hững vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa×1 một số vấn đề lý luận về ngoại giao văn hóa và mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa và du lịch×cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa và du lịch văn hóa×thủ tục sở văn hóa và du lịch×cơ sở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC………
- -TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI KAREN)
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
, năm 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên - TS ., trường
Đại ………., là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành Tiểu luận này Xin chân thành cảm ơn tập thể gảng viên, cán bộ, nhân viên cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả tiểu luận
………
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thái Lan là một quốc gia thanh bình và xinh đẹp, một trong những địa điểm du lịch khám phá được yêu thích nhất tại Đông Nam Á gồm 60 tộc người sinh sống với 50% là tộc người Thái Đây là một thiên đường du lịch với con người thân thiện và hiếu khách, một đất nước nhiệt đới độc đáo với nền văn hóa và lịch sử lâu đời Thái Lan tỏa sáng với những ngôi đền rực rỡ, nguy nga và lộng lẫy Thái Lan dường như có mọi thứ: cảnh đẹp chùa chiền, bãi biển rực nắng, thành phố sầm uất, và một nền ẩm thực tuyệt vời.
Đến với Chiang Mai – thành phố lớn thứ 5 nổi bật bậc nhất miền Bắc Thái Lan, du khách không chỉ ghé thăm Wat Phrathat Doi Suthep nằm trên sườn núi Suthep ở độ cao hơn 1000m, Wat Chedi Luang với kiến trúc độc đáo của triều đại Lanna và nghệ thuật Bắc Thái, trại voi Mae Sa, vườn thú Chiang Mai - nơi sinh sống của hơn 200 loài động vật có vú, chim từ châu Á và châu Phi; mà còn có cơ hội ghé thăm một ngôi làng độc đáo – Làng “cổ dài” Karen
Nằm khép mình khiêm tốn trong một thung lũng sát vùng biên giới Thái Lan tiếp giáp với Myanmar, làng “cổ dài” Karen được xây dựng bởi chính phủ Thái Lan với mục đích thu hút du khách như một trong những điểm đến văn hóa – du lịch “đặc sản” của miền Bắc Thái Lan Nét đặc biệt tạo nên sự độc đáo của ngôi làng là những người phụ nữ với chiếc cổ dài ngoằng Bước chân vào ngôi làng “cổ dài”, cuộc sống ồn ào và sôi động đầy náo nhiệt của thế kỷ 21 dường như dần biến mất và thay vào đó là không gian yên bình đến kì lạ.
Để hiểu hơn về cuộc sống, về những nét văn hóa đặc sắc, những truyền thuyết thú vị, huyền bí của các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung và tộc người Karen nói riêng,
em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Văn hóa và du lịch” (Nghiên cứu trường hợp người Karen)
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về những nét văn hóa và những hoạt động du lịchdiễn ra xung quanh cuộc sống của bộ tộc người Karen
3 Lịch sử nghiên cứu
Một số bài báo viết về tộc người Karen như:
- “East Asia/Southeast Asia: Burma — the World Factbook - Central Intelligence Agency” Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2010.
- “Karen people” Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2015.
- “Burmese Refugee Population in the US – BACI Official website” indy.org Ngày 7 tháng 10 năm 2012 Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm
baci-2017
- “Burmese Community Profile” (PDF) dss.gov.au Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày
30 tháng 12 năm 2016
- “Census Profile, 2016 Census, Statistics Canada” Ngày 8 tháng 2 năm 2017.
- “Karen refugees find freedom, hope in Windsor” Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2015
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tộc người Karen
- Phạm vi nghiên cứu: Chiang Mai – Thái Lan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin: Nghiên cứu tài liệu, tập hợp thông tin và xử lí các dữ liệu liên quan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp lại các dữ liệu đã thu thập.
5 Bố cục đề tài
Gồm các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trang 5Chương 2: Văn hóa
Chương 3: Hoạt động du lịch vùng người Karen
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Khái niệm
1.1 Khái niệm tộc người
Theo nghĩa hẹp, “tộc người có thể được hiểu là một cộng người có chung tiếng
mẹ đẻ Như vậy, tộc người tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc
- ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ” Theo nghĩanày, tộc người là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau
và có chung các đặc điểm về văn hoá mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc
sử dụng một ngôn ngữ” [2]
Theo nghĩa rộng, “tộc người được hiểu là một cộng đồng người liên kết vớinhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ,chính trị,… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúcmang tính văn hoá chủ yếu - một nền văn hoá riêng biệt Nói một cách ngắn gọn,tộc người là một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó vớinhau bởi một nền văn hoá riêng biệt Theo nghĩa này, các yếu tố trong hệ thống tộcngười có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặt của mộttrong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ tách khỏi nhóm tộcngười của mình” [2]
Cách hiểu theo nghĩa rộng trên đây cho phép bao quát tốt hơn các nhóm cộngđồng tộc người hiện đang tồn tại Ở đây, mặc dù có những ranh giới không rõràng, nhưng chúng vẫn là thực thể thực tế so với so với những con số thống kê đơngiản về các cá nhân chỉ được xác định theo một tiêu chuẩn duy nhất
Để nhận thức chính xác và sâu sắc hơn về tộc người hay nhóm tộc người (groupethnique), điều quan trọng là phải hiểu được những đặc điểm của các yếu tố cấuthành của nó Về vấn đề này, chúng ta có thể tiếp cận các yếu tố đặc trưng sau:
Trang 7“Trước hết là yếu tố nhân chủng Đây là yếu tố nền tảng của việc xác định
nguồn gốc tộc người Căn cứ vào yếu tố này chúng ta có thể xác định được các tộcngười được sinh ra từ những bộ phận nào của nhân loại; chúng xuất hiện khi nào
và hoà nhập vào nhau ra sao… Khi căn cứ vào yếu tố đặc trưng này, điều quantrọng là phải nc các thành phần lịch sử khác nhau của cư dân trong tộc người, chứ
không phải chỉ là thu thập và phân tích các dữ liệu nhân chủng trực quan Những
thành phần cư dân ít nhiều có tính nguyên gốc, cùng với những thành phần cư dân đóng góp về sau làm thành cơ sở cho qt phát triển tộc người Các phương
hướng pha tạp, kết hợp kế cận hay chồng chéo của các thành phần cư dân sẽ soisáng cho tình trạng hiện tại của tộc người” [3]
“Thứ hai là yếu tố dân số Bất cứ tộc người nào cũng đều được xác định bằng
số lượng người mà nó tập hợp Chính vì vậy, những số liệu thống kê về dân số làđặc biệt quý giá để đo lường cả về mức độ tiến hoá của tộc người Mặt hhác, chúngcòn soi sáng cả về quá trình phát sinh, phát triển hay triển vọng của tộc người” [3]
“Thứ ba là yếu tố ngôn ngữ Ngôn ngữ là tiêu chí cơ bản để phân biệt tộcngười này với tộc người khác Nó là sợi dây liên hệ đặc biệt giữa các thành viêncủa tộc người Ngôn ngữ vừa là dấu hiệu bên ngoài, vừa là một yếu tố cấu kết bêntrong của cộng đồng tộc người Nó là sở hữu chung, tài sản chung của tộc người, làphương tiện chuyển tải nền văn hoá của tộc người” [3]
“Thứ tư là yếu tố lãnh thổ Với tư cách là một xã hội toàn vẹn và tự lập, mỗi tộc
người đều chiếm một phần lãnh thổ riêng trên bề mặt trái đất Lãnh thổ là cáikhung vật chất mà trong đó tộc người được cố định, thích nghi và cải biến môitrường tự nhiên Lãnh thổ của các tộc người có sự khác nhau về hình thức và tuỳthuộc vào khả năng và cung cách sinh sống của họ” [3]
“Thứ năm là yếu tố phương thức sản xuất Mỗi tộc người đều hình thành trong
nó một lối sống nhất định Lối sống đó phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên,phương thức sản xuất của riêng nó Đó là công nghệ, tri thức, tín ngưỡng,…Phương thức sản xuất có khả năng chấn chỉnh lại lối sống tổng thể Phương thứcsản xuất là cái dễ biến đổi, nhưng là cái làm cho mỗi tộc người mang đặc trưng
Trang 8riêng, làm cho nó trở thành thuần nhất có cấu trúc riêng và phân biệt nó với các tộcngười khác”.
“Thứ sáu là yếu tố văn hoá và ý thức tộc người Tộc người, với tư cách là công
động người, tồn tại trên lãnh thổ của mình, có những nét độc đáo về văn hoá Theonghĩa rộng, văn hoá của tộc người là những cái “phi vật chất” bao gồm những disản tinh thần của cộng đồng tộc người dưới tất cả các hình thức của nó Nó dựatrên cái giá đỡ đặc biệt là ngôn ngữ Bất cứ một thành viên nào của tộc người mà
về mặt tinh thần được hình thành trước hết bởi ngôn ngữ thì đều có thể hoàn thiệnthế giới quan của mình thông qua sự thanh lọc của văn hoá tộc người Điều này tạocho thành viên đó một nhân cách cơ sở mà trong nhiều trường hợp, anh ta không ýthức được Nó tạo cho anh ta một tập hợp những tri giác, tình cảm và sự nhận biết
về giá trị chung của cộng đồng tộc người Đó chính là ý thức tộc người” [3].
Như vậy có hiểu chung nhất: “Tộc người (ethnie/ethnos) là một tập đoàn
người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng” [1]
1.2 Du lịch tộc người
Du lịch tộc người là một trong hình thức của du lịch cộng đồng, đề cao vai tròcủa người dân bản địa Với hình thức du lịch này, các tộc người bản địa là chủnhân có quyền tham gia các hoạt động du lịch và phải được hưởng lợi từ các hoạtđộng du lịch
Du lịch tộc người là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố: Du khách, doanh nghiệpcung cấp dịch vụ, cư dân bản địa, chính quyền cơ sở Bốn yếu tố này luôn quan hệkhăng khít với nhau Du khách muốn thỏa mãn các nhu cầu du lịch thì phải có cácdoanh nghiệp cung cấp, có người dân bản địa tham gia, và được chính quyền địaphương tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý, định hướng Người dân muốn thuđược nhiều lợi nhuận qua hệ thống dịch vụ đều thành lập ban đại diện của nhữnggia đình tham gia dịch vụ du lịch Ban đại diện là đầu mối nhằm quản lý các dịch
vụ lưu trú, ăn nghỉ, sinh hoạt
Trang 92 Khái quát về tộc người Karen
2.1 Địa bàn cư trú của người Karen
“Karen là một bộ tộc có nguồn gốc từ Myanmar nhưng khoảng những năm
1980 và 1990 bị quân đội truy quét nên đã chạy tới Chiang Mai để định cư Tuy
đã di cư đến nơi đây 2 thập kỷ nhưng họ vẫn giữ được nét văn hóa riêng nhưtheo chế độ mẫu hệ và những chiếc cổ dài cho tất cả những cô gái trong làng”
“Làng cổ dài Karen nằm sát khu vực biên giới giữa Thái Lan và Myanmar.Nơi này cách Chiang Mai chừng 180km, cách thành phố Chiang Rai khoảng 30
km, nằm tĩnh lặng sau con đường cao tốc số 1019”
“Người Karen sống chủ yếu ở các ngọn đồi giáp ranh với khu vực miền núiphía đông và đồng bằng Irrawaddy của Myanmar, chủ yếu ở bang Kayin (trướcđây là bang Karen), với một số người ở bang Kayah, miền nam bang Shan,vùng Ayeyarwady, vùng Tanintharyi, vùng Bago và ở miền bắc và miền tâyThái Lan”
“Tổng số Karen rất khó ước tính Cuộc điều tra dân số đáng tin cậy cuốicùng của Myanmar được tiến hành vào năm 1931 Một bài báo VOA năm 2006trích dẫn ước tính bảy triệu ở Myanmar Có 400.000 Karen khác ở Thái Lan,nơi họ là lớn nhất trong các bộ lạc trên đồi”
Một số Karen đã rời các trại tị nạn ở Thái Lan để tái định cư ở những nơikhác, bao gồm cả Bắc Mỹ, Úc, New Zealand và Scandinavia Năm 2017, dân sốKaren diaspora được ước tính là khoảng 67.000
2.2 Truyền thuyết cổ dài
Theo quan niệm của dân tộc Karen, họ là dòng dõi con cháu phượng hoàng nên
cổ dài được xem là tiêu chuẩn của người phụ nữ, càng nhiều vòng cổ thì phụ nữcàng đẹp và quý phái Cũng có những lý giải khác cho rằng, phụ nữ Karen đeovòng cổ là để tránh bị bộ tộc khác bắt đi làm nô lệ, hay để tránh bị hổ tấn công vàovùng cổ Ở làng Karen, các bé gái khi lên 5 tuổi sẽ được đeo chiếc vòng cổ đầutiên Số vòng cổ sẽ tăng theo thời gian, tính theo năm và sẽ theo họ suốt đời Kể từ
Trang 10khi đeo vòng cổ, những người phụ nữ Karen sẽ mang theo đến suốt đời Để vệsinh vòng cổ sáng bóng, những người phụ nữ Karen sẽ tắm trong nước ngâmhương liệu truyền thống.”Ngoài đeo vòng cổ, họ còn đeo vòng tay, chân và nhữngchiếc khuyên tai to và nặng Cuộc sống của bộ tộc làng Karen lặng lẽ, tách biệt với
sự ồn ào và náo nhiệt của thế giới hiện đại Trong làng, người phụ nữ có nhiệm vụ
ở nhà chăm con và dệt vải”
Tại làng, một số phụ nữ có chiếc cổ cao tới 25cm với hơn 20 chiếc vòng Trungbình, tổng khối lượng vòng mà các phụ nữ ở làng phải đeo sẽ rơi vào khoảng 10đến 20kg Tập tục này được lưu giữ từ đời này qua đời khác cho tới ngày nay.Chính vì thế người phương Tây gọi họ là Girrafe women (những người phụ nữhươu cao cổ).Cổ của họ thật ra cũng như chúng ta nhưng vì phải đeo nhiều vòng cổnên theo thời gian khiến cho xương bả vai bị chùng xuống, các đốt sống cổ dài ranên thoạt nhìn cổ của họ có thể cao gấp đôi người bình thường
Trang 11“Thật ra cũng không ai biết rõ truyền thống này bắt nguồn từ đâu.Với phụ nữaKaren họ xem vùng cổ là vùng nhạy cảm của người phụ nữ và không để ai nhìnvào cổ kể cả chồng Được biết, những chiếc vòng chỉ được tháo ra 3 lần trong cuộcđời mỗi người phụ nữ Lần đầu là khi kết hôn, lần thứ hai khi sinh con và lần thứ 3khi họ qua đời Phụ nữ ở đây mang những chiếc vòng cổ này suốt Khi cần làm vệsinh cổ thì những người phụ nữ trong làng sẽ tụ tập lại và ngâm mình vào nướcthảo dược để làm sạch cổ và những chiếc vòng”.
Hình ảnh cô gái đeo vòng cổ trong bộ tộc người Karen
(Nguồn: tác giả sưu tầm)
Trang 122.3 Chế độ mẫu hệ
“Đặc trưng chế độ mẫu hệ trong xã hội truyền thống của người dân tộc Êđê thếhiện ở nhiều khía cạnh trong cuộc sống, từ quan hệ gia đình, xã hội đến cả các kiếntrúc nhà ở, nhạc cụ cồng chiêng Trong đó, nét đặc trưng nhất là chế độ mẫu hệthể hiện trong cuộc sống hôn nhân gia đình người Karen”
“Theo truyền thống từ xa xưa, người có quyền lực cao nhất trong gia đìnhngười Karen là phụ nữ Xã hội mẫu hệ của người Karen là xã hội do người phụ nữlàm chủ Con cái sinh ra mang họ mẹ chứ không mang họ bố Người phụ nữ làmchủ trong hôn nhân Họ thích ai, yêu ai thì sẽ báo cáo với mẹ, gia đình để cướingười họ yêu Người được cưới ấy cư trú bên nhà vợ Khi sinh con đẻ cái thì mang
họ vợ Chẳng may, cô vợ anh ta bị mất thì nhà vợ hoặc dòng họ nhà vợ thì tìm mộtngười phụ nữ khác để kết hôn với anh ta”
Chế độ mẫu hệ của người Karen, xét ở một khía cạnh nào đó có tính nhân văn.Nhưng thực tế có thể kéo theo nhiều hệ lụy không đáng có, không đảm bảo quyền
tự do yêu đương, quyền lựa chọn hạnh phúc của con người, nhất là nam giới.Trong gia đình, tuy phụ nữ là chủ gia đình nhưng người đàn ông cũng đóng mộtvai trò nhất định trong gia đình
Trang 13CHƯƠNG 2 VĂN HÓA
2.1.Văn hóa vật chất của người Karen
Trước hết phải nói về người Karen, là nhóm dân tộc tới nay vẫn còn dùng trốngđồng ở Myanmar
Trống đồng của người Karen
Trang 14
Trống đồng Karen thuộc loại trống đồng loại Heger III có trang trí là hình mặttrời ở trung tâm và nhiều vòng tròn đồng tâm với các mô típ chính là cá và chim.Trên mặt trống ở 4 góc là hình những con cóc chồng lên nhau, thường là 3 tầng
Do đó, loại trống này còn gọi là trống cóc (frog drum)
Trống đồng là nhạc cụ được người Karen rất coi trọng, sử dụng trong các buổicúng lễ để gọi hồn tổ tiên về chứng giám các đám cưới, đám tang, mừng nhà mớihay để xua đuổi tà ma Người Karen cũng tin rằng trong trống đồng có các linhhồn ngự trị nên họ cất giữ trống cẩn thận và phải làm lễ cúng trống nếu mặt trống
bị thay đổi biến dạng
Hoa văn trên trống đồng Myanmar của người Karen
Trống đồng là nhạc cụ được người Karen rất coi trọng, sử dụng trong các buổicúng lễ để gọi hồn tổ tiên về chứng giám các đám cưới, đám tang, mừng nhà mớihay để xua đuổi tà ma Người Karen cũng tin rằng trong trống đồng có các linhhồn ngự trị nên họ cất giữ trống cẩn thận và phải làm lễ cúng trống nếu mặt trống
bị thay đổi biến dạng
Người Karen cũng thường để các đồ quý giá trong trống đồng và chôn cất ở nơikín đáo, tin rằng đó là những của mà sau khi họ chết sẽ đem theo Tục chôn trốngđồng cùng với người chết cũng từng gặp ở người Karen, cho những thủ lĩnh của bộtộc
Trang 15Trống đồng còn là biểu tượng của sự giàu có và quyền lực đối với người Karen.Thậm chí bang Karenni (một bang nhánh của người Karen trước đây) dùng hình ảnhmặt trống đồng làm biểu tượng trên lá cờ của mình.
Cờ của người Karen
Người Karen có truyền thuyết nói rằng họ xuất phát từ một vùng “sông cát bay”(river of running sand) Người ta cho rằng đó là nói tới sông Hoàng Hà ở Trung Quốc.Nhưng với nền văn hóa trống đồng sâu sắc vẫn còn tới nay như vậy thì người Karenkhông thể nào khởi nguồn từ vùng sông Hoàng Hà được Nhóm dân tộc này chắcchắn có khởi nguồn ở khu vực văn hóa trống đồng tại Đông Nam Á
Một nhóm người Karenđược biết đến nhiều nhất là nhóm người cổ dài Kayan, nổitiếng bởi tục đeo các vòng đồng ở cổ Những người phụ nữ Kayan quấn các vòngđồng quanh cổ từ khi còn nhỏ Có truyền thuyết cho rằng những chiếc vòng cổ này làtượng trưng cho cổ rồng
Phù điêu phụ nữ người Karen với những chiếc vòng đồng trên cổ, cổ tay và cổ chân.