TÓM TẮT Luận văn “Các nhân tố tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” nhằm phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người Hướng Dẫn Khoa học:
PGS.TS ĐINH PHI HỔ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, với
sự nỗ lực của bản thân, sự hướng dẫn tận tình của quý, thầy cô Khoa Kinh tế, Viện Sau
Đại học, đến nay tôi đã hoàn tất luận văn “Các nhân tố tác động đến thu nhập Hộ
gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp”
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Người hướng dẫn khoa học của tôi, PGS.TS Đinh Phi Hổ đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp, Cục Thống
kê tỉnh Đồng Tháp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Đồng Tháp, UBND huyện Lai Vung, Chi cục thống kê huyện Lai Vung, UBND các xã trên địa bàn huyện Lai Vung đã tạo điều kiện giúp đỡ rất nhiều trong quá trình thu thập dữ liệu thứ cấp, đặc biệt là trong quá trình điều tra phỏng vấn để lấy dữ liệu sơ cấp phục vụ cho luận văn này
Cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên, hỗ trợ quí báu về nhiều mặt cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày……… tháng 6 năm 2015
HỌC VIÊN: CAO TRỌNG DANH
Trang 4TÓM TẮT
Luận văn “Các nhân tố tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn địa
bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” nhằm phân tích các nhân tố tác động đến thu
nhập của hộ gia đình nông thôn, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao thu nhập
Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Nghiên cứu được tiến hành qua 2 bước: Bước 1 tiến hành nghiên cứu sơ bộ, bước 2 nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính Kỹ thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đư
ra mô hình nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng: tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu hệ thống và kích thước mẫu hợp lệ là 257 mẫu, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức sống của các Hộ gia đình tuy có cải thiện nhưng vẫn còn nhiều Hộ gia đình có mức thu nhập thấp Nguồn thu nhập chính phần lớn là từ nông nghiệp vì thế mức thu nhập tương đối thấp và bấp bênh Nghiên cứu này còn xác định được nhân tố tác động đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
các xã trên địa bàn huyện Lai Vung là: Nghề nghiệp của chủ hộ, kinh nghiệm làm việc
của chủ hộ, số năm đi học của chủ hộ, diện tích đất của hộ, số hoạt động khác tạo ra thu nhập và khả năng vay vốn từ các định chế chính thức
Qua đó nghiên cứu này đưa ra một số kiến nghị cho hộ gia đình, chính quyền địa phương tham khảo để bổ sung thêm một số giải pháp định hướng nâng cao thu nhập cho Hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung, góp phần ổn định đời
sống, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở trên địa bàn huyện
Trang 5MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
CHƯƠNG 1 - 1
1.1.Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu: - 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: - 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: - 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: - 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: - 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu: - 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài: - 4
1.7 Kết cấu dự kiến của luận văn: - 4
1.8 Tóm tắt Chương 1: - 5
CHƯƠNG 2 - 6
2.1 Các khái niệm: - 6
2.1.1 Nông thôn: - 6
2.1.2 Hộ và Hộ nông thôn: - 7
2.1.3 Thu nhập: - 8
2.1.4 Thu nhập của hộ gia đình: - 8
2.2 Các nhân tố tác động thu nhập của Hộ gia đình nông thôn - 8
2.2.1 Nghề nghiệp chính của chủ hộ - 9
2.2.2 Kinh nghiệm của chủ hộ - 10
2.2.3 Trình độ học vấn của chủ hộ - 11
2.2.4 Giới tính của chủ hộ - 11
2.2.5 Số nhân khẩu của hộ: (quy mô hộ) - 12
2.2.6 Tỷ lệ phụ thuộc - 12
2.2.7 Diện tích đất sản xuất - 13
2.2.8 Số hoạt động tạo ra thu nhập - 13
2.2.9 Khả năng tiếp cận tín dụng (từ nguồn chính thức): - 14
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây: - 15
2.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài - 15
Trang 62.3.2 Các nghiên cứu trong nước: - 16
2.4 Kinh nghiệm thực tiễn nâng cao thu nhập Hộ gia đình nông thôn: - 18
2.4.1 Ở một số nước khác: - 18
2.4.2 Kinh nghiệm trong nước: - 20
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất - 21
2.6 Tóm tắt chương 2 - 22
CHƯƠNG 3 - 23
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - 23
3.1.1 Về vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên: - 23
3.1.2 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Lai Vung - 26
3.2 Tóm tắt chương 3 - 30
CHƯƠNG 4 - 32
4.1 Quy trình nghiên cứu - 32
4.2 Phương pháp nghiên cứu: - 34
4.3 Mô hình nghiên cứu chính thức - 34
4.5 Dữ liệu nghiên cứu - 39
4.5.1 Nguồn dữ liệu thu thập - 39
4.5.2 Phương pháp chọn mẫu và xác định kích thước mẫu - 40
4.5.3 Mẫu nghiên cứu - 40
4.5.4 Quy trình xử lý số liệu: - 42
4.5.5 Phân tích dữ liệu - 42
4.5.5.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu - 42
4.5.5.2 Các kiểm định trong mô hình nghiên cứu - 42
4.6 Tóm tắt Chương 4: - 44
CHƯƠNG 5 - 46
5.1 Kết quả nghiên cứu - 46
5.2 Kết quả nghiên cứu định lượng - 46
5.2.1 Thống kê mô tả, phân tích kết quả nghiên cứu - 46
5.2.1.1 Thu nhập bình quân đầu người của Hộ gia đình nông thôn - 46
5.2.1.2 Thu nhập với nghề nghiệp của chủ hộ - 48
5.2.1.3 Thu nhập với kinh nghiệm của chủ hộ - 49
Trang 75.2.1.4 Thu nhập với số năm đi học của chủ hộ - 50
5.2.1.5 Thu nhập với giới tính của chủ hộ - 50
5.2.1.6 Thu nhập với số nhân khẩu của hộ (quy mô hộ) - 52
5.2.1.7 Thu nhập với tỷ lệ phụ thuộc - 53
5.2.1.8 Thu nhập với quy mô diện tích đất - 53
5.2.1.9 Thu nhập với số hoạt động tạo thu nhập - 54
5.2.1.10 Thu nhập với việc vay vốn từ các định chế chính thức - 55
5.2.2 Kết quả phân tích mô hình nghiên cứu - 56
5.2.2.1 Kết quả hồi quy - 56
5.2.2.2 Kiểm định tổng quát mô hình nghiên cứu - 57
5.2.3 Giải thích các biến có ý nghĩa - 59
5.2.3.1 Kết quả hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa (Unstandardized Coefficient) 60 5.2.3.2 Kết quả hệ số hồi quy chuẩn hóa (Standardized Coefficient) - 63
5.2.4 Giải thích các biến không có ý nghĩa - 63
CHƯƠNG - 65
6.1 Kết luận - 65
6.2 Đóng góp của luận văn - 65
6.3 Kiến nghị - 65
6.4 Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo - 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 70
PHỤ LỤC - 75
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp 23
Hình 4.1: Quy trình nghiên cứu 34
Hình 5.1: Tình hình hộ nghèo tại các xã trên địa bàn huyện Lai Vung 48
Hình 5.2: Tình hình nghề nghiệp của hộ gia đình 48
Hình 5.3: Trình độ học vấn trung bình theo giới tính của chủ hộ 52
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tốc tăng trưởng kinh tế bình quân huyện Lai Vung giai đoạn 2011-2014 26
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của huyện Lai Vung từ năm 2011 đến 2014 27
Bảng 3.3 Sản lượng lúa giai đoạn 2010-2014 27
Bảng 3.4: Thu nhập bình quân đầu người của huyện Lai Vung (2011-2014) 29
Bảng 3.5 Số liệu thu nhập bình quân đầu người năm 2014 các 29
huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Đồng Tháp 29
Bảng 5.1: Thu nhập bình quân đầu người của Hộ gia đình nông thôn 47
Bảng 5.2 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 47
Bảng 5.3 Thu nhập với nghề nghiệp của chủ hộ 48
Bảng 5.4: Thu nhập với kinh nghiệm của chủ hộ 49
Bảng 5.5: Thu nhập với số năm đi học của chủ hộ 50
Bảng 5.6: Thu nhập với giới tính của chủ hộ 51
Bảng 5.7: Thu nhập với số nhân khẩu của hộ 52
Bảng 5.8: Thu nhập với tỷ lệ phụ thuộc 53
Bảng 5.9: Thu nhập với diện tích đất của hộ 54
Bảng 5.10: Thu nhập với số hoạt động tạo thu nhập 55
Bảng 5.11: Thu nhập với việc vay vốn từ các định chế chính thức 56
Bảng 5.12: Kết quả hồi quy của mô hình 57
Bảng 5.13: Kết quả hồi quy của mô hình và VIF 58
Bảng 5.14: Kết quả hệ số Durbin -Watson 59
Bảng 5.15: Kết quả kiểm định White 59
Bảng 5.16: Vị trí quan trọng của các yếu tố 63
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSXH : Chính sách xã hội
CN-XD : Công nghiệp - Xây dựng
FGLS : Feasible General Least Square (Phương pháp bình phương bé nhất tổng
quát khả thi) GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
OLS : Ordinary Least Squares (Phương pháp bình phương bé nhất)
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TM-DV : Thương mại - Dịch vụ
VHLSS : Vietnam Household Living Standards Survey (Điều tra mức sống hộ gia
đình Việt Nam) VIF : Variance Inflation Factor (Hệ số phóng đại phương sai)
WLS : Weighted Least Squares (Phương pháp bình phương bé nhất có trọng số) WTO : World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 11CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Nội dung Chương mở đầu sẽ giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu;câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu:
Ở nước ta, nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước Đặc biệt kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kinh tế tiếp tục tăng trưởng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy nhiên, đến nay so với các nước trong khu vực Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp và có thu nhập bình quân đầu người thuộc vào loại thấp Đời sống của một bộ phận dân cư, người dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập vẫn thấp so với các vùng khác, đời sống giữ thành thị và nông thôn chênh lệch nhiều
Đồng Tháp là một tỉnh nông nghiệp thuộc Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên là 3.238 km2, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 80% diện tích toàn tỉnh và hơn 82,73% dân cư sống vùng nông thôn, có trên 73,59% lao động nông nghiệp Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm gần 50% trong tổng cơ cấu kinh tế của tỉnh
và sản xuất nông nghiệp là nguồn thu chính đại đa số người dân nông thôn Mặc dù trong những năm gần đây kinh tế tỉnh Đồng Tháp có tăng trưởng và phát triển tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ người dân có mức thu nhập thấp vẫn còn cao Theo Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2014 của Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2014 là 7,5% tương đương 32.000 hộ, cận nghèo 7% tương đương 30.000 hộ và thu nhập bình quân đầu người tính đến năm 2014 là 16,18 triệu đồng/người/năm (theo giá cố định 1994)
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân – nông thôn với quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn, Đồng Tháp xây dựng
Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong đó Đồng Tháp tập trung nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp của cư dân nông thôn làm sao đạt mức trung bình của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nâng cao thu nhập nông dân là mục đích chính Phấn đấu
Trang 12thu nhập bình quân đầu người tăng 12,9%/năm (đến năm 2020 là 29,6 triệu đồng tương đương 2.692 USD theo giá cố định 1994)
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, ngành nông nghiệp cả nước nói chung và của tỉnh Đồng Tháp cũng như huyện Lai Vung nói riêng, vẫn còn nhiều hạn chế như: sản xuất nông nghiệp thắng lợi nhưng thu nhập người nông dân thấp, chưa hình thành được mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp; phát triển mạnh nhưng chưa thật sự bền vững, tăng trưởng chưa đạt yêu cầu, chủ yếu là dựa vào vốn, lao động, yếu tố áp dụng khoa học kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp Sản xuất nông nghiệp của huyện phổ biến vẫn là quy mô nhỏ (diện tích canh tác ít), phân tán, năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều loại nông sản thấp, giá thành một số sản phẩm cao Quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp dần, dân số ngày càng tăng, năng suất, kinh nghiệm lao động chưa cao, trình độ dân trí còn thấp từ đó dẫn đến thu nhập phần đông Hộ gia đình nông thôn ở mức thấp Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Lai Vung so với các huyện thị trong tỉnh còn cao, đời sống của nhiều hộ gia đình vẫn còn gặp nhiều khó khăn Thu nhập người nông dân tuy được cải thiện nhưng tích lũy vẫn thấp còn khoảng cách chênh lệch cao so với thành thị, đặc biệt là vùng sâu Nhiều
hộ gia đình tuy đã thoát khỏi diện nghèo nhưng thực tế thu nhập cũng chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo không đáng kể Do vậy, việc tìm ra giải pháp nâng cao thu nhập của Hộ gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng
Từ thực trạng đó đặt ra một áp lực lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Đồng Tháp nói chung và huyện Lai Vung nói riêng Vì vậy nghiên cứu “Các nhân tố
tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung” là rất cần
thiết nhằm phản ánh rõ hơn thực trạng thu nhập và các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình của địa phương, từ cơ sở đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nâng cao thu nhập cho các Hộ gia đình nông thôn huyện Lai Vung, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế của huyện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau đây:
Đánh giá thực trạng thu nhập Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Trang 13Xác định, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến thu nhập
hộ gia đình khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung
Gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ gia đình khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Hiện trạng thu nhập của Hộ gia đình nông thôn huyện Lai Vung cao hay thấp? Yếu tố nghề nghiệp có tác động đến thu nhập Hộ gia đình hay không?
Yếu tố kinh nghiệm có tác động đến thu nhập Hộ gia đình hay không?
Yếu tố số năm đi học của chủ hộ có tác động đến thu nhập Hộ gia đình hay không?
Yếu tố diện tích đất của hộ có tác động đến thu nhập Hộ gia đình hay không?
Số hoạt động khác tạo ra thu nhập và khả năng vay vốn từ các định chế chính thức có tác động đến thu nhập Hộ gia đình trên địa bàn hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề Thu nhập của Hộ gia đình
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu là 11 xã trong địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Gồm 11 xã: Hòa Long, Long Thắng, Long Hậu, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa, Phong Hòa, Tân Dương và Hòa Thành
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: Nghiên cứu sơ bộ thực hiện thông qua phương pháp định tính Kỹ thuật
thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện ra các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, làm cơ sở cho việc hình thành đề tài nghiên cứu và
mô hình nghiên cứu chính thức, cách thiết kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu
Bước 2: Nghiên cứu chính thức thực hiện bằng phương pháp định lượng, tiến
hành phỏng vấn trực tiếp các Hộ gia đình ở nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung để xây dựng dữ liệu sơ cấp và xác định các nhân tố nào có ảnh hưởng đến thu nhập của
Hộ gia đình
Trang 14Phương pháp này thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 18 và Exel 2010
1.6 Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài nghiên cứu này chỉ ra được các nhân tố tác động đến thu nhập của Hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung, nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn cho địa phương Và kết quả nghiên cứu của đề tài này là cơ
sở khoa học thiết thực giúp chính quyền địa phương, các Hộ gia đình tham khảo để có những giải pháp cụ thể hơn và khả thi hơn nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ gia đình khu vực nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
1.7 Kết cấu dự kiến của luận văn:
Đề tài nghiên cứu được trình bày trong 6 chương bao gồm cả Chương mở đầu
và chương kết luận, kiến nghị Cụ thể như sau:
Chương 1: Mở đầu
Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và
ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trong chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề thu nhập Nêu lại những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của Hộ gia đình nông thôn và đề xuất đưa ra mô hình nghiên cứu
Chương 3: Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
Chương này trình bày về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và đặc điểm của tình hình địa bàn nghiên cứu, trong chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu trên
Chương 5: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ, phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Trang 15Chương 6: Kết luận và khuyến nghị
Đánh giá tổng quan toàn bộ kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra một số giải pháp
có tính chất gợi ý, khuyến nghị nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, nêu thêm những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
1.8 Tóm tắt Chương 1:
Vấn đề thu nhập của Hộ gia đình ở mọi nơi đều thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cho dù quốc gia đó giàu mạnh, nghèo đói hay những địa phương nhỏ Vì thu nhập hộ gia đình là chỉ báo quan trọng có ý nghĩa kinh tế để đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia, mức sống của một khu vực địa lý, một địa phương Thu nhập
có thể khác nhau giữa các khu vực, giữa các vùng, miền, đặc biệt giữa thành thị và nông thôn Vấn đề làm sao để gia tăng thu nhập đối với hộ gia đình hoặc để cải thiện mức sống người dân và giảm bất bình đẳng xã hội đang là vấn đề được các nhà khoa học, các nhà quản lí quan rất quan tâm Vì vậy Chương 1 đã đưa ra lý do nghiên cứu
và xác định vấn đề nghiên cứu cần được thực hiện là “Các nhân tố tác động đến thu
nhập Hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp”
Chương 1 đã nêu ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm
vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và bố cục luận văn đã được trình bày ở cuối chương
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về nông thôn, Hộ gia đình, khái niệm về thu nhập Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, trên
cơ sở đó xác định nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ gia đình nông thôn và đưa
ra mô hình nghiên cứu đề xuất
2.1 Các khái niệm:
2.1.1 Nông thôn:
Khái niệm nông thôn tùy theo điều kiện ở từng quốc gia, khái niệm này luôn biến động theo thời gian và có nhiều định nghĩa khác nhau về tiêu chí Nông thôn là một phần lãnh thổ với dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp, có môi trường tự nhiên, môi trường sống khác biệt với thành thị, điều kiện về kinh tế - xã hội kém phát triển hơn hơn thành thị Tuy nhiên với điều kiện kinh tế phát triển hiện nay, cảnh quan ở nhiều vùng nông thôn không khác so với thành thị nhiều, thu nhập tăng lên đời sống người dân ngày một thay đổi theo hướng văn minh hơn Một số khái niệm về nông thôn chúng ta có thể nghiên cứu:
“Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình thành từ lâu trong lịch sử Nông thôn là một hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ không gian-xã hội” (Tống Văn Chung, 2000)
Theo Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2008), nông thôn có thể đồng nghĩa với làng, xóm, thôn,… đó là môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hóa xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống của người Việt
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, định nghĩa: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là
ủy ban nhân dân xã
Như vậy có thể khái quát đặc trưng cơ bản của nông thôn là:
- Đó là cộng đồng xã hội mà chủ yếu người dân hoạt động sản xuất với nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp
Trang 17- Là vùng có thu nhập thấp, trình độ dân cư thấp, điều kiện sống kém hơn so với thành thị Có cơ sở hạ tầng: đường, điện, cầu, cống, nước sạch và điều kiện phúc lợi khác như giáo dục, y tế,… thấp hơn so với thành thị
2.1.2 Hộ và Hộ nông thôn:
Haviland (2003), Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai
Theo Phạm Thị Ngọc Đào (2012), Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh
tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh
đó
Khái niệm Hộ nông dân cũng có thể được định nghĩa như sau: “Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình
độ hoàn chỉnh không cao” (Ellis, 1998, trích Đào Thế Tuấn, 2003)
Tóm lại, Hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động đã được thiết lập trước đó
Hộ nông dân có những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu
dùng
Thứ hai, quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
Trang 18Thứ ba, các hộ nông dân ngoài tham gia hoạt động nông nghiệp còn tham gia
hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau nên khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân
2.1.3 Thu nhập:
Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau:
Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1
ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập
trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
2.1.4 Thu nhập của hộ gia đình:
Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính
từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp
Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: Thu nhập của Hộ gia đình
là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà
hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường
là 1 năm, bao gồm: (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rú tiền kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
2.2 Các nhân tố tác động thu nhập của Hộ gia đình nông thôn
Theo Park (1992), trong nghiên cứu của ông, ông cho rằng năng suất lao động
là điều kiện để thay đổi thu nhập và đó là nguyên nhân dẫn đến thay đổi thu nhập Cùng với ý kiến này Mankiw (2003) cho rằng sự khác biệt trong thu nhập giữa các nước chính là do khác biệt về năng suất lao động
Trang 19Theo Lewis (1954), Oshima (1993), Barker (2002) cho rằng: năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất đất và quy mô diện tích đất (diện tích đất nông nghiệp tính trên 1 lao động nông nghiệp) (trích bởi Đinh Phi Hổ, 2008)
Thu nhập của mỗi cá nhân có được do phải bỏ sức lao động tham gia vào các hoạt động lao động Trong mỗi hộ gia đình, sự đóng góp sức lao động của mỗi cá nhân mang lại giá trị kinh tế cho gia đình thông qua nguồn thu nhập hàng ngày, hàng tháng hoặc cả một năm cho cả hộ gia đình Do đó, để tạo ra sản phẩm có giá trị đòi hỏi phải
có nguồn vốn con người tích lũy được thông qua yếu tốt trình độ, kinh nghiệm việc là
và các kỹ năng khác của mỗi người khi tham gia lao động
Theo Nguyễn Xuân Thành (2009), cho rằng thu nhập của mỗi lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố số năm đi học và kinh nghiệm làm việc
Theo Scoones (1998), các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội Trong đó vốn tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên,….là cơ sở cho các hoạt động kinh tế của con người Vốn con người mô tả các yếu tố như: giáo dục, lực lượng lao động, giới tính Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia và sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả lao động của họ Vốn tài chính bao gồm: các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của một hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiếp cận vốn cho đầu tư và các hoạt động tạo ra thu nhập Vốn xã hội bao gồm phần lớn xây dựng giữa những con người với nhau: đó là sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành những thành viên trong các cộng đồng lại với nhau: Sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nội thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau (trích bởi Đinh Phi Hổ, năm 2014)
Bên cạnh đó, Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ
Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình nông thôn bao gồm:
2.2.1 Nghề nghiệp chính của chủ hộ
Đa số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có thu nhập thấp hơn so với các khu vực còn lại (phi nông nghiệp) do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
Trang 20thường sẽ có nhiều rủi ro hơn như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định Trong nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ đã kết luận rằng: với giả định các yếu tố không đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 16,35%
Theo nghiên cứu của Trương Minh Lễ (2010), nghiên cứu về tình trạng nghèo huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã kết luận rằng: khi các yếu tố khác không đổi, nếu hộ này làm nông nghiệp thì dẫn đến thu nhập thấp và xác suất nghèo của hộ tăng lên 80,09%
Nguyễn Hữu Tịnh (2010), trong 330 hộ điều tra mẫu tại huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước kết luận: tỷ lệ hộ nghèo (thu nhập thấp) của nhóm hộ có chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp là 4,55%, trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo đối với chủ hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là 11,19% (cao hơn 6,64% so với chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp)
Điều này cho thấy thu nhập của nhóm hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là rất thấp
so với hộ có nghề nghiệp lĩnh vực phi nông nghiệp
2.2.2 Kinh nghiệm của chủ hộ
Kinh nghiệm là những kỹ năng, bí quyết trong sản xuất nông nghiệp Theo kết quả nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Trang (2010) ở 180 trang trại và hộ nông dân của 25
xã thuộc 3 huyện phía Bắc tỉnh Bình Dương thì kinh nghiệm có tác động đến thu nhập của hộ nông dân C.R.Wharton (1963) cho rằng nếu tất cả những yếu tố đầu vào là giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về kinh nghiệm và kiến thức thì sẽ có kết quả sản xuất khác nhau hoàn toàn
Theo Bùi Quang Bình (2008), ứng dụng hàm Mincer nghiên cứu về vốn con người đối với thu nhập các Hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng đến thu nhập, nếu chủ hộ có số năm kinh nghiệm tăng 1 điểm thì thu nhập tăng lên 0,577 điểm Số năm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập bình quân của hộ sẽ càng tăng, đa số các hộ gia đình khu vực nông thôn làm nông nghiệp nên kinh nghiệm là yếu tố rất quan trọng quyết định đến năng suất lao động
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long với số mẫu khảo sát là 183 hộ, kết quả kết luận rằng: biến số kinh nghiệm
Trang 21có hệ số dương 0,305 ở mức ý nghĩa 5% cho thấy số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng cao thì thu nhập bình quân của hộ càng tăng
Huỳnh Trường Vy và Ông Thế Vinh (2009) cũng cho rằng: kinh nghiệm làm việc đóng góp tích cực đến vấn đề thu nhập của lao động nhập cư
2.2.3 Trình độ học vấn của chủ hộ
Chất lượng lao động của hộ thể hiện ở trình độ học vấn, sự hiểu biết, kỹ năng, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất,… tuy nhiên người có trình độ học vấn thấp (số năm đi học ít) thường hiểu biết ít và thiếu khả năng tiếp thu các kiến thức chuyên môn để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao thu nhập thấp
Theo Yang (2004) cho rằng học vấn là mấu chốt của sự phát triển và trình độ học vấn cũng giúp người nông dân tăng cường khả năng nắm bắt thông tin, điều đó một phần giúp người nông dân có thêm cơ hội tham gia hoạt động phi nông nghiệp và tìm việc làm ở đô thị
Solow (1957) cho rằng giáo dục làm cho lao động hiệu quả hơn thông qua các tiến bộ kỹ thuật Điều này xuất phát từ thực tế là giáo dục cho phép mọi người thích nghi dễ dàng hơn với những thay đổi của xã hội và kỹ thuật Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình có ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình
Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ của sản xuất Cùng với quan điểm này Wharton (1963) cho rằng: với tất cả nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có sẽ có kết quả sản xuất khác nhau Một tỷ lệ lớn người nghèo là nông dân, những người thường thiếu những
kỹ năng, kỹ thuật sản xuất và khả năng tiếp cận với các nguồn lực phát triển khác cũng rất thấp
Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda ông kết luận rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì Hộ gia đình càng giàu có
Bùi Quang Bình (2008) và Nguyễn Đức Thắng (2002) cũng kết luận rằng những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ có mức thu nhập cao hơn
2.2.4 Giới tính của chủ hộ
Trang 22Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), ở các nước đang phát triển, nơi còn có những thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắc khe thì giới tính của chủ hộ
có ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ Nghiên cứu đánh giá những hộ có chủ hộ là
nữ giới thì khả năng nghèo cao hơn những hộ là nam giới, đặc biệt là những vùng nông thôn nghèo, nơi mà phụ nữ ít có cơ hội tiếp xúc với những việc làm có thu nhập cao mà thường xuyên làm việc nội trợ trong nhà, cuộc sống dựa vào nguồn thu nhập từ nam giới
Bùi Quang Bình (2008) cũng kết luận rằng giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng thu nhập của hộ, nếu chủ hộ là nam giới thì thu nhập của hộ sẽ cao hơn 0,237 điểm Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2006) nghiên cứu số liệu điều tra VHLSS năm 2002 kết luận rằng thu nhập bình quan nữ giới chỉ bằng 85% thu nhập của nam giới (riêng ở khu vực nông thôn của nữ giới chỉ bằng 66% thu nhập của nam giới)
2.2.5 Số nhân khẩu của hộ: (quy mô hộ)
Hộ gia đình đông con thì thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình sẽ giảm, điều này càng đúng khi các hộ gia đình đình nông thôn phần đông hộ sản xuất nông nghiệp để tạo thu nhập là chủ yếu, vì thế trong điều kiện diện tích đất canh tác hạn chế việc tăng nhân khẩu thì làm giảm thu nhập bình quân của hộ
Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda đã kết luận rằng quy mô (số người trong hộ) gia đình càng lớn thì hộ trở nên nghèo hơn
Trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2006), tại tỉnh Bình Phước, quy mô hộ tập trung của tỉnh là 4,76 người/hộ, trong khi đó quy mô trung bình của hộ nghèo là 5,46 người/hộ, hộ giàu là 2,82 người/hộ Điều này chứng tỏ hộ gia đình có thu nhập cao thì
số người trong hộ ít hơn so với hộ có thu nhập thấp
Nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) khẳng định: nếu quy mô của hộ gia đình tăng thêm môt người thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 9,2%
Trang 23động phải gánh nặng cho các thành viên không thể lao động, do vậy sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) đã kết luận rằng nếu tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân đầu người của Hộ càng thấp
Nghiên cứu của Trương Châu (2014), tại địa bàn các xã biên giới tỉnh Tây Ninh, cho rằng tỷ lệ phụ thuộc có quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (biến thu hập) Với các yếu tố khác không đổi, nếu quy mô hộ tăng thêm 1 người thì thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm 133.935 đồng
2.2.7 Diện tích đất sản xuất
Theo Huỳnh Trường Vy và cộng sự (2008) cho rằng đất đai là tài sản quan trọng đối với Hộ nông dân và khả năng tiếp cận với đất (về số lượng và chất lượng) là một yếu tố quyết định đối với sản xuất nông nghiệp và có ảnh hưởng đến thu nhập của
Hộ Do đó thiếu đất sản xuất nông nghiệp hoặc không có đất sản xuất nông nghiệp thường dẫn đến thu nhập của Hộ thấp Nghiên cứu cũng cho thấy diện tích đất đai của
Hộ nông dân có ảnh hưởng chiều thuận đối với thu nhập bình quân đầu người của Hộ gia đình, các hộ gia đình có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn thường là các hộ khá, giàu Phần lớn các hộ nghèo là những hộ có diện tích đất ít hoặc không có đất sản xuất
Tình trạng hộ nông dân không có đất sản xuất hoặc có rất ít đất sản xuất cũng là khó khăn lớn cho việc nâng cao thu nhập, bởi vì với diện tích nhỏ hẹp, mỗi hộ tự canh tác riêng lẻ, sẽ rất trở ngại cho sản xuất hiện đại, từ đó giá thành sản phẩm cao không đồng đều, sản xuất lãi ít dẫn đến thu nhập thấp
Theo Nguyễn Sinh Công (2004), Mwanza (2011) đã chứng minh cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản xuất, tức diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao Lê Thanh Sơn (2008) cho thấy trung bình mỗi hộ gia đình vùng biên giới Tây Nam Bộ là 0,9 ha đất sản xuất, trong khi đó: hộ nghèo có 0,43
ha và hộ không nghèo là 1,1 ha (trích bởi Trương Châu, 2014)
2.2.8 Số hoạt động tạo ra thu nhập
Hoạt động nông nghiệp là hoạt động chủ yếu ở nông thôn, tuy nhiên các hoạt động nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
Trang 24Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập (nghề nghiệp phụ) giúp hộ nông thôn cải thiện và tăng thêm thu nhập
Reardon (2001), cho rằng đa dạng hóa được hiểu như một hình thức tự đảm bảo thu nhập trên cơ sở lựa chọn các hoạt động có ít biến động ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập
Micevska và Rahut (2007) cho rằng vùng nông thôn ngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động này góp phần làm tăng thu nhập của họ (trích bởi Trương Châu, 2014)
Nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Trang (2010) cũng cho thấy giữa hộ giàu và hộ nghèo có cách sử dụng công cụ đa dạng hóa với mục đích khác nhau Việc đa dạng hóa được xem là cách để tăng thêm thu nhập cho Hộ gia đình, giảm nghèo và khai tốt các nguồn lực có sẵn của hộ
Tại tỉnh Phú Thọ, Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010) đã kết luận mô hình đa dạng có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của Hộ, thu nhập của hộ sẽ tăng lên 0,85% nếu hộ gia đình đa dạng hóa sản xuất
2.2.9 Khả năng tiếp cận tín dụng (từ nguồn chính thức):
Nguyễn Bích Đào (2008), cho rằng tín dụng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn Và vốn là điều kiện quan trọng, thiết yếu ban đầu của các nông
hộ kết hợp với trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu khoa học kỹ thuật và nhắm bắt thông tin thị trường sẽ giúp nhiều hộ mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
để tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Đồng vốn tín dụng của các ngân hàng, sẽ giúp những hộ có ruộng đất rất ít hoặc thiếu vốn có khả năng giải quyết được vấn đề khó khăn trong sản xuất, người nông dân phải vay thêm vốn từ các định chế chính thức và không chính thức hoặc từ những dự án của Chính phủ Tuy nhiên không phải hộ dân nào cũng có thể tiếp cận được vốn để phục vụ cho việc đầu tư sản xuất (mua phân bón, giống cây trồng, đầu tư máy móc,…)
Theo Đinh Phi Hổ (2007) nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Cần Thơ gồm các huyện: Ô Môn, Bình Thủy, Cái Răng, Vị Thanh, Cờ Đỏ, Phong Điền cho thấy quy mô vốn có tác động đến thu nhập Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, thu nhập hộ gia đình thấp và tiết kiệm cũng thấp Và khi tiết kiệm thấp dẫn đến thiếu hụt vốn đầu tư, lại tiếp tục dẫn đến thu nhập thấp Mwanza (2011) kết luận rằng: có mối quan hệ tích cực giữa
Trang 25tiếp cận tín dụng và thu nhập Nếu các yếu tố khác trong mô hình không đổi, các hộ gia đình có tiếp cận tín dụng có thu nhập trung bình cao hơn 58,9%
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
2.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài
Shrestha và Eiumnoh (2000) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu
nhập hộ nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan” Với cỡ mẫu là 192 hộ
gia đình nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của những nông hộ ở vùng đồng bằng và vùng đồi núi chủ yếu bao gồm: Nguồn thu từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, nhận thức của người dân về môi trường, hiện trạng sở hữu đất đai, hiện trạng sở hữu đất và số thành viên trong độ tuổi
lao động
Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bổ hiệu quả: sự phát triển
thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc” trong nghiên
cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực của Hộ trong việc tăng trưởng thu nhập của Hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc Dữ liệu phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này được thu thập từ kết quả khảo sát thu nhập hộ gia đình của tỉnh Tứ Xuyên từ năm 1986 đến năm 1995 Trong đó các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ và các thành viên trong hộ, vị trí nơi ở của
chủ hộ, nguồn vốn của hộ,…và nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn là một yếu
tố quan trọng để ngành công nghiệp ở nông thôn phát triển nhanh chóng và cũng tạo nên nguồn thu nhập ổn định, bền vững hơn cho người nông dân Các hộ gia đình có thành viên có trình độ học vấn cao hơn sẽ phân bổ nguồn lực của hộ cho các hoạt động phi nông nghiệp và mang lại thu nhập cao hơn Nghiên cứu cũng cho rằng kinh nghiệm cũng đóng vai trò quan trọng đối với thu nhập hộ gia đình
Schwarze (2004), với nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định hoạt
động tạo thu nhập của hộ gia đình nông thôn trong vùng lân cận vườn quốc gia Lindu ở Sulawesi, Indonesia” Số liệu nghiên cứu thu thập thông qua bảng câu hỏi
khảo sát 301 hộ gia đình nông thôn tại 12 ngôi làng xung quanh vườn quốc gia Lindu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính cho thấy diện tích đất thuộc quyền sở hữu, giá trị các loại tài sản
Trang 26Lore-khác và số lượng gia súc sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến tổng thu nhập của hộ gia đình, tỷ lệ phụ thuộc có ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thu nhập của hộ
Nghiên cứu của Naschold (2009) về “Các yếu tố kinh tế vi mô của sự bất bình
đẳng thu nhập ở nông thôn Pakistan” Nghiên cứu này đã chứng minh được yếu tố tạo
ra sự khác biệt thu nhập giữa các hộ gia đình bao gồm: việc sở hữu đất đai, số nhân khẩu, trình độ giáo dục của các thành viên trong hộ Những hộ có số thành viên trong tuổi lao động nhiều và có trình độ cao hơn thì có thu nhập vượt trội hơn so với các hộ
có ít lao động và trình độ thấp
Nghiên cứu của Demurger, Fournier và Yang (2010) về “Quyết định của các hộ
gia đình nông thôn đối với đa dạng hóa thu nhập” trong quá trình cải cách kinh tế ở
nông thôn Trung Quốc Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu khảo sát 322 hộ gia đình tham gia vào hoạt động sản xuất và 627 cá nhân làm việc trong các ngành khác nhau tại một thị trấn phía Bắc Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tham gia hoạt động
đa dạng hóa đóng vai trò quan trọng trong tăng thu nhập Hộ gia đình nông thôn Các
hộ gia đình khá, giàu có thì khả năng tham gia các hoạt động phi nông nghiệp cao hơn
so với các hộ nghèo
Aikaeli (2010) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu nhập nông thôn ở
Tanzania” Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến với cỡ
mẫu hợp lệ là 1.610 hộ gia đình nông thôn cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, quy
mô hộ gia đình, diện tích đất sản xuất là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các hộ có chủ
hộ là nữ giới thì có thu nhập thấp hơn so với thu nhập của các hộ có chủ hộ là nam giới
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu của Trần Xuân Long (2009) đề tài “Một số nhân tố chính ảnh
hưởng đến thu nhập nông hộ huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” Dữ liệu nghiên cứu được
thu thập điều tra từ 135 hộ nông dân tại 5 xã trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) để xác định nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông
hộ Kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích ruộng đất, giá lúa, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp có ảnh hưởng đến tổng thu nhập của
Trang 27nông hộ Các biến như tuổi chủ hộ, số lao động, số lần tham dự khuyết nông, số nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu của Trần Trọng Tín (2010) với đề tài “Các yếu tố tác động đến thu
nhập hộ nghèo tỉnh Vĩnh Long” dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ 200 hộ nghèo
của tỉnh Vĩnh Long Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) để phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập hộ nghèo Kết quả phân tích số liệu đã chứng minh rằng diện tích đất canh tác, tuổi của chủ hộ, vấn đề vay vốn đều tác động đến thu nhập của các hộ nghèo
Trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2011) nghiên
cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở
đồng bằng sông Cửu Long”, được tiến hành khảo sát 307 hộ ở các tỉnh Long An, Cần
Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí, phân tích thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến Kết quả phân tích cho thấy rằng, thu nhập của hộ gia đình chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp 95% Nông hộ quan tâm đến việc đa dạng nguồn thu nhập Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ là tổng diện tích đất của hộ, vốn vay, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập từ phi nông nghiệp (trích bởi Trương Châu, 2014)
Huỳnh Thanh Phương (2011) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập của các hộ gia đình làm nghề phi nông nghiệp tại huyện Đức Hòa, Long An”
Quan phân tích việc nghiên cứu 250 mẫu quan sát và vận dụng phương pháp hồi quy
để nghiên cứu Kết quả cho thấy học vấn trung bình của chủ hộ, số người làm việc trong hộ, quy mô hộ gia đình, được vay vốn tín dụng, số năm đi học của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làm nghề phi nông nghiệp
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng
đến thu nhập hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” Số liệu
nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp 182 hộ gia đình khu vực nông thôn huyện Trà
Ôn Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy mức sống của người dân khu vực nông thôn ngày càng được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hộ gia đình vẫn có mức thu nhập khá thấp Nguồn thu nhập chính phần lớn của hộ gia đình phụ thuộc vào nghề nông, vì thế
Trang 28mức sống tương đối thấp và bấp bênh Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng số nhân khẩu của hộ, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và số hoạt động tạo ra thu nhập có ảnh hưởng đến bình quân/người của hộ gia đình khu vực nông thôn
Nghiên cứu Huỳnh Văn Thông (2012) đề tài “Một số nhân tố chính ảnh hưởng
đến thu nhập nông hộ huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp” Với số mẫu điều tra là 300
mẫu ở 06 xã Thông qua các biến của phương trình hồi quy đa biến, kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích ruộng đất, giá lúa,… có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng thu nhập của hộ gia đình
nông thôn phụ thuộc vào các yếu tố: Nghề nghiệp của chủ hộ, kinh nghiệm làm việc
của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, số nhân khẩu của hộ (quy mô hộ), quy mô diện tích đất, vốn vay và số hoạt động tạo ra thu nhập hộ
2.4 Kinh nghiệm thực tiễn nâng cao thu nhập Hộ gia đình nông thôn:
2.4.1 Ở một số nước khác:
* Kinh nghiệm tại Trung Quốc:
Vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã có những thay đổi về tăng đầu tư nông nghiệp, đẩy mạnh việc cải cách thể chế về nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ gia đình từng bước được khôi phục, nông dân tiếp cận và quản lí tư liệu sản xuất, tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp nông thôn phát triển
Trải qua hơn ba thập kỷ thực hiện cải cách mở cửa, phát triển kinh tế, Trung Quốc đã đạt được rất nhiều thành tựu: tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm liền đạt ở mức cao, từ năm 1978 đến năm 2010 GDP bình quân đầu người mỗi năm tăng 9,6% Nhất là những năm gần đây 2008 đến 2010 GDP tăng lần lượt là 9,0%, 8,7%, 10,4% Cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập dân cư nông thôn cũng không ngừng tăng lên, năm 2000 thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn là 2.253 nhân dân tệ (NDT), năm
2005 là 3.255 NDT, năm 2006 là 3.587 NDT và năm 2007 là 4.140 NDT, tăng 9,5%
so với năm 2006
Đạt được những kết quả trên, là do Trung Quốc coi việc tăng thu nhập cho người dân ở nông thôn là một vấn đề chính trị lớn Hầu hết các giải pháp tập trung vào
Trang 29nhằm tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nông dân, đẩy mạnh tiến bộ khoa học công nghệ, đi sâu vào cải cách nông thôn, tăng đầu tư cho nông nghiệp, nỗ lực làm cho thu nhập của người nông dân tăng nhanh, nhanh chóng làm thay đổi tình trạng chênh lệch thu nhập giữa người dân thành thị và nông thôn Các giải pháp đó là:
Một là, thực hiện quy hoạch xây dựng khu vực có ưu thế về nông sản xuất, hỗ
trợ sản xuất nông sản xuất có chất lượng tốt, phát triển ngành nông nghiệp đặc sắc, thúc đẩy gia công tinh chế nông sản
Hai là, thông qua những việc làm phi nông nghiệp để tăng thu nhập như nâng
cao trình độ phát triển xí nghiệp gia đình và ngành du lịch làng xã
Ba là, thông qua những hỗ trợ về chính sách để tăng thu nhập như mở rộng mức
độ ưu đãi cho nông dân, điều chỉnh hợp lí giá cả nông sản và tư liệu sản xuất
Bốn là thông qua phát triển ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngay tại
nông thôn để mở rộng thêm nhiều kênh tăng cường để tăng thu nhập cho nông dân
Năm là, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện cho người
dân tăng thu nhập
Sáu là thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết tình trạng khó khăn
về sản xuất và đời sống đối với người nghèo và gặp nhiều thiên tai rủi ro
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc đã tập trung các giải pháp để nâng cao trình độ người nông dân, đẩy mạnh việc triển khai công tác đào tạo kỹ năng nghề cho nông dân Đồng thời, đẩy nhanh phát triển giáo dục phổ thông cơ sở ở nông thôn, coi trọng việc phổ cập và củng cố giáo dục 9 năm ở nông thôn Năm 2006, Trung Quốc đã thực hiện miễn toàn bộ học phí, cung cấp sách vở miễn phí, trợ cấp sinh hoạt và ký túc
xá cho học sinh thuộc diện gia đình có hoàn cảnh khó khăn Đến năm 2008, cơ bản hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và xóa mù chữ (trích bởi Trương Châu, 2014)
* Kinh nghiệm Nhật Bản:
Nhật Bản bị giới hạn bởi tài nguyên thiên nhiên đất đai ngày càng ít và dân số ngày càng đông (diện tích đất trung bình một hộ nông dân của Nhật Bản năm 1878 là
01 ha và năm 1962 chỉ còn 0,8 ha) Trong hoàn cảnh đó, một chiến lược khôn khéo và
có hiệu quả đã được thực hiện thành công đó là: Muốn tăng năng suất thâm canh phải tăng năng suất trên một đơn vị sản xuất và trên một đơn vị lao động Từ đó, nông nghiệp đi ngay vào phát triển chiều sâu từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu
Trang 30Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa nông thôn Thu nhập công nhân tăng nhanh do chính sách phi trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, tạo việc làm cho lao động nông thôn Từ đó, cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngày càng tăng (năm 1950 phi nông nghiệp đóng góp 29% năm 1990 chiếm 85% thu nhập của hộ nông dân) Bên cạnh đó nhờ phát triển kết cấu hạ tầng, giao thông, thông tin, giáo dục,… đã thúc đây nông nghiệp tăng trưởng, tạo nên năng suất đất đai cao và tạo điều kiện phát huy tác dụng máy móc thiết bị, hóa chất cho hóa trình cơ giới hóa, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp
2.4.2 Kinh nghiệm trong nước:
Theo Trần Thiện Thanh (2011), nhiều năm nay, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, đa dạng hóa các đối tượng vật nuôi cây trồng được các ngành chức năng huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xác định hướng đi đúng đắn để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương Để tăng thu nhập thêm cho các Hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện nhiều Hộ gia đình đã áp dụng thành thạo các mô hình sản xuất tổng hợp như: tôm – cua kết hợp, tôm – trồng rau màu trên liếp vuông tôm, nuôi heo kết hợp thả cá…và đem lại hiệu quả rất khả quan, góp phần cải thiện thu nhập, vươn lên làm giàu chính đáng Điển hình cho phong trào này là ông Ong Văn Có ở ấp Bình Tốt A, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, xuất thân từ một gia đình diện tích canh tác chỉ có 3.500 m2, nhưng nhờ sự cần cù, siêng năng, ham học hỏi ông đã tận dụng diện tích trên để nuôi cá bống tượng Đến nay ông đã có 6.000 m2 với 10 ao nuôi cá, mỗi năm thu hoạch được hơn 850 kg cá, thu nhập trên 150 triệu đồng, trừ chi phí lãi
từ 100 – 120 triệu đồng kết hợp với nuôi heo, làm kinh tế vườn mỗi năm ông có thu nhập thêm khoảng 70 triệu đồng
Trong quá trình tìm hiểu ông thấy rằng cá bống tượng có đầu ra tương đối ổn định hơn các đối tượng khác, giá bán lại khá cao Từ đó ông quyết định tìm hiểu về kỹ thuật qua báo đài, các lớp tập huấn, hội thảo, học hỏi kinh nghiệm ở nhiều nơi về kỹ thuật nuôi đối tượng này Vào năm 2004 ông quyết định đào 3.500 m2 đất vườn lên nuôi cá bống tượng, thả nuôi khoảng 800 con, sau 15 tháng nuôi ông thu hoạch được
300 kg cá (giá thương phẩm 320 ngàn đồng/kg) lãi trên 30 triệu đồng Nhờ thành công năm đầu tiên, ông mạnh dạn ủi thêm 2.500 m2, nâng tổng số ao nuôi cá đến nay là 10
Trang 31ao (mỗi ao diện tích 500 m2) và vay mượn thêm vốn bà con mua cá giống về thả Thành công với mô hình nuôi cá bống tượng, mỗi năm ông thu trên 100 triệu đồng Không dừng lại ở đó trên bờ ao ông tận dụng trồng nhiều loại cây ăn trái như: đu đủ, chuối, ổi…vừa để tiêu thụ hằng ngày trong gia đình vừa bán kiếm thêm thu nhập Gia đình ông Có còn tận dụng vườn rộng ông thả nuôi hơn 100 con gà nòi lai hàng năm thu trên 10 triệu đồng Được chính quyền địa phương hỗ trợ, ông Ong Văn Có đã đầu
tư xây dựng chuồng trại nuôi thêm 2 heo nái và trên 10 heo thịt và lắp đặt hệ thống Bioga để phục vụ nguồn khí đốt trong gia đình, trừ chi phí hằng năm ông thu hơn 20 triệu đồng Qua mô hình sản xuất của gia đình ông Ong Văn Có ta thấy với việc đa dạng hoá vật nuôi, duy trì và phát triển vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai sẽ giúp cho nhiều bà con nông thôn từng bước nâng cao mức sống góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương (theo Trần Thiện Thanh, 2011 Chi Cục Nuôi trồng thủy sản Bạc Liêu)
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Ứng dụng các nghiên cứu trước đây và kết hợp tình hình thực tế của địa phương, nghiên cứu này ứng dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Qua việc tổng hợp các lý thuyết, tìm hiểu các nghiên cứu trước và kinh nghiệm thực tiễn một số địa phương như đã trình bày ở trên, tác giả đánh giá sơ bộ các nhân tố
tác động đến thu nhập Hộ gia đình nông thôn bao gồm các nhân tố: (1) Nghề nghiệp
chính của chủ hộ,(2) Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, (3) Số năm đi học của chủ hộ, (4) Giới tính của chủ hộ, (5) Số nhân khẩu của hộ, (6) Tỷ lệ phụ thuộc, (7) Diện tích đất sản xuất, (8) Số hoạt động tạo ra thu nhập, (9) Vay vốn từ các định chế chính thức
Do đó mô hình nghiên cứu này đề xuất 9 biến độc lập (1) Nghề nghiệp chính của chủ hộ, (2) kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, (3) số năm đi học của chủ hộ, (4) giới tính của chủ hộ, (5) số nhân khẩu của hộ, (6) tỷ lệ phụ thuộc, (7) diện tích đất sản xuất, (8) số hoạt động tạo ra thu nhập, (9) vay vốn từ các định chế chính thức và một
biến phụ thuộc là thu nhập Hộ gia đình Mô hình đề xuất như sau:
Trang 32Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình đề xuất nghiên cứu về vấn đề Thu nhập Hộ gia đình nông thôn
trên địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
2.6 Tóm tắt Chương 2
Trong chương này trình bày tóm lược các khái niệm về nông thôn, hộ gia đình
và thu nhập của hộ gia đình Đồng thời tổng hợp các nhận xét đánh giá của các nghiên cứu trước, những kết quả nghiên cứu trước cho thấy: Nghề nghiệp, Kinh nghiệm, Trình độ học vấn, Thành phần dân tộc, Giới tính của chủ hộ, Quy mô hộ, Tỷ lệ phụ thuộc, Diện tích đất sản xuất, giá cả nông sản, số hoạt động tạo ra thu nhập và vay vốn
từ các định chế chính thức là những nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Từ cơ sở đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 33CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Về vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên:
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp năm 2014)
Tỉnh Đồng Tháp là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), cách Thành phố Hồ Chí Minh 165 km về phía Tây Nam Đồng Tháp có diện tích tự nhiên là 3.238 km2, chiếm 8,17% diện tích vùng ĐBSCL Phía Bắc và Tây Bắc giáp với Campuchia, đường biên giới dài 48,7 km với hai cửa khẩu quốc tế là Thường Phước
và Dinh Bà; phía Nam và Đông Nam giáp với tỉnh Vĩnh Long; phía Đông giáp với tỉnh Tiền Giang và Long An, phía Tây giáp với An Giang và Cần Thơ
Địa bàn nghiên cứu
Trang 34Tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: Thành phố Cao Lãnh, Thành phố Sa Đéc và 9 huyện, thị gồm: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành với 9 thị trấn, 14 phường và 119 xã Riêng huyện Lai Vung có 1 thị trấn và 11 xã
Đồng Tháp có hai nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu chảy qua: Sông Tiền đã chia Đồng Tháp thành hai vùng rộng lớn
Vùng phía Bắc sông Tiền: thuộc khu vực Đồng Tháp Mười (các huyện gồm Tân
Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Tháp Mười, thị xã Hồng Ngự
và Thành phố Cao Lãnh) Đây là vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt
là sản xuất lúa, trồng rừng và nuôi, đánh bắt thủy sản
Vùng phía Nam sông Tiền: là nơi nằm giữa hai nhánh sông lớn sông Tiền và
sông Hậu (gồm các huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, Thành phố Sa Đéc) Vùng này đất đai trù phú, phát triển đa dạng từ trồng lúa đến cây ăn trái, có tiềm năng phát
triển công nghiệp, thương mại – dịch vụ
Tài nguyên nước: với chiều dài 114 km sông Tiền và 30 km sông Hậu cùng với
những con sông lớn như sông Sở Thượng, sông Sở Hạ và khoảng 1.000 kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều dài dòng chảy là 6.273 km mật độ sông trung bình là 1,86km/km2,
đã cung cấp nguồn nước dồi dào quanh năm phục vụ cho sản xuất và đời sống
Tài nguyên đất đai: Đồng Tháp có lợi thế về đất phù sa và nguồn nước ngọt
quanh năm, đất phù sa chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên, đất phèn chiếm 25,99% đất tự nhiên, đa số đã được ngọt hóa, trồng được lúa, nuôi trồng thủy sản với năng suất
và chất lượng cao Còn lại là đất xám chiếm tỷ lệ 8,67% đất cát khoảng 0,04% diện tích đất tự nhiên chủ yếu tập trung ở địa hình cao ở các huyện Tân Hồng, Tam Nông, Hồng Ngự Hàng năm được bồi đắp thêm phù sa mới thuận lợi cho việc canh tác các sản phẩm nông nghiệp ngắn ngày: đậu nành, mè, đậu phọng, cây ăn quả như: quýt, xoài, nhãn,….và thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nhất là cá basa, cá tra, tôm càng xanh,…
Huyện Lai Vung là địa bàn thuộc khu vực phía Tây Nam của vùng Sa Đéc,
phía Bắc giáp với huyện Lấp Vò, phía Đông giáp với Thành phố Sa Đéc và huyện Châu Thành, phía Tây – Tây Nam giáp với quận Thốt Nốt và Ô Môn thuộc Thành phố
Trang 35Cần Thơ, phía Nam giáp với huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 238 km2, chiếm 6,79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Điều kiện khí hậu huyện Lai Vung mang đặc điểm khí hậu chung của vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt độ cao đều quanh năm, ánh sánh dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bổ thành hai mùa rõ rệt
Về đất nông nghiệp chiếm khoảng 19.540 ha (tương đương 82% diện tích tự
nhiên trong đó: 99% diện tích đất canh tác nông nghiệp, 1% là đất có có nước nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác Trong đó:
Đất cây hàng năm chiếm tỷ trọng khá cao với trên 15.200 ha (78% diện tích đất
canh tác nông nghiệp, trong đó hơn 14.800 ha lúa và luân canh lúa-màu, phân bố trên hầu hết trên địa bàn các xã, các loại hoa màu trồng cạn khác chiếm khoảng 400 ha chủ yếu là khu vực ven sông
Đất cây lâu năm chiếm 22% tỷ trọng đất canh tác nông nghiệp với 4.178 ha
phần lớn là vườn cây ăn trái
Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản chiếm 130 ha, chủ yếu ao hầm nuôi công
nghiệp, bán công nghiệp và khu vực bãi bồi
Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp/người ở nông thôn là 1.078 m2trong đó có 968 m2 cây hàng năm, 266 m2 đất cây lâu năm và 8 m2 đất có mặt nước
nuôi trồng thủy sản, thuộc vào loại thấp so với chỉ số bình quân của toàn tỉnh
Diện tích đất phi nông nghiệp (kể cả sông rạch) chiếm 4.275 ha chiếm 18%
diện tích tự nhiên của huyện trong đó 25% là diện tích đất ở, 19% là đất chuyên dùng, 1% là diện tích đất các loại đất phi nông nghiệp khác và đến 55% là sông rạch Đất ở chiếm 1.072 ha, bình quân đất ở thuộc vào loại cao (65 m2), trong đó bình quân đất ở
đô thị/người là 51m2, bình quân đất ở nông thôn là 65 m2 thuộc vào loại trung bình so với toàn tỉnh (theo Báo cáo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Lai Vung đến năm 2020, 2010)
Huyện Lai Vung bao gồm: 01 thị trấn và 11 xã: Tân Dương, Hòa Thành, Long Thắng, Hòa Long, Long Hậu, Tân Thành, Tân Phước, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa, Phong Hòa Dân số của huyện là 161.154 người, mật độ dân số 677 người/ km2 bằng 1,4 lần bình quân của toàn tỉnh, đây là một trong những hạn chế dẫn đến thu nhập/người trên địa bàn huyện không cao, đặc biệt là trong bối cảnh nông nghiệp còn
Trang 36chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế (Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của huyện Lai Vung, 2011)
3.1.2 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Lai Vung
Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2011-2014 đạt 11,1% Trong đó nông – lâm - thủy sản tăng 5,9%, công nghiệp – xây dựng tăng 14,2%, thương mại – dịch vụ tăng 15,2% Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông – lâm – thủy sản và tăng dần tỷ trọng công nghiệp xây dựng, thương mại dịch vụ: Tỷ trọng nông – lâm – thủy sản năm 2010 là 47% đến năm 2014 giảm còn 43%, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng năm 2010 từ 30% đến năm 2014 tăng lên 31%,
tỷ trọng thương mại – dịch vụ năm 2010 từ 22,3% đến năm 2014 tăng 26% Tăng trưởng kinh tế có tăng nhưng mức tăng thấp, cơ cấu kinh tế có chuyển dịch nhưng vẫn nặng về nông nghiệp, mức chuyển dịch hai lĩnh vực kia chưa cao; công nghiệp quy mô sản xuất còn nhỏ, dịch vụ phần lớn là mua bán tiêu dùng nên sức cạnh tranh chưa cao (Chi Cục Thống kê huyện Lai Vung, 2014)
Bảng 3.1 Cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Lai Vung giảm dần ở
các năm 2012, 2013, 2014 do ảnh hưởng tình hình kinh tế khó khăn chung của tỉnh cũng như cả nước
Bảng 3.1: Tốc tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện Lai Vung
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Lai Vung giai đoạn 2011-2014)
Về cơ cấu kinh tế của huyện có chuyển dịch nhưng mức chuyển dịch không nhiều, tuy nhiên xu hướng chung là giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng
ngành công nghiệp xây dựng, thương mại – dịch vụ (Bảng 3.2)
Trang 37Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế của huyện Lai Vung từ năm 2011 đến 2014
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Lai Vung giai đoạn 2011-2014)
Huyện Lai Vung là huyện nông nghiệp, theo số liệu Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp tỷ lệ người dân sống ở nông thôn chiếm 94,9%, tỷ lệ người dân sống đô thị chiếm rất ít chỉ 5,1% Đa số đời sống người dân vẫn dựa vào nông nghiệp là sản xuất chính Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản huyện Lai Vung năm 2011, tổng số hộ nông thôn của 11 xã trong huyện là 37.766 hộ với số nhân khẩu nông nghiệp là 154.247 người Số lao động trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Lai Vung (2011) có tổng số là 99.153 người chiếm 61,78%% dân số của huyện Số lao động bình quân một hộ gia đình khu vực nông thôn là 2,63 lao động Riêng số hộ nghèo trên địa bàn các xã là 5.735 hộ chiếm 15,19% số hộ nông dân, hộ cận nghèo là 2.840 hộ chiếm 7,52% số hộ nông thôn toàn huyện Trong đó: số
hộ làm lĩnh vực nông – lâm- thủy sản là 24.608 hộ, còn lại là 13.158 hộ làm lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, thương mại, dịch vụ và khác
Sản lượng nông nghiệp của huyện (lúa) chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế của
huyện, sản lượng các năm liên tục tăng, nguyên nhân do áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, tăng số vụ canh tác, bình quân hàng năm giai đoạn 20102-2015 là 215.828,
đứng hàng thứ 7 trong toàn tỉnh (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Sản lượng lúa giai đoạn 2010-2014
Trang 38Sản lượng thủy sản hàng năm ước đạt trên 30.000 tấn; sản lượng thủy sản các năm trước tăng tuy nhiên đối với những năm gần đây do giá cá nguyên liệu giảm, diện tích nuôi thu hẹp nên sản lượng giảm
Tính đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 6,34% tương đương 2.554 hộ, cận nghèo chiếm 7,75% tương đương 3.124 hộ Đời sống đa số nhân dân trên địa bàn nhìn chung ổn định Tuy nhiên về thu nhập vẫn còn thấp nhiều so với các huyện, thị thành phố trong tỉnh Đồng Tháp, đứng hàng thứ 7 về thu nhập Bình quân thu nhập
đầu người có tăng tuy nhiên mức tăng chưa cao (Bảng 3.4.) năm 2014 đạt 1.089
USD/người/năm, theo giá cố định 1994 (11.045 đồng) tương đương 12,03 triệu đông, giá thực tế (21.500 đồng) tương đương 23,41triệu đồng Thấp rất nhiều so với bình
quân chung của tỉnh là 16,18 triệu đồng/người/năm (Bảng 3.5)
Trang 39Bảng 3.4: Thu nhập bình quân đầu người của huyện Lai Vung (2011-2014)
Năm Thu nhập bình quân đầu
(Nguồn: Cục Thống kê huyện tỉnh Đồng Tháp, năm 2015)
Về công nghiệp, huyện Lai Vung được Trung ương, tỉnh quy hoạch không gian
phát triển công nghiệp với diện tích là 258,3 ha thuộc 5 xã gồm 6 tuyến công nghiệp: Tuyến công nghiệp tân Thành 40 ha, tuyến công nghiệp Vĩnh Thới 1 37 ha, tuyến công
Trang 40nghiệp Vĩnh Thới 2 30 ha, tuyến công nghiệp Tân Hòa 59 ha, tuyến công nghiệp Phong Hòa 69,5 ha, tuyến công nghiệp Tân Dương 50 ha Địa bàn huyện có 1 Khu công nghiệp, khu công nghiệp sông Hậu đã được tỉnh đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng với tổng diện tích là 66,366 ha đã có 04 dự án đang hoạt động với diện tích cho thuê là 28,741/45,154 ha chiếm tỷ lệ 64%, chủ yếu với các ngành nghề: chế biến thức ăn thủy sản, chế biến thủy sản, dệt may,… và 1 cụm công nghiệp (cụm công nghiệp Tân Dương) với tổng diện tích là 16,614 ha hiện có 1 doanh nghiệp đang hoạt động với diện tích cho thuê là 7,466 ha, ngành nghề sản xuất chính là gốm, sứ,… Số doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp còn ít, quy mô còn nhỏ, do cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh, tuy nhiên tiềm năng định hướng phát triển lâu dài của huyện, khu công nghiệp sông Hậu và cụm công nghiệp Tân Dương là rất khả quan Riêng về hoạt động tiểu thủ công nghiệp như: làng nghề đóng xuồng, ghe, nghề làm nem, lờ lọp, đan lục bình,….có phát triển tuy nhiên quy mô vẫn nhỏ đa số sản xuất theo hộ gia đình
Về thương mại dịch vụ: Toàn huyện Lai Vung có 27 chợ (chỉ có xã Hòa Long
chưa có chợ) trong đó các xã có trên 01 chợ bao gồm thị trấn Lai Vung (2 chợ trong đó
có 1 chợ loại II), Phong Hòa (3 chợ), Long Hậu (3 chợ), Vĩnh Thới (2 chợ), Tân Thành (4 chợ), Hòa Thành (2 chợ), Tân Hòa (4 chợ, trong đó có 1 chợ tự phát), Long Thắng (3 chợ), Tân Dương (2 chợ) Cơ sở vật chất của các chợ đang từng bước được đầu tư
mở rộng, nâng cấp ngày càng khang trang và kiên cố, đáp ứng được yêu cầu trao đổi hàng hóa của người dân trên địa bàn Các hoạt động dịch vụ, tín dụng, viễn thông, vận tải, ngày càng phát triển
Về hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đáp ứng nhu cầu đi lại và vận
chuyển hàng hóa của người dân Toàn huyện có 10/11 xã chiếm 91% xã có đường trục xã, liên xã được nhựa, bê tông hóa theo các mức độ khác nhau và 4/11 xã có đường trục liên ấp được nhựa/bê tông hóa chiếm 36,36% tổng số xã
Về cơ sở vật chất và các hoạt động văn hóa xã hội trên địa bàn huyện nhìn
chung đáp ứng được nhu cầu giải trí tinh thần cho người dân Toàn huyện có 11/11 xã đạt chuẩn Phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và Phổ cập giáo dục Trung học, có 8 Trường đạt chuẩn Quốc gia (01 THPT, 02 THCS, 4 Tiểu học và 01 Mầm non)/52 (12 Cấp 2,
03 Cấp 3, 12 Mầm non-MG và 25 Tiểu học)
3.2 Tóm tắt chương 3