1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tư liệu văn học

47 386 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Liệu Văn Học
Trường học Hà Nội University
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Tư liệu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 721,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông viết Lạc đạo tập, và tác phẩm của ông nay còn lại một số bài thơ, liệt kê dưới đây: • Tòng giá hoàn kinh • Phúc hưng viên • Lưu gia độ • Dã thự • Xuân nhật hữu cảm Cảm nghĩ khi đọc P

Trang 1

Tư liệu Văn học lớp 7

Nam quốc sơn hà:

“Nam quốc sơn hà” là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam

Nguồn gốc:

Từ trước, bài thơ được cho là sáng tác của Lý Thường Kiệt trong lần chống quân xâm lược

Tống tại sông Cầu năm 1077 Tuy nhiên mới đây, trong cuốn sách Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2006, nhiều nhà

nghiên cứu khẳng định bài thơ này ra đời từ thời Tiền Lê và cũng được sử dụng trong trận đánh chống quân Tống, nhưng là lần đầu vào năm 981

Các tác giả cho rằng: Sử sách (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt điện u linh ), đều chép Lý Thường Kiệt sai người vào đền thờ anh em Trương Hống,

Trương Hát (tướng của Triệu Việt Vương) ngâm bài thơ này nhưng không nói rõ ông là tác giả Như vậy, các tác giả kết luận: Lý Thường Kiệt chỉ là người vận dụng bài thơ này để đuổi quân Tống

Bằng nhiều dẫn chứng[1][2] các tác giả khẳng định bài thơ được sáng tác thời Tiền Lê và cũng được Lê Hoàn vận dụng, trong đó bài thơ có một vài chữ sai khác với văn bản mọi người thường biết

Trên thực tế, tư liệu để lại xác đáng hơn cả viết bài thơ này được Lê Hoàn sử dụng là sách

Lĩnh Nam trích quái, khoảng trang 72-74 có ghi: “Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần

nhân cùng xông vào trại giặc mà đánh Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa

to, gió lớn đùng đùng Quân Tống kinh hoàng Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà chạy tan… Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân… sai dân phụng thờ… nay vẫn còn là phúc thần”

Bản chuẩn:

Bản phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bản dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Trang 2

Rành rành định phận tại sách Trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Dị bản khác:

Phiên âm Hán - Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng Thiên dĩ định tại Thiên thư

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm

Bạch nhận Thiên hành phá trúc dư

Bản dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam,vua Nam ngự

Sách Trời định phận rõ non sông

Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Thượng tướngTrần Quang Khải:

Trần Quang Khải (1241–1294), con thứ ba của Trần Thái Tông, là đại tướng đời nhà Trần,

làm đến chức Tướng quốc đời Trần Thánh Tông, coi cả mọi việc trong nước Sang đời Trần Nhân Tông, năm Thiệu Bảo tứ tư, khi quân Nguyên xâm lăng bờ cõi nước Nam, ông được phong chức Thượng tướng Thái sư, lãnh binh trấn giữ mặt Nam đất Nghệ An, lập công lớn tại Chương Dương Độ Khi dẹp tan quân Nguyên, triều đình xét công, ông đứng vào bậc nhất.[2]

Trần Quang Khải được người dân Việt Nam lập đền thờ ở một số nơi; như tại đình làng Phương Bông, ngoại thành thành phố Nam Định Tại Phương Bông cũng lưu lại điệu múa

"bài bông" được người dân ở đây cho là khởi xướng bởi Trần Quang Khải trong tiệc "thái bình diên yến" do Trần Nhân Tông tổ chức sau khi chiến thắng quân Nguyên.[3]

Tiểu sử:

Trần Quang Khải sinh tháng 10 âm lịch năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10 (1241) đời Trần Thái Tông, mất ngày 3 tháng 7 âm lịch năm Hưng Long thứ hai (1294) đời Trần Anh Tông Là em cùng mẹ với Trần Thánh Tông (nghĩa là con thứ hai của hoàng đế Trần Thái Tông với Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu Lý thị), ông là người học rộng tài giỏi, biết nhiều thứ tiếng Năm Thiệu Long thứ nhất (1258 ) đời Trần Thánh Tông,

ông được phong tước Chiêu Minh Đại vương, nắm chức Thái sư

Trang 3

Trận Nghệ An

Năm Ất Dậu 1285 Toa Đô từ Chiêm Thành theo đường bộ kéo ra Nghệ An tấn công quân Nam, có Ô Mã Nhi dẫn quân đi đường biển tiếp ứng Được tin, Hưng Đạo Vương tâu vua xin cho Thượng tướng Trần Quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ An, và cho

Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, rồi rước xa giá ra Hải Dương Trần Quang Khải vào đến Nghệ An, chia quân phòng giữ Thấy thế giặc quá mạnh, ông cho lui quân ra mặt biển và giữ các nơi hiểm yếu Quân của Toa Đô đánh mãi không được, cạn lương, bèn cùng với Ô Mã Nhi dẫn quân xuống thuyền trở ra Bắc Trần Quang Khải hay tin cho người về Thanh Hóa cấp báo Vua cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc ToảnNguyễn Khoái đem 5 vạn quân ra đón đánh tại Hàm Tử Quan thuộc huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên Quân Nguyên thua to chết hại rất nhiều

Trận Chương Dương Độ, khôi phục Thăng Long

Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc Trần Quang Khải được lệnh vua, cùng Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên Quân Nguyên địch không nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy Trần Quang Khải đem quân lên bờ đuổi đánh về đến chân thành Thăng Long, nhưng ông lập mưu cho phục binh đóng sẵn ngoài thành Thoát Hoan đem quân ra đánh, bị phục binh đánh úp, quân Nguyên đại bại phải bỏ thành Thăng Long vượt sông Hồng giữ mặt Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay).Trần Quang Khải cho quân vào thành chiếm lại Thăng Long, và cho quân về Thanh Hóa báo tin Trong vòng hai tháng, đại phá quân Nguyên hai lần tại Hàm Tử và Chương Dương, nên khí thế quân nhà Trần trở nên rất mạnh, sau đó thắng nhiều trận liên tiếp và đuổi được Thoát Hoan về Trung Quốc

Tác phẩm

Trần Quang Khải, cũng như một số đại tướng đời Trần, là người học rộng và có viết văn, làm thơ Ông viết Lạc đạo tập, và tác phẩm của ông nay còn lại một số bài thơ, liệt kê dưới đây:

• Tòng giá hoàn kinh

• Phúc hưng viên

• Lưu gia độ

• Dã thự

• Xuân nhật hữu cảm

Cảm nghĩ khi đọc Phò giá về kinh của Trần Quang Khải

Hào khí Đông A (chiết tự chữ Trần viết theo Hán tự) khởi phát bởi chiến thắng đế quốc Nguyên - Mông lần thứ nhất - 1258 đã được khẳng định rực rỡ, hùng hồn bằng các chiến công vang dội trong hai lần đại thắng 1285, 1287 sau đó Con cháu của những “Người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong” đã làm cho kẻ xâm lược hãi hùng ngay cả khi chúng yên ổn về nước - “Nghe tiếng trống đồng mà tóc trên đầu bạc trắng” (Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh) Đó là sức mạnh

Trang 4

toàn diện của dân tộc dưới thời nhà Trần trên cơ sở ý thức tự cường, tự chủ.

Khí phách hào hùng ấy đã vang động thành cảm hứng yêu nước được biểu hiện một cách tập trung, đa dạng trong thơ văn Từ một lời hịch thiết tha trước khi lâm trận, bài phú hào sảng, hồi quang mấy chục năm sau đến những tứ tuyệt, những ngũ ngôn 4 câu, 20 chữ ngay trong cuộc chiến Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một trong những bài như thế.

Cuối năm 1284 đầu năm 1285, quân Nguyên- Mông ào ạt tấn công nước ta lần thứ hai Tình thế đất nước hiểm nghèo, các vua Trần phải dời kinh đô tìm phương

kế chống đỡ Nhưng chỉ qua mùa xuân năm 1285, quân ta đã chuyển thế tấn công Tháng tư, trong trận đánh tại Hàm Tử, một địa điểm trên sông Hồng tại huyện Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên ngày nay) tướng Trần Nhật Duật đã phá tan đạo quân Thát Đát, bắt sống giặc Ô Mã Nhi (Trong Đại cáo bình Ngô sau này Nguyễn Trãi nhầm sự việc nên viết “Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”) Tháng 6, Trần Quang Khải thắng tiếp trận Chương Dương, đuổi đạo quân chủ lực của Thoát Hoan chạy dài lên phía bắc, giải phóng Thăng Long, rước vua Trần trở lại kinh thành Trong không khí ấy, ông ngẫu hứng cao độ làm nên Tụng giá hoàn kinh sư (Phò xa giá nhà vua về lại kinh đô) danh bất hư truyền Cùng khoảng thời gian này, vua Trần khi đến tế ở nhà Thái miếu cũng ứng khẩu hai câu : "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu" Nghĩa là "Đất nước hai phen bon ngựa đá /Non sông nghìn thủa vững âu vàng", cùng một mạch cảm hứng yêu nước, tự hào dân tộc.

Bài thơ chỉ bốn câu, theo lối năm chữ mạch lạc, gọn gàng Hai câu đầu kể lại hai chiến công hiển hách vừa mới đó, đang còn tươi nguyên không khí chiến thắng Có nét đặc biệt là trình tự các chiến công không được nêu theo diễn biến thời gian trước sau Chiến thắng Chương Dương trước, Hàm Tử sau Cách trình bày như thế là theo cái lô-gíc của cảm hứng Trận sau mới hơn và cũng vang dội hơn Chính nhờ chiến thắng Chương Dương mà Thoát Hoan phải bỏ chạy, Thăng Long được giải phóng Chính nhờ chiến tháng Chương Dương mà có cái không khí rạo rực phấn chấn trong ngày “về lại thủ đô” này Lời thơ rất cô đúc, vẻn vẹn mười chữ, nêu hai sự việc là “cướp giáo giặc” và “bắt quân thù” Song qua hai hình ảnh này người đọc cảm nhận được niềm phấn chấn, hân hoan Đúng là câu thơ đăng đối bên ngoài đanh chắc, bên trong chứa chan xúc cảm Cảm xúc theo kiểu cô lại Sự

cô đúc này tạo ra một thế năng, khả năng khơi gợi người đọc suy ngẫm Một trong những đặc trưng thẩm mĩ của thi pháp cổ là gợi, ít chú trọng kể, tả.

Hai câu thơ sau là lời động viên, quyết tâm xây dựng,bảo vệ nền thái bình của giang sơn, đất nước.

Trang 5

bình rất cần phải tập trung là “tu trí lực” “Tu” là học tập, bồiđắp, “trí lực” là trí tuệ, khả năng Ý thơ vẫn tiếp tục gợi cho người đọc hiểu thêm rằng, đất nước vẫn đang đòi hỏi, còn yêu cầu những con người chiến thắng này nhiều cống hiến hơn nữa Có như vậy mới có sự yên bình, vững chãi muôn năm Một ý thơ đầy tinh thần trách nhiệm.

Bài thơ có cái hồ hởi, phấn chấn tột cùng trước những chiến thắng, những chiến công Niềm tự hào, niềm say mê, tinh thần lạc quan thật bay bổng phù hợp với hào khí Đông A thủa ấy Nhưng đây cũng là một niềm vui rất lí trí, rất tỉnh táo sáng suốt của con người ý thức được giá trị trọn vẹn của niềm vinh quang Mặt khác phù hợp với phong cách ngôn ngữ, uy thế của vị tướng quốc đầu triều

Kết cấu chặt chẽ, có sức khái quát cao, cảm xúc cô đọng lại vừa có khả năng gợi

mở ý tưởng đã tạo ra một sự thống nhất nội dung và hình thức theo kiểu tuyên ngôn riêng biệt Đấy chính là nét đặc sắc của Phò giá về kinh.

Cho đến hôm nay bài thơ vẫn sống trong niềm tự hào dân tộc, vẫn giữ nguyên giá trị thời sự nóng hổi, vẫn là một bài học Bài học về ý thức, trách nhiệm xây dựng đất nước vững mạnh sau chiển tranh.

Nguồn: Lưu Đức Hạnh, Sách Những bài văn chọn lọc lớp 10

Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, 1380–1442, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhân vật vĩ đại

về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử Công lao sự nghiệp của ông rất lớn Đạo đức phong cách của ông rất cao đẹp Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà

sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc Năm 1980, ông được

UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông

Ngay từ khi còn sống, Nguyễn Trãi đã được những người đương thời khen ngợi là:

Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền

Nghĩa là:

Dựng nước và làm vẻ vang tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông.

Thân thế:

Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tên tự là Ức Trai, sống vào một giai đoạn lịch sử sôi động, từ

cuối đời Trần, trải qua đời Hồ thời đấu tranh chống ách Minh thuộc (của nhà hậu Trần, của các phong trào nhân dân khắp nước, của nghĩa quân Lam Sơn) cho tới đầu đời Lê Cha

Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, tên hiệu là Nhị Khê, vốn gốc làng

Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc Chí Linh Hải Dương), nhưng đã di cư sang làng

Trang 6

Ngọc Ổi (sau đổi tên thành Nhị Khê) huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín Hà Tây cũ).

Lúc còn là thư sinh, Nguyễn Ứng Long vì nổi tiếng hay chữ cho nên được Trần Nguyên Đán,

tể tướng và là tông thất nhà Trần gả con gái cho Năm 1374, Nguyễn Ứng Long đi thi, đậu Bảng Nhãn Nhưng vì là con nhà thứ dân mà dám lấy con gái nhà hoàng tộc cho nên không được Trần Nghệ Tông cho làm quan và đành trở về quê dạy học

Thời trẻ:

Lúc ông lên 5 tuổi mẹ ông mất.Nguyễn Trãi lúc nhỏ ở với cha là Trần Nguyên Đán Năm

1385, Trần Nguyên Đán về trí sĩ ở Côn Sơn, đem theo cả Nguyễn Trãi về đấy Côn Sơn lại chính là nơi quê tổ của họ Nguyễn vì cả dãy núi này thuộc vào địa phận xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn Từ năm 1390, sau khi ông ngoại mất, Nguyễn Trãi về Nhị Khê ở với cha

Thời Hồ:

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần Năm đó cũng là năm mở khoa thi đầu tiên của nhà Hồ Nguyễn Trãi đi thi và đậu thái học sinh Năm 1401, Nguyễn Ứng Long đổi tên là Nguyễn Phi Khanh và được nhà Hồ vời ra làm quan, lĩnh chức Quốc tử giám tư nghiệp Còn Nguyễn Trãi thì sau khi thi đỗ được nhà Hồ cử giữ chức Ngự sử đài chính chưởng Như vậy

là hai cha con Nguyễn Trãi thuộc số những người ra làm quan với nhà Hồ ngay từ đầu

Năm 1407, nhà Minh đánh Đại Ngu Cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa về Kim Lăng Một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh cũng bị bắt đi cùng với Hồ Quý Ly Nguyễn Trãi muốn trọn đạo hiếu bèn đi theo cha, nhưng Nguyễn Phi Khanh khuyên con nên trở về Tìm

cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha thì mới là đạo hiếu [2]

Trên đường trở về Nguyễn Trãi bị người Minh bắt và đem giam lỏng ở thành Đông Quan (Hà Nội) và mặc dù bị đe dọa, mua chuộc, ông cũng không chịu ra làm quan với nhà Minh Năm 1417, ông trốn khỏi Đông Quan, rồi sau đó tìm đường vào giúp Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã dâng lên Lê Lợi tập Bình Ngô sách

Theo Ngô Thế Vinh (nửa đầu thế kỉ thứ 19), viết trong tựa sách Ức Trai thi văn tập thì

phương châm cơ bản nêu trong Bình Ngô sách "không nói đánh thành mà giỏi bàn về cách

đánh lòng" Tư tưởng chiến lược này chính là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân Trong thời gian kháng chiến, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi trù hoạch quân mưu Ông lại góp phần xây dựng chính quyền dân tộc đối lập với chính quyền xâm lược Nguyễn Trãi đã nhân danh Lê Lợi viết những thư từ giao thiệp với tướng Minh Những bức

thư đó (về sau được tập hợp dưới cái tên Quân trung từ mệnh tập) có tính chiến đấu mạnh

mẽ và có tác dụng lớn trong việc đánh vào tinh thần địch quân

Tướng văn trong khởi nghĩa Lam Sơn

Từ xa, Nguyễn Trãi đã nhận thấy ở Lê Lợi một người anh hùng lỗi lạc có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thành công, nên Nguyễn Trãi đã bỏ qua nhiều phong trào khởi

Trang 7

nghĩa ở các địa phương gần, để lặn lội vào miền núi rừng Thanh Hoa, tìm gặp Lê Lợi và gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn Đó là những ngày ở Lỗi Giang, nhưng tên tuổi, sự nghiệp của ông ghi lại trong lịch sử của dân tộc, chỉ là từ sau khi nghĩa quân Lam Sơn rút về núi Chí Linh lần thứ ba, tức là từ năm 1423

Từ sau cuộc gặp gỡ ở Lỗi Giang, thì theo Trần Khắc Kiệm chép trong {(lời tựa Ức Trai thi

tập) Ức Trai di tập quyển 5} Phàm những việc quân, việc nước quan trọng đều trao cho ông

cả Nguyễn Trãi đã vận dụng Bình Ngô sách của ông để trù tính giải quyết mọi việc quân,

việc nước quan trọng Ông đã thành công trong việc mở rộng phong trào Lam Sơn từ một cuộc khởi nghĩa địa phương, bó hẹp trong vùng rừng núi phủ Thanh Hoa thành chiến tranh

cả nước đánh giặc và đưa phong trào, từ sau khi về núi Chí Linh lần thứ ba, sang một giai

đoạn phát triển mới, giai đoạn tiến công liên tục, mãnh liệt càng đánh càng được, đi đến đâu đánh tan đến đấy, như phá vật nát, như bẻ cành khô

Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng giặc

Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở Viện Khu mật Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương Thông Thông rút vào cố thủ trong thành Đông Quan Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra Lực lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất

4 tướng giỏi: Lê Triện, Đinh Lễ bị tử trận, Đỗ Bí và Nguyễn Xí bị bắt Chỉ có Nguyễn Xí sau

đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốn thoát về

Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm đó Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướng rằng:

"Đánh Đông Quan là hạ sách Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí chờ đánh viện binh Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."

Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán Lê Lợi điều các tướng giỏi lên đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Liễu Thăng, Mộc Thạnh bỏ chạy về nước Vương Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "hội thề Đông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Lam Sơn

Trang 8

Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết

về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam quốc sơn hà)

Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, ban thưởng cho 227 công thần, Nguyễn Trãi được phong là Triều đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư, tước Quan phục hầu Trong công cuộc xây dựng đất nước vừa được giải phóng, Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp lớn, tuy chức vụ của ông chưa phải là chức vụ chủ chốt nhất trong triều để có thể làm cho ông thi thố hết tài năng Ông đã khuyên Lê Lợi kêu gọi những người "hiền tài" ra giúp nước, và năm

1429 thay nhà vua viết tờ Chiếu cầu hiền Năm 1430, ông thay nhà vua viết Chiếu cấm các

đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh, cục tham lam lười biếng Năm 1431, ông

thay nhà vua viết tờ Chiếu cho Tư Tề quyền nhiếp quốc chính Năm 1433, Tư Tề vì cuồng dại, ngớ ngẩn không đương nổi việc nước, bị giáng xuống làm quận vương, ông thay nhà vua

viết tờ Chiếu giáng Tư Tề làm quận vương, đặt con thứ là Nguyên Long nối nghiệp Ông cũng lại thay nhà vua làm tờ Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử và Chiếu bàn về phép tiền tệ, v.v

Vụ án Lệ Chi Viên

Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua:

"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than".

Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước

Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Chí Linh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay

Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó có Nguyễn Trãi Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ,

kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả

nước chia làm 5 đạo) Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp

Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao Nguyễn Trãi cùng một người vợ

Trang 9

thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử

Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này)

Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo "hầu" vua Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442 "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người

bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người

họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các

bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử

Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là Lê Nhân Tông

Gia quyến lưu tán

Theo gia phả họ Nguyễn, Nguyễn Trãi có năm người vợ:

• Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù

• Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguyễn Bảng, Nguyễn Tích

• Bà Thị Lộ: Không có con

• Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguyễn Anh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên)

• Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh, Phương Quất - huyện Kim Môn, Hải Dương

Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:

• Nguyễn Phi Hùng , em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh;

• Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn

• Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương

• Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có mang ba tháng, được người học trò

cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa bà chạy trốn vào xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa); sau lại về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa Tại đây,

bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ

Được minh oan

Theo một số nghiên cứu gần đây, thủ phạm gây ra cái chết của vua Thái Tông chính là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh và bà đã đổ tội cho Nguyễn Trãi

Trang 10

Tuy nhiên, ngay đương thời đã có nhiều người biết việc oan khuất của Nguyễn Trãi Hơn

10 năm sau, mẹ con vua Nhân Tông bị người con cả Thái Tông là Nghi Dân giết chết để giành lại ngôi vua Nhưng rồi Nghi Dân nhanh chóng bị lật đổ Người con thứ của Thái Tông

là Khắc Xương từ chối ngôi báu nên người con út là Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi cứu thoát trước kia, nay được Nguyễn Xí rước lên ngôi, tức là Lê Thánh Tông

Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy

sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ [6] Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi Ông ca ngợi

Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho con

là Anh Vũ chức huyện quan Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại

Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng

Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là "Ức Trai lòng soi sáng văn chương"

Nguyên ăn bài thơ

Cao Đế anh hùng cái thế danh

Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo

Vũ Mục hung trung liệt giáp binh

Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển

Nhị Thân phụ tử bội ân vinh

Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự

Bát bách Cơ Chu lạc thái bình

Dịch nghĩa

Đức Cao Đế (Lê Thái Tổ) là bậc anh hùng đệ nhất thiên hạ

Trang 11

Đức Văn Hoàng (Lê Thái Tông) trí dũng kế thừa cơ nghiệp

Ức Trai (Nguyễn Trãi) lòng soi sáng văn chương

Vũ Mục (Lê Khôi) bụng chứa đầy binh giáp

Mười anh em họ Trịnh (con thái uý Trịnh Khả) tất thảy đều vẻ vang phú quý

Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín) đều hưởng ân vinh lớn

Cháu hiếu là Hồng Đức (Lê Thánh Tông) nay kế thừa nghiệp lớn

Vui hưởng thái bình như nhà Chu tám trăm năm

Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con

nhà vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ

ban phong khi ông còn sống Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời

sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.

Năm 1512, vua Lê Tương Dực sai làm chế văn truy tặng ông tước Tế Văn hầu, trong đó

có câu

"Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên;

"Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế"

Dịch là:

"Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ"

"Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau"

Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới

• Người thế Kỉ 16, như Hà Nhậm Đại, đã nói về công lao sự nghiệp của ông:

Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi

Trang 12

Danh ghi thanh sử sáng bằng gương [8]

• Người thế kỉ 17 còn đánh giá ông cao hơn nữa Đỗ Nghi cũng là người triều Lê,

nhưng ông đã nói thẳng: Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do sức ông cả và Đỗ Nghi tiếc rằng: Tiếc thay trời chưa muốn bình trị thiên hạ, cho nên cuối cùng ông vẫn chỉ làm chức hành khiển Đông đạo, không được giở hết hoài bão của mình; việc

đó không phải là không may cho ông, mà chính là không may cho sinh dân đời Lê vậy [9]

• Sang thế kỉ 18 Dương Bá Cung cũng phải thừa nhận công lao của ông trùm khắp

trên đời [10]

• Lê Quý Đôn trong Kiến Văn tiểu lục nhận định về ông: "đứng vào bậc nhất một đời, chức vị Thượng thư, cấp bậc công thần Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua hết lòng trung thành, tuy dâng lời khuyên răn thường bị đè nén mà không từng chịu khuất nhưng vì tối nghĩa về "chỉ, túc" thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành, thật đáng thương xót! Người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua, thì ngàn năm cũng không thể mai một được"[11]

• Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, người Việt Nam ở thế kỷ 19 vẫn rất mực

tôn quý ông và khẳng định: Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm [12]

Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao "mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu"; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, "yếu đánh mạnh ít địch nhiều thắng hung tàn bằng đại nghĩa"; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao: "viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn), "văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế" (Phan Huy Chú) Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta

• Công lao, sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng, vĩ đại, Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc Công lao quý giá nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông Ông đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi [14]Thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của phong trào đấu tranh anh dũng của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được Dầu sao, nếu chỉ xét về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực văn học

Bài thơ” Côn Sơn ca”

CÔN SƠN CA

KHÚC CA HÀI HÒA GIỮA MINH TRIẾT VÀ NHÂN ÁI

Đoàn Thị Thu Vân

Trang 13

Cũng thật lạ khi trong con người suốt đời tự nguyện dấn thân tích cực ấy lại vẫn luôn mang niềm khao khát "trở về" Trở về với núi cũ Côn Sơn – không gian xanh của thời thơ ấu – là hoài vọng thường xuyên trong tâm khảm, khi Nguyễn Trãi đang còn trên bước đường lưu lạc cũng như khi đã lập công danh Tuy nhiên sẽ không là mâu thuẫn nếu nhận ra rằng "dấn thân" và "trở về" thuộc hai bình diện khác nhau, một là nhu cầu của con người xã hội, con người công dân và một là nhu cầu của con người cá nhân cùng hiện diện trong nhân cách đặc biệt ấy Điều đó đã tạo cho Nguyễn Trãi một phong thái xưa nay ít thấy – một ông quan mà giống một "ông tiên" (theo lời nhận xét của Nguyễn Mộng Tuân, người cùng thời)

Bài ca Côn Sơn mở ra một khoảng không xanh tươi, trong trẻo, mát mẻ Núi rừng hùng vĩ nhưng không bí ẩn, xa cách Thiên nhiên mang vẻ đẹp hoang sơ, nguyên thủy

mà thật ấm áp, thân tình Con người đến đó không lắng nghe, nhìn ngắm bằng tai thường, mắt thường mà bằng cái tâm đã lọc sạch bụi bẩn và rộng mở Nhờ trống không và rộng mở nên đã tiếp nhận được toàn bộ cái "chân" của tạo vật Thiên nhiên

là một thế giới riêng có tâm hồn Đem cái tâm của mình hòa đồng cùng vạn vật,

Nguyễn Trãi đã vận dụng được nguyên lý "vạn vật đồng nhất thể" của triết học phương Đông để vui niềm vui khám phá và phát hiện Côn Sơn thực sự trở thành ngôi nhà thân thuộc khi nhà thơ nghe được tiếng nói của suối, đá, thông, trúc, có thể cùng nhau trò chuyện, cảm thông, có thể lấy nó làm đàn cầm, làm đệm chiếu êm mượt, làm lọng biếc che mát để nằm nghỉ ngơi, làm tấm bình phong xanh để ngồi bên ngâm vịnh Thiên nhiên luôn hào phóng dành sẵn những hương sắc, thanh âm, xúc cảm giản dị

mà diệu kỳ đối với ai biết mở rộng giác quan của tâm hồn trước nó Khi con người mở cửa tâm hồn, thiên nhiên cũng mở cửa kho tàng vô tận Giọng thơ thật hào hứng khi nói "Côn Sơn có suối", "Côn Sơn có đá", "trong núi có thông", "trong rừng có trúc" Giàu có biết bao! Ta là một phần trong tất cả, và tất cả cũng chính là ta! Thực hiện được sự hội nhập lớn lao này, con người đã mang được cái hồn vũ trụ, sự phong phú

và vĩnh cửu của vũ trụ Cũng từ đó giải phóng khỏi mọi loại tù ngục của qui ước, giáo điều, thiên kiến trong cách nhìn, cách nghĩ thông thường để dùng con mắt nhìn của trẻ thơ ghi nhận cảnh vật và tái hiện lại trong một thế giới thơ trong trẻo mà quyến rũ lạ thường

Từ góc độ của cái "chân" và sự vĩnh cửu của cả không gian, thời gian và tâm linh này, nhìn lại mọi vật, mọi việc mới thấy hết những gì là giả tạm Những ai "nửa đời giam buộc mãi trong cát bụi" của cuộc sống đua chen danh lợi thực quả giống như kẻ lạc lối xa nhà mà lời gọi "Hỡi người, sao chẳng về đi?" kia đã làm sực tỉnh Hỏi người

mà cũng là tự hỏi mình Thương mình mà cũng là thương xót biết bao con người cùng cảnh ngộ Hiểu được hạnh phúc đích thực, cũng như một thiền gia trong khoảnh khắc

"đốn ngộ", nhà thơ của Côn Sơn chợt cảm thấy "vạn chung cửu đỉnh" mới vô nghĩa làm sao và tất cả niềm vui mà bầu nước lã, bát cơm rau mang lại cho con người "Uống nước trong, ăn cơm rau, tùy theo hoàn cảnh mà tự thấy đủ" là lời sẻ chia kinh nghiệm chân tình đầy lòng nhân ái Một kinh nghiệm giản dị như chân lý bao giờ cũng giản dị nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra Mục đích của đời người là đi tìm hạnh phúc cho cuộc sống, tuy cách quan niệm về hạnh phúc có khác nhau Và trong khi mọi người mải đi tìm những đường vòng đến có lúc quên mất cả mục tiêu cần tới thì

Nguyễn Trãi đã chỉ ra cho họ con đường ngắn nhất: hạnh phúc ở ngay trong thực tại, trước mắt, nơi những gì ta đang có Thật nhân văn là ở chỗ này: quý trọng từng giây phút mà ta đang sống, biết sống vui để không lãng phí cuộc đời Nhân văn còn ở thái

độ đối với bản thân mình, không dày vò lao nhọc tâm trí và thân xác để đi tìm những vật ngoài thân như "vàng đầy thành", "hồ tiêu tám trăm hộc", kể cả cái danh "tôi trung không thờ hai chúa" mà Bá Di, Thúc Tề theo đuổi Xét về mặt dưỡng sinh, sống gần gũi thiên nhiên, trí ít lo âu toan tính, lòng trong sáng cởi mở, ăn uống thanh đạm những gì sức mình lao động kiếm được là cách sống đem lại sức khỏe, tuổi thọ và sự

Trang 14

yêu đời Đó cũng là khía cạnh thiết thực nhất của quan niệm sống giàu chất nhân văn này

Khi nghe qua ví dụ về Đổng Trác, Nguyên Tải rồi tiếp đến là Bá Di, Thúc Tề, dễ có cảm tưởng như một bên đưa ra là để phê phán, còn một bên là để ngợi ca Thực ra, theo Nguyễn Trãi, "hiền ngu hai đàng không so sánh được với nhau", nhưng "mỗi đàng đều tự tìm theo ý muốn riêng của mình" Kẻ "ngu" dĩ nhiên không hiểu được chân lý của cuộc sống, nhưng người thường được gọi là "hiền" kia cũng chưa hẳn đã là biết sống Chẳng phải họ đều chạy theo cái lợi hão hoặc bị trói buộc bởi cái danh hão để phải làm tổn thương đến hình hài và chân tính của mình sao? Trong khi "đời người chỉ trong khoảng trăm năm, rốt cục đều nát cùng cây cỏ" Ở chỗ này, cũng như khi nói

"mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi, cái kia đến; tốt tươi rồi khô héo cứ nối tiếp nhau", Nguyễn Trãi gợi nhớ đến câu thơ của Vạn Hạnh đời Lý: "Thân như điện ảnh hữu hoàn vô; Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô" Quan niệm này vừa ảnh hưởng từ Phật giáo – con người cùng vạn vật do "tứ đại" duyên hợp mà thành, duyên hết lại trở về với

những yếu tố vật chất ban đầu ấy; mọi sự tuần hoàn, chuyển biến liên tục – mà cũng

là từ triết học phương Đông nói chung, trong đó có Dịch lý uyên áo Do vậy mà "núi gò hoang sơ" hay "cửa nhà lộng lẫy" đều là "ngẫu nhiên", không có gì bền chắc; sau khi chết, sang và hèn đều trở thành vô nghĩa Sự vận dụng quan niệm này sẽ trở nên phiến diện, thậm chí có phần tiêu cực nếu phát xuất từ một người vốn thích an nhàn cho riêng thân, không quan tâm đến xã hội, không có chí giúp đời hay vì bất đắc chí

mà trở thành yếm thế, bi quan Với Nguyễn Trãi, khi ngẫm suy những điều này, ông đã đứng trên tất cả những thất bại và thành công vinh quang nhất mình đã trải qua trong đời "Đời người trăm năm", nửa đời đã từng "mặn lạt no mùi thế tình" (Tự thán X) nhưng vẫn kiên định một "tấc lòng ưu ái cũ" (Thuật hứng V), con người ấy khi triết lý

về cuộc sống, chắc không phải chỉ là những lời rỗng suông hay bắt chước Chiều sâu của tri thức, bề dày của kinh nghiệm, độ chín của trí tuệ và sự linh mẫn của tâm hồn

đã làm nên chất minh triết cho quan niệm ấy

Tương xứng với không gian mang tầm vũ trụ ở Côn Sơn ca là thời gian cũng không hạn mức Có khoảnh khắc của thực tại mà cũng có mở rộng ra cả một đời người và của

cả nhân gian Những hình ảnh được gọi về từ những khoảng cách thời gian còn hình dung được (Đổng Trác đời Hán, Nguyên Tải đời Đường), rồi xa hơn nữa (Bá Di, Thúc Tề đời Ân), và xa hơn nữa (Sào, Do đời Nghiêu, cổ đại)… Từ những đơn cử cụ thể đã đi dần đến những đúc kết khái quát nhất mang tính quan niệm Trên những qui luật chung nhất này, và trong cõi nhân gian thật phù du ngắn ngủi, thiên niên kỷ chỉ như cái chớp mắt, thì Sào, Do cách mấy ngàn năm và Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV thật xiết bao gần gũi, có thể kết bạn tri kỷ hoặc tranh luận cùng nhau về quan niệm sống, vì những vấn đề thuộc về con người đều là muôn thuở Bối cảnh không – thời gian trong khúc ca Côn Sơn mở rộng không giới hạn, nội dung bài ca giản dị, nhẹ nhàng nhưng là những chân lý tối hậu Cái lớn của Côn Sơn ca là ở đó Một khúc ca chứ không phải bài thơ, lại càng không phải là một áng văn lý luận đạo mạo Nguyễn Trãi viết để ca lên,

để làm vui mình,và mời người cùng chia sẻ niềm an lạc của tâm hồn Nhưng với đời sau, Côn Sơn ca lại là một tổng hòa chất minh triết của trí tuệ, lòng nhân ái nồng hậu với con người và chất thơ bay bổng, thanh thoát của một tâm hồn nghệ sĩ Ở đó, còn thấy được một ngòi bút nghệ thuật tài hoa Bài ca được viết thật tự do, sảng khoái Những ý nghĩ có thể dồn đuổi nhau thành những câu hỏi liên tục đẩy những vấn đề về nhân sinh lên đến mức bức xúc nhất, để rồi giản ra sâu lắng thâm trầm sau lời lý giải giản dị và điềm đạm

Đàng sau Côn Sơn ca là cái nền của triết học và mỹ học phương Đông được tổng hợp một cách linh hoạt từ cả Nho, Phật và Đạo Dung hòa được những nguồn tư tưởng

Trang 15

này đã là sáng tạo Nhưng nếu chỉ có thế thì chưa đủ để bài ca Côn Sơn có sức hấp dẫn bền lâu đến thế Điều đáng nói chính là cốt cách Việt Nam toát ra từ đó Đó cũng

là cốt cách của Nguyễn Trãi: luôn quan tâm đến hạnh phúc của con người "Cần gì phải muôn chung chín đỉnh; uống nước lã, ăn cơm rau, tùy theo phận mình cũng cảm thấy đủ" Trong một bài thơ khác, Nguyễn Trãi từng khuyên: "Nằm có chiếu chăn cho ấm áp; Ăn thì canh cá chớ khô khan Phúc dầu hay đến trăm tuổi; Mình thác thì nên mọi của tan" (Bảo kính cảnh giới VII) Hai lời khuyên tuy có khác nhau nhưng cùng một ý tứ: Nên biết quý và vui hưởng những gì mình có, không nên bỏ phí đời sống thực tại

để chạy theo những cái ngoài tầm tay Hạnh phúc đích thực của đời người là điều nhà thơ luôn muốn nhủ khuyên, cảnh tỉnh mọi người

Tầm cao của Côn Sơn ca không chỉ ở sự thâm uyên về cái nhìn triết học, sự thực hiện đại hòa điệu giữa "ta" và "vật" hồn nhiên đầy minh triết Đàng sau bài ca Côn Sơn còn là vô hạn một tấm lòng Nét riêng của dân tộc, của Nguyễn Trãi trong cái chung của phong cách phương Đông là ở đó

Hồ Xuân Hương:

Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19

đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam

Tiểu sử:

Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu

đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:

• Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời

Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.'

• Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An (*) Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.[1]

• Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19

Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng

và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến

• Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội

Trang 16

• Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vậy tại sao lại có chuyện "cổ nguyệt đình"? Bà không dùng chữ nho cũng đâu thể cho rằng bà ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, mà phải xem lại xã hội thời đó, bà là một nhà thơ nên cũng là một minh chứng cho xã hội thời đó về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn

chương

• Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm,

bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước

• Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn

và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến)

Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến

mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió

Các tác phẩm:

Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng

Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo

Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984.

Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương

ký , theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của

Hồ Xuân Hương Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà

Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan (? -?), tên thật: Nguyễn Thị Hinh, là một trong những nhà thơ nữ

nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam

Tiểu sử:

Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội

Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị(1804 -1847), người

Trang 17

làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) Ông đỗ cử nhân năm

1821 (Minh Mệnh thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái

Bình), nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan Chồng bà làm quan trải đến

chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình, nhưng mất sớm (43 tuổi)

Dưới thời vua Minh Mạng, bà được vời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi

Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời

Năm 1870, ở Nghi Tàm nổ ra cuộc đấu tranh chống lệ nộp chim sâm cầm, một đặc sản của vùng này Theo Ngọc phả (ghi nhận công đức của những người có công với dân làng), thì chính Bà Huyện Thanh Quan đã thảo đơn cho dân gửi lên vua, nhưng vì phục tài đức của

bà nên quan huyện Hoàn Long đã phớt lờ đi

cho là của Bà Chúa Thơ Nôm (xem thêm chuyên luận Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực

của ông) Cuối cùng bài 8 cũng không giống với tư tưởng và phong cách Bà Huyện Thanh Quan

Trang 18

Nhận xét

Trích:

• Dương Quảng Hàm

Những bài thơ Nôm của bà phần nhiều là tả cảnh, tả tình, nhưng bài nào cũng hay

và tỏ ra bà là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước Lời văn rất trang nhã, điêu luyện.[8]

là nhớ tiếc cái chính trị của mấy ông vua thời Lê mạt thì không đúng Bà hướng về một quá khứ mà có lẽ bà cũng không tường tận lắm, và bà cũng chưa thọ hưởng được ân huệ gì; nhưng đó là quá khứ của tiền bối, của gia đình Vì thế thái độ hoài

Lê của bà cũng như nhiều nho sĩ đồng thời không có tính cách chính trị, mà chỉ có tính cách tâm tình

Về mặt nghệ thuật: chữ dùng khéo, chọn lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tình,

ý hàm súc, lời trau chuốt, gọn, đẹp Cho nên thơ bà rất được các nho gia xưa yêu chuộng, ngâm nga

Thơ luật đời Nguyễn Sơ, ở tác phẩm của hai nữ sĩ là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, như vậy quả đã tiến đến cao độ mỹ diệu Thơ Hồ Xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bẩy, duyên dáng Thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh thoát, nhẹ nhàng Hồ Xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng bình dân vươn lên thể hiện một hình thức bác học Bà Huyện Thanh Quan đại biểu cho cái tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại, cùng với tinh túy của Đường thi

• Từ điển Văn học (bộ mới):

Thơ bà thường viết về thiên nhiên, phần lớn là vào lúc trời chiều, gợi lên cái cảm giác vắng lặng và buồn bã Cảnh bà miêu tả trong những bài thơ giống như những bức tranh thủy mặc, chấm phá…Hơn nữa, nói cho đúng thì cảnh trong thơ bà thực tế cũng không phải là cảnh, mà là tình Tình cảm của bà thường là sự nhớ thương da diết đối với quá khứ vàng son đã một đi không trở lại Do vậy, người ta gọi bà là nhà thơ hoài cổ Thơ bà còn được chú ý vì một lẽ nữa, đó là nghệ thuật hết sức điêu luyện Ở đó, niêm luật đều luật đều chặt chẽ mà không gây cảm giác gò bó, xếp đặt Câu thơ của bà trang nhã, từ ngữ chải chuốt và chọn lọc công phu

Thơ Đường

Trang 19

Thơ Đường hay Đường thi là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà thơ người

Trung Quốc sáng tác trong khoảng từ thế kỉ 7 - 10 ( 618 - 907 ) Các sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường thi gồm 48.900 bài Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú thành "Đường thi tam bách thủ" được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc, Việt Nam

"Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường như Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội Ba đại biểu lớn là

và theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị sáng tác)

Các thể loại chính:

Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật Đường, thơ Cổ phong và Nhạc

Phủ.Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau Nhưng về ngôn ngữ, thơ Đường tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ; đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị

Lý Bạch

Trang 20

Lý Bạch bính âm: Lǐ Bái / Lǐ Bó; 701- 762) là nhà thơ danh tiếng nhất thời thịnh Đường

nói riêng và Trung Hoa nói chung, được hậu bối tôn làm Thi Tiên

sĩ Giới thi nhân bấy giờ thì rất kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh, nên gọi Lý Bạch là: Tửu trung tiên, Lý Trích Tiên.Về sau này, Đỗ Phủ , thua ông 11 tuổi, được tôn làm Thi Thánh (Thơ Thánh) thì Lý Bạch được tôn làm Thi Tiên (Thơ Tiên).

Tiểu sử:

Vào cuối đời nhà Tùy, một người họ Lý do thiếu nợ phải trốn ra Tây Vực, kết duyên cùng một Man bà (phụ nữ Tây Vực), đến năm Trường An nguyên niên sinh ra Lý Bạch (lúc này nhà Đường đang có sự biến do Võ Tắc Thiên gây ra)

Lý Bạch say mê học kiếm thuật, trong một thời gian ngắn, tài múa kiếm và tài thơ của ông được bộc lộ rõ rệt 15 tuổi ông đã có bài phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng Lúc 16 tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái Thiên Sơn học đạo, bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ

Ngao du sơn thủy

Làm ẩn sĩ trên núi được 2 năm, ông lại hạ sơn, bắt đầu làm hiệp sĩ, đi lùng hết các thắng cảnh ở Hà Bắc, Giang Tây, Tràng An Bạn đồng hành với ông lúc này là Đông Nham Tử, nhưng chỉ đi chung được 1 năm Đến năm 20 tuổi Lý Bạch đã đi khắp nước Thục, ông lại về

Tứ Xuyên với gia đình, chuẩn bị tiền đi đường và tiền mua rượu cho cuộc hành trình sắp tới Ông đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Dĩnh, được ông này khen là thiên tài, "có thể sánh với Tư Mã Tương Như"

Năm 723, Lý Bạch mặc áo trắng, đeo một bầu rượu lớn, chống kiếm lên đường viễn du Trong khoảng ba năm, ông đã tham quan hầu hết cảnh đẹp Trung Hoa, như là hồ Động Đình, sông Tương, Kim Lăng, Dương Châu, Ngô Việt, Giang Hạ Đến năm 726, ông đến Vân

Trang 21

Mộng kết duyên cùng cháu gái của Hứa tướng công Thời gian này tài năng thơ bắt đầu nở

rộ Đến 30 tuổi thì tiếng tăm đã vang đến triều đình Được mời đi làm quan, nhưng ông không nhận

Năm Khai Nguyên thứ 23 (735), ông đi chơi ở Thái Nguyên, gặp Quách Tử Nghi đang ở

tù, ông xin giúp, Quách liền được thả Ông lại dẫn vợ rong chơi qua nước Tề, Lỗ, rồi định cư

ở Nhiệm Thành Đến đây Lý Bạch lại được Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh - những ẩn sĩ đương thời - rủ lên núi Tồ Lai thưởng ngoạn, rồi say sưa ở Trúc Khê Nhóm này được người ta gọi là "Trúc Khê lục dật"

Vào cung và bị gièm pha

Năm 741, Lý Bạch lại một phen từ bỏ gia đình, vợ con, ông đến Hồ Nam rồi Giang Tô, Sơn Đông đi đến đâu danh tiếng lan ra đến đó

Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (742), ông đến Cối Kê, cùng đạo sĩ Ngô Quân ở ẩn tại Thiểm Trung Sau đó cùng bạn về Trường An, ở đây ông gặp thái tử tân khách Hạ Tri Chương, trở nên đôi bạn rượu-thơ thân thiết Ông được Hạ Tri Chương tiến cử lên vua Đường Minh Hoàng, vua Đường nghe danh đã lâu nên rất thích, vời vào điện Kim Loan giao việc thảo thư từ, sau được phong làm Hàn Lâm, chuyên giữ việc mật Được vua Đường và Dương Quý Phi yêu thích Tại đây, cùng với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi, Vương Tiến,

Tô Tần, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi hợp thành nhóm "Tửu trung bát tiên"

Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày, lại bị Dương Quốc Trung gièm pha nên Dương Quý Phi cũng phát ghét, chỉ trích luôn luôn làm Đường Minh Hoàng khó xử

Một bài thơ của Lý Bạch

Lý Bạch nhận thấy sự đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy, ông liền từ biệt vua Đường Vua rất buồn, nhưng cũng chiều theo, lại tặng thêm rất nhiều vàng nhưng thi nhân không nhận, cuối cùng trao cho ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào đi qua, tiền rượu sẽ do ngân khố thanh toán

Rời cung, bị đày ải và qua đời

Trong 10 năm kể từ lúc rời cung, Lý Bạch tha hồ uống rượu và đi chơi, ông từng qua Triệu, Nguỵ, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ, Thương, Ư, Lạc Dương, các sông Hoài, sông Tứ Do đi quá nhiều nên ông cũng quen biết và thân thiết với rất nhiều, trong đó

có Đỗ Phủ, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích

Trang 22

Năm Thiên Bảo thứ 13 (755), ông quen với Nguỵ Hạo ở Quảng Lăng, hai người cùng xoã tóc đi thuyền vào sông Tần Hoài Sau đó đến Tuyên Thành Tháng 11 năm này có loạn

An Lộc Sơn, Lý Bạch liền về Lư Sơn, ở ẩn tại Bình phong điệp Năm (56 tuổi), tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi mời ông về phủ Lý Bạch đành phải đi theo Đến khi Lân làm phản bị bắt, Lý Bạch chạy trốn nhưng không thoát, lúc sắp bị tử hình có Tuyên Uý đại sứ Thôi Chi Hoán với ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư đem giấu đi Sang năm 757 bị triều đình bắt lại, lúc này người từng được Lý Bạch cứu khi xưa là Vương Chi Hoán ra sức giải oan, ông được giảm xuống tội đi đày

Năm 758, trên đường đi đày ba vùng Dạ Lang, Động Đình, Tam Giáp, Lý Bạch được tha, liền đi xuống phía đông đến Hán Dương, tiếp tục cuộc ngao du đây đó, tuy nhiên tuổi già, sức yếu, ông đành đến Đang Đồ, ở nhờ anh họ là Lý Dương Băng Đến năm 762, vua Đường Đại Tông lên ngôi, cho người mời Lý Bạch nhưng trên đường đi thì nghe tin ông đã qua đời rồi

Chuyện thi cử

Năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông (742), Lý Bạch đến Tràng An ứng thí, tình cờ gặp Hạ Tri Chương (đang giữ chức Hàn Lâm), cả hai đều mê rượu, mê thơ nên trở thành thân thiết

Đề thi năm ấy là: "Không mong văn chương hơn thiên hạ, chỉ cần văn chương đúng ý quan chấm thi" Khoa thi vừa xong, Hạ Tri Chương sợ Lý Bạch không có tiền đút lót sẽ bị

đánh rớt, liền gửi mộ lá thư giới thiệu cho giám khảo Thư đến hai quan giám khảo là Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung, hai người này vốn không thích Hạ Tri Chương, nên càng ghét

Lý Bạch Lúc chấm thi, thấy hai chữ Lý Bạch, Dương Quốc Trung liền phê: "Người này dốt quá chỉ đáng mài mực cho bọn sĩ tử thôi" Cao Lực Sĩ phê hùa theo: "Có lẽ chưa đáng mài mực, chỉ đáng cởi giày cho họ thôi" Rồi đánh hỏng vào bài thi của ông

Chuyện trong cung

Thi rớt kỳ ấy, Lý Bạch nghe lời Hạ Tri Chương ở lại chơi ít tháng, đợi Hạ tiến cử Một hôm sứ nước Phiên dâng thư cho vua Huyền Tôn bằng tiếng Phiên, cả triều không ai đọc được Vua vừa tức giận vừa hổ thẹn, hẹn sứ giả 6 ngày sẽ trả lời thư Hạ Tri Chương kể chuyện cho Lý Bạch nghe Vì Lý Bạch từng được mẹ dạy chữ Phiên, ông bảo "cũng chẳng khó gì", liền hôm sau được vua Đường vời vào triều Lý Bạch không chịu vào, vua liền phong cho chức Học vị tiến sĩ, ông mới mặc áo, đội mão bước vào Cầm thư Phiên, Lý đọc vanh vách, vua từ đó rất thích ông, không ngờ lại có người thông tuệ như vậy, liền thăng chức cho ông làm Hàn Lâm học sĩ

Đến khi Vua sai viết thư trả lời bằng tiếng Phiên, Lý Bạch mặt đỏ, liểng xiểng đi đến Cao Lực Sĩ, đưa chân cho y tháo giày, rồi ngoắc Dương Quốc Trung lại mài mực ông mới chịu viết Hai người này đành phải lúi húi làm theo

Trang 23

Thời gian trong cung của Lý Bạch cũng có nhiều chuyện được chép lại, đại loại là về tài thơ của Lý Bạch Như việc Lý Bạch say rượu làm thơ thần tốc thì có rất nhiều Ngoài ra giai thoại sau đây rất nổi tiếng:

Thời Khai Nguyên, lúc hoa nở đẹp, vua Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý Phi ra ngắm hoa, sai nhạc đội ca hát Lần này vua muốn có lời ca ngợi sắc đẹp của Dương Quý Phi, liền vời Lý Bạch đương say rượu vào đặt cho Lý Bạch đang say viết liền 3 bài Thanh Bình điệu Vua và Quý Phi rất thích Sau này Dương Quốc Trung, Cao Lực Sĩ, những người từng

bị Lý Bạch làm nhục gièm pha ông với Dương Quý Phi (em gái của Dương Quốc Trung) về bài Thanh Bình Điệu, bài này có đoạn:

Khả liên Phi Yến ỷ tân trang

Hai người cho là Lý Bạch sánh ngang Quý Phi với Triệu Phi Yến, một hoàng hậu bị thất sủng Dương Quý Phi từ đó không ưa Lý Bạch, lại thêm Trương Ký ganh ghét gièm pha, Lý Bạch phải cuốn gói khỏi triều đình

Cái chết

Thời kỳ sau của Lý Bạch ít được chú ý, đến khi Đường Đại Tông - một người yêu thơ

Lý Bạch - lên ngôi thì ông đã không còn nữa rồi Có người bảo ông chết do bệnh, nhưng trong dân gian còn lưu truyền một chuyện đẹp đẽ về cái chết của Lý Bạch:

Tại sông Thái Trạch, huyện Đang Đồ, trong một đêm rằm, Lý Bạch đang say xỉn trên bờ sông, thấy trăng in đáy nước đẹp quá, liền nhảy xuống với bắt mà chết đuối Nơi đó có một cái đài, người sau đặt tên là Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) Chuyện này được Đỗ Phủ, Vương Định Bảo, Hồng Dung Trai ghi lại

Có nhiều bằng chứng lịch sử nêu rằng Lý Bạch đã tự tử (bài thơ tuyệt mệnh của ông)

Tác phẩm:

Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng: "Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch"

Lý Bạch làm hơn 20.000 bài thơ cả thảy, nhưng làm bài nào vứt bài đó, nên được biết tới

là nhờ dân gian ghi chép hơn cả Sau loạn An Lộc Sơn thì mất rất nhiều Đến khi ông mất năm 762 thì người anh họ Lý Dương Lân thu thập lại, thấy chỉ còn không tới 1/10 so với người ta truyền tụng Sang năm 1080, Sung Minh Chiu người Hàn Quốc mới gom góp lại tập thơ Lý Bạch, gồm 1800 bài Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài nào cũng

Ngày đăng: 16/10/2013, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình minh hoạ truyện cổ Andersen - tư liệu văn học
Hình minh hoạ truyện cổ Andersen (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w