Theo ông, trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu thì “tư tưởng của tiên sinh lúc nào cũng nghĩ đến đạo lí thánh hiền, đến việc trung với nước và hiếu với dân làm trọng” [ 1; tr.101]..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 21 Lí do chọn đề tài
Nếu như nền văn học Việt Nam hiện đại tự hào với những cây bút tài hoa mà từ lâu tên tuổi đã khắc sâu vào lòng người như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân thì ngược dòng thời gian khi tìm về với nền văn học Việt Nam trung đại chúng ta lại càng vẻ vang hơn với những cây đại thụ của nền văn học dân tộc, đó là Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương
Trong số những nhà thơ, nhà văn vừa kể trên thì có lẽ Nguyễn Đình Chiểu là người sống ở Nam Bộ, một vùng đất còn rất mới mẻ so với Bắc Bộ nghìn năm văn hiến Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng nơi đây cũng đã kịp thời đóng góp cho nền văn học dân tộc những tác giả và tác phẩm đặc sắc, mà Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng hùng hồn Ông được mệnh danh là ngọn cờ đầu trong phong trào văn học yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc hành trình đầy gian truân, lận đận kém phần may mắn Cùng một lúc nhà thơ phải mang nặng trên vai hai nỗi đau lớn: đó là những bất hạnh của bản thân và nỗi đau mất nước chung của dân tộc Nhưng với bản lĩnh và nghị lực phi thường, nhà thơ đã vượt lên số phận long đong và đứng thật vững vàng trước mọi bão táp phong ba Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Chiểu còn để lại cho đời một sự nghiệp thơ văn đồ sộ Có thể nói những sáng tác của ông không chỉ tạo tiếng vang trong lòng dân tộc mà ở cả nước ngoài tên tuổi nhà thơ vẫn được nhiều người biết đến và ái mộ Bởi nội dung thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu mang tính thiết thực sâu sắc Điều này được thể hiện rõ ràng qua sự chuyển biến tư tưởng của nhà thơ trong quá trình sáng tác Trong thời bình, những tác phẩm của ông chủ yếu đi vào rèn luyện, giáo dục con người về vấn đề đạo lí Sang thời chiến, ngòi bút của Nguyễn
Đình Chiểu tiếp tục biểu dương đạo làm người, đồng thời nội dung thơ văn ông cũng
phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc Nghĩa là giai
đoạn này tư tưởng của nhà thơ đã có sự chuyển biến sâu sắc Cho nên nó đáp ứng được yêu cầu của thời đại Bên cạnh đó, sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Đình
Chiểu trong qua trình sáng tác cũng để lại cho chúng ta nhiều bài học có ý to lớn về
đạo làm người
Vì thế, người viết quyết định chọn đề tài “Sự chuyển biến tư tưởng trong quá trình
sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” để nghiên cứu, với hi vọng sẽ tìm hiểu kỹ hơn về
Trang 3Nguyễn Đình Chiểu và những nét tiến bộ trong tư tưởng của ông Qua thực hiện đề tài, người viết cũng muốn góp phần giới thiệu những giá trị tinh thần trên mảnh đất thân yêu của mình Đồng thời qua đó người viết một lần nữa muốn khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong lòng dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Đình Chiểu là một trong những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam
Bộ và là một trong những nhà thơ cổ điển có tầm cỡ lớn của nền văn học Việt Nam Với vị trí đó đã có không ít những ý kiến của các nhà nghiên cứu đánh giá, nhận xét
về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu trên nhiều lĩnh vực khác
nhau Bàn về “Sự chuyển biến tư tưởng trong quá trình sáng tác của Nguyễn Đình
Chiểu” cũng được nhận định ở khía cạnh khác nhau
Quyển “Nguyễn Đình Chiểu thân thế, sự nghiệp và tác phẩm” [ 1], Thái Bạch có
đề cập đến sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong quá trình sáng tác
Theo ông, trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu thì “tư tưởng của tiên sinh lúc
nào cũng nghĩ đến đạo lí thánh hiền, đến việc trung với nước và hiếu với dân làm trọng” [ 1; tr.101] Tác giả cho rằng tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong sáng tác
chịu ảnh hưởng nhiều của Khổng giáo “tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu là tư tưởng
của một nhà Nho, nhưng trong sạch theo đạo lí Thánh, Hiền là mong muốn của một đời thạnh trị của vua thánh tôi hiền như Nghiêu, Thuấn, Võ, Trang, Văn, Vũ, chớ không phải quá chú trọng về lối văn phù phiếm của các đời Đường, Tống về sau”
[ 1; tr.107], “Nguyễn Đình Chiểu muốn đem cái sở học để phò dân giúp nước, nhưng
rủi bị mang tật, nên tư tưởng ấy không đạt, và đã phải ký thác vào những thơ văn cùng những tác phẩm lớn như Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp” [ 1; tr.108] Bên cạnh ảnh hưởng từ Nho giáo thì tư tưởng của Nguyễn Đình
Chiểu cũng không thoát ra phạm vi của Phật giáo, “ảnh hưởng này tuy không chiếm
phần lớn lao, quan trọng trong tư tưởng nhưng đối với tiên sinh không phải là không có” [ 1; tr.108]
Nhìn chung, Thái Bạch đã nêu lên khái quát về tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Tuy nhiên ông vẫn chưa đi sâu vào khai thác sự chuyển biến về tư tưởng của Nguyễn
Đình Chiểu qua hai chặng đường sáng tác
Quyển“Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm” [ 16], do Nguyễn Ngọc Thiện
tuyển chọn và giới thiệu đã tập hợp được rất nhiều bài nghiên cứu đánh giá Nguyễn
Trang 4Đình Chiểu về tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm Nhưng “Sự chuyển biến tư tưởng trong quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” chỉ được đề cập ở một số phương diện
Chẳng hạn trong bài viết “Nguyễn Đình Chiểu – thân thế và sự nghiệp” [ 16; tr.31] ,
Nguyễn Thạch Giang đã nêu lên sự biến đổi tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua hai giai đoạn sáng tác trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Tác giả cho rằng trong thời bình thì nội dung tư tưởng trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là luôn đặt vấn đề nhân nghĩa lên hàng đầu và nêu lên một chân lí sáng ngời đó là mọi
người “phải biết tiếp thu những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà ông
mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng nhằm mọi người đạt tới được một sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành động cho sự tiến bộ của xã hội” [ 16; tr.43] Theo Nguyễn Thạch Giang, tư tưởng đó của Nguyễn Đình Chiểu đã được
thể hiện trong Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì “ngòi bút vì nhân nghĩa” đã viết trong Lục Vân Tiên trước kia nay đã cụ
thể hóa ở tinh thần yêu nước chống ngoại xâm” [ 16; tr.36]
Nhìn chung, qua bài viết này Nguyễn Thạch Giang đã phần nào nêu lên được sự biến đổi tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong quá trình sáng tác
Bài viết “Từ lí tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước” [ 16; tr.212 ], Nguyễn
Đình Chú cũng đề cập đến sự phát triển tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả cho
rằng “ Từ Lục Vân Tiên đến thơ văn chống Pháp, văn chương Đồ Chiểu đã tiến lên từ
lí tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước chống ngoại xâm” [ 16; tr.212] Tuy
nhiên “sự phát triển tư tưởng của Đồ Chiểu trong giai đoạn chống Pháp không hề
đoạn tuyệt với những nhân tố tích cực trong lí tưởng nhân nghĩa trước đó, nhưng cũng không lập lại y nguyên Ở đây, có kế thừa, có phát triển, có liên tục, có gián đoạn” [ 16; tr.216] Theo Nguyễn Đình Chú, thơ văn chống Pháp của Nguyễn Đình
Chiểu vẫn nhắc đến vấn đề “nhân nghĩa”, “trung hiếu” nhưng nó đã mang nội dung mới, tức có sự tiến bộ hơn so với giai đoạn trước đó Ở đây, “nhân nghĩa không phải
là để xây dựng một xã hội phong kiến, dù đó là xã hội phong kiến lí tưởng, mà trước hết là chuyện chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước Trung hiếu là đạo quân thần, nhưng trung hiếu trước hết phải lấy dân làm gốc Quan hệ vua tôi, quan hệ gia đình chưa phải là hàng đầu Hàng đầu là quan hệ dân nước, quan hệ xã hội” [ 16; tr.216]
Sau đó tác giả đi vào phân tích và chỉ ra sự phát triển tư tưởng đó của Nguyễn Đình
Trang 5Chiểu Nguyễn Đình Chú phân tích mặt tích cực cũng như đưa ra những hạn chế trong
tư tưởng của nhà thơ
Bài viết “Nguyễn Đình Chiểu trong sự vận động của văn chương cận đại” [ 16;
tr.286], Lê Ngọc Trà cũng ít nhiều đề cập đến sự biến đổi tư tưởng của Nguyễn Đình
Chiểu qua hai giai đoạn sáng tác Tác giả cho rằng “từ Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà
Mậu đến Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc và các tác phẩm ở giai đoạn sau, Nguyễn Đình Chiểu bộc lộ những biến đổi quan trọng Từ lập trường “chủ yếu” thiên
về đạo đức nhà thơ chuyển hẳn sang lập trường chính trị, mà cái chính trị cao nhất lúc ấy là yêu nước, đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc” [ 16; tr.268]
Sau nhận định, Lê Ngọc Trà chỉ đưa ra một số lí lẽ để chứng minh cho sự biến đổi tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Vì bài viết này chủ yếu là đi sâu vào khai thác khía cạnh về sức mạnh nghệ thuật của nhà thơ
Bài viết “Chữ “dân” và chữ “nước” trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” [ 16; tr
539], Đào Thản và Nguyễn Thế Lịch cũng đưa ra nhận xét về sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua hai giai đoạn trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược
nước ta Hai tác giả cho rằng “ông đã chuyển từ chủ đề đạo nghĩa sang chủ đề yêu
nước chống xâm lược và xoáy sâu mãi vào vấn đề nóng bỏng, vấn đề trung tâm ấy, nói bao nhiêu cũng không vơi, không cạn nỗi lòng mình” [ 16; tr.541] Tuy nhiên sau
đó bài viết không bàn nhiều đến vấn đề biến đổi “tư tưởng” của Nguyễn Đình Chiểu
mà chủ yếu đề cập đến chữ “dân”, chữ “nước” trong thơ văn ông và nói lên nỗi đau
xót của nhà thơ khi non sông bị chia cắt
Quyển “Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật” [ 19],
cũng đã tập hợp nhiều bài viết có liên quan đến sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn
Đình Chiểu trong quá trình sáng tác Chẳng hạn trong bài viết “Tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ cuối thế kỉ XIX”
[ 19; tr.297], Bùi Đăng Huy có đưa ra nhận định rằng “trước khi thực dân Pháp xâm
chiến nước ta, đạo nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu, ngoài nội dung đánh giặc, còn bao gồm những suy nghĩ về quan hệ vua tôi, vợ chồng, thầy trò, bạn bè, v.v những suy nghĩ ấy mang ý nghĩa phê phán đối với chế độ xã hội đang đi tới bước đường suy vong Nhưng khi giặc Pháp tới thì nội dung cốt tủy của đạo nhân nghĩa đó
là đánh giặc bảo vệ chủ quyền của đất nước, cứu giúp muôn dân [ 19; tr.299, tr.300]
Trang 6Theo tác giả thì tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu “nó đã vượt ra khỏi cái hệ thống
cứng nhắc, khô cằn của Nho giáo và đáp ứng được yêu cầu nhất định của lịch sử”
[ 19; tr.318]
Hay Nguyễn Trung Hiếu trong bài viết “Cái nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu và tấm
lòng, ý chí Việt Nam” [ 19; tr.324] cho rằng tư tưởng quán xuyến trong suốt quá trình
sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu chính là cái “nghĩa” “Sự có mặt của cái “nghĩa”
Nguyễn Đình Chiểu như là cái nguyên lí duy nhất làm nên vừa là cái phương châm xử thế vừa là cái cảm hứng chủ đạo trong sáng tác độc đáo của nhà thơ” [ 19; tr.337]
Theo tác giả cái “nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu có hai mạch chính Mạch thứ nhất
“nghĩa là lẽ phải của quần chúng, của dân tộc và là cái quyết tâm không khoan nhượng bảo vệ nó” [ 19; tr.330], và “cái mạch ngầm thứ hai trong cảm hứng “nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm lòng trung thực thủy chung vô hạn” [ 19; tr.330]
Nhận định trên thật xác đáng về tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu nhưng nhìn chung
Nguyễn Trung Hiếu vẫn chưa đi vào thể hiện cụ thể “Sự chuyển biến về tư tưởng của
Nguyễn Đình Chiểu trong qua trình sáng tác” như thế nào
Hay Trần Văn Giàu trong bài viết “Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu” [ 19;
tr 164 ] cũng có đề cập đến nội dung tư tưởng trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu Ông cho rằng tư tưởng triết lí nhân sinh của nhà thơ trong các tác phẩm chủ yếu là lấy nhân nghĩa làm gốc Nhưng nội dung nhân nghĩa của Nguyễn
Đình Chiểu có sự sáng tạo và khác xa nhân nghĩa của hầu hết các nhà Nho đương
thời “Tư tưởng triết lí nhân sinh trong các vấn đề, trong các bài thơ Đường luật,
cũng là nhân nghĩa Ở đây, có một tiến bộ mới so với Lục Vân Tiên Đại biểu cho nhân nghĩa chân chính là anh dân ấp dân lân vì “mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ”, chớ không phải đã sẵn tập tành quân sự, không phải đã có trang bị của triều đình; vậy mà họ anh dũng vô song! Trương Định cưỡng lại chiếu vua là vì nghĩa với dân, dân cản đầu ngựa tướng quân là nghĩa với nước Nhân nghĩa với yêu nước là một”[
19; tr.176] Ngoài tư tưởng nhân nghĩa, Trần Văn Giàu cho rằng “một tư tưởng nữa
toát ra từ phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là chủ nghĩa yêu nước” [
Trang 7Chiểu Có thể nói đây là một điều kiện thuận lợi để giúp người viết có cái nhìn trọn vẹn hơn trong việc khảo sát đề tài Đó là những cứ liệu vô cùng quan trọng để người viết có thể tham khảo và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Dù có được điều kiện thuận lợi như đã nói trên nhưng người viết vẫn gặp phải một
số khó khăn nhất định Vì những vấn đề liên quan đến“Sự chuyển biến tư tưởng trong
quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” vẫn chưa được phân tích cụ thể thành
những phương diện riêng để khảo sát Nên rất khó trong việc tập hợp đầy đủ tài liệu
có liên quan đến đề tài Mặc dù vậy, người viết cũng hi vọng qua khảo sát “Sự chuyển
biến tư tưởng trong quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu ” sẽ có cơ hội tìm
hiểu kỹ hơn về những đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu qua hai thời kì sáng tác qua
3 Mục đích, yêu cầu
Trong khuôn khổ đề tài, người viết cần nghiên cứu tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu và bối cảnh xã hội lúc bấy giờ để làm rõ một số vấn đề có liên quan đến sự biến đổi tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua hai chặng đường sáng tác
Cụ thể người viết sẽ xác định nội dung tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Tìm hiểu
nhân dẫn đến sự biến đổi “tư tưởng” này Và những biến đổi đó được thể hiện như thế
nào qua thơ văn ông Từ đó người viết sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về đề tài và đưa ra những nhận xét mang tính khách quan hơn về sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn
Đình Chiểu
Qua đề tài này người viết sẽ đi vào làm nổi bật lên những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Đình Chiểu trong quá trình sáng tác Từ đó, thấy được tính thiết thực về sự chuyển biến tư tưởng của nhà thơ đối với tình hình xã hội ta trong bối cảnh đó
Mặt khác, khi nghiên cứu đề tài này người viết sẽ có cái nhìn sâu hơn, toàn diện hơn về nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Vì phần nào người viết đã đi sâu vào tìm hiểu một tác gia lớn trong chương trình giảng dạy
4 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Sự chuyển biến tư tưởng trong quá trình sáng tác của Nguyễn Đình
Chiểu ”, người viết chủ yếu nghiên cứu về sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Đình
Chiểu qua hai giai đoạn sáng tác trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung có 3 chương là: Chương I một số vấn đề chung, chương II một số biểu hiện về sự chuyển biến tư
Trang 8tưởng trong quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, chương III ý nghĩa của sự chuyển biến về tư tưởng trong qua trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Những cứ liệu được sử dụng trong luận văn là: Quyển “Nguyễn Đình Chiểu về tác
gia và tác phẩm”, do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn và giới thiệu, Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1998
Quyển “Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật”, do Ủy
ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học tuyển chọn và giới thiệu, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1973 Và một số tài liệu khác có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện người viết đã tập hợp tư liệu có liên quan đến đề tài Sau
đó tiến hành phân loại, sắp xếp theo hệ thống những vấn đề cần khảo sát
Người viết chủ yếu sử dụng thao tác phân tích để làm sáng tỏ vấn đề Trong quá trình phân tích có kết hợp với phương pháp so sánh nhằm làm nổi bật quan niệm tiến
bộ của Nguyễn Đình Chiểu qua hai giai đoạn sáng tác
Trang 9CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Vài nét về quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
1 1 1 Trước khi Pháp xâm lược nước ta
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một chuỗi dài những bất hạnh: Mẹ mất, thi cử dở dang, vị hôn thê phụ bạc, đau khổ nhất là ông phải sống trong cảnh mù lòa ngót 40 năm Thế nhưng với ý chí kiên cường nhà thơ đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vượt lên số phận kém phần may mắn để trở thành người có ích cho dân tộc
Sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học, làm nghề thuốc và sáng tác văn thơ Những tác phẩm chính của ông trong giai đoạn này là hai tập truyện
thơ dài: Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu
Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm đầu tiên ở Nam Bộ gồm 2082 câu thơ lục bát
Trong tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu đi vào thể hiện đạo làm người trong cuộc đời thường và ước mơ của nhà thơ về một xã hội lí tưởng
Truyện thơ Lục Vân Tiên ra đời đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân
dân bởi nhà thơ đề cập đến những vấn đề về lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa cũng như thể hiện được bản chất đạo lí tốt đẹp của nhân dân
Viết Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu nêu lên những tấm gương về luân lí, đạo
đức nhằm mục đích truyền dạy những bài học về đạo làm người chân chính Những
nhân vật tốt trong Lục Vân Tiên là những người luôn hành động vì nhân nghĩa và xem
đó như một nhu cầu tất yếu phải làm mà không hề màng đến danh lợi, không cần đến
sự đền ơn, báo đáp Đó là hình ảnh của chàng thư sinh Vân Tiên nghĩa hiệp “giữa
đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha” nên đã “tả đột hữu xung”, “bẻ cây làm gậy”
đánh cướp Phong Lai cứu Kiều Nguyệt Nga Hay một Hớn Minh đầy dũng khí, đã bẻ
đi một giò con quan tri Huyện tên là Đặng Sinh để cứu người thế cô đang bị ức hiếp
Ngoài ra, trong truyện còn có hình ảnh của những ông Ngư, ông Tiều, Tiểu đồng giàu lòng thương người, sẵn sàng cưu mang, đùm bọc người khác trong cơn hoạn nạn Vấn đề đạo lí còn được nhà thơ thể hiện qua các mối quan hệ trong tác phẩm như tình cha con, thầy trò, vợ chồng, bạn bè, chủ tớ Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng các mối quan hệ đó không bó hẹp theo khuôn khổ Nho giáo mà trái lại nó rất gần gũi với nhân dân Ta thấy tình cha con giữa Lục ông và Vân Tiên, tình thầy trò giữa Tôn sư và Vân Tiên, tình cảm vợ chồng giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga, tình cảm bạn bè giữa
Trang 10Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực hay tình nghĩa chủ tớ giữa Vân Tiên và Tiểu đồng, Nguyệt Nga với Kim Liên đều được nhà thơ xây dựng phù hợp với đời sống và quan niệm của nhân dân
Bản chất đạo lí của nhân dân còn được nhà thơ thể hiện rõ nét qua tính cách nhân vật Đó là những con người dũng khí, có lòng nghĩa hiệp, trọng nghĩa khinh tài, sống
có tình có nghĩa như Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực, ông Ngư, ông Tiều… và có quan điểm ghét thương rõ ràng như ông Quán Nhìn chung, tính cách của họ đều tiêu biểu cho nhân dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung
Truyện thơ Lục Vân Tiên còn thể hiện ước mơ của Nguyễn Đình Chiểu về một xã
hội phong kiến lí tưởng Đó là một xã hội có vua sáng tôi hiền: Một xã hội mà cái đẹp luôn được trân trọng, người tài đức được trọng dụng, cái chính nghĩa luôn luôn được
đề cao và mọi bất công, phi lí được phơi bày Đó cũng là một xã hội luôn có những
con người biết “trọng nghĩa khinh tài”, không ham danh hám lợi và đối xử với nhau
trên cơ sở nhân nghĩa, tình thương, lòng bác ái
Giai đoạn này Nguyễn Đình Chiểu còn sáng tác truyện thơ Nôm Dương Từ - Hà
Mậu [ 9; tr.3] Tác phẩm gồm hơn 3456 câu thơ lục bát và 35 bài thơ Đường luật, văn
tế, câu đối Nguyễn Đình Chiểu viết Dương Từ - Hà Mậu nhằm mục đích kêu gọi mọi
người hãy trở về với con đường chính đạo và phải biết tiếp thu, gìn giữ những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Trong “Dương Từ - Hà Mậu”, Nguyễn Đình Chiểu đã vạch ra cho mọi người thấy một chân lí đó là “đạo” không ở đâu xa mà nó ở ngay trong lòng của mỗi con người:
“Đạo trời nào phải đâu xa, Gội tấm lòng người có giải ra”
Chính vì vậy, mỗi người phải biết tự “tu thân”, rèn luyện đạo đức, nhân cách để trở
thành người có ích phục vụ nhân dân Phải biết phân biệt đâu là chính nghĩa, tà gian
để thực hiện góp phần làm cho xã hội ngày càng tiến bộ
Bên cạnh việc kêu gọi mọi người trở về con đường chính đạo, qua “Dương Từ -
Hà Mậu” Nguyễn Đình Chiểu còn vạch trần, lên án, đả kích bản chất xấu xa của
những kẻ lợi dụng đạo để làm những việc mờ ám, xấu xa, hành nghề phi pháp để vơ vét tiền bạc của nhân dân như bọn thầy pháp, thầy địa lí hay bọn nhà nho học thuốc vụ
lợi, bọn thơ lại quen thói ngang tàn “ăn bẩn” của dân
Trang 11Nhìn chung, quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trước khi Pháp xâm lược nước ta chủ yếu nhà thơ tập trung đi vào kêu gọi mọi người bảo vệ đạo đức, bảo vệ chính nghĩa trong cuộc đời thường nhằm góp phần giáo huấn, cải tạo xã hội làm cho
đời sống con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn
1 1 2 Sau khi Pháp xâm lược nước ta
Nếu như trước khi Pháp xâm lược nước ta văn chương Nguyễn Đình Chiểu đi vào thể hiện lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa thì sang giai đoạn sau khi Pháp xâm lược nước
ta thơ văn của ông vẫn tiếp tục biểu dương đạo làm người, thế nhưng ngòi bút của nhà thơ đã có sự chuyển biến sâu sắc Lúc này thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trực tiếp đi vào phản ánh những vấn đề mang tính chất chính trị, phản ánh người thực, việc thực ngay trên đất nước mình trong thời chiến mà không phải là một xã hội lí tưởng nào nữa
Quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn này tập trung đi sâu vào một số thể loại chủ yếu như: Thơ Đường luật, thơ điếu, văn tế, hịch Những năm cuối
đời, sau khi lánh giặc về sống ở Ba Tri, nhà thơ có viết thêm một tập truyện thơ Nôm
dài “Ngư Tiều vấn đáp Nho y diễn ca” hay còn có tên gọi khác là “Ngư Tiều y thuật
vấn đáp”
Một số sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn này gồm có thơ
Đường luật: Xúc cảm, Ngựa Tiêu sương, Đạo người, Làm thuốc, Chạy giặc, Tự thuật
Thơ điếu: Điếu Phan Công Tòng (10 bài), Điếu Trương Công Định (12 bài), Điếu
Phan Thanh Giản Văn tế: Văn tế Trương Công Định, Văn tế Lục Tỉnh tử sĩ dân, Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Hịch: Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Thảo Thử hịch
Nhìn chung, những tác phẩm kể trên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu luôn phản ánh những vấn đề sôi nổi, nóng bỏng của tình hình đất nước ta lúc bấy giờ Với ngòi bút sắc bén của mình, ông đã dùng nó làm vũ khí lợi hại để chống lại kẻ thù và bọn tay sai bán nước, nhà thơ cũng vạch trần tội ác, bản chất xấu xa của bọn chúng Đồng thời những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn này cũng thể hiện tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc Bên cạnh đó, nhà thơ cũng hết lòng ca ngợi tinh thần chiến đấu hiên ngang, dũng cảm của những người lãnh tụ nghĩa binh và nhân dân cũng như nhà thơ đã bày tỏ nỗi đau xót của mình trước cảnh nước mất, nhà tan và lòng tiếc thương vô hạn đối với sự hi sinh của họ Về khía cạnh này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một nhận định sâu sắc khi nói tới thơ, văn tế của Nguyễn Đình
Trang 12Chiểu đó là: “Ca ngợi những anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc
những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động và não nùng, tình cảm của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân vốn là nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỏng chốc trở thành người anh hùng cứu nước”
[ 16; tr.44]
Truyện thơ “Ngư Tiều y thuật vấn đáp nho y diễn ca” [ 9; tr.39], là tác phẩm cuối
cùng của Nguyễn Đình Chiểu được viết bằng thể thơ lục bát gồm 3641 câu thơ có xen lẫn 21 bài thơ Đường luật và một số bài thuốc Tập truyện này chủ yếu viết về việc dạy nghề thuốc chữa bệnh Thế nhưng, trong tác phẩm nay Nguyễn Đình Chiểu vẫn tiếp tục biểu dương đạo đức làm người thông qua câu chuyện đối đáp giữa hai nhân vật Ngư và Tiều Bên cạnh đó, ông còn mượn lời của nhân vật trong truyện để bộc lộ tinh thần yêu nước, thương dân nồng nàn và lòng căm thù giặc của mình Trong tác
phẩm, nhà thơ cũng bày tỏ nỗi xót xa của mình khi đất nước rơi vào cảnh “nửa Tống
nửa Liêu” Ông đã khéo léo mượn câu chuyện của vua Thạch Kính Đường dâng đất
cho giặc Khiết Đan để ngầm ám chỉ, phê phán triều đình nhà Nguyễn phản bội nhân dân bán nước cho giặc Đồng thời thông qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu cũng hết lòng ca ngợi, biểu dương những người có ý chí phản kháng, chống lại giặc, bất hợp tác với kẻ thù như nhân vật Kì Nhân Sư
Tóm lại, những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu sau khi Pháp xâm lược nước ta hầu hết đều thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết của nhà thơ, một tấm lòng luôn đau đáu lo cho vận mệnh của dân tộc trước họa ngoại xâm
Có thể nói những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn này đã đánh dấu bước phát triển cao và đạt được những thành tựu rực rỡ trong sự nghiệp văn chương của nhà thơ Nó đã đưa ông lên địa vị của một người mở đầu cho dòng văn học yêu nước chống Pháp và trở thành một trong những ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc
1.2 Sự vận dụng tư tưởng Nho giáo một cách sáng tạo
1.2.1 Nhân nghĩa
Tư tưởng “nhân nghĩa” đã được ra đời cách nay khoảng mấy ngàn năm do Khổng
Tử sáng lập và đưa vào trong đạo Nho để làm tiêu chí đánh giá người quân tử Khổng
Tử viết: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” Hựu viết: “Quân tử hữu dũng vi vô nghĩa vi
Trang 13loạn” Nghĩa là: “Thấy việc nghĩa mà không làm là thiếu dũng khí” lại nói rằng:
“Quân tử có dũng khí mà không có nghĩa là làm loạn” Như vậy, vấn đề “nhân nghĩa” là vấn đề mà người quân tử nào cũng phải biết và thực hiện
Tư tưởng “nhân nghĩa” của Nho giáo do Khổng Tử sáng lập đã được nhiều nước
trên thế giới tiếp thu Ở Việt Nam, trong một thời gian dài Nho giáo được coi là ý thức
hệ chính thống Với vị trí đó, Nho giáo chi phối cả nền văn học trung đại Việt Nam Hầu hết các nhà Nho trung đại như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đều chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo Đặc
biệt trong sáng tác văn chương nó càng chịu sự chi phối mạnh mẽ và tư tưởng “nhân
nghĩa” là một trong những tư tưởng hết sức được đề cao
Cuối thế kỉ XIX Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến, Nho giáo chiếm vị trí quan trọng, tư tưởng của nó đã tác động mạnh mẽ đến những nhà Nho trong giai đoạn này mà Nguyễn Đình Chiểu là một điển hình Hầu hết các sáng tác của nhà thơ đều
thấm nhuần tư tưởng “nhân nghĩa” Nó như một sợi chỉ đỏ xuất hiện xuyên suốt trong những tác phẩm của ông Nhà thơ đã khéo léo vận dụng tư tưởng “nhân nghĩa” của
Nho giáo để các nhân vật của mình thực hiện nghĩa cử cao đẹp đó là cứu giúp người trong cơn hoạn nạn, hiểm nguy Thế nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chỉ có sự kế thừa, tiếp thu mà khi vận dụng ông đã nhào nặn lại tư tưởng của đạo Nho một cách
sáng tạo Nhà thơ quan niệm về “nhân nghĩa” rất bình dị Nội dung đạo đức của nó
mang tính nhân dân rõ rệt nên rất phù hợp với đời sống và quan điểm của họ Nếu như
tư tưởng“nhân nghĩa” của Nho giáo được đề cao ở người quân tử thì đến Nguyễn
Đình Chiểu, người thực hiện “nhân nghĩa” lại là những người có vị trí bình thường
trong xã hội, họ là nhân dân lao động
Với Nguyễn Đình Chiểu, ngoài những người quân tử thực hiện “nhân nghĩa” thì
những con người nhỏ bé trong xã hội không có tên riêng cụ thể, họ chỉ được gọi bằng nghề nghiệp như Ngư, Tiều, Tiểu đồng vẫn có thể thực hiện nghĩa cử này Qua ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, những người thấp cổ bé họng ấy lại ẩn chứa biết bao phẩm chất đáng quý Họ chính là những người giàu lòng nhân ái, luôn sẵn sàng làm việc nghĩa quên mình
Trong truyện thơ Lục Vân Tiên, hiện lên ba nhân vật không tên thực hiện “nhân
nghĩa” mà đọc lên ai cũng yêu mến đó là ông Ngư, ông Tiều, Tiểu đồng Nhân vật
Tiểu đồng là hình ảnh nêu lên tấm gương vô cùng xúc động về nghĩa chủ tớ Tiểu
Trang 14đồng được Lục ông cho theo Vân Tiên để sớm hôm bầu bạn, lo việc cơm nước cho
chàng trên đường đi thi Khi Vân Tiên hay tin mẹ mất, chàng than khóc mẹ mà ngã bệnh rồi rơi vào hoàn cảnh mù lòa Chính lúc này một tay Tiểu đồng đã hết lòng giúp
đỡ, chăm sóc cho Vân Tiên khi ốm đau Tiểu đồng không ngần ngại khó khăn, vất vả, đường xa cách trở mà tìm thầy thuốc chạy chữa cho chủ Để Vân Tiên khỏi bệnh Tiểu đồng có thể làm tất cả mọi chuyện không kể chi đến bản thân mình:
“Bịnh kia dầu hết mình này bán đi” (820)
Thật là một tấm lòng cao quý biết bao Rồi khi Tiểu đồng bị Trịnh Hâm lừa vào rừng sâu và bị hắn trói vào gốc cây cho cọp ăn thịt thì chú không hề nghĩ đến tình cảnh đáng thương của mình Trong lúc cận kề giữa cái chết và sự sống như thế chú vẫn chỉ lo cho Vân Tiên một mình bơ vơ không người dìu dắt:
“Tiểu đồng bị trói khôn về, Kêu la chẳng thấu bốn bề rừng hoang
Phận mình đã mắc tai nàn, Cảm thương họ Lục suối vàng bơ vơ
Xiết bao những nỗi dật dờ,
Đò giang nào biết bụi bờ nào hay
Vân Tiên hồn hỡi có hay, Đem tôi theo với đỡ tay chơn cùng”
(887 - 894)
“Ở hiền gặp lành” đó là qui luật nhân quả ngàn đời nay Tiểu đồng là người có
tấm lòng trong sáng, cao thượng nên chú đã được chúa sơn lâm cắn dây cởi trói Sau khi được thoát chết hành động đầu tiên của chú là:
“Chạy ra chốn cũ kiếm thầy Vân Tiên” (902)
Tiểu đồng đối xử với Vân Tiên thật có tình có nghĩa Tình cảm của chú dành cho Vân Tiên không đơn thuần là thứ tình cảm của tôi tớ đối với chủ nữa mà dường như
đó là thứ tình của máu mủ ruột thịt rồi Cho nên, lúc Tiểu đồng ngỡ Vân Tiên chết chú
đã tình nguyện che chòi giữ mộ cho chàng suốt ba năm ròng:
“Tiểu đồng ở chốn rừng hoang, Che chòi giữ mả lòng toan trọn bề
Một mình ở đất Đại Đề, Sớm đi khuyên giáo tối về quảy đơm
Trang 15Dốc lòng trả nợ áo cơm, Sống mà trọn nghĩa thác thơm danh hiền”
(925 - 930) Tiếp đến là ông Ngư, ông Tiều những người áo vải quanh năm lao động vất vả để kiếm chén cơm manh áo sống qua ngày, nhưng họ đã sẵn sàng giúp đỡ Vân Tiên trong
cơn hoạn noạn, cùng Vân Tiên “chia ngọt sẻ bùi” trong lúc khó khăn, đúng theo truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, đó là“Lá lành đùm lá rách”
Giữa đêm tối Vân Tiên bị người bạn nham hiểm, độc ác là Trịnh Hâm xô xuống biển chỉ vì lòng ghen tị, ích kỉ, nhỏ nhen May thay chàng được giao long dìu vào bờ, rồi sau đó lại được ông Ngư vớt lên Trong tình trạng khẩn cấp như thế ông Ngư đã vội vàng:
“Hối con vầy lửa một giờ, Ông hơ bụng dạ mụ hơ mặt mày”
(949 - 950)
Cuối cùng Vân Tiên cũng qua cơn nguy hiểm, sau khi nghe Vân Tiên tỏ rõ sự tình ông Ngư rất cảm thương cho số phận bất hạnh của chàng và có nhã ý khuyên chàng sống cùng lão mặc dù gia đình ông cũng đang trong cảnh túng thiếu:
“Ngư rằng: Người ở cùng ta, Hôm mai hẩm hút một nhà cho vui” (957 - 958)
Đúng là trong cơn hoạn nạn mới thấy chân tình Ông Ngư không chỉ cứu sống Vân Tiên mà còn giúp đỡ, đùm bọc chàng trong lúc tưởng chừng như cái chết đang cận kề Lòng tốt của lão chẳng những làm cho Vân Tiên cảm động mà còn ái ngại vì không biết lấy gì báo đáp công ơn to lớn ấy Biết được điều này ông Ngư đã khẳng khái đáp lời Vân Tiên:
“Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ, Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn
Nước trong rửa ruột sạch trơn, Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”
(963 - 966) Đối với ông Ngư, hành động cứu Vân Tiên là một việc làm xuất phát từ lòng
“nhân nghĩa” chứ không phải cứu người để mong được sự báo đáp nào cả Ông Ngư
còn đối xử với Vân Tiên trọn tình trọn nghĩa khi chàng nhờ ông đưa sang nhà Võ
Trang 16Công, tức cha Võ Thể Loan vị hôn thê của Vân Tiên Lúc này ông đã khuyên chàng bằng những lời hết sức chân tình:
“Chớ tin sông cũ đò xưa mà lầm
Mấy ai ở đặng hảo tâm, Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi
Mấy ai hay nghĩ việc đời, Nhớ nơi nghèo khổ quên nơi sang giàu”
(994 - 998) Mới nhìn thoạt tưởng ông Ngư chỉ là người lao động bình thường không màng
chuyện đời, thế nhưng ông không những am hiểu việc đời mà còn hiểu hết kinh luân mọi đàng Cho nên, khi mới tiếp xúc qua với Võ công ông đã nhìn thấu bản chất xấu
xa của hắn Con người này tưởng chừng như là người có nhân, có nghĩa khi ngõ lời hậu tạ ông Ngư vì đã đưa Vân Tiên về:
“Ngư ông đã có công đưa, Tới ngày sau sẽ lo lừa đền ơn” (1007 - 1008)
Chỉ có những người trẻ lòng non dạ như Vân Tiên mới có thể dễ dàng bị Võ công lừa Còn đối với ông Ngư, một người từng trải thì làm sao có thể bị qua mắt được Chẳng những thế ông Ngư còn dạy cho Võ công một bài học đích đáng để hắn biết được thế
nào là việc “nhân nghĩa” ở đời:
“Ngư rằng: Tôi chẳng sờn lòng, Xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàng
Nhớ xưa trong núi Lư San,
Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ Viên
Tới sau đình trưởng đỗ thuyền, Giúp người Hạng Võ qua miền Ô giang
Xưa còn thương kẻ mắc nàn, Huống nay ai nỡ quên đàng ngãi nhơn”
(1009 - 1016)
Đến đây, một lần nữa ông Ngư đã nhắc lại mục đích việc làm của mình là vì cái
“nghĩa” ở đời Đó là truyền thống quý báu đã có từ xưa
Dốc lòng “nhân nghĩa” không cần báo đáp ta không chỉ bắt ở gặp ông Ngư Ông
Tiều khi gặp Vân Tiên bị nạn ở hang sâu đã không ngần ngại mà vội vàng mở gói
Trang 17cơm cho Vân Tiên ăn vì biết được đã mấy ngày liền chàng chẳng có gì lót dạ Rồi mặc
dù tuổi già sức yếu ông Tiều vẫn: “Lão ra sức lão cổng Tiên về nhà” Cũng như ông
Ngư, khi Vân Tiên hứa sau này về tới Đông Thành sẽ đền ơn cứu khổ, thì:
“Lão Tiều mới nói: Thôi thôi, Làm ơn mà lại trông người sao hay?”
(1107 - 1108)
Cả Ngư và Tiều cùng gặp nhau ở một nhân cách lớn đó là sẵn sàng làm việc nghĩa, cứu giúp người trong hoàn cảnh khó khăn mà không cần tới sự trả ơn và không hề so hơn tính thiệt cho riêng mình Tuy họ chỉ là những người lao động bình thường nhưng hành động của họ chính là những việc làm của người quân tử
Thế mới thấy tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu đã có sự sáng tạo
vượt bậc so với Nho giáo Với nhà thơ nhiều khi những con người có vị trí nhỏ bé
trong xã hội lại là người giàu lòng “nhân nghĩa” hơn ai hết Còn những người nhìn bề
ngoài nho nhã, lịch thiệp như Trịnh Hâm cứ ngỡ là người quân tử nhưng lại bất nhân bất nghĩa, có tâm địa độc ác, xấu xa
1 2 2 Trung quân ái quốc
Trong xã hội phong kiến, tư tưởng “trung quân ái quốc” là một trong những tư
tưởng được đặt lên hàng đầu Nguyễn Đình Chiểu là một người xuất thân từ tầng lớp
Nho giáo nên ông cũng không thoát ra khỏi khuôn khổ đó Tư tưởng “trung quân ái
quốc” của ông có sự kế thừa và tiếp thu của các thế hệ nhà Nho trước đó như Trần
Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi
Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Trãi là hai vị anh hùng của dân tộc ta Tuy cả hai sống
vào mỗi triều đại khác nhau nhưng ở họ có chung một tư tưởng lớn đó là “trung quân
ái quốc”
Trần Quốc Tuấn sống vào thời nhà Trần, đây là một triều đại cực thịnh trong xã hội phong kiến Việt Nam So với Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, thì Trần Quốc Tuấn có cái may mắn là được sống trong một xã hội phong kiến tốt đẹp: Vua là một vị minh quân, có lối sống gần gũi với nhân dân Các vua nhà Trần luôn chú ý đến đời sống cực khổ của nhân dân và quan tâm tới việc bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ Chính vì vậy vua luôn được sự tín nhiệm của nhân dân Quần thần trong triều ai ai cũng hết mực trung thành đối với vua Có thể nói Trần Quốc Tuấn là tấm gương sáng
về một người có lòng “trung quân” sâu sắc Tuy cha của ông là Trần Liễu có mối
Trang 18hiềm khích với Trần Cảnh (tức vua Trần Nhân Tông, chú của Trần Quốc Tuấn), bởi lúc đó để ổn định cơ đồ thống trị của họ Trần mà Trần Thủ Độ đã ép Trần Liễu phải nhường một người vợ đang mang thai cho Trần Cảnh Trần Liễu vì vậy mà tìm cách trừ khử Trần Cảnh nhưng mưu kế không thành Trước khi chết Trần Liễu trăn trối lại với con là Trần Quốc Tuấn phải trả cho bằng được mối thù này thì ông mới yên lòng nhắm mắt Trần Quốc Tuấn nhận lời để cha yên lòng trước lúc ra đi nhưng không cho
đó là điều phải Vì ông nhận thấy rằng Trần Nhân Tông là một vị vua tốt luôn lo cho
dân cho nước nếu vâng theo lời cha thì đó chính là một hành động đại nghịch bất đạo,
là hại dân hại nước Và ông giữ trọn tấm lòng trung cho đến cuối đời Tư tưởng
“trung quân” của ông còn được thể hiện qua hành động dùng gậy gỗ thay cho gậy bịt
sắt khi theo hầu vua hay kể tội đứa con bất hiếu Đặc biệt tư tưởng “trung quân” của
Trần Quốc Tuấn còn được thể hiện rõ khi cả ba lần kháng chiến chống quân Nguyên hung bạo ông luôn là người cầm đầu binh sĩ chống lại kẻ thù xâm lược đem lại nền thái bình cho thiên hạ
Nguyễn Trãi là một nhà nho sống vào thế kỷ XV dưới triều đại nhà Lê Ông cũng
là một người suốt đời luôn mang nặng tư tưởng “trung quân ái quốc” Nhưng có lẽ do sống trong một triều đại phong kiến có nhiều biến động nên quan niệm về “trung
quân” của Nguyễn Trãi có phần khác hơn so với chữ “trung” của Nho giáo Chữ
“trung” của Nho giáo bắt buộc con người phải tuyệt đối phục tùng các quy tắc đạo lý đặt ra: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” Có nghĩa là: “Vua khiến bầy tôi chết
mà bầy tôi không chết là bất trung”
Khái niệm chữ “trung” theo quan niệm của Nho giáo Nguyễn Trãi tiếp nhận và
ông đã thực hiện đúng nhân cách của một bầy tôi trung, chứ không tuyệt đối tuân thủ
mù quán theo quan điểm “trung” của Nho giáo Có thể nói cả đời Nguyễn Trãi luôn mang canh cánh trong lòng một nỗi “ trung quân”:
“Bui có một niềm trung hiếu cũ, Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh”
(Bảo kính cảnh giới 31)
“Bui có một lòng trung liễn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”
(Thuật hứng 24)
Trang 19Dù sống trong những triều đại khác nhau nhưng ta thấy Trần Quốc Tuấn và
Nguyễn Trãi đều thấm nhuần tư tưởng “trung quân ái quốc” Tuy về cách thể hiện có
khác nhau nhưng đó không phải là sự hạn chế về tư tưởng của người này hay người kia mà nguyên nhân chính của sự biến đổi tư tưởng này là do sự biến động của xã hội
Cho nên tư tưởng “trung quân ái quốc” của họ đều được thế hệ sau ca ngợi và tiếp thu Tư tưởng “trung quân ái quốc” của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng cho
sự kế thừa và tiếp thu đó
Tư tưởng “trung quân ái quốc” của Nguyễn Đình Chiểu rất gần với quan niệm của Nguyễn Trãi Tức tư tưởng “trung quân” của ông không bó hẹp, cực đoan theo lý
thuyết Nho giáo một chiều mà có sự chuyển biến rõ nét Dõi theo quá trình sáng tác
của Nguyễn Đình Chiểu qua hai thời kỳ thì tư tưởng “trung quân ái quốc” của ông đã
phát triển theo chiều hướng thật tiến bộ
Trong thời bình tư tưởng “trung quân ái quốc” của Nguyễn Đình Chiểu là có điều
kiện: Bề tôi sẽ tuyệt đối trung thành với vua nếu đó là một vị vua anh minh, sáng suốt, biết lo cho đời sống của dân Còn đối với vua bạo chúa, hôn quân thì nhà thơ tỏ thái
độ căm ghét và tuyệt đối không “trung quân” Tư tưởng này được thể hiện rõ ràng,
dứt khoát qua lời ông Quán:
“Quán rằng: Ghét việc tầm phào, Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,
Để dân đến nổi sa hầm sẩy hoang
Ghét đời U Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Ghét đời Thúc quý phân băng, Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”
( Lục Vân Tiên)
Tương truyền rằng “Kiệt Trụ” là vua Kiệt nhà Hạ và vua Trụ nhà Thương Đây là
hai ông vua bạo ngược, vô đạo hoang dâm nhất trong lịch sử các vua chúa Trung Quốc Vua Kiệt say mê Muội Hỷ, vua Trụ say mê Đát Kỷ mà bê tha việc triều chính, không lo cho dân cho nước Cả hai bị nhân dân oán ghét mà mất ngôi
Trang 20Còn “U Lệ” là U Vương và Lệ Vương đời nhà Chu làm nhiều việc bạo ngược, vô
đạo Tiếp theo “Ngũ Bá”: “Cuối đời nhà Chu thời xuân thu, năm Vua chư hầu là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Tần Mục Công và Sở Trang Vương kế tiếp nhau nổi lên làm bá chủ một thời gọi là Ngũ Bá Ngũ Bá đều dựa trên uy lực, đàn
áp, giả nhân giả nghĩa, kéo bè nước này đánh nước kia, nhân dân phải chịu lầm than điêu đứng” [ 28; tr.103]
Đối với những ông vua xấu xa làm hại dân, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than như
thế làm sao có thể “trung quân” được Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời ông Quán để làm người phát ngôn cho tư tưởng của mình Có thể thấy tư tưởng “trung quân” của
Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là xuất phát vì dân chứ không phải vì vua Cho nên đối với những ông vua hại dân như Kiệt Trụ, U Lệ, Ngũ Bá…thì không những không
“trung quân” mà còn quyết liệt lên án
Sang thời chiến, dưới gót giày xâm lược của thực dân Pháp, đất nước ta ngày càng
điêu linh, đời sống nhân dân ngày càng rơi vào thảm khổ Triều đình nhà Nguyễn lúc
này vì bảo vệ ngôi vàng mà đã nhẫn tâm bỏ mặc nhân dân Trước hoàn cảnh đó, tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu đã có sự biến đổi quan trọng Nếu như trong thời bình, nhà
thơ đề cao tư tưởng “trung quân ái quốc” thì sang thời chiến ông đã đảo ngược nó lại thành “ái quốc trung quân” Nguyễn Đình Chiểu có sự thay đổi như thế là do tư tưởng “trung quân ái quốc” của nhà thơ trong thời bình đã sụp đổ hoàn toàn Vua giờ
đây không phải là một vị minh quân mà trái lại đang từng bước đẩy đất nước rơi vào
con đường tăm tối Từ thực tế phũ phàng này, Nguyễn Đình Chiểu đã có sự đổi mới trong quan niệm trung hiếu, quân thần qua việc ông xây dựng hình tượng những người lãnh tụ nghĩa quân như Phan Tòng, Trương Định và qua hành động của họ:
“Vì nước tấm thân đã trải, còn mất cũng cam Giúp đời cái nghĩa đáng làm nên hư nào hại”
(Văn tế Trương Công Định) Hành động của họ giờ đây không còn xuất phát từ quyền lợi của vua nữa mà nó đã gắn liền với nước, với dân Tuy trong chừng mực nào đó Nguyễn Đình Chiểu vẫn chưa thể phủ nhận được nghĩa vụ vua tôi theo quan niệm của Nho giáo, vì đối với ông
lẽ sống lớn ở đời là: “Sống thờ vua, thác cũng thờ vua”, thế nhưng ông đã gắn nó rất
chặt với đại nghĩa dân tộc, với lòng yêu nước thương dân Cho nên ta không thấy làm
lạ khi Nguyễn Đình Chiểu tán thành hành động của Trương Định không tuân theo
Trang 21lệnh vua đầu hàng giặc để làm theo nguyện vọng của nhân dân mà vẫn không cho
hành động đó là trái với đạo “trung quân”:
“Ở đời đốc trọn ơn nam tử Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần”
(Thơ điếu Trương Định) Sống trong xã hội phong kiến, giữa lúc tư tưởng Nho giáo hết sức được đề cao nhưng Nguyễn Đình Chiểu có được quan niệm như vậy quả thực là một sự tiến bộ
1 2 3 Tam cang, ngũ thường
“Tam cang” là ba quan hệ cơ bản trong hệ thống Nho giáo gồm: Quân thần cang, phụ tử cang và phu thê cang “Ngũ thường” là năm đức tính trong hệ thống đạo đức
của Nho giáo gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
Đối với Nho giáo vấn đề “tam cang, ngũ thường” là một trong những vấn đề cơ
bản mà bất cứ người nào trong xã hội phong kiến cũng phải biết và thực hiện Nó
được xem là khuôn vàng, thước ngọc của đạo Nho Hay nói rộng hơn, thuyết nói trên
“là một thứ giáo lí bất khả xâm phạm, nhằm đảm bảo cho trật tự xã hội phong kiến được thuyết lập một cách vững chắc không thể lai chuyển và không thể bị nghi ngờ Nền tảng đạo đức của đạo Nho đồng thời là hệ tư tưởng chính thống của mọi triều đại phong kiến, thuyết tam cang, ngũ thường đã đầu độc tha hóa con người – nhất là giai cấp phong kiến và các tầng lớp trên trong xã hội một cách ghê gớm Nó là một thứ dây vô hình ác nghiệt, trói buộc con người không cựa quậy nổi mà quan hệ vua, tôi là một loại quan hệ đặc biệt, nổi bật được nhấn mạnh, được tô điểm qua các sử sách chính thống của vua chúa [ 23; tr.62]
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt hạn chế như đã nói trên thì thuyết “tam cang, ngũ
thường” vẫn có nhiều yếu tố tích cực nhất định Nó được xem là thước đo và là một
trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá người quân tử
Là một nhà Nho chân chính lẽ đương nhiên là bản thân Nguyễn Đình Chiểu đã thấm nhuần tư tưởng này của Nho giáo Nhà thơ đã kế thừa, tiếp thu những nền tảng
đạo đức tốt đẹp của thuyết “tam cương, ngũ thường” và xem nó như một phương tiện
rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho đời Đồng thời ông cũng loại bỏ những yếu tố tiêu cực của thuyết nói trên và cải tạo nó để phù hợp với đời sống đạo
đức của nhân dân ta
Trang 22Không chỉ áp dụng tư tưởng “tam cang, ngũ thường” trong việc rèn luyện bản thân
mà Nguyễn Đình Chiểu còn đưa nó vào trong văn chương của mình nhằm mục đích
giáo dục con người Trong những sáng tác của mình, ông luôn đặt ra vấn đề “nhân
nghĩa” và “trung hiếu tiết hạnh”, nhưng vấn đề nhà thơ đưa ra không theo quan niệm
áp đặt của đạo Nho mà theo quan điểm của nhân dân Nguyễn Đình Chiểu đã dung hòa hệ tư tưởng Nho giáo với đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là người dân Nam Bộ
Quan niệm về chữ “trung” trong hệ tư tưởng Nho giáo bao giờ cũng yêu cầu con
người phải tuyệt đối trung thành với vua kể cả bọn hôn quân bạo chúa Bất kể là vua
đúng hay sai những chiếu chỉ vua ban ra thì đó là mệnh lệnh, kẻ bầy tôi phải nhất nhất
tuân theo Kể cả vua bảo chết cũng không dám cãi mệnh nếu không sẽ mang tiếng là
bất trung, là nghịch thần đời đời sẽ bị thiên hạ chê cười Chữ “trung” đó được quy cũ
vào những tư tưởng đạo đức bất di bất dịch thành công thức sau:
“Quân xử thần tử thần bất tử bất trung”
Với tinh thần đó chữ “trung” của Nho giáo dễ dàng đẩy con người đi đến ngu trung Sáng tác Nguyễn Đình Chiểu đã đề cập nhiều đến chữ “trung” Nhưng chữ
“trung” của ông không rơi vào con đường bế tắc như trong Nho giáo: “Trung quân”
một cách mù quáng Bởi chữ “trung” theo quan niệm của nhà thơ là “trung” với lẽ phải và cao hơn nữa là “trung” với nước, với dân Các nhân vật trong tác phẩm của ông ít nhiều đã có sự đấu tranh lại với chữ “trung” của Nho giáo Trong truyện thơ
Lục Vân Tiên, nhân vật Kiều Công khi tiễn Kiều Nguyệt Nga xuống thuyền về nước
Phiên đã có ý trách móc Sở Vương Chính vì mệnh lệnh của Sở Vương cho nên cha con Kiều Công mới mỗi người một nước, cách xa dịu vợi:
“Chẳng qua việc ở quân vương Cho nên phụ tử hai đàng xa xuôi”
(1481 - 1482)
Đó là một dấu hiệu chống lại chữ “trung”, điều mà trước giờ trong xã hội phong
kiến không ai dám nghĩ tới Tuy nhiên, ở nhân vật Kiều Công, nhà thơ Nguyễn Đình
Chiểu chỉ mới đưa ra dấu hiệu mờ nhạt về ý thức chống lại chữ “trung” Vì vua là
một kẻ hôn quân, chỉ biết nghe theo lời gian thần xúi giục mà không cần phân biệt
phải trái, trắng đen Chữ “trung” được phản kháng mạnh mẽ khi Nguyễn Đình Chiểu
để cho Kiều Nguyệt Nga có sự đấu tranh quyết liệt giữa chữ “trung” và chữ “tiết”
Trang 23Đến đây nhà thơ muốn khẳng định một điều: Tư tưởng “trung quân” đã không còn
tuyệt đối nữa Nhân vật của ông đã cãi mệnh: Giữa “trung” và “tiết” Nguyệt Nga quyết định chọn lấy chữ “tiết” và dùng cái chết để bảo toàn tiết hạnh Nàng đã đặt
“chồng” ngang với “vua”, thậm chí còn cao hơn vua Đây là một điều hiếm thấy
trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Mặc dù Nguyễn Đình Chiểu để xảy ra mâu thuẫn giữa chữ “trung” và chữ “tiết”,
nhân vật của ông có phần phản kháng quyết liệt nhưng có lẽ do sự hạn chế tư tưởng
của thời đại mà nhà thơ vẫn chưa thể đoạn tuyệt hẳn với chữ “trung” mà vẫn muốn
một sự dung hòa Suy nghĩ của Nguyệt Nga trước khi đi cống phiên chính là để thể hiện sự dung hòa đó:
“Tình phu phụ, nghĩa quân thần, Nghĩa xa cũng trọn ơn gần cũng nên
Nghĩa tình nặng cả hai bên, Nếu ngay cùng chúa lại quên ơn chồng
Sao cho một thác thời xong
Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu”
(1413 - 1418) Bước sang thời kỳ thực dân Pháp đem quân viễn chinh sang tấn công xâm lược nước ta, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu đã biến đổi theo chiều hướng tiến bộ Lúc
này quan niệm về chữ “trung” của nhà thơ có sự phát triển vượt bậc Nếu như ở giai
đoạn trước, Nguyễn Đình Chiểu để xảy ra mâu thuẫn “trung quân” để bảo vệ quyền
lợi cho cá nhân, gia đình nhưng vẫn muốn có sự dung hòa, thì sang giai đoạn này ông
đã dứt khoát chống lại tư tưởng trung với vua mà chuyển sang trung với nước, với
dân Ông đã hết lòng ca ngợi hành động của sĩ phu yêu nước kháng chỉ vua mà đứng
về phía quần chúng nhân dân yêu nước đánh giặc
Quan niệm về chữ “hiếu” của Nguyễn Đình Chiểu cũng có nhiều nét đổi mới hơn
so với Nho giáo Chữ “hiếu” trong Nho giáo là thứ tình cảm một chiều, cũng bắt con cái tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cha mẹ theo kiểu “phụ xử tử vong, tử bất vong
bất hiếu” Còn chữ “hiếu” theo quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu đã mang tính
nhân văn sâu sắc Quan hệ phụ tử theo quan niệm của ông không phải là quan hệ lý trí
một chiều mà là quan hệ tình cảm hai chiều Trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu
đã xây dựng nhân vật Vân Tiên, Nguyệt Nga là những người con chí hiếu hay trong
Trang 24truyện thơ Dương Từ - Hà Mậu thì Xuân Tuyết, Thu Băng, Dương Trân, Dương Bửu
cũng là những người con hết mực yêu thương cha mẹ Cha mẹ của họ cũng đối xử hết sức nhân từ, đôn hậu với các con theo kiểu con thương yêu kính trọng cha mẹ, cha mẹ
nâng niu, hết lòng lo lắng và luôn thấu hiểu, cảm thông với con Hầu hết chữ “hiếu”
trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu diễn ra rất tự nhiên, thoải mái chứ không theo
khuôn khổ của Nho giáo Nhà thơ đã vận dụng chữ “hiếu” vào trong sáng tác của
mình một cách cực kỳ khéo léo chứ không đẩy nó vào con đường khó chịu, gay gắt
như chữ “hiếu” trong Nho giáo Có thể thấy chữ “hiếu” theo quan niệm của Nguyễn
Đình Chiểu có nét giống so với chữ “hiếu” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Cho
nên nó rất gần gũi và phù hợp với đời sống đạo đức của nhân dân ta Chính vì vậy mà
đến nay quan niệm về chữ “hiếu” của Nguyễn Đình Chiểu vẫn được các thế hệ sau
tiếp thu, nó mãi đi sâu vào lòng người và để lại nhiều bài học quý báu
Tiếp theo, quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu về chữ “tiết” tuy vẫn nằm trong khuôn khổ “tam tòng” theo kiểu Nho giáo nhưng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ Trong Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga đã “tại gia tòng phụ” mà vâng lệnh cha qua miền
Hà Khê để “định bề nghi gia” Nhưng giữa đường mắc nạn được Lục Vân Tiên cứu giúp thì lúc này nàng đã tự định đoạt lấy việc “nghi gia” cho mình Nguyệt Nga quyết
định chọn Vân Tiên làm người yêu Nguyễn Đình Chiểu chấp nhận hành động đó của
Nguyệt Nga mà vẫn không thấy nó là bất hiếu bởi nàng không giấu cha việc này, nàng bày tỏ nỗi lòng của mình cho cha thấu hiểu và Kiều công cũng đồng ý với con và hứa:
“Cha nguyền trả đặng ơn này thì thôi”
Cho nên, Nguyệt Nga đã “Đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh” xem Vân Tiên là chồng của nàng Chữ “tiết” theo quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu rất thoải mái
nhưng nhà thơ cũng không đẩy nó đi qua xa truyền thống đạo đức của dân tộc Ông chấp nhận tình yêu trong quan hệ vợ chồng của Kiều Nguyệt Nga Một nét mới trong quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu là ông cho phép con cái được tự quyền định đoạt lấy việc hôn nhân của mình vì biết đâu cha mẹ chẳng có lúc mắc sai lầm trong việc tạo lập gia đình cho con
Về chữ “nhân” của Nguyễn Đình Chiểu cũng có chỗ khác so với chữ “nhân” của Khổng Tử Qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu thì chữ “nhân” của nhà thơ xuất phát từ lòng yêu nước thương dân Còn: “Nội dung chữ “nhân” của Khổng Tử là
“thương người” Thiên Nhan Uyên trong luận ngữ chép: “Phàn Trì hỏi nhân, Khổng
Trang 25Tử nói: “Thương người” nhưng việc thương người của Khổng Tử vẫn có tính giai cấp của nó Chữ “người” của Khổng Tử không bao gồm “dân” Suốt bộ luận ngữ không
có chỗ nào Khổng Tử đề cập đến hai chữ “thương dân” [ 16; 421] Như vậy, chữ
“nhân” của Khổng Tử chỉ đơn thuần là lòng thương người Đối với Nguyễn Đình
Chiểu chữ “nhân” của ông không chỉ là lòng thương người mà còn là lòng thương đối với cả “dân đen, con đỏ”, những người “dân lân, dân ấp” Chữ “nhân” của ông tập
trung nhiều nhất vào những người nghèo khổ, bần cùng trong xã hội:
“Đứa ăn mài cũng trời sinh Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp) Nguyễn Đình Chiểu còn ra sức kêu gọi những người giàu có phải biết thương người nghèo khổ:
“Giàu thời bắt chước xưa hào
Nợ lâu đốt khế, lúa vào đong ra”
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)
Qua đó cho thấy chữ “nhân” của Nguyễn Đình Chiểu đã tiến rất gần với quan điểm
của nhân dân
Nội dung chữ “nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu trong các mối quan hệ cũng khác
hơn so với Nho giáo Trong xã hội phong kiến quan hệ chủ tớ luôn luôn có sự phân
chia đẳng cấp, tôn ty, trật tự rõ ràng Còn trong truyện thơ Lục Vân Tiên, Nguyễn
Đình Chiểu đã làm nổi bật lên tình cảm cao quý về nghĩa chủ tớ giữa Vân Tiên và
Tiểu đồng, Nguyệt Nga và Kim Liên Mặc dù là quan hệ chủ tớ nhưng Vân Tiên đối
xử với Tiểu đồng không khác gì tình máu mủ ruột thịt, chàng không hề phân biệt giai cấp, địa vị đối với Tiểu đồng, khi tưởng Tiểu đồng chết Vân Tiên còn làm văn tế chú
và đau lòng khôn xiết:
“Đọc văn nhớ tới chau mày, Đôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng”
(2005 - 2006) Hay Nguyệt Nga cũng đối xử tốt với Kim Liên không khác gì tình chị em Khi nói chuyện nàng xưng hô với Kim Liên rất ngọt ngào, trìu mến:
“Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Trang 26Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”
( 247 - 248) Tình cảm mà Vân Tiên và Nguyệt Nga dành cho người tỳ tất của mình thật hiếm thấy trong xã hội cũ Chính vì vậy Tiểu đồng và Kim Liên không ngần ngại gì mà đã hết lòng hy sinh cho chủ Khi Vân Tiên ngã bệnh Tiểu đồng đã chăm sóc cho chàng, hay lúc Nguyệt Nga trầm mình xuống biển để giữ trọn lòng thủy chung với Vân Tiên thì Kim Liên tự nguyện thay Nguyệt Nga về cống Phiên Đó là một biểu hiện thật cao
đẹp về tình chủ tớ
Mặt khác, khi nói đến chữ “nghĩa” thì Nguyễn Đình Chiểu cũng đề cập đến nhiều mối quan hệ hơn so với Nho giáo Các mối quan hệ về “nghĩa” trong sáng tác của
ông không hạn hẹp theo nghĩa vua tôi, cha con, thầy trò, vợ chồng, bạn bè, chủ tớ mà
nó được thể hiện trên bình diện rộng hơn như tình dân tộc, nghĩa đồng bào
Thơ văn của ông bao giờ cũng thể hiện tình nghĩa gắn bó với nhân dân, nhà thơ luôn cảm thấy đau lòng, xót thương cho tình cảnh của họ trong cơn quốc biến:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ đàn chim dáo dát bay”
(Chạy giặc)
Từ nghĩa đối với dân nhà thơ nâng nó lên thành nghĩa đối với nước, với dân tộc:
“Mến nghĩa bao đành làm phản nước
Có nhân nào nỡ phụ tình nhà”
(Thán cuộc)
Nhìn chung, khi vận dụng tư tưởng “tam cang, ngũ thường” Nguyễn Đình Chiểu
đã đưa nó ngày càng trở về gần gũi với quan điểm của nhân dân Chính vậy mà thơ
văn ông ra đời đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của họ Là một người được đào tạo từ trường ốc phong kiến và kinh điển của Khổng, Mạnh, Chu, Trình, đặc biệt là sống trong triều đại nhà Nguyễn, Nho giáo hết sức được đề cao mà Nguyễn Đình Chiểu có những quan niệm đạo đức như thế thật là một sự vượt bậc về tư tưởng
Trang 27CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN VỀ SỰ CHUYỂN BIẾN
TƯ TƯỞNG TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
2 1 Từ hành động vì nghĩa trong thời bình chuyển sang hành động vì đại nghĩa trong thời chiến
2 1 1 Hành động vì nghĩa trong thời bình
Hầu hết những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đều nêu cao tinh thần nhân nghĩa Nó được xem như là một yêu cầu quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Trước khi Pháp xâm lược nước ta, ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu đi sâu vào thể hiện trách nhiệm giữa người và người trong xã hội Tức lúc này, nhà thơ nói về các quan hệ đạo đức trong cách đối nhân xử thế Ở đây, ông tập trung
vào ca ngợi những bản chất đạo lý tốt đẹp của nhân dân Ta thấy trong truyện thơ Lục
Vân Tiên, những nhân vật tốt đều là người luôn hành động để nói lên đức lớn “vì nghĩa” Có thể nói “vì nghĩa” là đức tính chung của họ Tuy nhiên, hành động đó lại
được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn như, có người thì luôn sẵn
sàng cứu giúp người khác lúc khó khăn, hoạn nạn Có người lại không thể nhắm mắt,
khoanh tay trước cường hào, áp bức, bất công Hay có người “vì nghĩa” mà không
khoang nhượng sự giả dối, tráo trở, lật lộng
Trong truyện thơ Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên
hình ảnh một chàng Vân Tiên dũng cảm, đầy nghĩa khí Trên đường lên kinh đô đi thi
Vân Tiên trông thấy dân làng lũ lượt kéo nhau vào rừng, vừa đi vừa “than khóc tưng
bừng”, một cảnh tượng thật lạ Vân Tiên chẳng hiểu việc chi, hỏi ra mới biết sự tình:
“Nhơn rày có đảng lâu la, Tên là Đỗ Dự, hiệu là Phong Lai
Nhóm nhau ở chốn Sơn Đài, Người đều sợ nó có tài khôn đương
Bây giờ xuống cướp thôn hương, Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.”
(101 - 106)
Trang 28Nghe dân làng kể chuyện nghịch cảnh của mình, Vân Tiên khi ấy “nổi giận lôi
đình” và chẳng cần đợi lời cầu cứu chàng quyết ra sức cứu giúp người bị ức hiếp:
“Tôi xin ra sức anh hào, Cứu người cho khỏi lao đao buổi này”
(120 - 122)
Theo lời dân làng kể lại thì bọn cướp này rất đông và ngang tàng Trong khi đó,
Vân Tiên chỉ một mình “đơn thương độc mã” nếu chàng đánh lại bọn cướp quả là
“lành ít dữ nhiều”, biết đâu chẳng cứu đặng người mà còn mang họa vào thân rồi dở
dang việc thi cử Thế nhưng Vân Tiên chẳng so hơn tính thiệt cho bản thân mình Việc cấp bách trước mắt là phải dẹp tan lũ cướp vô đạo cứu hai cô gái đang giở khóc giở
cười bên trong xe Vân Tiên nhanh chống “ghé lại bên đàng” để “bẻ cây làm gậy”
đối phó vỡi lũ hung đồ Giữa bọn cướp, tuy chỉ một mình nhưng chàng “tả đột hữu xung” để trừng trị thích đáng bọn cường quyền Thì ra Vân Tiên không chỉ uyên bác
về văn chương mà còn tài giỏi về võ nghệ Chàng đúng là một người văn võ song toàn Có lẽ Nguyễn Đình Chiểu rất yêu quý và trân trọng nhân vật này của mình nên nhà thơ không hẹp hòi gì mà không để cho Vân Tiên đứng ngang hàng với Triệu Tử Long thời Tam Quốc:
“Vân Tiên tả đột hữu xung, Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dương
Lâu la bốn phía vỡ tan, Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay”
( 131 - 134)
Với tinh thần chiến đấu “vì nghĩa” Vân Tiên đã chiến thắng bọn vô loại, bảo vệ
chính nghĩa, diệt trừ tà gian Dẹp tan cướp Phong Lai, Vân Tiên không chỉ giải cứu
được cho chủ tớ Nguyệt Nga, mà chàng còn mang lại cuộc sống an lành cho dân làng
Hành động đó của Vân Tiên thật có ý nghĩa biết bao
Trang 29Vân Tiên làm việc nghĩa một cách vô tư, thấy việc nghĩa là phải làm, tự nguyện dấn thân vào vòng nguy hiểm mà không toan tính Dường như với chàng thư sinh này làm việc nghĩa đã trở thành một nhu cầu tất yếu Thấy việc nghĩa là phải làm, không làm thì thiếu dũng khí và cũng không phải là anh hùng Qua đó cho thấy Vân Tiên thật
là một người giàu lòng nhân nghĩa Hơn nữa, chàng còn là người “trọng nghĩa khinh
tài” Chàng đã khéo léo khước từ sự đáp ơn tha thiết của Nguyệt Nga:
“Vân Tiên nghe nói liền cười, Làm ơn há dể trong người trả ơn
Nay đà rõ đặng nguồn cơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì”
(175 - 178)
Sự chối từ khẳng khái của Vân Tiên làm cho Nguyệt Nga cảm thấy bối rối vì ơn cứu mạng của Vân Tiên quá lớn, nếu không báo đáp nàng chẳng an lòng Cuối cùng Nguyệt Nga xin gởi tặng Vân Tiên cây trâm xem như là để trả nghĩa nặng ơn sâu Nhưng Vân Tiên vẫn một mực không nhận:
“Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài Nào ai chịu lấy của ai làm gì”
(207 - 208)
Đối với Vân Tiên, cứu người bảo vệ chính nghĩa đó là việc mà bất cứ ai thấy cũng phải làm Cho nên chàng không cần báo đáp Đức tính đó càng làm cho hình ảnh của Vân Tiên trở nên cao thượng hơn, đáng quý hơn
Bên cạnh Lục Vân Tiên giàu lòng nghĩa hiệp, Nguyễn Đình Chiểu cũng dựng nên một Hớn Minh giàu lòng dũng khí Hình ảnh của chàng hiện lên như một vị anh hùng
“Lương Sơn Bạc” “Vì nghĩa” chàng đã dũng cảm bẻ đi một giò con quan huyện tên Đặng Sinh, bởi hắn cậy giàu sang ức hiếp người nghèo khổ, làm điều xằm bậy: “Gặp con gái tốt cường gian không ghì” Hớn Minh khi ấy không chút đắng đo quật ngay
tên đó xuống:
“Tôi liền nổi giận một khi Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò.”
(1161 - 1162) Biết trước hành động của mình chắc chắn sẽ rơi vào con đường tù tội, vì đó là con
quan Nhưng cũng như Vân Tiên, Hớn Minh thấy việc “bất bằng” là phải ra tay tương
Trang 30trợ, chàng làm việc nghĩa mà không hề tính toán, so đo cho bản thân mình Làm việc nghĩa là một dũng khí, Hớn Minh càng dũng khí hơn nữa khi đã thừa nhận việc mình làm mà không hề trốn chạy gây phiền lụy cho người vô tội:
“Mình làm nỡ để ai lo,
Bó tay chịu trói nộp cho huyện dàng
Án đày ra huyện Sóc Phang.”
(1163 - 1165)
Bị tù đày cực khổ, bị mất thi lỡ bề “công danh”, rồi khi vượt ngục cũng không
dám ra ngoài đời mà phải ẩn náo cửa từ bi nhưng Hớn Minh không hề thấy hối tiếc về việc làm của mình Vì chàng biết hành động của mình là dốc lòng bảo vệ công lý, chính nghĩa, diệt trừ bọn tà gian ức hiếp dân lành Nếu chỉ vì so hơn tính thiệt cho bản thân mà chàng bỏ mặc gái nhà lành bị cưỡng bức thì phải chăng đó mới thực sự là sai
lầm lớn nhất trong đời chàng Ngoài ra, trong truyện thơ Lục Vân Tiên còn có những nhân vật không tên thực hiện hành động “vì nghĩa”, luôn sẵn sàng cứu giúp người
khác trong cơn hoạn nạn như ông Ngư, ông Tiều, Tiểu đồng Tất cả họ cùng gặp nhau
ở một điểm chung đó là xem của nhẹ nghĩa nặng, không màng danh lợi và “thi ân bất cầu báo”
Bên cạnh đó, trong truyện thơ Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu còn
dụng lên hình ảnh một chàng Tử Trực ngay thẳng, bộc trực, ghét lộc lừa, mưu mô, xảo
trá Đây cũng là người luôn đặt “nhân nghĩa” lên hàng đầu “Vì nghĩa” bằng hữu với
Vân Tiên mà Tử Trực đã mắng cha con Võ Thể Loan và dạy cho họ một bài học đích
đáng về đạo lí sống ở đời
Sau khi thi đỗ tân khoa, Tử Trực hồi hương liền ghé nhà Võ Công thăm bạn hiền
là Vân Tiên Gia đình Võ Công thông đồng nhau bảo Vân Tiên đã nhuốm bệnh qua
đời Hay tin Tử Trực đau buồn khôn xiết Trong lúc chàng đau xót vì bạn chết thì Võ
Công thừa cơ hội đó mà thực hiện ý đồ đen tối của mình Hắn khéo léo đề cập đến mối lương duyên của gái với mục đích là gả Thể Loan cho Tử Trực Những lời nói của hắn thật khiến người ta dễ động lòng:
“Tới đây thì ở lại đây, Cùng con gái lão sum vầy thất gia
Phòng khi hôm sớm vào ra, Thấy Vương Tử Trực cũng là thấy Tiên”
Trang 31(1223 - 1224) Xem ra thì cách nói của Võ Công thật có tình có nghĩa Tức là vì quá thương nhớ Vân Tiên mà gả con gái cho Tử Trực, thấy mặt Tử Trực như thấy mặt Vân Tiên Kiểu nói năng như vậy thật khôn khéo nhưng không khỏi trơ trẽn Không cầm lòng được trước những lời lẽ vô liêm sĩ của một kẻ bất nhân bất nghĩa, Tử Trực mắng thẳng vào mặt
hắn chẳng chút đắn đo Chàng đã mượn những “chuyện xưa tích cũ” để vạch trần bộ
mặt bỉ ổi của con người bội bạc:
“Chẳng hay người học sánh chi, Nói sao những tiếng dị kì khó nghe
Hay là học thói nước tề,
Vợ người Tử Củ đưa về Hoàn Công
Hay là học thói Đường Cung,
Vợ người Tiểu Lạc sánh cùng Thế Dân
Người nay nào phải nhà Tần, Bất Vi gả vợ Dị Nhân lấy lầm Nói sao chẳng biết hổ thầm, Người ta há phải là cầm thú sao?”
(1231 - 1240) Tiếp theo, Tử Trực cũng không buông tha cho Võ Thể Loan, một cô gái trắc nết,
ăn ở hai lòng Chàng thẳng thắn mắng vào mặt Thể Loan khi cô ngõ lời ong bướm, lả
lơi:
“Trực rằng: Ai Lữ Phụng Tiên, Phòng toan đem thói Điêu Thuyền trêu ngươi
Mồ chồng ngọn cỏ còn tươi, Lòng sao mà nỡ buông lời nguyệt hoa
Hổ hang vậy cũng người ta,
So loài cầm thú vậy mà khác chi?”
(1251 - 1256) Qua những lời đối đáp giữa Tử Trực với Võ Công và Thể Loan, ta thấy chàng là một
người chân chính và cương trực Sống ở đời, Tử Trực luôn đặt chữ “nghĩa” lên hàng
đầu “Vì nghĩa” mà chàng không thể làm những việc trái đạo lí với Vân Tiên:
“Vợ Tiên là Trực chị dâu,
Trang 32Chị dâu em bạn dám đau lỗi ghì”
(1229 - 1230)
Trực Tử luôn xem “nghĩa” kết giao tình bằng hữu với Vân Tiên như tình huynh đệ
ruột thịt Cho nên vị hôn thê của bạn chàng coi là chị dâu Nếu vì ham mê nhan sắc
mà kết duyên cùng Thể Loan thì Tử Trực sẽ lỗi “nghĩa” với Vân Tiên Có thể nói hình ảnh của Tử Trực là một mẫu người thật lí tưởng về “nghĩa” bạn bè
Nguyễn Đình Chiểu là người suốt đời sống gần gũi, gắn bó với đời sống của nhân dân, dường như ông nhìn thấy được tất cả những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân,
cũng như nguyện vọng của họ Cho nên xây dựng những nhân vật hành động “vì
nghĩa” trong thời bình ông đã phản ánh được bản chất đạo lý của nhân dân, đó là
những con người “trọng nghĩa khinh tài”, không màng danh lợi, cứu người không cần
báo đáp Đặc biệt đó là những con người không thể ngồi yên, làm ngơ trước mọi thứ gian tà nên lúc nào họ cũng hành động vì chính nghĩa và luôn sẵn sàng chống lại mọi bất công, cường quyền
2 1 2 Hành động vì đại nghĩa trong thời chiến
Trước kia, khi pháp chưa tấn công xâm lược nước ta thì phần lớn các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu nói về các quan hệ đạo đức Cụ thể là nói về trách nhiệm giữa người và người trong các mối quan hệ đối nhân xử thế Giai đoạn này, nhà thơ
tập trung đi vào biểu dương những con người hành động “vì nghĩa” trong thời bình
Sang thời chiến, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu có sự biến đổi rõ nét Lúc này, ngòi bút của nhà thơ chuyển hướng nói về các quan hệ chính trị Nội dung thơ văn của ông luôn phản ánh những vấn đề xã hội nóng bỏng mang tính thời sự cao như: Đất nước ta rơi vào cảnh đọa đày, tang tóc dưới gót giầy xâm lăng của thực dân Pháp; triều đình nhà Nguyễn bán nước cầu vinh; đời sống của nhân dân lầm than, khổ nhục; tội ác dã man của giặc Pháp Qua đó, Nguyễn Đình Chiểu đặt ra trách nhiệm cứu nước, cứu dân thoát ra khỏi ách áp bức, đô hộ Kế thừa truyền thống yêu nước của ông cha ta, bản thân nhà thơ đã dùng ngòi bút làm vũ khí chống lại kẻ thù Đây là một phương thức chiến đấu vô cùng hiệu quả của nhà thơ và nó đã giúp ích rất nhiều cho công cuộc đánh tranh chống giặc cứu nước và bảo vệ dân tộc Ta thấy thơ văn của Nguyễn
Đình Chiểu trong giai đoạn này có nhắc nhiều đến những khái niệm như: “Phận tôi con, nghĩa quân thần, ơn Thánh đế” nhưng thực chất không phải nhà thơ ca ngợi hay
đặt niềm tin vào triều đình phong kiến Những khái niệm đó đối với ông lúc này chỉ
Trang 33đơn thuần là hình thức chữ nghĩa sách vở mà nội hàm sâu sắc của nó chính là sức
mạnh của lòng yêu nước Cho nên, từ việc ngợi ca hành động “vì nghĩa” trong thời
bình, Nguyễn Đình Chiểu đã nhanh chóng hướng ngòi bút của mình sang thể hiện
hành động “vì đại nghĩa” trong thời chiến Đến đây, ông ngợi ca tinh thần, dũng khí
của nhân dân, dân tộc trong cơn quốc biến Chính họ sẽ là những người đứng lên hành
động vì nghĩa lớn: Nghĩa cứu dân, cứu nước để bảo vệ chính nghĩa chứ không còn là
những nhân vật lý tưởng như Lục Vân Tiên, Hớn Minh trong thời bình nữa
Dưới gót giầy xâm lăng của kẻ thù, đất nước ta đang từng bước chìm vào thảm họa
đau thương, nhân dân ta phải sống trong cảnh tang tóc, tiêu điều:
“ Bến Nghé của tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
(Chạy giặc) Thực dân Pháp không chỉ đẩy nhân dân ta vào vòng nô lệ, phải sống trong cảnh khói lửa chiến tranh mà bọn chúng còn tàn phá xóm làng, giết người cướp của gây ra biết bao tai họa cho nhân dân:
“Các bậc sĩ nông công cỗ, liền mang tai với súng song tâm,
Mấy nơi tổng lí xã thôn, đều mắc hại cùng cờ tam sắc”
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục Tỉnh) Trước tội ác tàn bạo của kẻ thù nhân dân tay không thể cứ xuôi tay, nhắm mắt để bọn chúng lấn lướt, đàn áp mãi thế được Bọn chúng đã xâm phạm đến bờ cõi đất đai của dân tộc ta Nên với lòng yêu nước và căm thù giặc hay nói đúng hơn là với tinh thần yêu chính nghĩa, ghét tà gian nhân dân ta quyết đứng lên chống lại kẻ thù để cứu nước và cũng để cứu chính mình Vì triều đình nhà Nguyễn giờ trở nên bất lực, hèn nhát không dám kháng cự lại thực dân Pháp
Là một người có tấm lòng yêu nước, thương dân nên Nguyễn Đình Chiểu rất xót
xa trước cảnh đất nước rơi vào thảm khổ Nhưng nhà thơ không chỉ biết đau lòng rồi nhắm mắt xuôi tay nhìn kẻ thù tàn phá quê hương Ông cố gắng làm những gì có thể
để giúp ích cho công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta mau chóng đi đến
ngày thắng lợi Cho nên, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu lúc này đi sâu vào ca ngợi những người yêu nước, dám đứng lên đánh Tây nhằm mục đích cổ vũ tinh thần chiến
đấu và kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân ta Trước hết, trong giai đoạn này nhà thơ
đi sâu vào khắc họa hình ảnh hiên ngang, dũng cảm của những bậc anh hùng vì “đại
Trang 34nghĩa” mà phò đời giúp nước như Phan Tòng, Trương Định Nguyễn Đình Chiểu hết
sức đề cao tinh thần yêu nước của họ Vì chính họ là những người dũng cảm dám
đứng ra tổ chức, lãnh đạo nhân dân chống Pháp và luôn là người đứng đầu trong
những phong trào kháng chiến ấy Với tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất họ luôn xem nhẹ cái chết và quyết chống giặc đến cùng dẫu phải hi sinh cũng nhất quyết không đầu hàng giặc:
“Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây”
(Thơ điếu Phan Công Tòng)
Dù trải qua bao khó khăn, tủi nhục nhưng họ vẫn không sờn lòng, vẫn vững lòng chiến đấu vì đại nghĩa dân tộc:
“Làm người trung nghĩa đáng bia son, Đứng giữa càng khôn tiếng chẳng mòn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước, Râu mày giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết, Khí phách ngàn thu rỡ núi sông”
(Thơ điếu Phan Công Tòng) Ngoài ca ngợi tinh thần chiến đấu vì nghĩa lớn của những người sĩ phu yêu nước
đánh Tây, Nguyễn Đình Chiểu còn ca ngợi tinh thần, dũng khí chiến đấu gan dạ của
nhân dân để bảo vệ nền độc lập dân tộc Họ là những người có ý thức rất cao về nghĩa
vụ của mình nên đã tự nguyện làm “quân chiêu mộ”, trở thành những tráng sĩ dẹp
loạn Mặc dù họ chỉ là những người lao động bình thường, quanh năm chỉ gắn bó với
việc cuốc cày nhưng khi chiến đấu lại rất hăng hái, sẵn sàng xông vào “ăn gan, cắn
cổ” kẻ thù Tuy việc binh đao đối với họ rất xa lạ vì chưa từng được tập luyện, vũ khí
đánh giặc cũng rất thô sơ nhưng họ vẫn chiến đấu hiên ngang, lăn xả liều mình vào
đồn giặc bất chấp những thứ “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu đồng, súng ống” của kẻ thù Đối
với họ chỉ cần tiêu diệt được kẻ thù thì dù phải chết họ cũng cam lòng, tình nguyện Phải chăng họ có tinh thần chiến đấu dũng cảm như vậy là xuất phát từ lòng căm thù
giặc Họ không thể chứng kiến bao cảnh trái tai gai mắt vì “mùi tinh chiên vấy vá đã
ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” Hay nói rộng hơn họ chiến đấu vì lòng
yêu nước thiết tha, họ chiến đấu vì non sông đất nước của dân tộc bởi “bờ cõi xưa đà
chia đất khác”, bởi kẻ thù đã xâm phạm đến bàn thờ tổ tông của dân ông cha “quăng
Trang 35vừa hương, xô bàn độc”, xâm phạm tới “tấc đất ngọn rau” của dân tộc Họ chính là
những người có tinh thần can đảm, có quyết tâm sắt đá, luôn sẵn sàng sống, chiến đấu
và hi sinh vì “đại nghĩa” dân tộc
Trong thời bình, Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi hành động “vì nghĩa”, bước sang
thời chiến với những biến động của xã hội nhà thơ chuyển sang ca ngợi hành động vì
“đại nghĩa” nhằm mục đích khẳng định cũng như cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân
dân ta Đồng thời nhà thơ cũng muốn tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc để chống lại kẻ thù trong cơn quốc biến Qua đó cho thấy tấm lòng yêu nước của nhà thơ, vì cảnh ngộ riêng Nguyễn Đình Chiểu không thể tự tay xông pha ra chiến trường giết giặc như những sĩ phu yêu nước, nhưng ông luôn dõi theo vận mệnh của dân tộc và làm bất cứ việc gì có thể để giúp ích cho cuộc kháng chiến chống Pháp Tấm lòng cao cả của nhà thơ thật đáng để cho chúng ta trân trọng
2 2 Từ ca ngợi lòng chung thủy trong thời bình chuyển sang lòng trung thành với đất nước trong thời chiến
2 2 1 Lòng chung thủy trong thời bình
Tình yêu là vấn đề muôn thuở và là một nhu cầu thiết yếu của nhân loại Bởi nó góp phần tô điểm cho cuộc sống của con người ngày càng tươi đẹp hơn Nhưng muốn
có được mối tình trong sáng thì trước hết cần phải chung thủy trong tình yêu Đây là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu góp phần mang đến cho con người cuộc sống ấm êm Ngược lại, nếu yêu nhau mà một trong hai người sinh lòng phản trắc thì cuộc tình đó chẳng những không ra hoa, kết trái mà đôi khi còn rơi vào con đường bi kịch
Như vậy, lòng thủy chung son sắt không chỉ là điều kiện “đủ” mà nó còn là điều kiện “cần” để có một tình yêu chân chính Thế nhưng, con đường đi đến bến bờ hạnh
phúc không phải lúc nào cũng bằng phẳng như ta mơ ước mà có biết bao chông gai, thử thách Nếu không kiên trì, nhẫn nại thì con người sẽ dễ dàng thay lòng đổi dạ Bằng sự trải nghiệm của bản thân, Nguyễn Đình Chiểu đã nếm đủ hương vị chua chát của sự bạc tình, phản bội mà người vợ chưa cưới đem đến cho ông Chính vì vậy,
không phải ngẫu nhiên trong truyện thơ Lục Vân Tiên, nhà thơ đã dựng lên mối tình lí
tưởng giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga Phải chăng, qua chuyện tình của họ Nguyễn
Đình Chiểu muốn thể hiện khát vọng của nhà thơ về một tình yêu chân chính, bởi
“người thanh niên bị phụ tình đã ước mơ một mối tình chung thủy” [ 8; tr.16]
Trang 36Có thể nói tình yêu của Vân Tiên và Nguyệt Nga thật đẹp Đây là mối tình của một đôi thanh mai trúc mã Vân Tiên là chàng thư sinh văn võ song toàn Còn Nguyệt
Nga là một thiếu nữ con nhà khuê các đa tài, giỏi “cầm kì thi họa” Họ đúng là một cặp giai nhân tài tử Cho nên, trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã xếp đặt cho
đôi trai gái này gặp nhau trong một bối cảnh hết sức đặc biệt: Vân Tiên trên đường đi
thi, gặp Nguyệt Nga bị bọn cướp hung ác bắt đi và chàng sẵn sàng ra tay cứu giúp
Nhà thơ khéo léo dựng lên tình huống “anh hùng cứu mỹ nhân” để từ đó làm nảy sinh
một chuyện tình lãng mạn của đôi trai tài gái sắc Sau khi được Vân Tiên cứu mạng,
trong lòng Nguyệt Nga chẳng những mang nặng “nghĩa” mà còn nặng “tình” với chàng Dù vâng lệnh cha qua miền Hà Khuê để “định bề nghi gia” nhưng trước hành
động nghĩa hiệp của Vân Tiên thì Nguyệt Nga đã thấy tâm hồn xao xuyến và yêu tha
thiết chàng Đến lúc Vân Tiên từ biệt, nàng đã một mực xác định lòng chung thủy duy nhất với chàng rồi:
“Nguyệt Nga than thuở: Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình, Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương
Nặng nề hai chữ uyên ương, Trăm năm cho vẹn chữ tùng mới an”
(238 - 244)
Tình yêu của Nguyệt Nga dành cho Vân Tiên thật lãng mạn: Vì cám “nghĩa” mà
nàng yêu tha thiết vị ân nhân cứu mạng và nguyện suốt đời gắn bó với chàng Mối tình ấy còn lãng mạn hơn khi Nguyệt Nga đã chủ động lựa chọn tình yêu cho mình
Trong xã hội phong kiến ngày xưa, bổn phận làm con thì nhất định phải “tại gia tòng
phụ” và trong chuyện tình yêu, hôn nhân thì cha mẹ đặt đâu con cái phải ngồi đó
không được cãi lời Bởi thế trong dân gian mới có câu nói truyền miệng nhau rằng:
“Áo mặc sao qua khỏi đầu” nhằm nói lên việc dựng vợ, gã chồng cho các con đều
phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ Còn trong Lục Vân Tiên, nhân vật Nguyệt Nga dẫu biết rằng: “Làm con đâu dám cãi cha”, nhưng nàng đã đi theo tiếng gọi của con tim
và tự định đoạt lấy việc hôn nhân cho mình Nếu như Thúy Kiều trong Truyện Kiều
của nhà thơ Nguyễn Du, sau khi tình cờ gặp Kim Trọng, trở về nàng đã thấy lòng mình vấn vương, lưu luyến và băn khoăn tự hỏi:
“Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trang 37Trăm năm biết có duyên gì hay không?”
thì trong truyện thơ Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga lúc chia tay Vân Tiên cũng không
thoát khỏi tâm trạng đó Biết được lòng mình yêu Vân Tiên nên nàng luôn cầu nguyện
ơn trên ban phước lành, tác hợp cho mối lương duyên này:
“Vái trời cho đặng vuông tròn, Trăm năm cho trọn lòng son với chàng”
(251 - 252) Lúc này, trong thâm tâm Nguyệt Nga đã chọn Vân Tiên làm chồng của mình Nguyễn
Đình Chiểu để cho Nguyệt Nga quyết định hạnh phúc trăm năm cho nàng nhưng ta
vẫn không thấy nàng vượt qua quyền hạn của song thân Vì tình yêu của Nguyệt Nga dành cho Vân Tiên là chính đáng, nó được kết tinh từ ơn nghĩa mà thành Hơn nữa, nàng đã không ngần ngại mà bày tỏ nỗi lòng của mình cho cha biết Chính vì vậy mà Kiều công chẳng những không phản đối mà còn chấp nhận tình cảm đó của con Được
sự bằng lòng của cha nên Nguyệt Nga không chút đắn đo mà “Đặt bèn hương án chúc
nguyền thần linh” Kể từ đó nàng xem Vân Tiên như chồng của mình rồi Thế mới
thấy tình yêu của Nguyệt Nga dành cho Vân Tiên thật lãng mạn, sâu sắc và thật không tầm thường chút nào Chỉ cần một lần gặp gỡ, tiếp xúc với Vân Tiên nàng đã nhớ như
in diện mạo, vóc dáng của chàng:
“Làu làu một tấm lòng thành, Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên”
(283 - 284) Qua tình yêu của Nguyệt Nga, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu không chỉ xây dựng một mối tình lãng mạn mà ông còn muốn làm nổi bật lên cho chúng ta thấy đây là một tình yêu cao đẹp, được kết tinh từ lòng chung thủy sắt son
Nếu như hình ảnh của Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực là hiện thân của những chàng trai lí tưởng, thì Nguyệt Nga được xem như là hình ảnh mẫu mực của một người phụ nữ có lòng thủy chung son sắt Mặc dù giữa nàng và Vân Tiên vẫn chưa có
được một lời thề non hẹn biển nhưng nàng đã chính thức xem Vân Tiên là chồng và
nguyện suốt đời gắn bó với chàng Cho nên khi nghe Lục ông báo tin Vân Tiên số mạng không may, trên đường đi thi chàng đã nhuốm bệnh và qua đời Nguyệt Nga lúc
đó rất đau đớn:
“Nguyệt Nga đứng dựa bên phòng,
Trang 38Tay ôm bức tượng khóc ròng như mưa”
(1301 - 1304) Những lời của Lục ông thật chí tình chí nghĩa nhưng vẫn không thể nào lay chuyển
được sự thủy chung của nàng dành cho Vân Tiên Với Nguyệt Nga một khi đã chót
trọn nguyền thì dẫu cho đến khi già tóc xanh đổi màu cũng nhớ lấy mối tơ duyên mà mình đã định ước Dù người ngày xưa không còn trên cõi đời này nữa cũng không dễ
gì quên được nghĩa nặng ơn sâu ngày trước Cho nên vì quá thương nhớ Vân Tiên mà Nguyệt Nga đã ngã bệnh nhưng vẫn thức trắng thâu đêm để tưởng nhớ người xưa:
“Thề xưa tạc dạ ghi lời, Thương người quân tử biết đời nào phai”
(1329 - 1330) Nàng xót xa cho số phận ngắn ngủi của Vân Tiên rồi cũng tủi thương cho cuộc tình dang dở của mình Giữa lúc ấy Kiều công thức dậy, nghe con than khóc mà đau đớn trong lòng rồi tìm lời khuyên giải con:
“Khuyên rằng: Con chớ cưu mang,
Gẫm trong còn mất là đàn xưa nay
Đờn cầm ai nỡ đứt dây, Chẳng qua con tạo đổi xây không thường”
(1347 - 1350) Nhưng với lòng thủy chung son sắt của mình, Nguyệt Nga nguyện suốt đời sống vậy
để giữ trọn lời thề với Vân Tiên Nàng đã thẳng thắn thưa với cha quyết định của
mình:
“Trăm năm thề chẳng lòng phàm, Sông Ngân đưa bạ cầu Lam rước người
Thân con còn đứng giữa trời,
Trang 39Xin thờ bức tượng trọn đời thời thôi”
(1355 - 1358) Đến đây có thể thấy lòng thủy chung, son sắt của Nguyệt Nga trong tình yêu thật
đáng để chúng ta ca ngợi Nàng không chỉ giữ trọn lời thề khi Vân Tiên còn sống mà đến lúc ngỡ chàng đã chết thì tình yêu ấy vẫn không có gì thay đổi được Phẩm chất
này của nàng hoàn toàn đối lập lại với Võ Thể Loan Ngày trước, khi Vân Tiên lần
đầu đến thăm Võ công, chàng được cả nhà hết sức yêu mến Thể Loan đưa tiễn Vân
Tiên vị hôn phu của mình lên đường đi thi bằng những lời hết sức duyên dáng, tình tứ:
“Thưa rằng: Công tử phó công, Xin thương bồ liễu chữ tòng ngây thơ
Tấm lòng thương nhớ gió mưa, Đường xa nghìn dặm xin đưa một lời”
(401 - 104) Qua những lời nói ấy những tưởng Võ Thể Loan là một cô gái chính chuyên, chung thủy Ai ngờ khi Vân Tiên mang tật mù lòa trở về thì chính người mà ngày xưa thề thốt nặng tình:
“Chàng dầu cung quế xuyên dương, Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng”
(409 - 410) Nay đã thay lòng đổi dạ và giở giọng khinh khi, tráo trở, phản bội:
“Thà không chịu chót một bề,
Nỡ đem mình ngọc dựa kề thất phu
Dốc lòng chờ đợi danh nhu,
Rể đâu có rể đui mù thế ni”