1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

123 997 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự phát triển đa dạng của các loại hình du lịch ở Việt Nam thì loại hình du lịch văn hóa được xác định là một trong những loại hình đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển lớn

Trang 1

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Tr-êng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

~~~~~~~~~~~~

nGUYÔN THÞ THïY D¦¥NG

Nghiªn cøu ph¸t triÓn

du lÞch V¡N HãA Vµ DU LÞCH LÞCH Sö T¹I HUYÖN §¶O V¢N §åN, TØNH QU¶NG NINH

LuËn v¨n th¹c sÜ du lÞch

Trang 2

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Tr-êng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

~~~~~~~~~~~~

nGUYÔN THÞ THïY D¦¥NG

Nghiªn cøu ph¸t triÓn

du lÞch V¡N HãA Vµ DU LÞCH LÞCH Sö T¹I HUYÖN §¶O V¢N §åN, TØNH QU¶NG NINH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN 12

1.1 Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa - lịch sử 12

1.1.1 Du lịch văn hóa 12

1.1.2 Du lịch tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa 12

1.1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử 13

1.1.4 Tổ chức quản lý du lịch văn hóa - lịch sử 13

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa - lịch sử 15

1.1.6 Sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử 16

1.1.7 Điểm đến du lịch 17

1.1.8 Khách du lịch 18

1.1.9 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 18

1.2 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn 20

1.2.1 Điều kiện bên trong 20

1.2.2 Điều kiện bên ngoài 36

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN 39

2.1 Khái quát về hoạt động du lịch tại huyện đảo Vân Đồn 39

2.2 Công tác quản lý về du lịch 41

2.2.1.Công tác quản lý nhà nước về du lịch 41

2.2.2 Các cơ sở, đơn vị du lịch 42

2.2.3 Chính quyền địa phương 43

2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực 43

2.3.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 43

2.3.2 Nhân lực cho hoạt động du lịch 51

Trang 4

2.4 Sản phẩm du lịch và các chương trình du lịch văn hóa - lịch sử 53

2.4.1 Sản phẩm du lịch khai thác từ tài nguyên du lịch văn hóa vật thể 53

2.4.2 Sản phẩm du lịch khai thác từ tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể56 2.4.3 Các chương trình du lịch văn hóa - lịch sử tiêu biểu 59

2.5 Khách du lịch đến Vân Đồn 61

2.5.1.Khách nội địa 61

2.5.2 Khách quốc tế 63

2.6 Doanh thu du lịch của huyện đảo Vân Đồn 64

2.7 Đánh giá hoạt động du lịch văn hóa - lịch sử của huyện đảo Vân Đồn 65

2.7.1 Những thuận lợi và khó khăn 65

2.7.2 Những thành tựu và hạn chế 66

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN 72

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 72

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch của huyện đảo Vân Đồn 72

3.1.2 Yêu cầu thực tiễn 73

3.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa - lịch sử huyện đảo Vân Đồn 74

3.2.1 Giải pháp về tổ chức quản lý du lịch 74

3.2.2 Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật và đầu tư phát triển 76

3.2.3 Giải pháp về sản phẩm 78

3.2.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 80

3.2.5 Giải pháp bảo tồn di sản 82

3.2.6 Giải pháp xây dựng hình ảnh, xúc tiến và quảng bá du lịch 89

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC HÌNH, BẢNG

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn 20

Bảng 2.1 Khách du lịch và doanh thu du lịch Vân Đồn giai đoạn (2007 – 2012) 40

Bảng 2.2: Thực trạng cơ sở lưu trú tại huyện Vân Đồn năm 2007 - 2012 46

Bảng 2.3 : Phương tiện vận chuyển khách trên các đảo 49

Bảng 2.4: Phương tiện vận chuyển khách bằng đường thủy 50

Bảng 2.5 Thực trạng lao động trực tiếp trong ngành du lịch ở Vân Đồn (2007 – 2012) 51

Bảng 2.6 Khách du lịch nội địa đến Vân Đồn giai đoạn 2007 - 2012 61

Bảng 2.7 Khách du lịch quốc tế đến Vân Đồn giai đoạn 2007-2012 63

Bảng 2.8 Doanh thu du lịch huyện Vân Đồn (giai đoạn 2007 – 2012) 64

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

and Cultural Organization

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng về các mặt kinh tế - văn hóa -

xã hội, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng và trở thành nhu cầu cơ bản không thể thiếu được trong đời sống Hoạt động du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, ngành du lịch tuy còn non trẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đóng góp những thành tựu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Trong sự phát triển đa dạng của các loại hình du lịch ở Việt Nam thì loại hình du lịch văn hóa được xác định là một trong những loại hình đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển lớn, thu hút nhiều du khách quốc tế

Nằm ôm trọn vịnh Bái Tử Long, huyện đảo Vân Đồn được biết đến như một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Quảng Ninh Vân Đồn không chỉ có tài nguyên du lịch tự nhiên mà còn có tài nguyên du lịch văn hóa phong phú và đa dạng Vân Đồn xưa kia từng là thương cảng đầu tiên của Việt Nam, được hình thành từ thời Lý và phát triển liên tục trong suốt 700 năm thì bị rơi vào quên lãng với những dấu tích còn lại nằm rải rác trên suốt một dải từ Cống Đông, Cống Hẹp, Cống Yên, Quan Lạn, Minh Châu…Vân Đồn cũng là vùng đất có trầm tích văn hóa, lịch sử dày đặc với nhiều di tích, lễ hội tiêu biểu như: các di chỉ khảo cổ học thời tiền sử phân bố trên các đảo và hang động vùng vịnh Bái Tử Long, lễ hội truyền thống Vân Đồn, cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn với những giá trị lịch

sử văn hóa đặc sắc…cùng với đó là những giá trị văn hóa dân gian mang đậm yếu

tố biển của những thế hệ cư dân đời nối đời gắn bó với những hòn đảo Tất cả những giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo đó đã hòa quyện với nhau, tạo cho vùng biển đảo tài nguyên du lịch hấp dẫn

Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm

2020, Vân Đồn được xác định là một trong bốn không gian phát triển du lịch trọng điểm Với tài nguyên du lịch văn hóa phong phú, Vân Đồn hội đủ điều kiện

Trang 8

du lịch hấp dẫn đặc thù Tuy nhiên, sự phát triển loại hình du lịch này ở Vân Đồn hiện chưa tương xứng với tiềm năng; chưa có sự đầu tư, khai thác một cách hợp

lý, khoa học Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa mang tính đặc trưng của địa phương, chưa tạo được sức hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước đến với Vân Đồn

Căn cứ vào thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du

lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.” nhằm

tìm ra những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử, góp phần vào việc phát triển bền vững hoạt động du lịch ở Vân Đồn nói riêng và Quảng Ninh nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch văn hóa là loại hình du lịch đặc thù và có thế mạnh phát triển ở Việt Nam Nghiên cứu phát triển loại hình này là một trong những hướng nghiên cứu được các nhà du lịch học, văn hóa học và các địa phương…quan tâm đặc biệt Cho đến nay đã có nhiều các bài viết, luận văn nghiên cứu về phát triển du lịch văn hóa, gắn văn hóa với phát triển du lịch Cụ thể như:

Cuốn “Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” - TS Nguyễn

Thị Chiến, NXB Trẻ 2/2004, đã cho thấy vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển

du lịch và văn hóa được coi là “chìa khóa” phát triển du lịch bền vững

Bài viết “Bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch” của Th.s Đào Duy

Tuấn trên tạp chí Tuyên giáo điện tử số 1 năm 2011, đã chỉ ra vai trò của di sản văn hóa đối với sự phát triển du lịch và các yêu cầu đặt ra đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa nhằm phát triển du lịch

Đặc biệt, một số luận văn đã đi sâu nghiên cứu về phát triển loại hình du lịch văn hóa địa phương như:

Luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá Bình Định” của tác giả Trần Thị Thu Thuỷ chuyên ngành Du lịch học, năm 2011; “Nghiên cứu phát

triển sản phẩm du lịch văn hoá tỉnh Nam Định” của tác giả Nguyễn Thị Thu

Trang 9

Thuỷ, chuyên ngành Du lịch học, năm 2011; “Nghiên cứu phát triển du lịch văn

hoá tỉnh Thái Bình” của tác giả Phạm Thị Bích Thuỷ, chuyên ngành Du lịch

học, năm 2011 Các luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lí luận về tài nguyên và du lịch văn hoá và các điều kiện có thể khai thác để phát triển sản phẩm du lịch văn hoá của các tỉnh: Nam Định, Bình Định, Thái Bình Thực hiện các nghiên cứu thực tế để phân tích, đánh giá tiềm năng du lịch, các nguồn lực phát triển

du lịch văn hoá Trên cơ sở đó luận văn đi sâu phân tích thực trạng khai thác sản phẩm và hoạt động du lịch văn hoá trong thời gian qua, đồng thời đưa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn hay kết quả đạt được và hạn chế trong quá trình nỗ lực phát triển du lịch văn hoá thành sản phẩm du lịch đặc thù của các tỉnh Đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể phát triển du lịch văn hoá

ba tỉnh trên thành sản phẩm du lịch văn hoá đặc thù trong thời gian đến

Vân Đồn là huyện đảo có tiềm năng phát triển du lịch đa dạng, phong phú với các tài nguyên tự nhiên và nhân văn độc đáo Cho đến nay, đã có nhiều các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu viết về Vân Đồn ở nhiều khía cạnh khác nhau

Nghiên cứu về lịch sử, văn hoá Vân Đồn là khía cạnh được nhiều học giả quan tâm nhiều nhất Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu về các giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu, độc đáo của Vân Đồn mà chưa có sự gắn kết với du lịch Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Cuốn “Huyện đảo Vân Đồn” của tác giả Đỗ Văn Ninh, xuất bản năm 1997 đã

giới thiệu cho bạn đọc về những trang sử hào hùng của Vân Đồn qua những di chỉ khảo cổ học, trận chiến thắng năm 1288 và những công trình kiến trúc văn hoá nghệ thuật đình, chùa, miếu…mang giá trị như những cột mốc văn hoá nơi biên cương của tổ quốc

Bộ “Địa chí Quảng Ninh” (tập I, III) của UBND tỉnh Quảng Ninh, xuất bản

năm 2003, đã cung cấp những khái quát cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện đảo Vân Đồn

Trang 10

Cuốn “Văn hóa dân gian làng biển Quan Lạn” của Viện nghiên cứu Văn hóa,

xuất bản năm 1999, đã có những nghiên cứu sâu sắc về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của làng biển Quan Lạn

Nghiên cứu về tiềm năng, thế mạnh và thực trạng phát triển du lịch của huyện đảo Vân Đồn, hiện có nhiều luận văn nghiên cứu song chủ yếu tập trung vào các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái cộng đồng, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái

Cụ thể như: Luận văn thạc sỹ Việt Nam học “Nghiên cứu du lịch sinh thái cộng

đồng và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tại huyện đảo Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Ngô Hải Ninh, năm 2011; Luận văn thạc sỹ du lịch “Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn Quảng Ninh” của tác giả Lê

Thị Ngoan, năm 2008; “Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh” của tác giả Ngô Quang Duy, năm 2008; Khóa luận “Đánh giá tiềm năng phát triển du

lịch sinh thái vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị

Hồng Vân, năm 2011

Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy nghiên cứu về loại hình du lịch văn hóa - lịch sử của huyện đảo Vân Đồn là một vần đề hoàn toàn mới, hiện nay

chưa có công trình nào được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử ở huyện

đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.” tập trung vào 2 mục đích nghiên cứu chính là:

- Đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả khai thác phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo

* Đối tượng nghiên cứu

Để tìm hiểu về tiềm năng phát triển và đánh giá đúng thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa - lịch sử của huyện đảo Vân Đồn, tác giả tập trung vào 3 nhóm đối tượng nghiên cứu:

- Tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử

- Tổ chức, quản lý, cơ sở vật chất và sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử

- Thực tế các hoạt động du lịch văn hóa - lịch sử đang diễn ra trong khu vực huyện đảo

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là cách thức cụ thể hay công cụ được sử dụng để nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhằm mục đích đi đến kết quả một cách chính xác

Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập

và kế thừa tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố, tạp chí, sách, mạng internet, báo cáo của UBND huyện Vân Đồn từ năm 2007 - 2012, số liệu cập nhật

về hoạt động du lịch do phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn cung cấp,…

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Đây là phương pháp có ý nghĩa

Trang 12

nhiều biến động trong không gian như ngành du lịch Tác giả đã sử dụng phương pháp này nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được nhằm tìm ra bản chất và thực

trạng của đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát thực địa: Phương pháp này sử dụng nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đối tượng nghiên cứu nhằm bổ sung, chỉnh sửa và cập nhật những thông tin mới nhất Đồng thời, việc trực tiếp khảo sát đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc nhất về thực trạng hoạt động du lịch văn hóa - lịch sử tại địa phương Đó là cơ sở thực tế giúp tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch trên Khảo sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu của đề tài được tiến hành làm hai đợt theo lộ trình bao quát phạm vi nghiên cứu của đề tài Đợt 1 tiến hành vào tháng 8 năm 2011, đợt hai được tiến hành vào tháng

6 năm 2012

- Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tham khảo ý kiến của một số người có chuyên môn về hoạt động du lịch của huyện Vân Đồn nhằm làm căn cứ cho những nhận xét, đánh giá của luận văn Ngoài ra, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đã tiến hành với số lượng 100 phiếu phát ra với đối tượng là người dân địa phương và 100 phiếu khách du lịch đến với Vân Đồn Tổng hợp kết quả trả lời phỏng vấn và bảng hỏi, tác giả sẽ có cơ sở đưa ra những đề xuất đóng góp cho sự phát triển của loại hình du lịch văn hóa - lịch sử của huyện đảo Vân Đồn

- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham vấn các nhà quản lý và các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch ở trung ương và địa phương

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử ở huyện

đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” có những đóng góp như sau:

- Hệ thống hóa giá trị các tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn

Trang 13

- Qua khảo sát thực tế về hoạt động du lịch văn hóa - lịch sử của huyện từ đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa - lịch sử huyện đảo Vân Đồn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại Vân Đồn

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH

SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA - LỊCH SỬ TẠI

HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

1.1 Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa - lịch sử

1.1.1 Du lịch văn hóa

Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng phổ biến của du lịch toàn thế giới Hơn nữa, du lịch văn hóa còn được xem là sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển Với nền tảng và quy mô phát triển không lớn, các nước đang phát triển không có thế mạnh xây dựng những điểm du lịch, trung tâm vui chơi giải trí tầm cỡ và hiện đại, mà thường dựa vào nguồn lực du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc, đem lại giá trị lớn cho cộng đồng

Theo Luật Du lịch: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn

hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.[42]

Du lịch văn hóa cũng như các loại hình du lịch khác, không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong hệ thống hữu cơ với các ngành nghề, các đơn vị kinh doanh Hơn nữa, nó càng đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ do văn hóa và du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết Văn hóa là tài nguyên, là nguyên liệu chính và không thể thiếu để tạo ra loại hình du lịch văn hóa Văn hóa cũng là nguyên nhân phát sinh nhu cầu du lịch và

là yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch Trái lại, du lịch là cơ hội để văn hóa khẳng định giá trị của mình, bảo tồn và phát huy những nét độc đáo

1.1.2 Du lịch tham quan các điểm di tích lịch sử văn hóa

Theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa Việt Nam năm 1984 quy định về di tích lịch sử văn hóa như sau:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá

Trang 15

trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn

hóa – xã hội” [39]

Như vậy, di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể và khách quan, trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử và văn hóa điển hình do tập thể hoặc

cá nhân con người tạo nên trong quá khứ và còn tồn tại đến ngày nay

Do đó, du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa là hình thức du lịch dựa vào các giá trị lịch sử văn hóa của điểm di tích có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết và nhận thức của du khách

1.1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử

Du lịch văn hóa – lịch sử chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, phong tục tập quán để tạo sức hút đối với du khách Như vậy, tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử là những đối tượng, hiện tượng được tạo ra bởi con người có giá trị hấp dẫn du khách, đang và sẽ được đưa vào khai thác phục

vụ nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu những nét văn hóa khác nhau của các dân tộc cho các đối tượng khách để làm tăng giá trị của một địa phương, một quốc gia Bất kỳ một tài nguyên nào có giá trị hấp dẫn, độc đáo đều có khả năng được đưa vào khai thác du lịch, đặc biệt là tính dị biệt của chúng càng cao càng có giá trị thu hút Khác với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử mang những đặc trưng khác biệt Nó ít bị chi phối bởi tính thời vụ vì vậy hoạt động du lịch văn hóa – lịch sử có thể diễn ra quanh năm, không lệ thuộc vào thời tiết Đây là lợi thế lớn nhất của tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử Tài nguyên du lịch văn hóa – lịch

sử bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu văn hóa của du khách Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử dễ bị xuống cấp Nó thường xuyên bị tác động bởi các yếu tố môi trường bên ngoài và yếu tố tác động mạnh mẽ nhất chính là con người

1.1.4 Tổ chức quản lý du lịch văn hóa - lịch sử

Hoạt động kinh doanh du lịch nói chung hay du lịch văn hóa - lịch sử nói riêng bao gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản: hoạt động kinh doanh du lịch nội địa và hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế Như vậy, sự phát triển của du lịch không chỉ còn

Trang 16

nằm trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra phạm vi quốc tế Do đó, hoạt động kinh doanh du lịch cần có sự tổ chức và quản lý tương ứng

Theo T.S Trần Thị Minh Hòa: “Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng

quản lý vĩ mô về du lịch Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doạnh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trong lĩnh vực kinh tế du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước.” [14,tr328]

Trong Luật Du lịch Việt Nam quy định rõ các quy định về nội dung quản lý nhà nước về du lịch như sau:

Đối với cơ quan quản lý về du lịch:

“- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch

- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến về du lịch ở trong nước và ngoài nước

- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các

cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch

- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật

về du lịch.” [42]

Đối với chính quyền địa phương:

Trang 17

“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị

du lịch.” [42]

Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch: “Thực hiện các hoạt động của đơn vị

và tuân thủ các quy định của nhà nước và hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương đó.” [42]

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa - lịch sử

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung và cơ sở vật chất kỹ thuật

du lịch văn hoá - lịch sử nói riêng bao gồm nhiều thành phần, chúng có chức năng

và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch Các yếu tố này không chỉ là của riêng ngành du lịch mà bao hàm cả các yếu tố của các ngành khác được huy động vào nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu

du khách Khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xem xét cả về nghĩa rộng

và nghĩa hẹp

Theo Ts.Trần Thị Minh Hòa, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiểu theo nghĩa

rộng là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào

việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ.”[14,tr188]

Như vậy, theo định nghĩa trên cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch không chỉ có cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc bản thân ngành du lịch mà còn có cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành khác tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như: giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống điện nước,…Những yếu tố này được gọi chung là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội Đây là những yếu tố mang tính chất tiền đề và là đòn bẩy đối với sự phát triển của ngành du lịch

Trang 18

Cũng theo TS.Trần Thị Minh Hòa cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu

theo nghĩa hẹp là: “toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch

tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa nhằm cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và đặc biệt

nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ.” [14,tr189] Theo định nghĩa trên thì

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chính là những yếu tố quan trọng và mang tính trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng

cho du khách

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy, sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ

sở vật chất kỹ thuật

1.1.6 Sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử

Để tìm hiểu sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử là gì trước hết ta tìm hiểu thế nào là sản phẩm du lịch

Theo TS.Trần Thị Minh Hòa: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa

cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại

một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.” [14,tr31]

Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể Yếu tố vật thể là hàng hóa, yếu tố phi vật thể là dịch vụ

Xét theo quá trình tiêu dùng của du khách trên tuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ

Dịch vụ lưu trú, ăn uống, đồ ăn, thức uống;

Trang 19

Dịch vụ tham quan, giải trí;

Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;

Các dịch vụ khác phục vụ du khách

Như vậy, từ quan điểm trên thì sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử được hiểu là các dịch vụ và hàng hóa được hình thành từ việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn và các dịch vụ du lịch kèm theo để hình thành các chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch mang đậm dấu ấn văn hóa - lịch sử

1.1.7 Điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch là một khái niệm rất rộng trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên du lịch song không phải tài nguyên nào cũng được khai thác và trở thành điểm đến du lịch Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dịch vụ phục vụ khách, thời gian khai thác điểm du lịch, số lượng khách đến tham quan…

Điểm đến du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch của một đất nước, một địa phương Điểm đến có tính hấp dẫn càng cao thì sức thu hút khách

du lịch càng lớn Dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách có chất lượng cao, đa dạng về chủng loại thì doanh thu càng lớn Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp, phục vụ du khách trong thời gian nghỉ dưỡng và tham quan tại điểm du lịch này Nơi mở rộng các hoạt động dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của du khách, thực hiện “xuất khẩu vô hình” các tài nguyên du lịch và “xuất khẩu tại chỗ” các dịch vụ, hàng hóa của địa phương với mục tiêu thu lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “Điểm đến du lịch là một nơi, một vùng hay một

đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cư dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên”.[26,tr112]

Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình

Trang 20

đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi Có thể phân biệt hai loại điểm đến

+ Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của

du khách và (hoặc) là địa điểm mà người đó dự định tiêu dùng phần lớn thời gian + Điểm đến trung gian hoặc nơi ghé thăm là địa điểm mà du khách dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn

Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa - lịch sử được hiểu là một nơi, một vùng, một địa phương có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách về các giá trị văn hóa, lịch sử

1.1.8 Khách du lịch

Theo Luật Du lịch: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch,

trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.[42]

Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và quốc tế

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

1.1.9 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch

Di sản văn hóa là một bộ phận cơ bản và trọng yếu của nền văn hóa dân tộc Nói đến di sản văn hóa là nói đến một lĩnh vực rộng lớn, đó là tất cả những thành quả lao động tiêu biểu của con người qua các thời kỳ xây dựng nên còn tồn tại hoặc

Trang 21

Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.” [45]

Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản

quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.” [41]

Trường tồn cùng các di sản văn hóa chính là mối đe dọa trạng thái bảo quản các di sản văn hóa đó, do rất nhiều yếu tố: sự hủy hoại của thiên nhiên, tăng dân số cơ học, nhịp

độ phát triển như vũ bão của kinh tế toàn cầu gây ra Song yếu tố cơ bản nhất, đe dọa và trực tiếp hủy hoại các di sản văn hóa là do công tác bảo vệ và quản lý không theo kịp trình độ phát triển của xã hội Chính vì lẽ đó, công tác bảo tồn di sản văn hóa được đặt ra như một vấn đề cấp thiết ở mọi thời đại, đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc truyền bá những kiến thức về tự nhiên và xã hội trong lĩnh vực phong phú, đa dạng này Bảo tồn di sản văn hóa, tức là quản lý và phát huy các giá trị của di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể

Đối với sự phát triển du lịch, đặc biệt loại hình du lịch văn hóa, công tác bảo tồn di sản văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng vì di sản văn hóa chính là tài nguyên du lịch, là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa là bao gồm các hoạt động về “sưu tầm”, “thăm dò,

“khai quật khảo cổ”, “bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”, “tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”, “phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”

Theo Luật di sản văn hóa:

Trang 22

“Sưu tầm là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn

hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội

Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,

nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ

Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo

vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng

mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa,

gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó.”[41]

1.2 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa - lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn

1.2.1 Điều kiện bên trong

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, 2012)

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn

Trang 23

Nằm trong khu vực cực Bắc của Việt Nam và cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái 120km, Vân Đồn là huyện miền núi, hải đảo nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ từ 200

40’ đến 20012’ vĩ độ Bắc và từ 107019’ đến 1070

42’ kinh độ đông Vị trí địa lý của huyện đảo Vân Đồn được xác định cụ thể: phía Bắc và Đông Bắc giáp với huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà, phía Đông giáp với huyện Cô Tô

và vịnh Bái Tử Long, phía Tây giáp với thị xã Cẩm Phả, phía Nam là vùng biển vịnh Bắc Bộ

Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3 km² Vân Đồn có 11 xã và 1 thị trấn, trong đó có hai quần đảo Quần đảo Cái Bầu với thị trấn Cái Rồng là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của huyện và 6 xã: Đông Xá, Hạ Long, Vạn Yên, Đoàn Kết, Bình Dân, Đài Xuyên Quần đảo Vân Hải có 5 xã: Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi, Bản Sen Các đảo đều có địa hình núi

Khí hậu Vân Đồn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220

C - 240C Vân Đồn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8 gió Đông Nam từ biển thổi vào mát mẻ, mùa đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc lạnh và khô Lượng mưa trung bình hàng năm 2000mm, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) đạt 2.225mm Độ ẩm trung bình hàng năm 84% Các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như giông, gió mạnh, bão xảy ra không nhiều so với các tỉnh ven biển khác

Với địa hình khá phức tạp bao gồm một quần thể hơn 600 hòn đảo đã tạo cho Vân Đồn một nét rất riêng mang đặc trưng biển đảo

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Tên Vân Đồn có nguồn gốc từ núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay thuộc địa phận xã Quan Lạn) Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu nên ở đây sớm có đồn Vân Theo sử sách, năm 980 trấn Triều Dương đã có Vân Đồn Năm

1149, thời Lý Anh Tông (1138-1175) cho khai mở trang Vân Đồn để đón thuyền

buôn các nước Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê đã viết: "Năm Kỷ tỵ, hiệu Đại Định năm thứ 10 (1149, đời vua Lý Anh Tông), mùa xuân,

tháng hai, thuyền buôn các nước Qua Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú

Trang 24

buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương” [20,tr317] Như vậy, Vân Đồn đã trở thành cảng

ngoại thương đầu tiên của nước ta Thời Trần, năm 1345 được gọi là trấn Vân Đồn, năm 1407 đổi là huyện Vân Đồn, năm 1557 đổi là châu Vân Đồn Năm 1836, đổi thành tổng Vân Hải Ngày 19-8-1890 lập huyện Vân Hải thuộc phủ Nghiêu Phong (tên cũ là Hoa Phong) Năm 1909, huyện Vân Hải lại thành tổng Vân Hải thuộc huyện Hoành Bồ Năm 1937, tổng Vân Hải thuộc châu Cẩm Phả

Trong cách mạng tháng Tám, ngày 27-9-1945, chính quyền cách mạng thành lập trên đảo Cái Bầu Năm 1946, hải quân Pháp (từ cảng Phòng Thành, Trung Quốc) quay lại chiếm Cô Tô, Vạn Hoa và khống chế các xã đảo tuyến ngoài Một số đảng viên từ huyện Thụy Anh, Thái Bình ra đây xây dựng các tổ chức Việt Minh, các xã đảo tuyến ngoài tạm thời thuộc huyện Thụy Anh về tổ chức chính trị Cuối năm 1948, huyện Cẩm Phả được thành lập (tách khỏi thị xã Cẩm Phả - Cửa Ông) và trực thuộc Đặc khu Hòn Gai Cũng từ đây, các xã được thành lập, xã Đại Độc chia thành nhiều

xã, tuyến đảo ngoài có thêm các xã Thắng Lợi, Thành Công, Hùng Thắng Trong thời kháng chiến, Pháp gọi đảo Cái Bầu là huyện Cửa Tiên Yên trong “Xứ Nùng tự trị Hải Ninh” Ngày 16-7-1964, huyện Cẩm Phả sáp nhập thêm Cô Tô và xã Thanh Lân Ngày 23-3-1994, Chính phủ ra nghị định đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn và tách quần đảo Cô Tô thành huyện Cô Tô

1.2.1.3 Điều kiện văn hóa – xã hội

a Điều kiện về tài nguyên

* Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể tiêu biểu

- Các di tích khảo cổ học thời tiền sử

Các đảo trong khu vực Vân Đồn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá thuộc thời

kỳ tiền sử Cuối năm 1937 nhà khảo cổ học Thụy Điển An-đéc-xen và hai chị em nhà khảo cổ học người Pháp Cônali M đã đi điền dã nhiều tháng đến các bãi biển, hang động trên các đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây, Thoi Giếng, Soi Nhụ Họ đã phát hiện ra nhiều địa điểm với nhiều hiện vật công cụ bằng đá của người nguyên thuỷ như: rìu bôn, bàn mài, chày nghiền, mảnh tước, vòng tay Từ đó

Trang 25

tới nay, các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục khảo cổ, khai quật và đã phát hiện thêm nhiều di chỉ khảo cổ trong khu vực vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có giá trị Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đã chứng minh vùng biển nơi đây đã từng là nơi cư trú của người tiền sử qua 3 nền văn hóa phát triển liên tục và kế tiếp nhau đó là: Văn hóa Soi Nhụ (14.000 - 7.000 năm cách ngày nay), văn hóa Cái Bèo (±7000

năm cách ngày nay) và văn hóa Hạ Long (5.000 - 3.500 năm cách ngày nay)

Các di chỉ tiêu biểu

+ Hang Soi Nhụ: Nằm trên đảo Soi Nhụ thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn

nằm cách thị trấn Cái Rồng khoảng 4 km về phía Bắc Đây là một trong những di chỉ khảo cổ học quan trọng của văn hóa Hạ Long Năm 1938, lần đầu tiên hang động này được phát hiện bởi hai nhà khảo cổ học người Pháp Theo các nhà nghiên cứu, với những di chỉ khảo cổ tìm được bao gồm các tàn tích thức ăn, công cụ lao động, đồ gốm…có thể khẳng định đây là một trong những “ngôi nhà cổ” của các cư

dân văn hóa Hạ Long Theo kết quả phân tích phương pháp cácbon phóng xạ

(phương pháp C14) các nhà khảo cổ đã đưa ra niên đại cách ngày nay khoảng trên 14.000 năm, điều này chứng tỏ hàng ngàn năm trước mảnh đất này đã có cư dân

sinh sống

Hang Soi Nhụ - căn nhà cổ nhất của các cư dân văn hóa Hạ Long đã và sẽ là một trong những điểm tham quan nghiên cứu quan trọng của du lịch Vân Đồn cũng như của du lịch Quảng Ninh

+ Hang Hà Giắt: Hà Giắt là tên một thôn thuộc xã Đoàn Kết huyện Vân Đồn

Hà Giắt là một trong những địa điểm khảo cổ hoặc quan trọng của văn hóa Hạ Long Bộ sưu tập hiện vật ở hang Hà Giắt hiện nay còn khoảng 70 hiện vật Toàn

bộ là đồ đẽo ghè và công cụ có dấu vết sử dụng không qua chế tác Hầu hết đồ đá trong bộ sưu tập này đều làm bằng cuội grannít Đá có hạt thô lẫn trong những tinh thể trắng, vỏ cuội xù xì đã bị nước phong hóa Đây là đặc điểm chung của vùng biển Hạ Long

Về niên đại, di chỉ Hà Giắt có niên đại cách ngày nay khoảng 14.000 năm vào khoảng trung kì đá mới, qua đây có thể thấy rằng người Hà Giắt và người Soi Nhụ

Trang 26

cũng sống chung ở một thời kì mà các nhà khảo cổ học gọi chung thời kì này là văn hóa Soi Nhụ

+ Di chỉ Ngọc Vừng: Cách đây 5000 năm, người nguyên thuỷ thuộc thời đại đá

mới đã đến đây cư trú Ngày nay, dân cư địa phương trong lúc làm vườn thường bắt gặp rìu đá, bôn đá vừa có vai, vừa có nấc, chì lưới, bàn mài có rãnh, hòn kê…là những di sản của người nguyên thuỷ đã sinh sống ở Ngọc Vừng Vào những năm 30 của thế kỷ 20, một người chủ lò thuỷ tinh trong vùng đã phát hiện ra di chỉ đá mới Ngọc Vừng, từ đó các học giả khảo cổ Pháp đã tìm đến hòn đảo này để nghiên cứu Căn cứ vào hình dáng độc đáo của những hiện vật thu lượm được trên đảo, họ đặt tên di chỉ đồ đá ở đây là “Nền văn hoá Danh - dô - la” (tên đảo Ngọc Vừng trên bản

đồ của Pháp)

- Di tích lịch sử thương cảng Vân Đồn

Vân Đồn là cảng ngoại thương đầu tiên ở nước ta Sách Đại Việt sử ký toàn

thư chép: “Đại Định năm thứ 10 (1149) (Tống Thiệu Hưng năm thứ 19), mùa xuân,

tháng 2, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở hải đó, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật.”[20,tr317] Như vậy, từ năm 1149 chính thức thành lập thương

cảng Vân Đồn, đánh dấu một mốc chủ quyền về thương mại và phát triển kinh tế của nước ta Thương cảng Vân Đồn với vai trò là thương cảng quốc tế, phát triển sầm uất và liên tục trong suốt 700 năm Sau đó, nơi buôn bán này chuyển sâu vào đất liền

Trải qua gần một thiên niên kỷ và sự bồi lắng của biển cả, diện mạo sầm uất của khu thương cảng xưa không còn nữa, nhưng tại các bến thuyền cổ này vẫn còn nhiều hiện vật chứng minh cho sự ra đời, phát triển và hưng thịnh của thương cảng một thời

+ Bến Cống Đông

Hai hòn đảo dài Cống Đông (phía Đông), Thừa Cống (phía Tây) nằm song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo nên một dải nước ở giữa Dải nước này gọi là Cống Đông hay sông Cống Đông

Trang 27

Đảo Thừa Cống nay là khu dân cư chính của xã Thắng Lợi Thời Trần, Mạc, nơi đây giữ vai trò quan trọng nhất của thương cảng Vân Đồn Suốt dọc chiều dài cả phía Đông và phía Tây đảo Thừa Cống 10km, là bến thuyền cổ dài nhất trong tất các bến bãi Đảo có nhiều vụng to nhỏ ăn sâu tạo nên các bến đỗ

an toàn tiện lợi như vụng Đầu Mom, vụng Chùa Cát, vụng Chuồng Bò, vụng Chùa Lấm, vụng Chùa Cây Quéo Hiện vật ở đây có số lượng nhiều nhất và phong phú nhất trong tất cả các bến Dọc 2 bên bờ đảo cả trên mặt đất và trong lòng đất có rất nhiều đồ gốm sứ đủ loại từ kiểu dáng, hoa văn, mầu men, loại hình đã vỡ hay còn nguyên vẹn Trong số đó đồ gốm men nâu Việt Nam thời Trần, gốm men ngọc Trung Quốc thời Nguyên và sành nhà Mạc chiếm số lượng nhiều hơn cả so với các bến khác

Dọc theo các sườn núi cao còn dấu tích của nhiều nền nhà cổ Tiền đồng thời Đường, thời Tống cũng tìm thấy nhiều như Khai Nguyên thông bảo, Đại Định thông bảo, Nguyên Hựu thông bảo Trong các cuộc điều tra dài ngày năm 1969,

1971, trên đảo Cống Đông, các nhà khảo cổ còn phát hiện được ở đây phế tích của

5 ngôi chùa, 1 bảo tháp được xây dựng từ thời Trần, 2 cầu cảng cổ cùng bãi gốm

sứ là những bằng chứng về một thời phồn thịnh của thương cảng Vân Đồn

Đối diện và song song với đảo Thừa Cống là đảo Cống Đông, số lượng di vật và di tích ít hơn đảo Thừa Cống Trên bờ vụng còn có dấu tích nền chùa Vạ Giếng và những nền nhà cổ với nhiều gạch ngói thời Nguyễn

+ Bến Cái Làng

Cái Làng là một vụng thuộc đảo Vân Hải, nay thuộc xã Quan Lạn Cửa vụng phía Nam trông ra một bãi cát rộng tới 2km giữa núi Man và đảo Vân Hải Bãi cát này khi thủy triều lên ngập nước mênh mông, sâu hơn 1m, có những lạch nước sâu thuyền lớn có thể ra vào được Vụng xưa sâu hơn hiện nay ít nhất là 0.6m Suốt bờ vụng phía Đông dài khoảng 200m có nhiều mảnh sành sứ và tiền đồng các loại thuộc thế kỷ 16 - 17 Đồ sành nhiều hơn với độ nung rất cao, trang trí hoa văn

Trang 28

song song hay sóng nước vạch chìm Loại hình phổ biến là lon, hũ, vò, trong đó lon sành chiếm số lượng lớn nhất

Cả 3 mặt quanh vụng, trên sườn núi cao hơn mặt bãi từ 5m - 10m còn nguyên vẹn nhiều nên nhà cổ Ở đây còn phát hiện dấu tích một ngôi đình cổ rất lớn, gồm 9 gian, 2 chái Tới đầu thời Nguyễn khi cả làng di chuyển sang đất Quan Lạn thì cũng chuyển cả đình sang theo Mật độ dày đặc của những nền nhà cổ và sự xuất hiện của ngôi đình đã chứng minh sự đông vui của một làng cổ

+ Bến Cống Cái

Bến Cống Cái nằm trên vụng biển bên bờ Tây đảo Vân Hải nay thuộc thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn Cửa vụng mở ra một con sông do đảo Vân Hải và hòn núi Man chạy song song ngăn một dải nước tạo thành Ba mặt Bắc, Đông, Nam của biển có núi Vân bao bọc

Bến Cống Cái sâu, rất kín đáo thuận lợi an toàn cho thuyền bè neo đậu Suốt

bờ Bắc một dải hơn 100m là nơi tích tụ rất nhiều mảnh sành sứ các loại tương tự như Cái Làng Khắp sườn núi cũng còn nhiều dấu vết những nền nhà cổ quanh kè

đá tảng thường dài khoảng 10m, rộng 4,5m Nền nhà được phân bố lớp lớp lên cao tới tận lưng chừng núi Qua đó cũng hình dung ra không khí hoạt động trên bến dưới thuyền tấp nập đông vui của khu bến cổ

+ Bến Con Quy

Bến Con Quy nằm ở phía Bắc đảo Vân Hải, nay thuộc xã Minh Châu Ven

bờ bến có nhiều mảnh lon sành, hũ sành, vò sành, bát đĩa và tiền đồng thời Lý, Trần, Lê nhưng số lượng ít hơn so với Cái làng và Cống Cái Có thể đây là trạm cửa ngõ dừng chân của thuyền bè đợi làm thủ tục trước khi vào bến chính

+ Bến Cái Cổng

Bến Cái Cổng thuộc đảo Cái Bàn, đối diện với sông Con Quy, do đó có mối quan hệ chặt chẽ với với hệ thống bến Cái Làng, Cống Cái, Con Quy Bến gồm 2 vụng là Cổng Ông (phía Bắc) và Cổng Bà (phía Nam) Cửa Đối - khoảng giữa của

Trang 29

2 đảo Vân Hải và Ba Mùn chiếu vào chính giữa khu Cái Cổng Cửa Đối là một cửa sâu rất quan trọng đối với thuyền bè ra đại dương, có thể coi Cửa Đối là một cổng ngõ của cảng Vân Đồn

- Đồn canh Tĩnh Hải

Nằm ở vùng biên cương của tổ quốc, Vân Đồn đóng một vai trò quan trọng, mang tính chiến lược về quân sự Theo sách Đại Nam nhất thống chí vào thời Trần tại Vân Đồn đã đặt Bình Hải quân canh giữ tại đây, Vân Đồn được đặt làm trấn Điều đó cho thấy, các triều đại phong kiến, đặc biệt thời Trần rất coi trọng vai trò quân sự của Vân Đồn Đồn canh Tĩnh Hải được xây dựng trên mỏm phía Đông bãi cát trắng, giáp với Cổng Đồn Đồn được xây dựng vào thời nhà Nguyễn (1839), vừa để canh phòng mặt biển vừa để thu thuế các thuyền buôn lưu lại

Đồn Tĩnh Hải được xây dựng hình vuông theo thiết kế chung kiểu băng thời Nguyễn Tường phía Nam cách mép nước biển lúc dâng cao nhất khoảng 50m Góc Đông Bắc của đồn sát liền với bờ sông Cổng Đồn Con sông này có vai trò là ngoại hào của đồn Vì có sông Cổng Đồn bao bọc 3 mặt Đông, Bắc, Nam nên đồn này không đào hào ngoài nữa Đồn được xây dựng bằng đá (hòn cồn), khá kiên cố và vững chắc hoàn toàn có đủ khả năng chống chọi với

Vô-vũ khí nhẹ đương thời

Đồn Tĩnh Hải là một di tích lịch sử còn tồn tại khá nguyên vẹn Việc xây dựng đồn bốt tại Vân Đồn (không chỉ có Tĩnh Hải mà còn rất nhiều đồn khác như: Thiếp Hải, Chàng Sơn) đã cho thấy vai trò quan trọng về quân sự của vùng biển nơi biên cương Tổ quốc

- Dòng sông Mang lịch sử

Sông Mang là một lạch nước chảy ngang đầu đảo Quan Lạn Trong dân gian có lưu truyền rằng: Vào tháng 12/1287, sau hai lần thất bại thảm hại trong

âm mưu xâm lược Đại Việt, quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ

3 với mưu đồ trở thành bá chủ thế giới Dự tính được con đường tiến công

Trang 30

phục tấn công đoàn thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ dọc bờ biển Vân Đồn Dưới sự chỉ huy tài tình của Trần Khánh Dư toàn bộ đoàn thuyền lương

đã bị đánh bại, góp một chiến thắng lớn vào trận chiến đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi nước ta Toàn bộ trận quyết chiến đó được ghi dấu tại dòng sông Mang Ngày nay, dòng sông vẫn còn đó như một chứng tích về một

sự kiện hào hùng của dân tộc

- Các công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật tiêu biểu:

+ Đình Quan Lạn: Là một công trình kiến trúc cổ có quy mô lớn vào bậc nhất trong hệ thống di tích kiến trúc nghệ thuật ở Quảng Ninh Đình được xây vào thời

Lê tại bến Cái Làng - một trung tâm của thương cảng Vân Đồn xưa, gồm 9 gian Đến thời Nguyễn nhân dân chuyển sang đất Quan Lạn để sinh sống thì đình cũng được chuyển theo và rút bớt đi còn 7 gian, lúc đầu đình được xây theo kiểu chữ

“khẩu”, sau sửa lại theo kiểu chữ “công”, gồm 5 gian 2 chái tiền đường, 3 gian ống muống và 1 gian 2 chái hậu cung Sau đó được rời về xóm Thái Hoà, rồi xóm Nam,

cuối cùng rời về xóm Đoài và được thu gọn như ngày nay

Hiên của bái đường với những đầu bẩy được trạm rồng lộng lẫy Mỗi đầu bẩy

là một hình rồng khác nhau Trong 5 đầu bẩy ở đình Quan Lạn có một chiếc phía trái gian giữa, bức trạm rồng mang đậm phong cách thời Lê: mắt rồng xếch dài, dấu bờm hình đao uốn vài đường rồi vút thẳng về phía sau Đầu dư là một bộ phận đỡ cho xà thân vững cũng được trạm trổ công phu Mỗi đầu dư được trạm 3 mặt rồng, phải trái và bên dưới Bên dưới là nơi người đến thăm đình ngẩng lên nhìn thấy, chính vì vậy được trạm trổ tỉ mỉ và đẹp mắt

Toàn bộ kiến trúc của đình tuy đồ sộ bề thế, nhưng các đầu đao uốn cong hình rồng đã tạo cho đình một nét mềm mại uyển chuyển Mái lợp ngói mũi hài, trên bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt, hệ thống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường Các mảng trạm khắc ở đây được nghệ nhân trạm trổ công phu, tỉ mỉ, sắc nét

và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật Đề tài trang trí chủ yếu là hình rồng, phượng và hoa lá được thể hiện với các sắc thái khác nhau trên mỗi bức cuốn, con rường, đầu bẩy, đầu dư, câu đầu, cửa võng mang đậm phong cách thời Lê Toàn bộ hệ thống

Trang 31

cột gỗ được làm bằng chất liệu gỗ Mần Lái - một loại gỗ tốt nhất và chắc hơn cả gỗ lim, mọc từ núi đá trên đảo Ba Mùn (Vân Đồn)

Đình Quan Lạn thờ Không Lộ thiền sư – vị thần bảo trợ cho những người đi biển,, các vị Tiên Công có công khai lập ấp, lập nên xã Quan Lạn ngày nay và Trần Khánh Dư - người có công lớn trong trận chỉ huy trận đánh tan đoàn quân lương của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, Cửa Lục góp phần quan trọng vào trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288 nên đã được nhân dân tôn thờ làm Thành Hoàng của làng Hiện nay, đình còn lưu giữ tượng Trần Khánh Dư, 18 sắc phong của triều Nguyễn phong cho Trần Khánh Dư, long ngai, khám thờ, cửa võng, hoành phi, câu đối

+ Chùa Quan Lạn: Nằm ngay bên trái đình Quan Lạn có tên chữ là Vân

Quang tự Chùa có kiến trúc kiểu chữ “đinh” gồm 3 gian 2 chái tiền đường và 3 gian hậu cung, mái lợp ngói mũi hài, phía trước chùa là tam quan gác chuông Hệ thống vì kèo cột gỗ theo kiểu giá chiêng chồng rường, các con rường, con đầu đều

được trạm trổ hình hoa dây, hoa lá vân xoắn và hoa cúc mãn khai

Ngoài thờ Phật, chùa Quan Lạn còn thờ mẫu Liễu Hạnh, một tín ngưỡng bản địa và thờ cụ Hậu (người có công với dân làng)

Hiện nay, chùa còn lưu giữ đầy đủ tượng Phật có giá trị điêu khắc của thời Nguyễn, hoành phi, câu đối, sắc phong của vua Thành Thái (1889) phong cho mẫu Liễu Hạnh và nhiều đồ tự khác bằng đồng và gỗ có giá trị

+ Miếu Đức Ông

Miếu Đức ông thuộc cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè nằm ở bên trái chùa làng – nhìn về hướng Đông Nam Miếu Đức Ông gắn với một truyền thuyết về chiến công của ba anh em họ Phạm vốn là ba vị tướng của Trần Khánh Dư: Phạm Công Chính, Phạm Quý Công và Phạm Thuần Dụng Trong một trận quyết chiến với quân của Ô Mã Nhi, ở phòng tuyến Vân Đồn lịch sử, ba ông đã hy sinh, xác trôi dạt vào bờ Xác anh cả trôi vào bến Đình, dân lập miếu thờ ở đó và gọi là miếu Đức Ông, xác anh hai trôi đến Sao Ỏn, dân lập miếu thờ gọi là miếu Sao Ỏn, xác em út trôi đến vị trí cầu cảng hiện nay, dân lập miếu thờ là miếu Đông Hồ

Trang 32

Miếu thờ Đức Ông là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với đình làng trong ngày lễ hội của cư dân địa phương Ngày nay, các kỳ lễ tiết, sóc, vọng nhân dân địa phương vẫn làm lễ dâng hương đức Thánh

+ Nghè Trần Khánh Dư (thường gọi là đền)

Tài danh, đức độ của Đức Thánh Trần Khánh Dư rất sâu đậm trong đời sống tinh thần của cư dân làng đảo Ông là vị thần bảo trợ, là một phần hương hỏa tinh thần của cư dân nơi đây Khi cộng đồng cư dân làng đảo Quan Lạn còn ở Cái Làng,

họ cũng đã dựng nghè để thờ ông, dấu vết nay còn tìm thấy ở Vụng Nghè và khi phải dời cư đi nơi khác, cùng với việc chuyển đình, họ đã chuyển nghè đi theo Ngôi nghè cũ được dựng từ thời cư dân Cái Làng mới về lập cư ở Quan Lạn nay không còn nữa Ngôi nghè mới có quy mô: 3 gian tiền tế ở phía trước; phía sau có nhô ra một gian hậu cung thờ Nghè được xây dựng sơ giản: tường gạch, mái ngói, khung nhà bằng nhiều loại gỗ khác nhau: lim, de, Các thành phần kiến trúc được bào trơn, đóng búa không có trang trí Hiện nay, ngoại thất của ngôi nghè vẫn chưa được xây dựng lại

Nghè và đình có quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương Đám rước từ nghè về đình và hội đua thuyền Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên

+ Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm: Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (còn gọi

là chùa Cái Bầu) được xây dựng trên nền chùa Phúc Lâm tự có từ thời Trần cách đây hơn 700 năm, thuộc xã Hạ Long Thiền viện vừa được khánh thành ngày 29-10-

2010 Với vị trí đắc địa, nằm trên một ngọn núi nhỏ trông thẳng ra vịnh Bái Tử Long, cách xa khu dân cư, đã tạo cho Thiền viện một không gian yên tĩnh và linh thiêng Thiền viện là nơi tu hành của các ni sư và cũng là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Quảng Ninh

* Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

Sinh sống trên một môi trường khá đặc biệt - biển đảo với ngành kinh tế chính là khai thác nguồn lợi hải sản, cư dân Vân Đồn qua bao đời đã sáng tạo nhiều

Trang 33

giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo mang đậm yếu tố biển thể hiện qua phong tục tập quán, nghệ thuật biểu diễn dân gian, văn hóa ẩm thực…

- Lễ hội truyền thống Vân Đồn

Lễ hội truyền thống Vân Đồn được tổ chức trên đảo Quan Lạn nên còn gọi

là lễ hội đình Quan Lạn Đây là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn, một hòn đảo nằm ở khu trung tâm thương cảng Vân Đồn Lễ hội được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 (âm lịch) hàng năm nhưng hội kéo dài từ ngày 10 đến hết ngày

20 tháng 6 Lễ hội đình Quan Lạn vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 và chiến công của Trần Khánh Dư, một danh tướng của nhà Trần, vừa

là ngày hội cầu mùa của cư dân vùng biển Hội được tổ chức trên bến Đình, nơi

có đình Quan Lạn, một ngôi đình cổ trong số ít những ngôi đình còn giữ được cho đến ngày nay Theo tục lệ ngày 10 tháng 6 “khoá làng” (một tục làm trong lễ hội của người Việt), dân trong làng không được đi bất cứ đâu nhưng những người làm ăn ở xa và khách thập phương lại có thể về làng dự hội Hội đình Quan Lạn có tục đua thuyền Dân làng chia làm 2 phe Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ lập doanh trại riêng từ ngày 13 để luyện quân, chuẩn bị đua thuyền Thuyền đua thường là thuyền đi biển trọng tải năm, sáu tấn, rộng và sâu lòng, được hạ buồm, trang trí đầu rồng ở mũi thuyền Ngày 16 làm lễ nghinh thần Dâng lễ rước bài vị của Trần Khánh Dư từ nghè (cách đình 1,5 km) về đình Dưới bến đôi thuyền đua tập luyện tạo một không khí tưng bừng náo nhiệt Ngày 18-6 vào 3 giờ chiều (năm nào cũng vậy thường lúc này nước triều lên tới sát bến của đình) hai bên bắt đầu xuất phát Lính bên Văn áo trắng quần xanh, chân quấn xà cạp xanh, lính bên Võ quần áo xám hoặc đen Tiếng chiêng, trống, tiếng

hô vang, cờ bay phần phật đầy khí thế Mỗi khi 2 đàn giáp nhau ở sân đình, quân lính cùng dân chúng hét lớn vang dậy cả một vùng Hai tướng múa những đường đao đẹp mắt, hai đoàn quân gặp nhau 3 lần, tượng trưng cho 3 lần đánh thắng quân Nguyên thời Trần Tới lần thứ 3, hai đoàn quân tập hợp trước miếu, 2 vị tướng vào tế, khi quay trở ra thì cuộc đua thuyền mới chính thức bắt đầu Lễ hội đình Quan Lạn mạng dấu ấn của một hội làng truyền thống nhưng đặc biệt hoành

Trang 34

tráng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ

quyền đất nước của những người dân vùng biển

- Nghệ thuật biểu diễn truyền thống

Hàng ngày những người dân chài phải đối mặt với sóng gió, vật lộn với con cá, con tôm, cuộc sống đầy khó khăn vất vả nhưng những ngư dân nơi đây vẫn sáng tạo

ra những giá trị văn hóa tinh thần rất đặc sắc đó là những câu hát chèo đường, những lời hát đối đáp giao duyên…Những câu hò, lời hát đó đã làm cho họ thấy lạc quan hơn, yêu cuộc sống của mình hơn, quên đi những lo âu, vất vả đời thường

Hát chèo đường còn gọi là hát ví, hát véo, hát gái, hát đố, hát giảng…cũng có người gọi là hò biển Hát chèo đường là những cuộc hát đối đáp giao duyên thường diễn ra rất tự nhiên trên vùng non nước Hạ Long kỳ diệu, huyền ảo, thơ mộng, giữa các thuyền ngư dân với nhau

Cuộc sống lênh đênh nay đây mai đó, song mỗi gia đình một chiếc thuyền con,

họ cảm thấy có nhu cầu làm quen, giao lưu và kết bạn với các thuyền khác để cùng nhau trò chuyện và có thể giúp đỡ nhau giữa biển bao la rộng lớn này

Giữa vùng non nước xanh biếc, những khi chung bến chung bờ, những khi buông neo chờ gió đợi nước, những khi động biển động trời, xin nhau miếng trầu, mời nhau chén nước, nhất là khi chiều xuống trăng lên, ánh trăng rải vàng trên vịnh…Lúc này thuyền này hát gọi, thuyền kia đáp lời

Tiếng hát vang lên và ngân dài ẩn giấu lời tỏ tình bóng bẩy, thắm thiết, chân tình Dẫu có thể chẳng nên vợ nên chồng thì cũng có thể được giãi bày cùng nhau qua câu hát, tâm sự tâm tư tình cảm với nhau, để rồi khỏi phụ lòng nhau Nếu như hợp cảnh, hợp tình thì hát hỏi đối đáp, thử tài thử tình cho đến trắng đêm, rồi đến sáng ra mới được nhìn tỏ mặt nhân tình Nhiều đôi thuyền hát hết đêm này qua đêm khác suốt một tuần trăng mới thật sự ngã lòng Chính vì vậy, những câu hát giao duyên trên biển là những câu hát say đắm nhất Say đắm, nồng nàn, thắm thiết trữ tình, vừa giàu âm điệu hình ảnh vừa mộc mạc, chân thành mà duyên dáng, rí dỏm trong lời hát:

Trang 35

Ơ hò……

Trên mây sa Dưới hòn Gà Chọi Anh hát câu này anh gọi nàng ra Những lời mình hát đêm qua Đêm nay hát nữa mau ra hát cùng Hát cho con gái bỏ chồng

Đàn ông bỏ vợ, nạ dòng bỏ con…

Lênh đênh trên biển trong mỗi chuyến đánh bắt, các con thuyền nhỏ bé chỉ quen nhau, thân thiết với nhau nhờ những lời ca, tiếng hát Phần lớn trai gái dân chài nên vợ nên chồng từ tiếng hát Hát đã trở thành phương tiện giao lưu, một nhu cầu tình cảm hết sức quan trọng, nên hát chèo đường có lời ca hết sức phong phú,

đủ các cung bậc của tình yêu, có kín đáo duyên dáng lại có cả đam mê suồng sã, có

sự chân thành thuỷ chung lại có cả ghen tuông, giận hờn, có khép nép nhún nhường, lại có cả chua ngoa quá quắt

- Nghề thủ công truyền thống

Huyện đảo Vân Đồn là một trong những địa phương có nhiều nghề thủ công truyền thống, gắn liền với kinh tế và môi trường sống của cư dân biển đảo Đó là các nghề đan dụng cụ đánh bắt, đóng thuyền, chế biến nước mắm, nuôi trồng hải sản, nuôi cấy ngọc trai, trồng cam Trong đó có nghề thủ công đã trở thành điểm du lịch thu hút du khách như làng nghề nuôi cấy ngọc trai trên vịnh Bái Tử Long

Từ thời xa xưa, Bái Tử long được biết đến là vùng biển giàu có về ngọc trai Những tên hòn đảo Minh Châu, Ngọc Vừng đã nói lên sự phong phú đó Cách đây khoảng 40 năm, làng nghề nuôi cấy ngọc trai đầu tiên ở vùng biển Đông Bắc Việt Nam đã ra đời ở Vân Đồn Với hơn chục nghìn ha diện tích bãi triều ngập nước, cùng với hàng vạn ha diện tích mặt nước, khí hậu, môi trường ở vùng Vịnh Bái Tử Long tạo điều kiện rất thuận lợi để Vân Đồn phát triển nghề nuôi trai cấy ngọc Vân Đồn là nơi tập trung 4 loài ngọc trai có giá trị gồm: trai Mã Thị, trai Vỏ Dày, trai

Trang 36

Cánh Dài và loài Jamson Đây là những loài trai ngọc rất quý và có giá trị xuất khẩu cao Hiện nay, tại Vân Đồn có 3 doanh nghiệp nuôi trai cấy ngọc, trong đó có 2 doanh nghiệp có nguồn vốn 100% của Nhật Bản Ngọc trai ở đây được thu hoạch quanh năm Qua bàn tay khéo léo của người lao động cộng với điều kiện tự nhiên của vùng biển Vân Đồn, ngọc trai Vân Đồn có màu sắc sang trọng không thua kém bất kỳ sản phẩm trai ngọc nào của vùng Đông Nam Á

- Các đặc sản, ẩm thực truyền thống

Vân Đồn vùng biển nổi tiếng về sự giàu có và phong phú các loài hải sản từ các loại cá ngon nhất của vùng biển: chim, thu, nhụ, đé cho tới các loài đặc sản quý hiếm như sá sùng, hải sâm, bào ngư, ngọc trai Đến với Vân Đồn, bất cứ một món hải sản nào cũng đều mang cho du khách một cảm giác thú vị Không quá cầu

kỳ trong cách chế biến có lẽ đó là bí quyết trong các món ẩm thực của Vân Đồn Nhắc tới ẩm thực Vân Đồn có lẽ không thể không nhắc tới các món đặc sản như: sá sùng, nộm sứa, mực khô và rượu ngán

Sá sùng: hay người dân địa phương còn gọi là con Mồi, là loài thân mềm quý,

hiếm và có giá trị dinh dưỡng cao Sá sùng sống trong cát nhiều nhất là ở Quan Lạn, Minh Châu

Sá sùng có thể ăn bằng 2 cách ăn khô và ăn tươi Ăn tươi cũng có nhiều cách

ăn nhưng có lẽ ngon nhất là nấu canh và ăn gỏi Sá sùng tươi nấu với lá lốt có vị ngọt thanh mà không loại thực phẩm nào có thể sánh bằng Gỏi sá sùng cũng là món món ăn có mùi vị đặc biệt khác lạ với nhiều loại gỏi khác như gỏi tôm, gỏi cá

Sá sùng được phơi khô lại trở thành một nhắm tuyệt vời của các thực khách sành ăn

Nộm sứa: Sứa là loài thân mềm, sống rất nhiều ở vùng biển Vân Đồn Sứa sau

khi sơ chế, được chế biến thành món nộm có vị ngọt, giòn, mát

Mực khô: Mực khô là món nhậu tuyệt vời, không phải chỉ có Vân Đồn mới

có mực khô song nếu so sánh về độ ngọt, ngon, dày thì không ở đâu sánh bằng mực ở đây

Trang 37

Rượu ngán: Nhắc tới ẩm thực Quảng Ninh du khách không thể nào quên được

món rượu ngán Ngán là loài hai mảnh vỏ chỉ có ở vùng biển Quảng Ninh Đây là loài động vật có giá trị dinh dưỡng cao Sau khi được tách ra khỏi vỏ, ruột ngán được đánh tan cùng rượu trắng đến khi ngán chín (rượu có màu hồng) thì đem ra uống Hương vị đặc biệt của món rượu này dù chỉ thưởng thức một lần du khách sẽ không bao giờ có thể quên

b Cơ sở hạ tầng

Trong vài năm gần đây, Vân Đồn đang tập trung đầu tư và nâng cấp hệ thống

cơ sở hạ tầng Tỉnh lộ 334 nối liền trung tâm đảo (thị trấn Cái Rồng) với đất liền đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của huyện đảo Hệ thống giao thông tại các đảo xa cũng đang dần được đầu tư Ngoài ra, hệ thống phương tiện giao thông công cộng, giao thông đường thủy đang tăng dần về số lượng và chất lượng đảm bảo an toàn và đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tăng của dân địa phương và du khách Trong tương lai, sân bay quốc tế Vân Đồn được xây dựng sẽ tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh nói chung và huyện đảo Vân Đồn nói riêng

Hệ thống mạng bưu chính viễn thông đang dần được đầu tư đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin liên lạc Hiện nay, hệ thống điện lưới đã được cung cấp tại đảo trung tâm (đảo Cái Rồng) Dự án điện lưới cung cấp cho hệ thống đảo xa sẽ hoàn thành vào năm 2013 Hệ thống giáo dục và y tế của huyện đảo cũng được tỉnh Quảng Ninh đặc biệt quan tâm và đầu tư

c Tình hình phát triển kinh tế xã hội và ngành du lịch

Trong vài năm gần đây, với sự chỉ đạo và quan tâm đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh, tình hình kinh tế xã hội của huyện đảo có có sự thay đổi đáng kể Hiện nay, Vân Đồn đã thu hút 75 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 9.800 tỷ đồng; đã và đang triển khai 22 dự án hạ tầng kỹ thuật (vốn Nhà nước) với tổng mức duyệt 4.600

tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 18,8%; thu ngân sách năm 2011 tăng gấp 3 lần so với năm 2010 Cơ cấu kinh tế tập trung vào phát triển nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ

Trang 38

Cùng với sự phát triển chung, ngành du lịch của huyện đảo cũng có sự bước tiến đáng kể Hoạt động du lịch của Vân Đồn giai đoạn 2007 - 2012 đạt tốc độ phát triển khá cao so với các giai đoạn trước Năm 2007, du lịch Vân Đồn đón 276.000 lượt khách, doanh thu đạt 75 tỷ đồng Đến năm 2012, toàn ngành đón 540.000 lượt khách du lịch, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2007, doanh thu đạt 350 tỷ đồng, cũng tăng gấp 4,6 lần so với năm 2007

Mặc dù trong giai đoạn này, đặc biệt từ năm 2009, nền kinh tế Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng gặp nhiều khó khăn và thách thức Khủng hoảng tài chính dẫn tới suy thoái kinh tế, thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa bàn tỉnh

và huyện đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư Song nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của Đảng, Chính phủ và sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Quảng Ninh cùng với sự nhạy bén, năng động của lãnh đạo huyện Vân Đồn, tốc độ tăng trưởng vẫn được giữ vững Tuy nhiên, so với các địa phương có cùng điều kiện phát triển kinh tế, sự phát triển kinh tế của huyện còn rất khiêm tốn, các chỉ tiêu phát triển còn thấp

d Nguồn nhân lực

Tính đến tháng 12-2012, ngành du lịch huyện có 1200 lao động trực tiếp trong

đó 552 lao động đã qua đào tạo (trình độ đại học: 32 người, cao đẳng và trung cấp:

140 người và nghề: 380 người) Ngoài lao động trực tiếp, ngành du lịch huyện còn thu hút nhiều lao động gián tiếp, đóng góp đáng kể trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận cư dân trên địa bàn

1.2.2 Điều kiện bên ngoài

Quảng Ninh một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi và sự giàu có về tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa, du lịch được xác định là một ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh Nổi tiếng với các điểm du lịch như: Hạ Long, Yên Tử, Vân Đồn, Móng Cái …hàng năm du lịch Quảng Ninh đón hàng triệu

lượt khách đến thăm tham quan Theo số liệu thống kê của sở Du lịch, ngành du lịch

tỉnh Quảng Ninh năm 2012 đón 7,005,000 lượt khách và tăng 8% so với năm 2011,

Trang 39

trong đó khách quốc tế đạt: 2,491,000 lượt tăng 9%; tổng doanh thu du lịch: 4.347

tỷ tăng 23% so với năm 2011

Với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú và

đa dạng, trong quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh, Vân Đồn được xác định là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của tỉnh (Uông Bí – Hạ Long – Vân Đồn –

Móng Cái)

Hơn thế nữa, Vân Đồn nằm cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái tại biên giới Tây Nam của Trung Quốc khoảng 120km, là một trong những huyện có vị trí gần Trung Quốc nhất và nhờ đó hưởng lợi ích nhiều nhất tự sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong lĩnh vực thương mại, du lịch và đầu tư

Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xây dựng “Đề án phát triển kinh tế - xã hội

nhanh, bền vững; đảm bảo vững chắc quốc phòng – an ninh và thí điểm xây dựng 2 đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” đến năm 2020 với mục

tiêu xây dựng Vân Đồn thành thành phố biển tiêu biểu, trung tâm du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng vui chơi giải trí cao cấp và cửa ngõ giao thương quốc tế Vân Đồn được xác định là một trong 2 tuyến phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh, tập trung phát triển vào các lĩnh vực dịch vụ cao cấp: vui chơi giải trí, tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, dịch vụ sinh thái – nghỉ dưỡng và kinh tế biển

Với những điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế, ngành du lịch Vân Đồn đang được đón nhận nhiều sự quan tâm và cơ hội phát triển Song bên cạnh đó, Vân Đồn cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn trong đó có cả sự cạnh tranh gay gắt với các trung tâm du lịch liền kề

Ngoài ra, xu thế phát triển của du lịch thế giới, nhu cầu nghỉ dưỡng của con người ngày càng tăng đã tác động lớn đến sự phát triển của ngành du lịch Vân Đồn

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Huyện đảo Vân Đồn, vùng biển đảo nơi biên cương của tổ quốc với sự đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên du lịch văn hóa và tự nhiên là một điểm đến du lịch thu hút du khách của tỉnh Quảng Ninh Khi đến Vân Đồn ngoài mục đích tham quan và nghỉ dưỡng du khách còn được tham quan, tìm hiểu về các tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử độc đáo mang đậm bản sắc địa phương Với các di tích lịch sử, văn hóa quan trọng như thương cảng Vân Đồn; cụm di tích kiến đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn; lễ hội truyền thống tưởng nhớ công đức thành hoàng Trần Khánh Dư - vị tướng có công trong trận chiến thế kỷ XIII, nghệ thuật biểu diễn dân gian…Tất cả hòa quyện tạo nên sức hút kỳ diệu đối với

du khách khi đến với Vân Đồn Không chỉ có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và khôi phục những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa

cổ truyền nhằm đáp ứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của người dân mà còn trở thành nguồn tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử độc đáo Vân Đồn thực

sự đã, đang và sẽ trở thành điểm đến du lịch văn hóa – lịch sử quan trọng của vùng biển Đông Bắc

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1993), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1993
2. Ban Bảo tồn Di tích Quảng Ninh (2003), Lý lịch di tích thương cảng Vân Đồn – bến Cái Làng, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích thương cảng Vân Đồn – bến Cái Làng
Tác giả: Ban Bảo tồn Di tích Quảng Ninh
Năm: 2003
3. Ban quản lý di tích thắng cảnh Quảng Ninh (2002), Di tích và danh thắng Quảng Ninh tập 1,2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý di tích thắng cảnh Quảng Ninh (2002)
Tác giả: Ban quản lý di tích thắng cảnh Quảng Ninh
Năm: 2002
4. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh (1998), Quảng Ninh đất và người, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh đất và người
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 1998
5. Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh (2008), Kỷ yếu hội thảo “Thương cảng Vân Đồn lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo "“Thương cảng Vân Đồn lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa
Tác giả: Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2008
6. Cao Đức Bình (1998), Lễ hội Vân Đồn truyền thống và hiện đại, Luận văn Thạc sỹ khoa học Văn hoá, trường ĐH Văn Hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Vân Đồn truyền thống và hiện đại
Tác giả: Cao Đức Bình
Năm: 1998
7. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
9. Nguyễn Thị Chiến (2004), Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
10. Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Thị Minh Đức (1992), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Bộ môn Bảo tồn di tích, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Bộ môn Bảo tồn di tích
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Thị Minh Đức
Năm: 1992
11. Ngô Quang Duy (2008), Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh, luận văn chuyên ngành Du lịch học, khoa Du lịch, trường ĐHKHXH&NV – ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh
Tác giả: Ngô Quang Duy
Năm: 2008
12. Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, (2001), Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
17. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Trần Thị Mai (2006), Giáo trình Tổng quan du lịch, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổng quan du lịch
Tác giả: Trần Thị Mai
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
19. Điền Nam – Trần Nhuận Minh (1996), Những lễ hội độc đáo ở tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí văn hoá dân gian (số 3), Tr6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lễ hội độc đáo ở tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Điền Nam – Trần Nhuận Minh
Năm: 1996
20. Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, (bản dịch của Viện sử học), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1993)
Năm: 1993
21. Đỗ Văn Ninh (1997), Huyện đảo Vân Đồn, UBND huyện Vân Đồn.Quảng Ninh 22. Đỗ Văn Ninh (2004), Thương cảng cổ Vân Đồn, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện đảo Vân Đồn", UBND huyện Vân Đồn.Quảng Ninh 22. Đỗ Văn Ninh (2004), "Thương cảng cổ Vân Đồn
Tác giả: Đỗ Văn Ninh (1997), Huyện đảo Vân Đồn, UBND huyện Vân Đồn.Quảng Ninh 22. Đỗ Văn Ninh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2004
23. Ngô Hải Ninh (2011), Nghiên cứu du lịch sinh thái cộng đồng và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tại huyện đảo Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sỹ Việt Nam học, viện Việt Nam học, ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu du lịch sinh thái cộng đồng và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tại huyện đảo Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Ngô Hải Ninh
Năm: 2011
24. Lê Thị Ngoan (2008), Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn Quảng Ninh, luận văn chuyên ngành Du lịch học, khoa Du lịch, Trường ĐHKHXH&NV – ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại "Vân Đồn "Quảng Ninh
Tác giả: Lê Thị Ngoan
Năm: 2008
25. Đỗ Quỳnh Phương (1993), Quảng Ninh – Hạ Long miền đất hứa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh – Hạ Long miền đất hứa
Tác giả: Đỗ Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn (Trang 22)
Bảng 2.1. Khách du lịch và doanh thu du lịch Vân Đồn - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.1. Khách du lịch và doanh thu du lịch Vân Đồn (Trang 42)
Bảng 2.3 : Phương tiện vận chuyển khách trên các đảo - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.3 Phương tiện vận chuyển khách trên các đảo (Trang 51)
Bảng 2.4: Phương tiện vận chuyển khách bằng đường thủy - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.4 Phương tiện vận chuyển khách bằng đường thủy (Trang 52)
Bảng 2.5. Thực trạng lao động trực tiếp trong ngành du lịch ở Vân Đồn (2007 – 2012) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.5. Thực trạng lao động trực tiếp trong ngành du lịch ở Vân Đồn (2007 – 2012) (Trang 53)
Bảng 2.6. Khách du lịch nội địa đến Vân Đồn giai đoạn 2007 - 2012 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.6. Khách du lịch nội địa đến Vân Đồn giai đoạn 2007 - 2012 (Trang 63)
Bảng 2.7. Khách du lịch quốc tế đến Vân Đồn giai đoạn 2007-2012 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.7. Khách du lịch quốc tế đến Vân Đồn giai đoạn 2007-2012 (Trang 65)
Bảng 2.8. Doanh thu du lịch huyện Vân Đồn (giai đoạn 2007 – 2012) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 2.8. Doanh thu du lịch huyện Vân Đồn (giai đoạn 2007 – 2012) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm