cho ta biết được nhiều cuộc đời, khám phá được thế giới tinh thần của con người Đến những chân trời mới mà văn học mở ra đâu chỉ là sống những thời đã qua hay chưa tới mà còn được sống và biết được nhiều cuộc đời Văn học góp phần làm phong phú thêm nhãn quan, hình thành thái độ mỗi con người đối với cuộc sống

+ Văn học hình thành thái độ của con người đối với chính mình, tự nhận thức về bản thân mình Đọc một tác phẩm, soi mình vào trang sách, vào những việc làm hành động của nhân vật, ta tự kiểm soát bản thân mình, về những hành động suy nghĩ chưa phải của mình Để rồi tự sửa chữa điều chỉnh theo

Trang 4

hướng tích cực Vì thế văn học có tác dụng hữu ích trong việc rèn luyện đạo đức, nhân phẩm của con người

- Chức năng giáo dục

+ Muốn nhận thức một cách đúng đắn thì phải được giáo dục toàn diện Vì thế chức năng giáo dục của văn học vô cùng quan trọng trong mọi thời đại Văn học vừa bồi đắp tư tưởng tình cảm cho con người vừa thanh lọc tâm hồn con người Văn học hướng chúng ta đến những tư tưởng cao đẹp, biết đâu là điều đáng yêu đáng ghét, biết trân trọng cái thiện, cái đẹp, đồng thời biết căm ghét và lên án cái xấu xa, độc ác

vô nhân đạo Và thanh lọc tâm hồn bởi những suy nghĩ đen tối, những xấu xa, ích kỉ để tâm hồn được trong sáng, đẹp đẽ, tự nhiên như cây cỏ hoa lá Việc bồi đắp, thanh lọc của văn học âu cũng là ước mơ, mong muốn của tác giả: trên thế giới này, tất cả mọi người đều có những hành vi cao cả và đẹp đẽ

+ Ước mơ đó có khi được thể hiện trực tiếp bởi những lời kêu gọi nhưng cũng có khi được gửi gắm

qua nhân vật, hình tượng nghệ thuật nào đó trong tác phẩm Lúc ấy chẳng có nên, chớ, đừng, hãy mà tự

dưng mỗi chúng ta cảm thấy đúng, sai, tốt, xấu, Khi đó là lúc mà văn học phát huy chức năng tự giáo dục Thật đúng khi nhà triết học người Đức nói rằng: “văn học không giáo dục ai mà chuẩn bị cho con người những điều kiện để tự giáo dục” Tự giáo dục là một nhu cầu rất tự nhiên, không áp đặt mà rất hiệu quả Không có ai hiểu mình bằng chính mình, vì thế văn học giúp con người tự xây dựng tâm hồn và tính cách của mình qua tác phẩm văn học, đặc biệt là hình tượng nghệ thuật Nhưng có phải mọi tác phẩm văn học đều có ý nghĩa tích cực ? Bên cạnh những tác phẩm chân chính – những tác phẩm “nằm ngoài mọi định luật băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” (Sđrin – Xantưcôp) giúp con người trở nên người hơn thì có những tác phẩm văn học đồi truỵ, tiêu cực đưa con người trở về với bản năng của sinh vật Vì thế nếu chúng ta chọn đúng tác phẩm văn học mà đọc, mà tìm hiểu, khám phá nó thì khi ấy chức năng giáo dục của văn học càng phát huy cao độ

- Chức năng thẩm mĩ

+ Mục đích của chức năng giáo dục, nhận thức là nhằm hướng con người đến cái đẹp, cái hay, chân trời của “Chân – Thiện – Mĩ” Khi đó văn học có chức năng thẩm mĩ, là chức năng đặc trưng, đóng vai trò như một hệ thống của các chức năng

+ Về phía người sáng tác: Khi người nghệ sĩ sáng tạo ra một tác phẩm văn học cũng là lúc họ đang

đi đến cái hay, cái đẹp Một hành trình vô cùng vất vả và gian khổ nhưng đầy thích thú và say mê Bởi khi bắt tay vào viết tác giả phải tìm kiếm ngôn ngữ, biện pháp nghệ thuật, cách diễn đạt sao cho hay và hợp lí nhất, để tạo ra một hình tượng nghệ thuật, một tứ thơ độc đáo nhất Nhưng cũng chính trong quá trình ấy, văn học đã mang đến một nguồn sinh khí làm xua tan bao nỗi vất vả, đã mang đến một ngọn lửa rực cháy làm dấy lên trong lòng tác giả những thích thú, say mê, nhiệt huyết,

+ Về phía người tiếp nhận: Chính niềm thích thú say mê trong quá trình sáng tác mang lại cho độc giả một sự thích thú thẩm mĩ Khi đọc một tác phẩm văn học là lúc ta có nhu cầu thưởng thức cái hay cái đẹp Bởi cái vẻ đẹp của tác phẩm làm rung động trái tim của bao người như bất cứ sự rung động khác trước cái đẹp trong cuộc đời Nhưng độc giả không chỉ có nhu cầu thưởng thức mà còn có nhu cầu sáng tạo, đồng sáng tạo với tác giả

- Chức năng giao tiếp

Trang 5

Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi con người trong xã hội Không ai có thể sống mà không giao tiếp Bởi giao tiếp chúng ta hiểu biết thêm về những điều đã biết, cung cấp cho chúng ta về những điều chưa biết, nó giúp cho ta có thể sống hoà hợp với cộng đồng hơn Cũng chính vì vậy mà giao tiếp trở thành một chức năng không thể thiếu trong văn học

Tác phẩm văn học là một nhịp cầu nối trái tim giữa người viết và người đọc Bởi văn chương là nơi bộc bạch của trí tuệ và tâm hồn Mà trong đó các nhà văn dùng ngôn ngữ để phơi bày những dòng cảm xúc, thái độ, tâm trạng, phản ứng của họ đối với cuộc sống Đồng thời người đọc có thể giao lưu tiếp xúc

để hiểu thêm những điều mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm ấy Có những nhận xét, đồng cảm trước thái

độ của tác giả Như vậy chính tác phẩm văn học làm cho độc giả và tác giả xích lại gần nhau hơn Như Tố Hữu đã nói “Viết văn, thơ là một điệu hồn đi tìm hồn điệu”

Ngôn ngữ của văn học là phương tiện rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho độc giả và tác giả được tốt hơn Với một tác phẩm văn học, nhờ cách diễn đạt ý nhị, hàm súc, gãy gọn, lựa chọn ngôn ngữ hay, đẹp của tác giả giúp cho kĩ năng giao tiếp của người đọc thành thục, nhuần nhuyễn hơn, vốn từ phong phú hơn Không những thế, đối với tác giả trong quá trình viết cũng là lúc vừa nảy sinh ý tưởng vừa tìm kiếm ngôn ngữ để diễn đạt Vì thế vốn từ của tác giả cũng tăng lên và kĩ năng giao tiếp trong đời sống được tốt hơn

- Chức năng giải trí

Bên cạnh chức năng giao tiếp, văn học còn có chức năng giải trí, nhưng đây không phải là giải trí thông thường mà là sự giải trí có tính nghệ thuật Một sự giải trí nhẹ nhàng, thanh cao và trong sáng Có nghĩa là sự giải trí trong văn học không những giúp chúng ta giải toả bớt sự căng thẳng, mệt nhọc, đem lại phút giây thư giãn mà khi đắm mình trong không gian nghệ thuật ấy, văn học thanh lọc tâm hồn chúng ta thêm trong và cung cấp thêm những hiểu biết về cuộc sống, xã hội, học tập, Có lẽ văn học đã đem đến cho nhân loại chúng ta một cách nghỉ ngơi lí thú, như Raun Gamzatốp đã từng nói “Thơ vừa là nơi ngơi nghỉ, vừa là nơi cho ta dừng chân và vừa là cuộc hành trình khiến ta hứng thú” Chính vì vậy, giải trí bằng văn học vừa mang lại niềm vui phấn khích như các hình thức vui khác, vừa làm cho con người trở nên có văn hoá hơn, hiểu và đáng yêu hơn

Những chức năng của văn học không tồn tại tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau, làm tốt chức năng này thì đồng thời cũng tạo điều kiện để các chức năng khác phát huy tác dụng Toàn bộ các chức năng của văn học luôn tác động qua lại với nhau, luôn tồn tại trong mối quan hệ chuyển hoá nhân quả, và tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể của sự phát triển văn học ở các thời đại khác nhau, các dân tộc khác nhau, mối tương quan và trọng tâm của các chức năng cũng thay đổi Điều đó đòi hỏi khi xem xét chức năng của văn học phải có quan điểm lịch sử đúng đắn

* Ý nghĩa của văn học

Văn chương là hình ảnh của muôn hình vạn trạng và sáng tạo ra sự sống, gây những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm sẵn có, đưa ta đến tư tưởng của văn học, ta nghe đâu đó câu nói của Tséc-nư-sép-ski cách đây một trăm năm: “Nội dung của tác phẩm văn học tác động đến trí tưởng tưởng và làm thức dậy người đọc những ý niệm và cảm xúc cao thượng”

Những tác phẩm có giá trị tư tưởng cao ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần quần chúng, góp phần giúp họ thêm nghị lực đấu tranh, chống lại chế độ xã hội đương thời bất công và tàn bạo Văn

Trang 6

học giúp ta nhìn lại tư tưởng lỗi thời lạc hậu của chế độ phong kiến để từ đó thấm sâu vào trong ta một tư tưởng mới tiến bộ của chủ nghĩa xã hội

e Giá trị của văn học

* Giá trị thẩm mĩ

Là vẻ đẹp do văn học tạo nên Bởi con người luôn cần cảm thụ và thưởng thức cái đẹp Cái đẹp ở đây chính là vẻ đẹp của cuộc sống thường ngày Vì thế, văn học tạo nên những bức tranh, những hình tượng sống động, độc đáo, giàu ý nghĩa, có sức lôi cuốn và lay động tâm hồn con người – những hình tượng mang tính chất thẩm mĩ mà con người đã và đang thể nghiệm trong cuộc sống Giá trị thẩm mĩ mà văn học đem lại không chỉ là cái đẹp, cái cao cả mà còn có cái xấu, cái đen tối, đau khổ trong cuộc đời Để

từ đó hướng tới cái đẹp toàn diện, đích thực trên cơ sở cái xấu, cái đen tối Trong thực tế các tính chất ấy nhiều khi xuất hiện phân tán mờ nhạt, còn trong văn học thì chúng được biểu hiện tập trung đến mức gây

ấn tượng khó phai

Đặc điểm nổi bật của giá trị thẩm mĩ là nó hấp dẫn con người một cách vô tư, bằng chính sự hứng thú của hoạt động thưởng thức Bằng những hình ảnh hư cấu, tưởng tượng, nó giúp con người thoát ra khỏi thực tại đời sống để sống bằng những tình cảm và mơ ước với nhiều cuộc đời, số phận, hoàn cảnh đa dạng bất ngờ Vì thế văn học phát huy tưởng tượng của người đọc, làm cho tinh thần của họ được phong phú

* Giá trị nghệ thuật

Toàn bộ những phương thức, phương tiện, kĩ xảo được nhà văn dùng để xây dựng hình tượng nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ sẽ tạo thành giá trị nghệ thuật cho văn học

- Trước hết là cách nhà văn sử dụng ngôn ngữ (cách dùng từ, đặt câu, gieo vần, cách ví von, ẩn dụ, cách trần thuật, cách gọi tên nhân vật, )

- Thứ hai là cách nhà văn chọn lọc các chi tiết, cách miêu tả nhân vật, tình huống, cách phân tích tâm

- Cuối cùng là cách kết cấu tác phẩm: mở đầu ở đâu, triển khai như thế nào và kết thúc ra sao thì gây được ấn tượng thú vị cho người đọc

Nhà văn thiếu tài năng thì giá trị thẩm mĩ cũng giảm sút

* Giá trị nhận thức

Thông qua hình tượng nghệ thuật, văn học nâng cao năng lực nhận thức cho con người Khác với khoa học là nâng cao nhận thức các quy luật của thế giới khách quan, văn học nâng cao nhận thức sự thật

và ý nghĩa đời sống khách quan Thông qua các hình tượng nghệ thuật, văn học giúp người đọc nhìn thấy những sự thật của nhân sinh, nhận biết cái đẹp, cái xấu, cái cao cả và cái thấp hèn,

Văn học đặc biệt coi trọng sự nhận thức về giá trị con người Qua lăng kính văn học, người ta nhận

ra những giá trị về nhân cách, những biến đổi tinh vi trong đời sống tâm hồn, những biểu hiện khác nhau của tội ác, sức mạnh của cái thiện và lẽ công bằng ở đời

Từ các nhận thức đó, văn học soi rọi cho người đọc ánh sáng lí tưởng, nâng đỡ niềm tin vào cuộc đời, khơi gợi ở họ tình yêu đối với cuộc sống Vì thế giá trị nhận thức thấm nhuần tính chất nhân văn

Trang 7

Như vậy, chức năng, giá trị, ý nghĩa của văn học rất to lớn, vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Vì thế, ngay từ bây giờ chúng ta hãy dành thời gian để thưởng thức những tác phẩm văn học có giá trị cao, lúc đó, chúng ta sẽ cảm nhận hết cái hay cái đẹp, sự hữu ích mà văn học mang đến

4 Nguyên tắc phân chia các thể loại văn học.

Sự phân chia thể loại văn học, thực chất là phân loại nội dung và hình thức thể loại Thông thường

có các tiêu chí cơ bản để phân chia các thể loại văn học như sau:

- Tiêu chí hình thức lời văn: được sử dụng để phân biệt thơ văn vần hay thơ văn xuôi; truyện văn

xuôi hay truyện thơ, kịch thơ hay kịch nói, từ hình thức lời văn phải dẫn đến khái niệm thể văn, tức hình thức lời văn được tổ chức theo một thể thức nhất định Ví dụ như thơ lục bát, song thất lục bát,

- Tiêu chí dung lượng tác phẩm: là căn cứ quan trọng để phân biệt thơ với trường ca, khúc ngâm,

phân biệt truyện vừa, truyện dài, truyện ngắn, kịch ngắn (một hồi) với kịch nhiều hồi,

- Tiêu chí cảm hứng, tình điệu: tức dựa vào tính chất của cảm xúc để làm cơ sở cho sự phân biệt

giữa bi kịch với hài kịch, chính kịch, ngụ ngôn với truyện cười,

- Tiêu chí nội dung thể loại: phân loại văn học dựa trên đặc trưng loại hình lặp lại có hệ thống của

đề tài Theo các học giả Xô – Viết, có ba nhóm nội dung thể loại chủ yếu là:

+ Thể loại lịch sử dân tộc: bao gồm các tác phẩm khái quát và miêu tả các sự kiện lịch sử lớn lao có

liên quan đến vận mệnh quốc gia, dân tộc như I-li-át, Chiến tranh và hoà bình, Đất nước đứng lên,

+ Thể loại thế sự bao gồm các tác phẩm hướng tới lí giải các phương thức và tính chất sinh hoạt dân

sự, công cộng xã hội với những quan niệm về công lí, đạo đức nhân sinh, như thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, đều chan chứa cảm hứng thế sự

+ Thể loại đời tư là những tác phẩm có ý thức tạo dựng đời sống và số phận của những cá nhân riêng biệt trong mối quan hệ với môi trường xung quanh

Các thể loại trên không tồn tại tách biệt nhau mà đan cài, chuyển hoá vào nhau chặt chẽ trong cùng một tác phẩm

II Nhà văn

1 Tư chất nghệ sĩ: Giàu tình cảm, tâm hồn phong phú, nhân cách đẹp.

a Giàu tình cảm

Trong khoa học, tình cảm nằm ngay trong tiền đề sáng tạo, còn trong văn học tình cảm nằm ngay

trong thành phần sáng tạo Và tình cảm trong nhà văn được Lê Duẩn phát biểu cụ thể hơn: Nói nghệ thuật

là nói đến quy luật riêng của tình cảm vậy tình cảm chứ không phải yếu tố nào khác, đó là một phần tạo

nên tư chất của nhà văn bởi nó là ngọn nguồn sâu xa nhất của cái đẹp và là nguồn sống của cái đẹp

Tình cảm của người nghệ sĩ chính là trái tim mãnh liệt và nồng cháy của mình trước cuộc sống và cả trong sáng tác Bởi tình cảm trong nhà văn như yêu, ghét, vui, thương mến hay căm giận, hờn dỗi đều đến

độ mãnh liệt Gặp cái gì hay và đáng yêu thì họ ôm choàng lấy, nếu gặp điều đáng giận thì họ sẽ bác bỏ (Lỗ Tấn) Ngô Thì Nhậm cũng nói đến tình cảm mãnh liệt, thắm thiết đó ở tình cảm nhà văn: Tình cảm

ấy dồi dào thì thơ nảy sinh, hoặc là tình cảm nam nữ thương nhau, hoặc tình vợ chồng nhớ nhau Niềm vui thích của ta ở triều chính thì ta cũa biết trong việc triều chính cũng có tình cảm nam nữ , nỗi nhớ

Trang 8

mong của ta là ruộng vườn thì ruộng vườn có cái tình vợ chồng Và nhà văn là người sáng tạo ra cái đẹp

nghệ thuật cho con người và cuộc đời nên người nghệ sĩ ấy không thể thiếu được một trái tim mãnh liệt, phong phú và sâu sắc

Tâm hồn nhạy cảm là sự thể hiện của trái tim giàu tình cảm của nhà văn Đó là nhà văn thâm nhập vào đối tượng với một con tim nóng hổi, chuyển hoá cái đối tượng khách quan thành cái chủ quan đến mức “Tưởng như chính mình sinh ra cái khách quan ấy” Để từ đó khi viết họ dùng cái vốn bản thân sống sâu nhất cảm nhận cuộc đời, ví dụ như trong một cái thời có thể gọi như một trận địa giai cấp, người dân lầm than thì nhà văn không chỉ nhìn mùa vụ dưới hình thức là cảnh mà còn phải biết những ngày này, người thợ gặt nghĩ gì, nhà chủ nghĩa nghĩ gì, hay dân mót nghĩ gì, làm gì

Sự mẫn cảm đặc biệt đối với đời như vui buồn hay trăn trở với những điều người khác cho là bình thường có thể gạt bỏ đi một cách dễ dàng, đó cũng là một trong những cách thể hiện tình cảm của người nghệ sĩ

Tình cảm là yếu tố quyết định đến sự sinh thành, giá trị và tầm cỡ của nghệ thuật Có lẽ ta cũng nhìn thấu được vấn đề này, trong lĩnh vực văn học thì tình cảm có vai trò quyết định cho một tác phẩm là rất cao, khi Lê Quý Đôn khẳng định “Thơ phát khởi từ trong lòng người” là có ý nói tình cảm quyết định đến

sự sinh thành của thơ Ngô Thì Nhậm thì nhấn mạnh: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” nghĩa là tình cảm quyết định đến chất lượng thơ

b Tâm hồn phong phú

Người nghệ sĩ là người tạo ra cái đẹp cho cuộc đời, vì thế chắc chắn sẽ không thể thiếu đi một tâm hồn phong phú Tâm hồn phong phú ấy chính là khả năng cảm thông, chia sẻ, đồng cảm với người khác Cần phân biệt một tâm hồn phong phú với một tâm hồn nhạy cảm:

Nếu như một tâm hồn phong phú mở ra giới hạn sống cho con người, giúp con người có thể đồng cảm được với những nông nỗi của người khác, dễ dàng chia sẻ được những buồn – vui, sướng – khổ, được – mất, thành – bại, với người khác thì một tâm hồn nhạy cảm lại cho phép ta được sống trong nhiều nỗi niềm, nhiều cảnh ngộ, nhiều cuộc đời, cho phép ta sống sâu sắc, sống đến tận đáy những điều mà người khác chỉ diễn ra hời hợt thoáng chốc Đồng thời đã là nghệ sĩ thì cần phải có cả một tâm hồn nhạy cảm và phong phú trên nhiều phương diện

Người nghệ sĩ có một tâm hồn nhạy cảm sẽ là người luôn biết tự tìm hiểu, khám phá, suy tưởng, vui buồn với những cái dường như không đâu, trăn trở với những điều mà người khác dửng dưng hay bỏ qua Nhờ đó, tác phẩm của họ mới có thể mang những phong cách độc đáo riêng, để lại ấn tượng khó phai trong lòng độc giả

Còn với một tâm hồn phong phú, người nghệ sĩ có thể hoá thân thành người trong cuộc, có thể nói lên kể cả những tiếng nói sâu kín nhất, “sản phẩm” họ tạo ra sẽ mãi là những kiệt tác văn chương, đi sâu vào trong lòng độc giả

Có thể khẳng định, tâm hồn phong phú chính là một tư chất không thể thiếu của người nghệ sĩ Thiếu đi một tâm hồn phong phú, Nguyễn Du làm sao có thể viết được một “Văn tế thập loại chúng sinh” khiến ai cũng phải se lòng, làm sao viết được “Độc Tiểu Thanh kí” cảm thông với người phụ nữ tài sắc ở một xứ sở xa xôi lại sống cách biệt mình với ba thế kỉ, làm sao có thể viết được “Truyện Kiều” với những

Trang 9

bi kịch, những nông nỗi, bất hạnh không phải của chính mình, vậy mà đọc lên có thể làm cảm động cả đất trời (Tiếng thơ ai động đất trời – Nghe như non nước vọng lời ngàn thu)

Vậy là nhờ tâm hồn phong phú mà con người ta có thể sống nhiều cuộc đời, thấy được thực chất văn là người, văn chương là tiếng đời

c Nhân cách đẹp

Như ta đã biết, bản chất của văn học là hướng con người tới vẻ đẹp chân – thiện – mĩ, những đạo lí tốt đẹp, bồi dưỡng cho tâm hồn con người những ánh sáng thiện tâm lấp lánh vẻ đẹp của trí tuệ và ấm áp tình người Vì thế nhà văn mỗi khi cầm bút, tâm thế cũng phải vằng vặc sao khuê mới có thể nhả chữ châu ngọc cho đời Nói rõ hơn chính là muốn trở thành nhà văn phải là người có nhân cách

Vậy thế nào là có nhân cách đẹp ? Nhân cách đẹp ấy chính là tâm hồn của con người, là đối tượng phản ánh và miêu tả, có khả năng bao quát hết sức rộng rãi đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống Nhân cách đẹp là nền tảng của sáng tạo, tại sao ? Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ trước khi làm nghệ thuật phải sống như một con gười, một con người có nhân cách đẹp, hay cụ thể, nói như nhà văn Nam Cao “Sống đã rồi hãy viết”.Có như thế thì văn chương mới thật sự có sức sống, mới thật sự nảy nở, đâm chồi và mới có sự đảm bảo

Sự thể hiện nhân cách đẹp ở nhà văn như thế nào ?

Họ vượt lên những khó khăn vất vả, những biến cố của cuộc đời Điều này, Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động Ông dù bị mù nhưng vẫn làm thầy giáo, thầy thuốc, nhà thơ, đã thế, cụ không hám danh lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền Để làm được điều đó chính là nhờ thái độ sống có văn hoá, có nhân cách cao đẹp

Nhà văn – người có nhân cách đẹp, họ kiên quyết, anh dũng hiên ngang chống lại những điều sai trái ở bất cứ thời kì nào, miễn là ở đó có những bất công, cuộc sống đa chiều với mọi mặt phức tạp và những hệ luỵ trần luân của kiếp người

Người nghệ sĩ khi viết một tác phẩm phải trung thành với sự thật Cuộc sống như thế nào thì nói như thế ấy, phải trung thực với cuộc sống chứ không phải trung thành với một cá nhân nào khác Nguyễn Khuyến trong di chúc từng viết: “Không chỉ trung thực khi thể hiện niềm vui, tinh thần lạc quan mà trung thực cả khi bộc lộ sự mất mát, đau đớn”

Nhân cách của nhà văn còn thể hiện ở việc biết nhìn ra được xu thế xã hội, tâm thế của thời đại và tâm thế của các tầng lớp con người Nói đến điều này, ta lại gặp một vấn đề khác đặt ra đối với nhân cách của họ Đó là, liệu nhân cách của nhà văn có thể mất dần đi trong sự biến động của thời cuộc, trong sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, trong sự va đập của các chuẩn mực xã hội ? Câu trả lời là không nếu

đó là một nhà văn đích thực Nhân cách đó có thể ẩn sâu dưới những tác phẩm, có thể không lộ diện, nhưng đó là sức mạnh tinh thần âm thầm vẫn chảy ào ạt trong chính tác phẩm của họ

Nhân cách đẹp biến nhà văn thành hình tượng đẹp của nhân loại Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại Vì thế đã là nhà văn thì phải giữ được cái thiêng liêng của nhà văn, đó

là niềm hạnh phúc của nhân loại, nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn

Không phải bất cứi nhà văn nào cũng đầy đủ những tư chất nghệ sĩ nói trên, mặc dù những mặt đó chưa phải là tất cả và những tư chất ấy không cô lập mà hoà nhập vào nhau, xuyên thấu vào nhau và dựa

Trang 10

vào nhau mà phát huy tác dụng Ta cũng biết những tư chất của một nghệ sĩ như trên thì luôn ẩn chứa bên trong mỗi con người, như M.Gor-ki đã viết: “Tôi tin chắc rằng mỗi người đều mang trong mình những năng khiếu của người nghệ sĩ” Vì có những tư chất ấy mà người nghệ sĩ đã truyền tải vào trong tác phẩm của mình và tạo được sự đồng cảm, tạo nên nhiều tài năng cho văn học nghệ thuật hay ở đây chính là những nhà văn xuất chúng

2 Các tiền đề của tài năng

a Trực giác

Một phẩm chất đầu tiên, dễ nhận thấy ở tất cả các nhà văn chân chính là một trực giác nhạy bén, một tâm hồn giàu xúc cảm Tấm lòng của họ luôn rộng mở đón nhận những âm vang của cuộc sống, quan tâm thường xuyên và sâu sắc đối với tất cả đối với những gì xảy ra xung quanh mình, vươn tới sự đồng cảm,

sẻ chia với bao cuộc đời khác Những nhà văn lớn trước hết là những nhà văn chủ nghĩa Họ vui cái vui của bao người khác, đau khổ trước nỗi đau khổ của đồng loại, hân hoan sung sướng trước những điều tốt đẹp, đau khổ và phẫn nộ trước những oan trái bất công

Tình cảm là một trong những động lực thúc đẩy cảm hứng sáng tạo Tư tưởng sẽ không thể chuyển hoá được vào hình tượng một cách nhuần nhuyễn nếu thiếu cảm hứng Đứng trước đối tượng nghiên cứu, nhà khoa học cần phải phân tích một cách khách quan, tìm hiểu đúng bản chất sự vật và đúc kết bằng những định luật khái quát, còn nhà văn thì thâm nhập vào đối tượng với một trạng thái tràn đầy cảm hứng

để “chuyển hoá cái khách quan thành cái chủ quan” Vì vậy tác phẩm văn học không chỉ là khách thể được phản ánh mà còn là chủ thể được biểu hiện Người đọc đến với tác phẩm là đến với cuộc sống được tái tạo, đồng thời còn đến với tâm hồn nhà văn, đến với tư tưởng, thái độ của nhà văn đối với hiện thực đời sống

Sáng tạo nghệ thuật là quá trình phản ánh và tái tạo hiện thực, đồng thời là quá trình tự biểu hiện của nhà văn giữa cuộc đời Cho nên một khi tấm lòng của nhà văn đã thờ ơ, nguội lạnh, tâm hồn đã khép kín trước cuộc đời thì khi ấy tài năng nghệ thuật cũng chấm dứt

b Trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú, độc đáo.

Trí tưởng tượng sáng tạo là dấu hiệu quan trọng nhất của tài ba nghệ thuật, là một trong những sức mạnh chủ yếu của quá trình sáng tạo Nếu bản chất giàu cảm xúc và khả năng quan sát tinh tế đã tạo nên nguồn cảm hứng và chất liệu sáng tạo tác phẩm thì tưởng tượng và liên tưởng là cơ sở để nhào nặn chất liệu thành hình tượng nghệ thuật

Tưởng tượng là ước đoán, là mơ ước, đoán định, trước hết giúp nhà văn hình thành đối tượng một cách cụ thể, sinh động Qua óc tưởng tượng, các hình tượng mới được hiện lên một cách cụ thể rõ ràng từ ngoại hình đến ngôn ngữ, cử chỉ, hành động Đối với nhà văn giàu sức tưởng tượng, khi hạ bút xuống trang viết là cả một hệ thống nhân vật hiện lên sống động Nhà văn ngỡ như sống cùng các nhân vật, nghe các nhân vật nói chuyện với nhau, cảm nhận được sắc thái cảm xúc của từng nhân vật trong những cảnh ngộ cụ thể Nhờ tưởng tượng nhà văn có thể hoá thân vào các nhân vật của mình, sống cuộc đời của hàng trăm nhân vật do mình tái tạo Trí tưởng tượng phong phú giúp nhà văn tái hiện được phạm vi đời sống

mà mình quan tâm, là cho đối tượng miêu tả biểu hiện trong tác phẩm một cách chân thực sinh động trong quá trình vận động của nó

Ngày đăng: 31/08/2020, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w