Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê… - Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tìm hiểu các quan điểm, quy định củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THANH NHÀN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÍ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Quốc Hồng
HÀ NỘI - 2010
Trang 2hiện nay - những vướng mắc, bất cập
38
Trang 32.2.7 Trường hợp áp dụng thí điểm đối với một số VPHC trong
khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt
61
Chương 3
YÊU CẦU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM
65
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB 65 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải quán triệt quan điểm của Đảng về cải cách pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
3.2.2 Cần quy định việc kiểm soát các cơ quan, người có thẩm quyền
xử lí VPHC nói chung, xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng
Trang 43.3.2 Bổ sung các nguyên tắc xử lí VPHC 70 3.3.3 Cần quy định hợp lí về đối tượng bị xử lí VPHC 71 3.3.4 Về hành vi vi phạm 71 3.3.5 Bổ sung hình thức xử phạt VPHC, xác định lại tính chất của các hình thức đó
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5GTĐB Giao thông đường bộ VPHC Vi phạm hành chính XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông nói chung, trong
đó có GTĐB giữ vai trò hết sức quan trọng Trong quá trình áp dụng pháp luật
để xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, các cơ quan chức năng đã đạt được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên, tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay diễn ra khá phổ biến Số vụ tai nạn GTĐB gia tăng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ các hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB Với sự phát triển nhanh, mạnh của nền kinh tế nước nhà thì tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người và xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước Vì vậy, tăng cường công tác đấu tranh chống và phòng ngừa VPHC trong lĩnh vực GTĐB là một nội dung rất quan trọng của hoạt động quản lí nhà nước, là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết của Nhà nước và xã hội để lập lại trật tự an toàn GTĐB, giảm thiểu những tai nạn gây thiệt hại cho tài sản, sức khoẻ, tính mạng con người
Những biện pháp hạn chế VPHC, lập lại trật tự an toàn GTĐB rất phong phú và đa dạng như: hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật GTĐB; hoàn thiện pháp luật về GTĐB, đặc biệt là pháp luật về xử lí VPHC; tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức pháp luật cho người dân; áp dụng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB một cách nghiêm túc, đúng pháp luật… Trong những biện pháp trên, hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật GTĐB nói riêng
và vi phạm pháp luật nói chung vì nó là cơ sở để tạo ra những ứng xử chuẩn mực, đúng đắn trong việc tham gia GTĐB của người dân
Tuy nhiên, trong những năm đổi mới, cùng với việc hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề xử lí VPHC nói chung, xử lí VPHC trong một số lĩnh vực cụ thể Song, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Do vậy, gần như những vấn đề lí luận về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB với tính cách là một trong những lĩnh vực pháp luật chuyên
Trang 7ngành vẫn đang còn bị bỏ ngỏ
Về mặt pháp luật, xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đã được quy định trong Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008); các nghị định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB của Chính phủ và các văn bản có liên quan, trong các thông tư hướng dẫn của các bộ… Có thể nói, pháp luật đã quy định về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nhưng hiện vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện
Về mặt thực tiễn cho thấy việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật
xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đã có nhiều tác động tính cực như: bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ tính mạng, tài sản, sức khỏe của người dân Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật cũng cho thấy những bất cập của chúng so với đòi hỏi của cuộc sống, ý thức pháp luật của người dân còn thấp… Vì vậy, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chưa thật sự phát huy được vai trò là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời những VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Từ những lí do trên, nghiên cứu đề tài “Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lí luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện” là hết sức cần thiết và cấp bách Việc nghiên cứu tập trung vào cơ sở lí luận và thực tiễn về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, đánh giá những thành tựu, phân tích những bất cập và các nguyên nhân, trên
cơ sở đó kiến nghị phương hướng và các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đáp ứng các yêu cầu trong tình hình hiện nay ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn VPHC và xử lí VPHC đã và đang được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học Các tác giả đều xem xét vấn đề dưới các góc độ riêng của mình Điển hình là các công trình nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện các quy định pháp luật về hình thức XPVPHC” của tác giả Nguyễn Trọng Bình (năm 2000) Trong luận văn này, tác giả nêu các hình thức xử phạt VPHC được đề cập trong các văn bản pháp luật; những ưu điểm và hạn chế của chúng khi áp dụng trong thực tiễn
và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
Trang 8Luận văn thạc sỹ luật học “Thẩm quyền xử lí VPHC” của tác giả Nguyễn Thị Thủy (năm 2001) đi sâu phân tích thực trạng pháp luật về thẩm quyền của các chủ thể được Xử lí VPHC và nêu ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lí VPHC
Luận văn thạc sỹ luật học “Một số vấn đề về VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực quản lí, sử dụng đất đai” của tác giả Trịnh Mai Huyền (năm 2002) tập trung phân tích những vấn đề xoay quanh VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực hẹp là quản lí và sử dụng đất đai
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về xử lí hành chính với người chưa thành niên” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (năm 2003) đề cập những nguyên tắc, thực trạng pháp luật về xử lí VPHC đối với người chưa thành niên và đề ra giải pháp hoàn thiện;…
Ngoài ra còn có các bài viết trên Tạp chí luật học như: “Bàn về xử lí VPHC” của PTS Trần Minh Hương, số 4/1999; “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC” của ThS Lê Vương Long, số tháng 9/2003; “Về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt VPHC” của ThS Trần Thị Hiền, số tháng 9/2003; “Thủ tục xử phạt VPHC” của ThS Bùi Thị Đào, số tháng 9/2003; “Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xử lí VPHC” của TS Trần Minh Hương, số 5/2005…
Những công trình này tuy có đề cập các góc độ khác nhau của vấn đề
xử lí VPHC cũng như pháp luật xử lí VPHC nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB Qua đó khẳng định tính cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài này nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện phát luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, đáp ứng yêu cầu quản lí nhà nước, bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân
3 Phạm vi nghiên cứu
VPHC và pháp luật xử lí VPHC là những vấn đề có nội dung vô cùng phong phú và phức tạp, nhất là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay Trong khuôn khổ của đề tài luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lí luận cơ bản và những nét khái quát, có tính điển hình về thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh
Trang 9vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê…
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tìm hiểu các quan điểm, quy định của pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; khái quát hoá, rút ra những đặc trưng về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Từ đó, luận văn nêu các kết luận và kiến nghị phù hợp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
- Phương pháp thống kê được sử dụng để liệt kê hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB để có những đánh giá và kết luận thích hợp về thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Dự trên cơ sở lí luận khoa học và thực tiễn, luận văn nhằm mục đích xác định phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay
Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận cơ bản về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB như: khái niệm pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; đặc điểm của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; vai trò của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB; các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB;
- Phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB hiện nay, những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó
- Đề xuất những kiến nghị về phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Có thể nói đây là công trình khoa học đầu tiên (dưới hình thức luận văn
Trang 10thạc sĩ luật học) nghiên cứu một cách hệ thống về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam
- Luận văn đã bước đầu xây dựng được khái niệm pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, làm sáng tỏ những nội dung có liên quan để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lí luận
Chương 2 Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Yêu cầu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật xử
lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam
Trang 11Chương 1
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
1.1.1 Khái niệm GTĐB
Có thể nói rằng giao thông xuất hiện cùng với xã hội loài người, bởi lẽ việc đi lại, di chuyển từ nơi này đến nơi khác là loại hoạt động cơ bản nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của con người Theo tiến trình phát triển của xã hội, giao thông ngày càng văn minh, hiện đại hơn (và cũng phức tạp hơn) đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, càng phong phú, đa dạng của xã hội Giao thông là phạm trù rộng lớn, trong đó bao hàm cả các điều kiện, cơ sở vật chất-kĩ thuật và các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại của người dân Xét về mặt xã hội, có thể quan niệm giao thông là tổng thể các quan hệ
xã hội (quan hệ giữa người với người) hình thành trên các lĩnh vực khác nhau của giao thông như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, hàng hải, đường thủy nội địa…
Trong lịch sử phát triển giao thông, GTĐB là lĩnh vực có truyền thống lâu đời nhất Đây được coi là lĩnh vực giao thông ra đời sớm nhất, nó gắn liền với đời sống con người trải qua các giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay và sẽ ngày càng phát triển GTĐB là toàn bộ hệ thống các cơ sở, điều kiện vật chất-
kĩ thuật cũng như các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại bằng
đường bộ (đường đi trên đất liền, dùng cho người đi bộ và cho xe cộ - nói khái quát” [44, tr 357] của người dân Về mặt vật chất-kĩ thuật, “đường bộ”
là hệ thống giao thông gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà
đường bộ… được triển khai trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia (vùng đất liền) Đường bộ là hệ thống giao thông thống nhất giữa các vùng, miền, các tỉnh, thành phố (liên tỉnh) và trong nội bộ khu vực hành chính, dân cư (liên huyện, quận, xã, phường, thôn, xóm…) Đường bộ có ba loại đường là đường chính, đường nhánh và đường gom (đường để gom hệ thống đường giao thông nội bộ của các khu đô thị, công nghiệp, kinh tế, dân cư, thương mại - dịch vụ và các đường khác vào đường chính hoặc vào đường nhánh trước khi đấu nối vào đường chính) Mạng lưới đường bộ được phân chia thành sáu hệ
Trang 12thống là quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng Trong điều kiện tăng cường mở cửa hội nhập quốc tế như hiện nay, hệ thống đường bộ quốc gia (nội địa) còn được kết nối với hệ thống đường bộ liên quốc gia (quốc tế), tạo thành mạng lưới đường bộ liên thông giữa các khu vực địa lí, các châu lục trên thế giới
GTĐB là khái niệm rộng hơn khái niệm “đường bộ”, bởi lẽ ngoài
“đường bộ”, GTĐB còn bao gồm những yếu tố khác thuộc công trình đường
bộ như nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường,
kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác và các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng GTĐB như bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ [12, khoản
2, 3, 4 Điều 3]
Khái niệm GTĐB còn được nhìn nhận từ góc độ “đất của đường bộ”, tức là phần đất trên đó các công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ (hành lang an toàn đường bộ) để quản lí, bảo trì, bảo
vệ công trình đường bộ Thậm chí về giới hạn không gian, GTĐB còn được triển khai đến phạm vi độ cao nhất định gọi là “khổ giới hạn của đường bộ” Đó là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, bến phà, hầm đường bộ để các xe kể cả hàng hoá xếp trên
xe đi qua được an toàn
GTĐB cũng được tiếp cận từ các yếu tố tham gia hoạt động giao thông
và quản lí hoạt động giao thông Đó là các yếu tố con người như người tham gia giao thông (người đi bộ, người điều khiển phương tiện giao thông, người điều khiển dẫn dắt súc vật), người điều khiển giao thông (cảnh sát giao thông; người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông, ở bến phà, tại cầu đường bộ đi chung với đường sắt), hành khách (người được chở trên phương tiện vận tải hành khách đường bộ, có trả tiền): các yếu tố vật chất-kĩ thuật như các phương tiện tham gia giao thông (phương tiện giao thông, xe máy chuyên dùng); hàng hoá, hành lí… Đó còn là các cơ quan có thẩm quyền quản lí GTĐB như cơ quan thực hiện chức năng quản lí nhà nước chuyên ngành thuộc Bộ giao thông vận tải; cơ quan chuyên môn
Trang 13thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Trong các hoạt động kinh tế-xã hội liên quan đến GTĐB thì vận tải đường bộ (sử dụng phương tiện giao thông để vận chuyển người, hàng hoá) là hoạt động quan trọng nhất, nó đóng vai trò ngày càng quan trọng, phục vụ đắc lực cho tiến trình phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân
Từ góc độ xã hội có thể thấy GTĐB bao gồm tổng thể các quan hệ xã hội liên quan đến việc thực hiện các hoạt động giao thông trên đường bộ Đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong những quá trình và hoạt động sau:
- Xác định và thực hiện các quy tắc giao thông;
- Đảm bảo kết cấu hạ tầng giao thông;
- Sự tham gia giao thông của người và phương tiện;
- Hoạt động vận tải đường bộ;
- Hoạt động quản lí nhà nước về GTĐB
1.1.2 Khái niệm VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
1.1.2.1 Khái niệm VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Theo quan niệm hiện nay của các nhà luật học thì VPHC nói chung là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật quản lí nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật thì bị xử phạt hành chính Đó cũng là quan điểm chính thức của Nhà nước được thể hiện trong quy định pháp luật hiện hành (Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002; sửa đổi, bổ sung năm 2008) Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lí VPHC đã gián tiếp định nghĩa VPHC thông qua quy định về
xử phạt VPHC như sau: “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Xét về cấu trúc, cũng giống như các vi phạm pháp luật khác, VPHC gồm bốn yếu tố cấu thành là: mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và khách thể VPHC có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, do vậy trong nhiều trường hợp cần xác định rõ ranh giới giữa VPHC và tội phạm để việc ban hành và áp dụng pháp luật được khách quan, chính xác Ngoài ra, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nếu VPHC có thể do cá nhân, tổ
Trang 14chức thực hiện thì chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân
Tuy có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm nhưng VPHC lại là loại vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến trên nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà chúng ta đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường, cải cách, mở cửa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế Những vi phạm này gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, cá nhân cũng như cộng đồng
Nếu sự phân chia các lĩnh vực hoạt động kinh tế-xã hội là căn cứ để phân chia các lĩnh vực quản lí nhà nước thì đó cũng là căn cứ phân chia các VPHC thành những loại khác nhau Với quan niệm như vậy có thể hiểu VPHC trong lĩnh vực GTĐB là loại VPHC xảy ra trong quá trình hoạt động GTĐB Nói cách khác đó là các vi phạm (bằng hành động hoặc không hành động trái với) những quy định của pháp luật GTĐB VPHC trong lĩnh vực GTĐB gồm 6 nhóm vi phạm sau [28]:
+ Nhóm thứ nhất - Các vi phạm quy tắc GTĐB: Các quy tắc GTĐB bao
gồm tổng thể các quy tắc chung và các quy tắc về hệ thống báo hiệu đường
bộ, chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ; tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe; sử dụng làn đường; vượt xe; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường bộ; dừng, đỗ xe trên đường phố; xếp hàng hoá trên phương tiện GTĐB; quyền ưu tiên của một số loại xe; qua phà, qua cầu phao; nhường đường tại nơi đường giao nhau; đi trên đoạn đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt, cầu đường bộ đi chung với đường sắt; giao
thông trên đường cao tốc, trong hầm đường bộ; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc; người điều khiển, người ngồi trên xe
mô tô, xe gắn máy; người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác; người đi bộ; người khuyết tật, người già yếu tham gia giao thông; người dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động văn hoá, thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ; một số hành vi bị cấm như họp chợ,
tụ tập đông người trái phép, thả rông súc vật ; sử dụng đường phố và các hoạt động khác trên đường phố [12, Chương II]
+ Nhóm thứ hai - Các vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB: Quy
định về kết cấu hạ tầng GTĐB gồm các quy định về phân loại đường bộ; đặt tên, số hiệu đường bộ; tiêu chuẩn kĩ thuật đường bộ; quỹ đất dành cho kết cấu
Trang 15hạ tầng giao thông đường bộ; phạm vi đất dành cho đường bộ; bảo đảm yêu cầu kĩ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ; công trình báo hiệu đường bộ; đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; thi công công trình trên đường bộ đang khai thác; quản lí, bảo trì đường bộ; xây dựng đoạn đường giao nhau cùng mức giữa đường bộ với đường sắt; bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí
đường bộ; bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ [12, Chương III] + Nhóm thứ ba - Các vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB:
Các quy định về phương tiện tham gia GTĐB bao gồm: Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới; cấp, thu hồi đăng kí và biển số xe cơ giới; quy định
về chất lượng an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia GTĐB; điều kiện tham gia giao thông của xe thô sơ; điều kiện tham gia giao thông của xe máy chuyên dùng [12, Chương IV]
+ Nhóm thứ tư - Các vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB: Các quy định của pháp luật về người điều khiển phương tiện
tham gia GTĐB gồm các quy định về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông; giấy phép lái xe; tuổi, sức khoẻ của người lái xe; đào tạo lái xe, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông; điều kiện của người điều khiển xe thô sơ tham gia giao thông [12, Chương V]
+ Nhóm thứ năm - Các vi phạm quy định về vận tải đường bộ: Các quy
định của pháp luật về vận tải đường bộ gồm các quy định về hoạt động vận tải đường bộ và hoạt động hỗ trợ vận tải đường bộ Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ phải tuân theo các quy định chung và quy định về thời gian làm việc của người lái xe ô tô; điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; vận tải hành khách bằng ô tô, nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô; trách nhiệm của người lái xe và nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải hành khách; vận tải hàng hoá bằng xe ô tô; nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải hàng hoá, người thuê vận tải hàng hoá, người nhận hàng; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; vận chuyển động vật sống; vận chuyển hàng nguy hiểm; hoạt động vận tải đường bộ trong đô thị; vận chuyển hành khách, hàng hoá bằng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự; vận tải đa phương thức [12, Chương VI]
Trang 16+ Nhóm thứ sáu - Các vi phạm khác liên quan đến GTĐB: Những VPHC
này trái với các quy định của pháp luật có liên quan đến GTĐB hoặc xâm phạm các điều cấm của pháp luật GTĐB Đó là các hành vi như sản xuất, lắp ráp trái phép phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; sản xuất, bán biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trái phép; chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến GTĐB; nhân viên phục vụ trên xe buýt, xe vận chuyển hành khách theo tuyến cố định, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng, xe vận chuyển khách du lịch vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông; hành khách đi xe vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông; người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả
xe ô tô chở hành khách); đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép; cản trở việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ; điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gắn biển số nước ngoài; điều khiển phương tiện đăng kí hoạt động trong khu kinh tế thương mại đặc biệt; vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe; vi phạm quy định về hoạt động kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường
xe cơ giới [28, Điều 32 - 42]
1.1.2.2 Khái niệm xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cộng đồng, hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa các vi phạm pháp luật được xác định thuộc trách nhiệm của Nhà nước Một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng của Nhà nước là xử lí vi phạm pháp luật theo nguyên tắc mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh Như chúng ta đều biết: xử lí vi phạm pháp luật là hoạt động áp dụng pháp luật của Nhà nước, trong đó cơ quan, người có thẩm quyền xem xét vụ việc vi phạm và các quy định có liên quan của pháp luật, đưa ra quyết định về trách nhiệm pháp lí và chế tài nhằm giải quyết vụ việc vi phạm pháp luật Khác với hoạt động xử lí vi phạm pháp luật ở lĩnh vực tư pháp (xử lí tội phạm),
xử lí VPHC là hoạt động thuộc phạm trù quản lí nhà nước, được tiến hành chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm xử lí VPHC bao gồm hai hình thức, đó là áp dụng biện pháp xử phạt hành chính và biện pháp xử lí hành chính khác Biện pháp xử lí hành chính khác là các biện pháp xử lí hành
Trang 17chính được áp dụng với một số đối tượng (cá nhân công dân Việt Nam) có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Theo quy định hiện hành, các biện pháp xử lí hành chính khác bao gồm bốn biện pháp là: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh Trong quá trình nghiên cứu pháp điển hoá các quy định pháp luật xử lí VPHC hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng không nên đưa các quy định về biện pháp xử lí hành chính khác như trên vào chung với các biện pháp xử phạt VPHC trong cùng một đạo luật xử lí (xử phạt) VPHC, vì đó là những việc có bản chất hoàn toàn khác nhau Thậm chí, cũng không nên đưa cả các biện pháp cưỡng chế hành chính thông thường khác như buộc ra khỏi nhà có nguy cơ sụp
đổ, buộc sơ tán khỏi vùng nguy hiểm… vào đạo luật này [5, tr 55] Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng nên loại bỏ các quy định về biện pháp xử lí hành chính khác đối với các vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi đạo luật về xử phạt vi phạm hành chính Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng trong điều kiện hiện tại của Việt Nam vẫn cần phải quy định các biện pháp xử lí hành chính khác trong đạo luật xử lí VPHC [38, tr 7]
Trong xử lí VPHC thì biện pháp xử phạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ xử phạt hành chính là biện pháp cơ bản, mang tính đặc trưng và phổ biến của Nhà nước áp dụng cho loại vi phạm pháp luật này Thông qua việc
xử phạt VPHC, Nhà nước đảm bảo được trật tự, kỉ cương của xã hội; quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng; ngăn ngừa sự tái diễn của các VPHC Hoạt động xử phạt VPHC phải tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định Đó là sáu nguyên tắc sau:
- Một là: Mọi VPHC phải được phát hiện kịp thời và bị đình chỉ ngay
Việc xử lí phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả
do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng pháp luật;
- Hai là: Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi
VPHC do pháp luật quy định (tại văn bản luật của Quốc hội; pháp lệnh của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội; nghị định của Chính phủ);
- Ba là: Việc xử phạt VPHC phải do người có thẩm quyền tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật;
- Bốn là: Mỗi hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng
Trang 18thực hiện một hành vi VPHC thì mỗi người đều bị xử phạt hành chính Một người thực hiện nhiều hành vi VPHC thì bị xử phạt về từng hành vi VPHC;
- Năm là: Việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi
phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lí thích hợp;
- Sáu là: Không xử phạt VPHC đối với trường hợp thuộc tình thế cấp
thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc VPHC trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
là hình thức phạt chính được áp dụng đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam và cũng có thể được áp dụng như là hình thức phạt bổ sung Các hình thức phạt bổ sung được áp dụng tuỳ theo tính chất, mức độ VPHC, bao gồm: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi VPHC Ngoài các hình thức xử phạt chính và bổ sung như trên, cá nhân tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm như buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do VPHC gây ra; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện; buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại hoặc các biện pháp khác do pháp luật quy định
Trong quản lí nhà nước về GTĐB, xử lí (xử phạt) VPHC là hoạt động áp dụng pháp luật nhằm giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật GTĐB, cụ thể
là những VPHC của các đối tượng là cá nhân, tổ chức thực hiện trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam trong lĩnh vực GTĐB (như đã đề cập trên) Người chưa
Trang 19thành niên thực hiện hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB thì bị xử lí theo quy định chung tại Điều 7 Pháp lệnh xử lí VPHC
Nhìn tổng thể, xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có một số điểm riêng theo yêu cầu của quản lí nhà nước, đấu tranh chống và phòng ngừa VPHC trong lĩnh vực này Ngoài hình thức cảnh cáo, phạt tiền, các hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả VPHC theo quy định chung, các hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả VPHC trong lĩnh vực GTĐB đều có nét đặc thù riêng Chẳng hạn, các hình thức phạt bổ sung như tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn, không thời hạn; tước quyền sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB; tịch thu giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, giấy phép lái xe bị tẩy xoá; tịch thu sổ chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường; tịch thu biển số không đúng quy định, không do cơ quan có thẩm quyền cấp; tịch thu phương tiện tham gia GTĐB; đình chỉ hoạt động, buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất phương tiện khỏi lãnh thổ Việt Nam; buộc đưa phương tiện quay trở lại khu kinh tế thương mại; tịch thu hàng hoá cấm lưu thông; tịch thu hoá chất độc hại, chất dễ cháy, nổ, hàng nguy hiểm, cấm lưu thông mang theo trên xe chở khách; đình chỉ hoạt động kinh doanh vận tải cho đến khi khắc phục xong vi phạm; tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh vận tải cho tới khi thực hiện đúng các điều kiện về kinh doanh vận tải, các cam kết về chất lượng dịch vụ vận tải Các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc phải dỡ phần hàng hoá vượt quá giới hạn hoặc phải xếp lại hàng hoá theo đúng quy định; buộc phải tháo dỡ công trình trái phép; tháo dỡ dây, các vật cản; thu dọn vật liệu, rác thải, đồ vật chiếm dụng mặt đường; thu dọn đinh, vật sắc nhọn và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra; buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hoá và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra; buộc phải xây dựng lại bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm thu phí đường bộ theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, bảo đảm tiêu chuẩn kĩ thuật; phải bố trí phương tiện khác để chở
số hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện; buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong giấy đăng kí xe hoặc thực hiện
Trang 20đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe… Bên cạnh việc áp dụng hình thức phạt chính, việc áp dụng các hình thức phạt bổ sung cũng như các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm nêu trên đối với cá nhân, tổ chức VPHC tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm thể hiện rõ những đặc điểm riêng của hoạt động xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB theo yêu cầu của quản lí nhà nước và công cuộc đấu tranh chống, khắc phục hậu quả, phòng ngừa VPHC trong lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay
Thuộc nội hàm khái niệm xử lí VPHC còn có vấn đề thẩm quyền và thủ tục xử phạt Ngoài các đặc điểm của hoạt động xử lí VPHC nói chung, trong việc xử lí đối với các VPHC trong lĩnh vực GTĐB, vấn đề thẩm quyền và thủ tục xử phạt còn mang những nét riêng
Về thẩm quyền xử phạt: Trước hết cần xác định các chủ thể có thẩm quyền xử phạt VPHC, tức là những chức danh, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật về hình thức xử phạt, mức phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả VPHC Vấn đề đặt ra tiếp theo là phân định thẩm quyền xử phạt giữa các cơ quan, người có thẩm quyền theo phạm vi lãnh thổ và loại vụ việc VPHC đồng thời xác định cụ thể thẩm quyền áp dụng hình thức phạt, mức phạt của từng cơ quan, chức danh Theo đó, chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp, trưởng công an các cấp (trừ công an viên cấp xã) có thẩm quyền xử phạt đối với các VPHC trong lĩnh vực GTĐB xảy ra trong phạm vi quản lí của địa phương mình Đối với các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của người và phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ thì cảnh sát giao thông có thẩm quyền
xử phạt Đối với một số loại VPHC khác trong lĩnh vực GTĐB, thẩm quyền xử phạt thuộc về các lực lượng và chức danh theo quy định cụ thể của pháp luật như cảnh sát trật tự, cảnh sát phản ứng nhanh, cảnh sát cơ động, cảnh sát quản
lí hành chính về trật tự xã hội, trưởng công an cấp xã; thanh tra đường bộ Thẩm quyền xử phạt VPHC (về hình thức phạt, mức phạt) trong lĩnh vực GTĐB cũng được phân định rõ cho chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp (từ cấp
xã đến cấp tỉnh); lực lượng công an nhân dân (chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ; đội trưởng, trạm trưởng; trưởng công an cấp xã, trưởng công an cấp huyện; trưởng phòng cảnh sát giao thông, trưởng phòng cảnh sát trật tự, trưởng phòng cảnh sát quản lí hành chính về trật tự xã hội thuộc công
an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động
Trang 21từ cấp đại đội trở lên; giám đốc công an cấp tỉnh; Cục trưởng Cục cảnh sát GTĐB và đường sắt, Cục trưởng Cục cảnh sát quản lí hành chính về trật tự xã hội); thanh tra đường bộ (thanh tra viên đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra sở giao thông vận tải, Chánh Thanh tra Tổng cục đường bộ Việt Nam; Chánh Thanh tra Bộ giao thông vận tải)
Về thủ tục xử phạt VPHC: Trong lĩnh vực GTĐB, việc xử lí các VPHC cũng phải tuân theo quy định chung gồm thủ tục ra quyết định xử phạt tại chỗ, thủ tục lập biên bản VPHC, ra quyết định xử phạt VPHC, thủ tục thi hành quyết định xử phạt VPHC; thời hiệu, thời hạn xử phạt VPHC Ngoài ra, những yếu tố có tính đặc thù của VPHC ở lĩnh vực GTĐB cũng được tính đến khi xác định thủ tục xử phạt VPHC ở lĩnh vực này Đó là các yếu tố như chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến GTĐB có mặt hay không có mặt tại nơi xảy ra hành vi vi phạm; giấy tờ, phương tiện của người điều khiển phương tiện vi phạm bị tạm giữ; VPHC bị phát hiện từ việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ (ghi lại hình ảnh phương tiện và biển
số đăng kí của phương tiện vi phạm)
Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB liên quan đến hai loại hoạt động của Nhà nước thống nhất với nhau là hoạt động lập pháp và hoạt động áp dụng pháp luật (thuộc nội dung hoạt động quản lí nhà nước – hành pháp) Kết quả hoạt động lập pháp tạo cơ sở (căn cứ) cho hoạt động áp dụng pháp luật (ở đây là xử lí VPHC) Ngược lại, hoạt động áp dụng pháp luật có chức năng hiện thực hoá kết quả của hoạt động lập pháp, làm cho pháp luật có hiệu lực và giá trị trên thực tế đời sống xã hội
1.1.3 Định nghĩa pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Để quản lí xã hội theo trật tự nhất định, Nhà nước ban hành pháp luật
Theo đó, pháp luật được hiểu là: “… hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” [41, tr 66] Hay là “… hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu
về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển
Trang 22bền vững của xã hội” [10, tr 288] Như vậy, về bản chất, pháp luật là các quy
tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm tính ổn định, phát triển bền vững của xã hội Khái niệm pháp luật có thể được nhìn nhận dưới góc
độ nội dung (nội dung điều chỉnh những quan hệ xã hội) và hình thức (hình thức thể hiện nội dung đó) Nội dung và hình thức của pháp luật có mối quan
hệ biện chứng, nội dung của pháp luật được chuyển tải dưới những hình thức nhất định Ngược lại, hình thức của pháp luật phải đảm bảo thể hiện tính thống nhất, những mối liên hệ bản chất nội tại của toàn bộ nội dung pháp luật Hình thức pháp luật cũng được xem xét từ hai phương diện là hình thức cấu trúc hay kết cấu của các yếu tố tạo thành nội dung pháp luật (hình thức bên trong) và hình thức bên ngoài Hình thức bên trong của pháp luật bao gồm các nguyên tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật) Hình thức bên ngoài là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, là những cái chứa đựng nội dung các quy tắc pháp luật - quy tắc hành vi theo ý chí của Nhà nước Các hình thức bên ngoài của pháp luật còn được gọi là nguồn của pháp luật (nơi chứa đựng các quy phạm pháp luật) Ở nước ta, hình thức pháp luật được thừa nhận chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật - văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định, trong đó có chứa
đựng các quy phạm pháp luật Các nhà luật học cho rằng “hệ thống pháp luật
là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định” [41, tr 401] Hệ thống pháp luật được hiểu là chỉnh thể thống
nhất, bao gồm cả cấu trúc bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp
luật (hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật) Theo đó, “Hệ thống cấu trúc của pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật, được quy định một cách khách quan bởi các điều kiện kinh tế-xã hội, biểu hiện ở sự phân chia hệ thống pháp luật thành các bộ phận cấu thành phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của chúng và giữa các bộ phận ấy
có mối quan hệ qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau” [10, tr 459] Từ góc
nhìn cấu trúc bên trong có thể nhận thấy hệ thống pháp luật được chia ra thành
Trang 23các ngành luật, các ngành luật lại được chia ra thành các chế định pháp luật, các chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật (quy tắc xử mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện)
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự do luật định Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được biểu hiện qua các hình thức (loại) văn bản theo quy định, có hiệu lực pháp lí từ cao đến thấp gồm: Hiến pháp, luật (bộ luật, luật), nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị-xã hội; thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa
bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân
Cần nhận dạng văn bản quy phạm pháp luật để phân biệt với văn bản bản
áp dụng pháp luật - văn bản cá biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vụ việc cụ thể) Qua đó có thể nói rằng văn bản quy phạm pháp luật cũng chính là hình thức biểu hiện của ngành luật, chế định luật và các quy phạm pháp luật Kết hợp ý nghĩa cấu trúc bên trong của
pháp luật và hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, có thể nhận thức pháp luật
“… là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định trong đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước” [42].
Nhìn từ góc độ đối tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội
và sự phân chia chúng thành các lĩnh vực khác nhau, pháp luật là thể thống nhất các ngành, các lĩnh vực pháp luật Mỗi ngành, lĩnh vực pháp luật có đối
Trang 24tượng điều chỉnh riêng và có phương pháp điều chỉnh mang tính đặc thù Các ngành, lĩnh vực pháp luật là hệ thống những quy phạm pháp luật, chế định luật có mối liên hệ hữu cơ và được thể hiện trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như đã đề cập trên Xử lí VPHC là một trong những lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, gồm tập hợp những quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh Tổng thể các quy phạm pháp luật được thể hiện trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội đó gọi là pháp luật xử lí VPHC Pháp luật xử lí VPHC bao gồm các quy định về VPHC, nguyên tắc xử lí, hình thức xử lí, thẩm quyền, thủ tục xử lí VPHC Đối với tội phạm, có hai ngành luật liên quan trực tiếp đến việc xử lí tội phạm (luật hình sự quy định hành vi bị coi là tội phạm và hình phạt tương ứng; luật
tố tụng hình sự quy định thẩm quyền, thủ tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự) Đối với VPHC, pháp luật xử lí VPHC vừa quy định hành vi VPHC, các hình thức, mức xử phạt vừa quy định thẩm quyền, thủ tục tiến hành xử lí vụ việc VPHC
Từ những nhận thức chung về khái niệm pháp luật và pháp luật xử lí VPHC như trên có thể rút ra định nghĩa sau đây về pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB:
Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định, trong đó quy định VPHC, thẩm quyền, thủ tục
lí nhà nước) và các quy phạm riêng về các VPHC trong lĩnh vực GTĐB Vì vậy, nói đến pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chúng ta cần hiểu nó bao gồm các quy phạm phần chung và các quy phạm cụ thể áp dụng riêng đối
Trang 25cụ thể, nghĩa là các quy tắc GTĐB được quy định trong Luật chính là khách thể của các VPHC trong lĩnh vực này Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2007, 2008) quy định những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc về xử lí VPHC nói chung như: nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt, các hình thức xử phạt, biện pháp ngăn chặn, biện pháp khắc phục hậu quả VPHC và biện pháp
xử lí VPHC khác, cơ quan có thẩm quyền xử lí, trách nhiệm đấu tranh chống
và phòng ngừa VPHC… Pháp lệnh xử lí VPHC là văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chung về việc xử lí VPHC Đây cũng chính là cơ sở cho việc quy định chi tiết, cụ thể hoá đối với việc xử lí VPHC ở mỗi lĩnh vực chuyên ngành quản lí nhà nước, trong đó có GTĐB
Việc xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật như nghị quyết, nghị định của Chính phủ; các thông tư, quyết định của bộ quy định chi tiết Luật GTĐB chỉ quy định những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc không thể quy định chi tiết được những vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực GTĐB GTĐB là một lĩnh vực cụ thể trong hoạt động giao thông vận tải, thường xuyên có nhiều biến đổi theo quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ, đơn giản hơn, có thể dễ dàng sửa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu linh hoạt, mềm dẻo, cơ động trong hoạt động quản lí nhà nước nói chung và quản lí hoạt động GTĐB nói riêng Đây là sự bổ sung rất cần thiết cho Luật GTĐB Do vậy, pháp luật xử lí VPHC phải được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành bởi Chính phủ và các bộ ngành đảm bảo phù hợp với những yêu cầu của quản lí nhà nước trong lĩnh vực GTĐB Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ ban hành những văn bản chứa đựng các quy phạm
Trang 26pháp luật mang tính nguyên tắc còn để phù hợp với đối tượng quản lí, đáp ứng yêu cầu điều hành của “hành pháp” thì Chính phủ, các bộ ngành có liên quan như Bộ giao thông vận tải, Bộ công an… phải cụ thể hoá các quy định trong các văn bản luật (luật, pháp lệnh)
Đặc điểm này của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không những có ý nghĩa chi phối đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật
mà còn đối với cả thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật Nhận thức rõ đặc điểm chung của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là điều kiện đảm bảo cho tính thống nhất của pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa các VPHC nói chung và các VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng
xử lí VPHC, thủ tục xử lí VPHC Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội trong lĩnh vực GTĐB là xử lí VPHC nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và trừng phạt các hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB Đặc điểm riêng của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB trước hết thể hiện ở đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nó và do tính đặc thù của các VPHC và các quan hệ xã hội có liên quan ở lĩnh vực này (như đã phân tích ở phần trên) chi phối Mặt khác, việc áp dụng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chủ yếu do các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành thực hiện
Về bản chất, xử lí VPHC là loại hoạt động quản lí nhà nước, việc áp dụng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chủ yếu do các cơ quan quản lí
Trang 27thực hiện hàng ngày nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống Hơn nữa,
có nhiều loại chủ thể áp dụng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB do VPHC trong lĩnh vực này rất đa dạng, phức tạp xảy ra ở nhiều địa bàn, khu vực khác nhau Vì thế, pháp luật cũng quy định cho các cơ quan, lực lượng khác nhau như uỷ ban nhân dân, công an nhân dân, thanh tra giao thông; các chức danh quản lí nhà nước khác nhau như chiến sĩ cảnh sát giao thông, trưởng công an các cấp, chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp, thanh tra giao thông… được áp dụng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Nhận thức đúng những đặc điểm riêng của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB (được thể hiện qua các quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt chính, phạt bổ sung; các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm; thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt…) có ý nghĩa định hướng cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như việc xử lí VPHC được đúng đắn, phù hợp với yêu cầu quản lí nhà nước ở lĩnh vực này Như vậy, nghiên cứu những đặc điểm chung và đặc điểm riêng của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tiễn đấu tranh chống và phòng ngừa các VPHC
1.3 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
Vai trò của pháp luật là tác dụng hay ảnh hưởng (nói một cách khái quát) của pháp luật đối với nhà nước, xã hội và con người Những tác dụng hay ảnh hưởng này được hiểu theo nghĩa là tác dụng hay ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của các đối tượng chịu sự tác dụng, ảnh hưởng Qua đó có thể hiểu vai trò của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là tác dụng của hệ thống các quy phạm pháp luật có liên quan đối với hoạt động quản lí nhà nước nói chung và hoạt động xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng; tác dụng đối với việc đảm bảo các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động GTĐB
1.3.1 Tạo khung pháp luật cho hoạt động quản lí nhà nước trong lĩnh vực GTĐB
Trong đời sống xã hội, đời sống nhà nước, pháp luật có vai trò rất quan
Trang 28trọng, nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành của
xã hội Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, là phương tiện để Nhà nước quản lí kinh tế-xã hội Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới và tạo môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia Là một bộ phận của pháp luật nói chung, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng có vai trò rất quan trọng trong đời sống nhà nước, đời sống pháp luật
Trước hết, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực GTĐB Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện dựa trên các điều kiện kinh tế-xã hội khách quan Nguyên tắc của nhà nước pháp quyền là cơ quan, cán bộ công chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Do vậy để quản lí xã hội, cần phải có cái khung pháp luật trong đó xác định rõ phạm vi hợp pháp của hoạt động nhà nước Đối với hoạt động xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng vậy, cán bộ công chức, người có thẩm quyền chỉ được xử lí những hành vi mà pháp luật quy định là VPHC và phải xử lí theo trình tự, thủ tục quy định để không xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức
Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng là một trong các phương tiện để Nhà nước hình thành và định hướng các hành vi ứng xử của những người tham gia GTĐB, việc bảo đảm an toàn GTĐB; thủ tục, quy trình
xử lí những người VPHC trong lĩnh vực GTĐB Để quản lí lĩnh vực GTĐB, Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp như ban hành chính sách, pháp luật, đề
ra các quy hoạch, kế hoạch phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng… nhưng pháp luật là phương tiện có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Pháp luật về GTĐB đã thể chế hoá các chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hoá giao thông… thành những quy định có hiệu lực bắt buộc mọi người tuân theo Với điều kiện kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng giao thông còn yếu kém; ý thức pháp luật của người dân còn thấp thì pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB sẽ là cơ sở để ngăn ngừa, trừng trị kịp thời các hành vi vi phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội đúng đắn trong GTĐB Nó cũng góp phần hình thành ứng xử văn hoá, văn minh của người dân trong GTĐB Bằng việc
Trang 29quy định những hành vi vi phạm có thể bị xử phạt, pháp luật xử lí VPHC đã cho cá nhân, tổ chức thấy và tự xây dựng những hành vi đúng để không bị xử phạt nhằm bảo đảm GTĐB thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng góp phần định hướng phát triển và tạo dựng những quan hệ xã hội tốt đẹp Trên thực tế, pháp luật GTĐB ngoài chức năng phản ánh còn có tính định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực GTĐB Nhà làm luật trên cơ sở phân tích các điều kiện kinh tế-xã hội, ý thức pháp luật, thói quen của người dân và xác định những hành vi có thể gây nguy hại đến trật tự, an toàn GTĐB và quy định hình thức xử phạt Chính điều này đã tạo nên các cơ hội kinh doanh, làm
ăn hợp pháp cho người dân và góp phần bảo đảm một xã hội có trật tự, kỉ cương, an toàn và thân thiện
1.3.2 Đảm bảo các quyền của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực GTĐB
Hoạt động xử lí VPHC liên quan trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân Trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không những phải tạo cơ sở pháp lí vững chắc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước ở lĩnh vực này mà còn phải đảm bảo tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động liên quan đến lĩnh vực GTĐB Do đó, ở phương diện nhất định pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB còn là công cụ để cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Căn cứ vào các quy định của pháp luật, người dân thấy được quyền
và nghĩa vụ của mình đến đâu, thẩm quyền của cơ quan nhà nước thế nào để chấp hành, thực hiện cho đúng và có thể tự bảo vệ mình trước các hành vi vi phạm từ mọi phái, kể cả các cán bộ công chức, cơ quan có thẩm quyền
Liên quan đến lĩnh vực hoạt động GTĐB có nhiều quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cần được bảo đảm Đó là các quyền tự do đi lại, tham gia giao thông, quyền tự do kinh doanh (vận tải hành khách, hàng hoá…) và các quyền tự do khác Việc đòi hỏi người thi hành pháp luật phải thực hiện đúng theo nội dung các quy định, những giới hạn, phạm vi mà pháp luật đã định ra là nghĩa vụ của cơ quan, người có thẩm quyền nhưng đó cũng chính là quyền yêu cầu của cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động GTĐB
Trang 30Vấn đề đặt ra ở đây là hiệu lực quản lí nhà nước được đảm bảo, các VPHC được ngăn chặn, xử lí kịp thời, nghiêm minh, trật tự, an toàn giao thông được duy trì nhưng đồng thời các quyền, lợi ích hợp của cá nhân, tổ chức cũng phải được đảm bảo, không vì việc xử lí VPHC mà xâm phạm các quyền con người, quyền công dân Pháp luật xử lí VPHC phải đảm bảo kết hợp hài hoà các quyền và lợi ích giữa Nhà nước, cộng đồng, cá nhân, tổ chức, qua đó thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung trong đó có lĩnh vực GTĐB nói riêng Thực tế cho thấy rất nhiều ý kiến xác đáng của người dân đã được tiếp thu trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp những quy định của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không rõ ràng, chuẩn xác, minh bạch dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ Trong trường hợp đó, người dân có quyền lên tiếng bảo vệ mình theo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được Nhà nước
cam kết tại các quy định của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
1.4 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT XỬ
LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật hay mỗi ngành luật, lĩnh vực pháp luật, chế định pháp luật được đánh giá dựa trên những tiêu chí khác nhau Tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là những dấu hiệu thể hiện các yêu cầu khách quan đặt ra đối với hệ thống các quy phạm pháp luật ở lĩnh vực này, qua đó có thể xác định được chất lượng, hiệu quả, sự phù hợp của pháp luật với vai trò, nhiệm vụ, mục tiêu điều chỉnh của nó Các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được xác định dựa trên cơ sở tổng hợp các yêu cầu chung và yêu cầu riêng đối với lĩnh vực pháp luật này Từ đó, chúng ta có thể thấy các dấu hiệu thể hiện các yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lí của pháp luật là những dấu hiệu quan trọng nhất Yêu cầu tính hợp pháp, hợp lí của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thể hiện cụ thể, phù hợp với những nhu cầu khách quan về sự hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự điều chỉnh pháp luật ở lĩnh vực này
1.4.1 Đảm bảo tính hợp pháp
Tính hợp pháp của pháp luật là thuộc tính thể hiện sự phù hợp của văn
Trang 31bản quy phạm pháp luật về hình thức, thẩm quyền ban hành, thủ tục xây dựng, nội dung văn bản và sự vi phạm những quy định đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị pháp lí của văn bản [4, tr 41]
Tính hợp pháp của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là sự phù hợp của những quy phạm pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB với các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành Đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nó đòi hỏi pháp luật xử
lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải tuân thủ tuyệt đối pháp luật do cấp trên ban hành cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện, cụ thể:
- Thẩm quyền ban hành pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB Pháp luật về lĩnh vực này phải được ban hành bởi những chủ thể được pháp luật trao quyền Nếu pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không được ban hành đúng thẩm quyền, nó bị coi là trái pháp luật và không có hiệu lực áp dụng Ví dụ, Điều 2 Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 2007, 2008) quy định: “Chính phủ quy định hành vi VPHC, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC trong các lĩnh vực quản lí nhà nước” Vì vậy, ở góc độ hẹp, hành vi
VPHC, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải do Chính phủ quy định Nếu các bộ, ngành,
uỷ ban nhân dân các cấp ban hành quy định về hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB, các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả là không hợp pháp về thẩm quyền ban hành Khi đó, những văn bản này sẽ không có hiệu lực áp dụng trên thực tế dù nó có thể hợp lí
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có nội dung không được trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Trong pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được phép tạo ra những quy phạm, những văn bản có nội dung không đúng với pháp luật của cấp trên Ví dụ, đối với lĩnh vực xử lí VPHC thì Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội là văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong xử lí VPHC nói chung, trong đó quy định về đối tượng bị xử phạt, chủ thể có thẩm quyền xử phạt, hình thức, trình tự, thủ tục xử phạt VPHC Do đó, nghị định do Chính phủ ban hành về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB quy định hình thức, mức xử phạt
Trang 32cụ thể không được vượt quá mức mà Pháp lệnh xử lí VPHC cho phép; Nghị định cũng không được phép tạo ra thủ tục mới hay trao quyền xử phạt cho các chủ thể không được Pháp lệnh quy định Khi xây dựng và ban hành các quy định cụ thể của pháp luật xử lí VPHC không được hạn chế hay loại trừ các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và luật ghi nhận
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải được ban hành đúng trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định Pháp luật trong mọi lĩnh vực cần phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình thức nhất định
do pháp luật quy định nhằm bảo đảm tính trật tự, thống nhất của hệ thống pháp luật và phát huy được trí tuệ của nhân dân cho quá trình hoàn thiện pháp luật Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng không nằm ngoài yêu cầu trên Các bộ ngành, cơ quan nhà nước ở địa phương không được tự ý ban hành các văn bản quy định về hành vi VPHC, hình thức xử phạt, mức xử phạt với bất cứ lí do nào Trong quá trình nghiên cứu pháp điển hoá pháp luật xử lí VPHC hiện nay có ý kiến cho rằng để đảm bảo các quyền công dân, quyền con người trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc
tế, nên đưa việc quy định các hành vi VPHC vào thẩm quyền của Quốc hội, nên xây dựng và ban hành Bộ luật xử phạt VPHC, trong đó có quy định các hành vi VPHC, các hình thức và mức xử phạt… kiểu như Bộ luật hình sự, không nên giao việc quy định các hành vi VPHC cụ thể cho Chính phủ như pháp luật hiện hành nữa [38]
1.4.2 Đảm bảo tính hợp lí
Tính hợp lí của pháp luật là sự thể hiện và diễn đạt trong văn bản quy phạm pháp luật một cách đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu của quản lí nhà nước, sự hài hoà giữa ý chí của Nhà nước với các quy luật khách quan, những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong đó văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và phát huy giá trị, có ý nghĩa quyết định hiệu lực thực tế của văn bản [4, tr 78]
Tính hợp lí của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là sự thể hiện tính khả thi và hiệu quả về kinh tế, chính trị-xã hội, được sự đồng thuận của người dân Đây là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn của hoạt động quản lí hành chính cũng như trên cơ sở của sự kiểm chứng khoa học Vì vậy, tính hợp
lí của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cần được xem xét trên các
Trang 33khía cạnh chủ yếu sau:
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải bảo đảm được lợi ích của Nhà nước của cộng đồng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức Nếu chỉ tính đến lợi ích của Nhà nước mà đề ra những hình thức xử phạt cao, thủ tục phức tạp, rườm rà, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì pháp luật sẽ không đi vào cuộc sống Hơn nữa, VPHC trong lĩnh vực GTĐB về bản chất là vi phạm nhỏ, hậu quả không nghiêm trọng như tội phạm, nếu quy định mức xử phạt không phù hợp sẽ không bảo đảm ý nghĩa giáo dục; khi đó, pháp luật sẽ phản tác dụng, những hành vi vi phạm chưa chắc đã giảm mà lại nảy sinh nhiều tiêu cực từ những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật Tuy nhiên, nguyện vọng của nhân dân ở đây phải là nguyện vọng chính đáng để bảo đảm bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân khác chấp hành pháp luật Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không thể để bất kì ai lấy lí do này, lí do khác biện minh cho hành vi vi phạm pháp luật GTĐB mà không quy định hành vi vi phạm hay mức xử phạt tương ứng ảnh hưởng đến trật tự quản lí nhà nước Vì vậy, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB khi ban hành phải tính đến quyền lợi của Nhà nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính nhà nước Mặc dù pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là sự thể hiện ý chí của Nhà nước trong lĩnh vực này nhưng ý chí ấy phải phù hợp với hiện thực khách quan là tổng hoà các điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta trong từng thời kì Đó chính
là trình độ phát triển kinh tế-hội, cơ sở hạ tầng GTĐB; mức thu nhập, tập quán và ý thức chấp hành pháp luật giao thông đường bộ của người dân Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không thể đi quá xa điều kiện kinh tế-
xã hội hiện tại của đất nước và nhận thức của người dân
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải được thể hiện bằng những văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng, dễ hiểu, các thuật ngữ pháp lí phải chính xác, không được đa nghĩa Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chủ yếu quy định đối tượng, chủ thể, hành vi vi phạm, hình thức, thủ tục XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân Vì vậy, nó phải rõ ràng, dễ hiểu để người dân có thể
Trang 34hiểu và tuân thủ đúng quy định của pháp luật Nếu văn phong tối nghĩa, không rõ ràng, đa nghĩa, pháp luật xử lí VPHC sẽ không được thực thi thống nhất, nghiêm chỉnh hoặc có thể phát sinh những tiêu cực ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân và tính nghiêm minh của pháp luật Trong trường hợp văn phong văn bản pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không rõ ràng, đa nghĩa thì phải giải thích, áp dụng pháp luật theo nghĩa có lợi nhất cho người dân
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải có tính tiên liệu (tính
dự báo) Để pháp luật có tính ổn định tương đối, tránh việc các văn bản quy phạm pháp luật lạc hậu ngay sau khi vừa ban hành thì các quy phạm pháp luật trong văn bản phải có tính dự báo Tính dự báo của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB thể hiện ở chỗ pháp luật về lĩnh vực này không chỉ quy định những hành vi nguy hiểm đang xảy ra trên thực tế là hành vi vi phạm pháp luật
và bị xử lí, mà từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các điều kiện thực tế và qua công tác dự báo, các nhà làm luật còn phải quy định trong hệ thống pháp luật những hành vi nguy hiểm tuy chưa xảy ra trong đời sống xã hội nhưng sẽ xảy ra trong tương lai gần, từ đó góp phần bảo đảm tính phòng ngừa của pháp luật Ngoài ra, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng phải đánh giá được sự thay đổi các điều kiện kinh tế-xã hội để định liệu mức xử phạt cho phù hợp, nếu không, pháp luật sẽ nhanh chóng bị sửa đổi, bổ sung
- Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải có tính khả thi, nghĩa
là nó có thể được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế Tính khả thi này phải tính toán từ nhiều phía: Nhà nước và người dân Đối với người dân, nó phải là những quy phạm mà người ta có thể thực hiện được trong khả năng của họ Pháp luật đã quy định việc xử phạt thì phải có cơ sở để người dân áp dụng nghiêm túc Ví dụ, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB quy định người đi bộ phải đi trên vỉa hè bên phía tay phải của mình Tuy nhiên, trên thực tế thì rất nhiều tuyến phố ở các đô thị của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh không có vỉa hè hay vỉa hè lại được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép những đối tượng nhất định trông, giữ xe… thì người dân không có điều kiện thực hiện Đối với Nhà nước, tính khả thi quyết định hiệu quả điều chỉnh của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB Đó chính là trạng thái các quan hệ xã hội trong lĩnh vực GTĐB sau khi đã được điều chỉnh
Trang 35bằng pháp luật xử lí VPHC có phù hợp với mục đích đã đặt ra trước đó của chủ thể quản lí và trạng thái quan hệ xã hội trước khi có sự điều chỉnh bằng pháp luật so với chi phí về vật chất và tinh thần phải bỏ ra Chi phí vật chất
có thể là những tổn hại có thể đo được bằng tiền, nhân sự, như: tiền bỏ mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ và biên chế tổ chức thực hiện việc xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB Nếu để ngăn chặn các VPHC trong lĩnh vực GTĐB, Nhà nước trao quyền xử phạt cho quá nhiều chủ thể, kể cả những chủ thể không phải là cơ quan quản lí nhà nước như: thanh niên xung kích, tổ tự quản thì có thể ngăn chặn VPHC trong lĩnh vực GTĐB nhưng lại làm rối loạn, yếu kém chức năng quản lí nhà nước và gây tốn kém tiền của của Nhà nước, của xã hội một cách thái quá so với hiệu quả mà nó mang lại Khi đó, pháp luật không mang tính khả thi
Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB không chỉ nhằm mỗi mục đích trừng phạt người vi phạm mà còn hướng tới cổ vũ, khuyến khích, đảm bảo cho các hành vi an toàn, văn minh , phòng ngừa các VPHC trong hoạt động GTĐB Nhưng mục đích ấy không phải đạt được bằng bất cứ giá nào mà phải bằng chi phí, sự đầu tư hợp lí, có như vậy pháp luật mới đạt hiệu quả Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chỉ được coi là hoàn thiện khi nó đáp ứng những yêu cầu nêu trên Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng là đòi hỏi và cũng là điều kiện tiên quyết để chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân 1.5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM
- Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở
Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lí vững chắc, bảo đảm chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này Pháp luật cần quy định một cach chặt chẽ, thống nhất về thời hạn, xác định VPHC, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lí VPHC bảo đảm tính hợp pháp, hợp lí và kịp thời của các quyết định áp dụng pháp luật Việc hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam sẽ bảo đảm tính hợp pháp về việc xác định thẩm quyền xử lí của các cơ quan nhà nước để hoạt động của các cơ quan này không chồng chéo, trùng lắp hoặc đùn đẩy trách nhiệm, tạo kẽ hở
Trang 36cho hành vi VPHC phát triển Hơn nữa, việc hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam nhằm củng cố nguyên tắc chỉ có cơ quan nhà nước được pháp luật quy định mới có quyền áp dụng các biện pháp
xử lí VPHC theo quy định của pháp luật Muốn xử lí một vụ việc cần thiết phải dựa trên quy định của pháp luật chứ không thể tùy tiện theo ý chí chủ quan của cán bộ, công chức nhà nước Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB sẽ tạo ra quy trình chuẩn để cán bộ, công chức nhà nước; cơ quan nhà nước áp dụng đúng quy định của pháp luật về thủ tục
Hệ thống pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB càng hoàn thiện thì càng bảo đảm cho hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này có chất lượng, đạt hiệu quả cao góp phần đưa các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản áp dụng pháp luật phát huy hiệu quả trong thực tế cuộc sống
- Thứ hai: Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB sẽ
bảo đảm tính hiệu thực của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực này Để tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng, các chủ thể phải có năng lực năng lực pháp luật và năng lực hành vi Đối với pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, năng lực này do pháp luật xử lí VPHC xác định Vì vậy, các quy định của pháp luật hành chính về năng lực pháp luật và năng lực hành vi là
cơ sở pháp lí để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB và nó cũng tạo điều kiện để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế
- Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là cơ
sở để các chủ thể thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình Trong hệ thống pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB, các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo đảm Cán
bộ, công chức nhà nước, cơ quan nhà nước chỉ được xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đúng trường hợp, đúng quy định Người dân cũng nhận thấy được việc chấp hành quy định của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB sẽ là cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, qua đó tôn trọng quyền và nghĩa vụ của người khác, thấy được lợi ích của mình trong lợi ích của xã hội, của nhà nước Điều đó tạo ra động cơ kích thích chủ thể phải thực hiện hành vi hợp pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình đồng thời
Trang 37đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về xử
lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB chính là cơ sở tạo lập quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực này
- Thứ tư: Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB bảo
đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực này nói riêng với hệ thống pháp luật xử lí VPHC, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta nói chung vì pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB là một bộ phận của pháp luật xử lí VPHC và pháp luật nói chung
- Thứ năm: Hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có ý
nghĩa thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế-xã hội Ngoài việc tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động xử lí các VPHC, pháp luật xử lí VPHC được hoàn thiện còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục ý thức tôn trọng, chấp hành các quy tắc giao thông trong các tầng lớp nhân dân Qua đó, pháp luật tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân một cách hiệu quả Có thể nói về mặt đạo đức xã hội, VPHC trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi ứng xử thiếu văn hoá, hơn nữa,
nó còn gây thiệt hại nhiều cho nền kinh tế-xã hội của đất nước Nếu mọi người dân đều nhận thức đúng và tự giác tuân thủ, chấp hành tốt các quy tắc
an toàn, luật lệ GTĐB thì chi phí tiền bạc, nhân lực mà Nhà nước dành cho công tác xử phạt các VPHC sẽ giảm đi và có thể hạn chế đến mức thấp nhất những tai nạn giao thông đáng tiếc xảy ra; trật tự, kỉ cương trong GTĐB được đảm bảo Hàng năm, Nhà nước và nhân dân không phải tốn hàng ngàn tỉ đồng chi phí cho việc lập lại trật tự giao thông ở các tỉnh, thành phố
Trang 38Chương 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT XỬ
LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB Ở VIỆT NAM
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986
2.1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở châu Á ra đời Thời kì này có rất nhiều vấn đề đặt ra trước chính quyền còn non trẻ và một trong những vấn đề đó là ban hành các văn bản pháp luật để xử lí các hành vi vi phạm pháp luật Trong lĩnh vực xử lí VPHC, Nhà nước cũng ban hành văn bản quy định hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm các chính sách của Nhà nước lúc bấy giờ, trong đó có việc xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Thời gian này có Nghị định liên Bộ Giao thông và Bưu điện - Bộ Công an
số 09/NĐLB ngày 7/3/1956 ban hành bản thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ Nghị định quy định về việc quản lí các xe cộ và người lái, người điều khiển; sự hoạt động của ngành vận tải, đặc biệt là kinh doanh vận tải bộ; sự trừng phạt những vụ vi phạm thể lệ Trong đó, các biện pháp trừng phạt (xử phạt) hành chính có thể là: phê bình hoặc cảnh cáo; phạt tiền; rút giấy phép sử dụng, giấy phép kinh doanh; rút bằng lái Những cán bộ và nhân viên có quyền lập biên bản các vụ vi phạm thể lệ: Công an viên trật tự các cấp; Cán bộ Giao thông từ cấp Trưởng ty trở lên Quyền xử lí các vi phạm thể lệ định: Uỷ ban hành chính
xã phê bình cảnh cáo; Các đồn Công an phạt tiền đến mức 5.000đ là tối đa Công an cấp quận và đại đội cảnh sát giao thông trở lên phạt tiền tới mức tối đa
và tạm thời thu bằng lái, giấy phép sử dụng, giấy phép kinh doanh rồi đề nghị ngay với cấp đã cấp giấy phép để rút chính thức Như vậy, trong giai đoạn này,
pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB có đặc điểm: Thứ nhất, xuất
phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế- xã hội của đất nước, các văn bản pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB thể hiện nét đặc trưng điển hình
là mang tính mệnh lệnh hành chính, nghiêm khắc và có tính cưỡng chế cao Tuy
Trang 39nhiên, văn bản pháp luật về xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được ban hành ít,
tản mạn, không thành hệ thống Thứ hai, các văn bản quy định về xử lí VPHC
trong lĩnh vực GTĐB rất đơn giản, chưa quy định tập trung, đầy đủ những vấn
đề có liên quan đến xử lí VPHC như: nguyên tắc xử lí, thời hiệu áp dụng, các
hành vi vi phạm, biện pháp xử lí VPHC Thứ ba, pháp luật xử lí VPHC trong
lĩnh vực GTĐB được ban hành không dựa trên căn cứ luật hay pháp lệnh
2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986
Đây là giai đoạn mà đất nước ta hoà bình, thống nhất và phát triển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Trong bối cảnh đó, Nhà nước bắt đầu thực hiện quản lí toàn diện mọi mặt của nền kinh tế-xã hội Trong lĩnh vực GTĐB, Nhà nước ban hành nhiều văn bản hơn nhằm đáp ứng yêu cầu phòng và chống VPHC trong lĩnh vực này, cụ thể
Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 của Chính phủ ban hành Điều lệ xử phạt vi cảnh Theo văn bản này, thì tất cả những hành vi xâm phạm đến
TTATXH (mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh), trong đó có hành vi VPHC trong lĩnh vực
GTĐB Hình thức xử phạt vi cảnh gồm: cảnh cáo; phạt tiền từ 1 đồng đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày; phạt giam từ 1 ngày đến 3
ngày Điều lệ còn quy định việc tịch thu phương tiện vi phạm tùy theo tính chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt: lực lượng công an có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt; cán bộ có thẩm quyền của các ngành, trong đó có ngành giao thông vận tải… có thẩm quyền áp dụng hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền
Ngày 10-3-1983, Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 51-PC hướng dẫn việc xét, cấp giấy phép cho xe ô tô chạy đường dài Thông tư quy định các trạm kiểm soát giao thông có quyền lập biên bản và xử lí những trường hợp vi phạm luật lệ giao thông vận tải đường bộ Việc xử lí xe vận chuyển đường dài trái phép tuỳ theo từng trường hợp mà áp dụng các hình thức xử phạt sau: đình chỉ vận chuyển buộc xe quay trở lại và phạt hành chính bằng tiền
Bộ Giao thông vận tải cũng có Thông tư số 185-TT/PC ngày 26-9-1983 hướng dẫn thi hành Điều lệ bảo vệ đường bộ quy định: Phạt tiền theo Điều lệ phạt vi cảnh đối với những vi phạm có tính chất đơn giản, rõ ràng và mức độ
Trang 40thiệt hại không nghiêm trọng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc các biện pháp hành chính khác như làm xiêu ngả cọc tiêu, biển báo hiệu, chăn trâu bò trên đường; buộc trâu bò vào cọc tiêu, hàng cây hai bên đường, cột biển báo; phơi rơm rạ, để vật tư hàng hoá trên đường
Nghị định số 200-HĐBT ngày 6/7/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi và bổ sung một số điều lệ về phạt vi cảnh đã sửa đổi hình thức xử phạt như sau: cảnh cáo; phạt tiền từ 10 đồng đến 100 đồng; phạt lao động công ích từ
01 ngày đến 3 ngày; phạt giam từ 1 ngày đến 3 ngày Trong lĩnh vực GTĐB, Nghị định bổ sung hành vi vi phạm là: phơi rơm rạ, thóc lúa và các thứ khác trên đường phố, đường ô-tô; thả rông súc vật, chăn dắt súc vật trên đường ô-tô; buộc súc vật vào cây cối, cọc tiêu, cột báo hiệu ở hai bên đường
Chủ thể có thẩm quyền xử phạt là: Cán bộ, chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ quản lí trật tự an toàn xã hội được quyền phạt: cảnh cáo, phạt tiền từ
10 đồng đến 30 đồng Trưởng, Phó công an xã, Trưởng Phó công an phường; Trưởng, Phó công an thị trấn được quyền phạt: cảnh cáo, phạt tiền từ 10 đồng đến 50 đồng, phạt 1 ngày lao động công ích Trong đó, cán bộ công an từ cấp Trưởng, Phó công an huyện, Trưởng, Phó công an quận, Trưởng, phó công an thị xã, Trưởng, Phó công an thành phố thuộc tỉnh trở lên được quyền phạt: cảnh cáo, phạt tiền từ 10 đồng đến 100 đồng, phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày, phạt giam từ 1 ngày đến 3 ngày và quyết định tịch thu tang vật hoặc phương tiện phạm pháp
Có thể nói, trong giai đoạn này, pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB đã được ban hành nhiều hơn nhưng vẫn khá đơn giản trong việc quy định các hành vi vi phạm, biện pháp xử phạt, nguyên tắc xử phạt Đặc biệt, Thông tư số 51 còn quy định chủ thể có thẩm quyền xử phạt là tổ chức như: các trạm kiểm soát giao thông Mức phạt và thẩm quyền xử phạt cũng được điều chỉnh trong các văn bản do cả cấp Chính phủ, bộ ban hành Như vậy, pháp luật
xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thể hiện trong những văn bản có hiệu lực pháp lí không cao Tuy nhiên, những văn bản này đã ngăn chặn và xử lí tốt những hành vi VPHC đơn giản trong lĩnh vực GTĐB trong bối cảnh nước ta phát triển nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp