LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.Lịch sử ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc, phát triển tư duy cho thế hệ trẻ mà còngóp phần
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I.Lý do chọn đề tài
2 II Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp tư liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam … ……… 3
III: Tổ chức thực hiện giải pháp 1 Tư liệu văn học được sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954……… … 14
2 Biện pháp sử dụng tư liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954… 16
IV Hiệu quả của đề tài……… 28
V Đề xuất, khuyến nghị và khả năng áp dụng 31
VI Tài liệu tham khảo
33 VII Phụ lục 35
Trang 2I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Lịch sử ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức
cơ bản về lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc, phát triển tư duy cho thế hệ trẻ mà còngóp phần giáo dục cho các em tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc… Cùng vớicác môn học khác, bộ môn Lịch sử trong trường phổ thông đã góp phần to lớn trongviệc giáo dục thế hệ trẻ thành nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Đây chính là trọng trách màĐảng, Nhà nước đã giao cho ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó có bộ môn Lịch
sử Để hoàn thành sứ mệnh cao cả đó, việc nâng cao chất lượng giáo dục được xem
là vấn đề sống còn Điều này cũng đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng (2006) chỉ đạo phải: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều” [3, tr.
97]
Trong những năm gần đây, dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng ởtrường phổ thông đã và đang đổi mới một cách toàn diện cả về nội dung và phươngpháp Công cuộc đổi mới này đã thu hút toàn thể xã hội vào cuộc Đảng, nhà nướckhông ngừng đẩy mạnh đầu tư kinh phí, thu hút nhân tài để xây dựng chiến lượcphát triển khả thi Ngành Giáo dục tiến hành đổi mới chương trình và sách giáokhoa, kiểm tra đánh giá… tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong toàn bộ hệthống giáo dục Các nhà nghiên cứu giáo dục cũng đã tốn nhiều công sức, tâm huyếtcho vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Nhiều công trình nghiên cứu mới ra đời,nhiều cuộc hội thảo khoa học về phương pháp giáo dục nói chung, phương phápdạy học Lịch sử nói riêng được tổ chức công phu để tìm giải pháp hữu hiệu nângcao chất lượng dạy học Là một giáo viên trung học phổ thông vấn đề làm thế nào
để học sinh thích học bộ môn Lịch sử? Làm thế nào để góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông luôn là câu hỏi thường trực Với
ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề “Tích hợp tư liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954” làm
đề tài nghiên cứu của mình
Trang 3II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP TƯ LIỆU VĂN HỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
II.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN
II.1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Tích hợp tư liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một vấn
đề rộng lớn Đây không phải là một đề tài mới mẻ mà đã được khá nhiều nhà nghiêncứu đề cập tới Căn cứ vào phạm vi cũng như góc độ tiếp cận vấn đề, chúng tôi chia
ra làm ba nhóm sau đây:
Trước hết, phải kể đến những công trình mang tính lý luận, khái quát cao
như: Giáo trình Phương pháp dạy học Lịch sử của các tác giả Phan Ngọc Liên,
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002;
Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường, Đặng Văn Hồ với Phương pháp dạy học Lịch
sử ở trường phổ thông, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998 Về lý luận giáo dục
nói chung và dạy học nói riêng, các nhà giáo dục học xã hội chủ nghĩa trước đây,nhất là ở Liên – Xô (cũ) đã có nhiều đóng góp to lớn Có thể kể đến những tác giả
và các công trình nổi tiếng như: N.G Đairi với tác phẩm Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1978; I.F Kharlamôp với Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
1978 Đây là những công trình mang tính lý luận cao, đề cập chuyên sâu đến một
số khía cạnh như làm thế nào để phát huy tính tích cực học tập của HS? Làm thếnào để xử lý tốt mối quan hệ giữa sách giáo khoa và bài giảng của GV, giữa việchọc trên lớp cũng như tự học? Về vấn đề sử dụng tài liệu Văn học, các công trìnhnói trên đã đề cập một cách khái quát một số nguyên tắc, yêu cầu chung cũng nhưnhững điểm cần lưu ý trong việc sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử
Ở cách tiếp cận gần hơn, cụ thể hơn là các công trình mang tính chuyênkhảo Tác giả Phạm Hồng Việt, khoa Lịch sử - Đại học sư phạm Huế có các công
trình: Ca dao lịch sử, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007; Qua câu đố tìm hiểu lịch sử dân tộc, Hội khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế, 2007; Trần Vĩnh Tường, Các biện pháp sử dụng tài liệu thành văn Việt Nam trong dạy học lịch sử (qua ví dụ dạy học
Trang 4lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000) ở trường Trung học phổ thông, Trần Vĩnh Tường, Tư liệu dạy - học Lịch sử 12, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008.
Trên đây là những công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến đề tài Từtình hình nghiên cứu này, chúng tôi thấy rằng: việc tích hợp tài liệu văn học trongdạy học Lịch sử ở trường phổ thông được đề cập đến khá nhiều nhưng đều ở nhữngkhía cạnh và mức độ nhất định Từ thực tế này, đề tài sẽ đi sâu và tập trung vào
nghiên cứu vấn đề Tích hợp tư liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 Những công
trình nghiên cứu nói trên sẽ được tác giả tham khảo để xác định hướng giải quyếtcác vấn đề lý luận đặt ra Hy vọng đề tài hoàn thành sẽ đóng góp phần nào về lýluận cũng như thực tiễn cho vấn đề lớn này
II.1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA TƯ LIỆU VĂN HỌC VỚI TRI THỨC LỊCH SỬ
II.1.2.1 Một số khái niệm.
Có rất nhiều định nghĩa về văn học Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc
sống; Văn học là nhân học (Mác - xim Goóc - ky) Văn học là một loại hình sángtác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạocủa văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểuhiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm
văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Theo “Từ điển tiếng Việt”, văn học là “n ghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống xã hội và con người”.[23,
tr 1079] Như vậy, dù là định nghĩa nào thì đối tượng của Văn học ở đây là conngười và xã hội trong một không gian và thời gian cụ thể
Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề nào đó [23, tr 869].
Như vậy, khái niệm tài liệu có nội hàm rất rộng, liên quan đến rất nhiều lĩnh vực đờisống xã hội
Tài liệu Văn học là những công trình, những tác phẩm Văn học được nhà
văn (tác giả) sáng tác nên dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau
Tri thức Lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát triển của
xã hội loài người cũng như của dân tộc Tri thức lịch sử gồm nhiều yếu tố như sựkiện lịch sử, các niên đại, địa danh, nhân vật, biểu tượng, khái niệm, quy luật lịch
Trang 5sử v.v Trong dạy học Lịch sử, tri thức lịch sử chính là những yếu tố quan trọngnhất để giáo dục tư tưởng chính trị, hình thành thế giới quan khoa học cho họcsinh[13, tr 138].
II.1.2.2 Mối quan hệ tài liệu Văn học với tri thức Lịch sử.
Giữa Văn học và khoa học nói chung, Sử học nói riêng có mối liên hệ chặtchẽ Văn học cũng như Sử học đều có đối tượng là con người, là cuộc sống của conngười Đối tượng nghiên cứu của sử học là quá khứ của xã hội loài người Tuy chứcnăng, nhiệm vụ của mỗi môn, mỗi ngành khác nhau nhưng cả hai đều có chung mụcđích là phục vụ con người, phục vụ cuộc sống Đặc điểm này chính là cơ sở để cácnhà khoa học giáo dục đề ra nguyên tắc “liên môn” trong dạy học Đối với môn lịch
sử, việc dạy học theo nguyên tắc liên môn sẽ làm cho học sinh thấy được mối liên hệhữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tính toàn diện của lịch sử[13, tr 206]
Để có được tác phẩm văn học, tác giả phải thâm nhập tìm hiểu thực tế, nghiêncứu các kiến thức lịch sử liên quan đến bối cảnh của tác phẩm, tìm chất liệu cho việcxây dựng phần hiện thực - tức là thiết kế nên cái “xương sống” của tác phẩm Sau đó,tác giả dùng các thủ pháp văn học để hoàn thiện công trình của mình thành tác phẩmvăn học Đó chính là phần hư cấu thể hiện lăng kính chủ quan của tác giả Độ hư cấucủa tác phẩm được quy định bởi nhiều yếu tố song chủ yếu tùy thuộc vào thể loại tácphẩm văn học Ở đây nổi lên ba yếu tố chính cấu thành một tác phẩm văn học mang
tính lịch sử: nội dung lịch sử (là chất liệu), ngôn ngữ (là phương tiện) và cách thể hiện (thế giới quan) Hiện thực lịch sử chính là phần sử Đây chính là yếu tố hết sức
quan trọng góp phần làm nên vốn văn hóa của nhà văn Mặt khác, hiện thực cuộcsống đó cũng chính là đối tượng phản ánh của tác phẩm Ngôn ngữ và thế giới quan
chính là phần văn của tác phẩm Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chính tác giả là
nhân chứng lịch sử - người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong sự kiện được phảnánh Do đó trong tài liệu Văn học đã mang yếu tố lịch sử
Hơn thế nữa, cũng có những tác phẩm văn học mà tự bản thân nó là một tư
liệu lịch sử hết sức hùng hồn, xác thực như “Hịch tướng sỹ ” của Trần Quốc Tuấn,
“Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh…
Đây chính là những áng “thiên cổ hùng văn”, những tuyệt tác bất hủ có giá trị lịch
sử cao và sức sống trường tồn bởi tính hiện thực và chính luận của nó Ở những
Trang 6công trình nói trên, giá trị Văn học và giá trị Lịch sử hòa quyện vào nhau tạo nên sựtoàn bích của chính tác phẩm Đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của lịch sử dân tộc ta
là lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt để dựng nước và giữ nước Vì lẽ đó “khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn”
(thơ Chế Lan Viên) Như vậy, không chỉ là thời phong kiến mà đến bây giờ và chắcchắn cả trong tương lai, mối quan hệ giữa Văn học và Sử học vẫn là một mối quan
hệ hết sức khăng khít
Đặc trưng của khoa học lịch sử là nghiên cứu các sự kiện, nhân vật lịch sử
đã diễn ra trong quá khứ Muốn tái hiện lại lịch sử phải dựa vào các loại tài liệu Vìthế tài liệu càng đầy đủ thì tri thức lịch sử càng chính xác, phong phú, toàn diện vàsâu sắc Nói một cách khác, tri thức lịch sử được soi sáng hơn, được chuyển tải bằngcon đường mềm mại hơn thông qua việc sử dụng tài liệu Văn học Với ý nghĩa đó,việc sử dụng tài liệu Văn học để giảng bài lịch sử trên lớp như cung cấp kiến thứcmới, ôn tập, làm bài kiểm tra và hoạt động ngoại khóa sẽ góp phần quan trọng vàoviệc khôi phục và làm sáng tỏ lịch sử Điều đó chính là sự đáp ứng về yêu cầu giáodục, giáo dưỡng và phát triển trong việc học tập lịch sử của học sinh hiện nay
Mặt khác, xét từ góc độ chương trình dạy học, chúng ta thấy mối quan hệgần gũi giữa môn Văn học và môn Lịch sử thể hiện rất rõ nét ở lớp 12 Trung họcphổ thông Không phải ngẫu nhiên mà các tác phẩm văn học nổi tiếng được phânphối ở chương trình lớp 12, tập trung ở học kỳ I Có thể kể đến những tác phẩm tiêu
biểu như Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh); Tây tiến (Quang Dũng); Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Nguyễn Đình Thi); Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) … Ở bộ môn lịch
sử, phân phối chương trình quy định là 1,5 tiết học/ tuần/ năm học Thông thường,
để giành thời gian cho cuối năm ôn tập thi tốt nghiệp và Đại học, học kỳ I được quyđịnh học 2 tiết/ tuần Theo đó, khóa trình lịch sử từ 1945-1954 nằm gọn trongchương trình học kỳ I Như vậy, trong một thời điểm (chênh lệch nhau không đángkể), trong khi học văn, các em được soi sáng bằng những kiến thức lịch sử liên quanđến hoàn cảnh ra đời các tác phẩm, tác giả đang học Ngược lại, trong khi học sử,các em lại có điều kiện vận dụng những tác phẩm văn học đang học để hiểu lịch sửhơn Rõ ràng rằng, việc phân phối chương trình hai môn Văn và Sử như hiện tại đãtạo điều kiện để học sinh bổ trợ kiến thức cho nhau rất hữu hiệu
Trang 7Tài liệu Văn học rất đa dạng, phong phú về thể loại: thơ, phú, hịch, tiểu thuyết, truyện, truyện ký, hồi ký cách mạng…Mỗi thể loại lại có nội dung, nghệ
thuật khác nhau Ở giai đoạn 1945-1954 thì rất thuận lợi cho giáo viên bởi chỉ dòngVăn học kháng chiến phát triển mạnh mẽ Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chủyếu sử dụng nguồn tài liệu Văn học viết với các thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ký,hồi ký, văn chính luận, thư viết trong chiến tranh…Xin điểm qua vài nét về Văn họccủa một giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc
Ở thể loại Văn chính luận đã có những tác phẩm nổi bật: Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh hoặc những bức thư của
Người gửi cho học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên dưới chế độ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, gửi cho Trung đoàn Thủ đô đang chiến đấu tại Hà Nội Tết Nguyên
Đán Đinh Hợi (1947) Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh Đây
là thể loại có ưu thế rất lớn trong việc dạy học lịch sử bởi chính tác giả là nhữnglãnh tụ của Đảng, nhà nước Nội dung các tác phẩm lại dề cập đến những vấn đềmang tính lịch sử-thời sự nóng bỏng nhất đang diễn ra
Ở thể loại thơ, sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Phápđạt được nhiều thành tựu xuất sắc Tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc,
ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến là cảm hứng chủ đạo Hình ảnhquê hương, anh Vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, những người phụ nữ nơi hậu phương,những người dân công, em bé liên lạc…được khắc họa chân thực, gợi cảm Những
tác phẩm xuất sắc của thơ kháng chiến là Cảnh khuya, Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu) của Hồ Chí Minh, Đèo cả của Hữu Loan, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bao giờ trở lại, Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông, Đồng chí của Chính Hữu và đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của nhà thơ lớn Tố Hữu Bên cạnh đó
những nhà thơ cũng diễn đạt những suy nghĩ, tình cảm của mình về cuộc Cáchmạng tháng Tám, về lòng yêu nước, về đất nước, về cuộc chiến đấu đang diễn ra:
Xuân Diệu có Ngọn Quốc kỳ, Hội nghị non sông, Dưới sao vàng; Chế Lan Viên
có Gửi các anh, Nguyễn Bính có Ông lão mài gươm, Đồng Tháp Mười, Trần Mai Ninh có Nhớ máu, Tình sông núi và còn rất nhiều những tác giả, tác phẩm khác
nữa Những năm kháng chiến chống Pháp bắt đầu xuất hiện những bài thơ ca ngợi
Trang 8lãnh tụ Hồ Chí Minh như Sáng tháng Năm (Tố Hữu); Ảnh Cụ Hồ, Thơ dâng Bác (Xuân Diệu) hay Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ).
II.1.3 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Nhà nước ta khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”[2, tr 41].
Trước hết, tính tích cực, độc lập trong nhận thức, đặc biệt là trong tư duy sẽđảm bảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức đã được hình thành Đại
văn hào Nga Lép Tôn Xtôi đã viết: “Kiến thức chỉ thực sự trở thành kiến thức khi
nó là thành quả của tư duy chứ không phải là trí nhớ”[12, tr 18].
II.1.3.2 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Trong một ý nghĩa nhất định, đích đến của việc dạy học là học sinh phải đạt
được cả ba yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Theo tổng kết của các nhà
lý luận giáo dục, cách dạy học truyền thống trước đây mới chỉ đáp ứng có mức độhai yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng Sản phẩm của cách dạy học đó là thế hệ học
Trang 9sinh thụ động, yếu năng lực thực hành, vận dụng và ứng phó với môi trường, thựctiễn cuộc sống dù họ có đủ kiến thức, giàu lòng nhiệt huyết và tinh thần yêu nước.
Trong thời đại ngày nay, để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượngcao thì việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh là một yêu cầu hết sức quantrọng Đây chính là thước đo về hiệu quả dạy học lịch sử Trước hết, hoạt động tíchcực, độc lập, sáng tạo của học sinh đảm bảo kết quả lĩnh hội kiến thức, đặc biệt là
khả năng lĩnh hội sáng tạo dựa trên cơ sở hoạt động tư duy tích cực, độc lập Có
nhiều con đường, phương pháp khác nhau để phát huy tính tích cực học tập của họcsinh như vận dụng trao đổi, đàm thoại, dạy học nêu vấn đề…trong đó phổ biến và
có tác dụng lớn nhất là dạy học nêu vấn đề Cách dạy học này tạo điều kiện cho giáoviên kết hợp nhiều con đường, phương pháp khác nhau để học sinh phát huy mọikhả năng tư duy sáng tạo và khả năng thực hành của mình vào việc tiếp nhận kiếnthức.[13, tr 107]
II.1.4 Ý nghĩa của việc tích hợp tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử Trước hết, việc tích hợp tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử sẽ giúp học sinh dễ nhớ, dễ khắc sâu kiến thức lịch sử Đây chính là ý nghĩa giáo dưỡng của
việc tích hợp tài liệu văn học Trong một thời lượng có hạn, với nhiều đơn vị kiếnthức cần được hình thành ở các em, nhiều lúc giáo viên chỉ áp dụng biện pháp sưphạm là thông báo Bởi vậy, trong quá trình dạy học, nếu giáo viên biết tích hợp tàiliệu Văn học sẽ rất thuận lợi, vừa đa dạng hóa phương pháp dạy học, vừa nhấnmạnh thêm kiến thức mà học sinh cần ghi nhớ Học sinh sẽ nhớ và hiểu sự kiện lịch
sử hơn nhờ nội dung lịch sử đó được chuyển tải thông qua ngôn ngữ văn học
Mặt khác, tích hợp tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử đúng phương pháp
sẽ có tác dụng tăng thêm hứng thú trong việc học tập, trong nhận thức của học sinh.Điều này đã được rất nhiều giáo viên là đồng nghiệp của tác giả cũng như nhữnggiáo viên là đối tượng thực nghiệm của đề tài khẳng định (xem phần kết quả điều trađối với giáo viên) Tài liệu Văn học với đặc trưng vốn có của nó: giàu nhạc điệu,giàu hình tượng đã tỏ ra rất ưu thế đối với người đọc cũng như người nghe Bảnthân Văn học là cách thức, phương pháp sử dụng ngôn ngữ và hình tượng để phảnánh hiện thực thông qua lăng kính của nhà văn Sau khi tiếp xúc với các sự kiện,con số, nhân vật trong sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên, nếu được thưởng
Trang 10thức một tài liệu Văn học liên quan đến sự kiện lịch sử đang đề cập tới, chẳngnhững việc tiếp thu kiến thức lịch sử sẽ bớt khô khan, được “mềm” hóa rất nhiều
mà không khí giờ học trở nên nhẹ nhàng, học sinh rất hứng thú Học sinh sẽ hiểuđược việc nhận thức lịch sử không chỉ thông qua một con đường, một nguồn tài liệu
Như vậy, sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử góp phần rất đắc
lực trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục bởi dạy sử là “dạy chữ nên dạy người”, góp phần đắc lực thực hiện lời dạy “vì lợi ích trăm năm trồng người” của Bác Hồ
kính yêu
Thứ ba, sử dụng tài liệu Văn học theo hướng phân tích, so sánh, tập hợp các
sự kiện lịch sử … sẽ có tác dụng kích thích học sinh phải động não, góp phần rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy trong học tập; giúp các em hiểu được bản chất của
sự kiện, hiểu được mối quan hệ giữa các sự kiện trong một bài, một chương, giữacác giai đoạn lịch sử Từ đó, rút ra ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi (hoặc thấtbại), bài học kinh nghiệm và quy luật lịch sử Đây là ý nghĩa rất quan trọng củaviệc sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử, góp phần đánh giá mức độ nhậnthức lịch sử của học sinh
II.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
II.2.1 Mục đích điều tra
Tác giả đề tài trực tiếp điều tra thực tế dạy học Lịch sử ở các trường phổthông nói trên để thấy rõ tình hình sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử
Trang 11Việt Nam, từ đó lựa chọn và tập hợp tài liệu tối ưu và đề xuất phương pháp sử dụngtài liệu Văn học một cách hợp lý để đạt hiệu quả mong muốn.
II.2.2 Nội dung điều tra
Đối với giáo viên, kết hợp dự giờ thăm lớp với các phương pháp khác nhưphỏng vấn, hỏi chuyện, trả lời phiếu điều tra, tập trung vào một số vấn đề sau:
- Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết, mục đích sử dụng tài liệu Văn họctrong dạy học lịch sử dân tộc nói chung và dạy học Lịch sử Việt Nam nói riêng
- Tình hình sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử nói chung, dạyhọc Lịch sử dân tộc nói riêng ở trường ta, của cá nhân thầy (cô) cũng như của đồngnghiệp
- Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng tài liệu Văn học trong dạy họcLịch sử
- Phương pháp, cách thức sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sửhiện nay của thầy (cô)
- Ý kiến đề xuất của giáo viên về việc sử dụng tài liệu Văn học trong dạy họcLịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Cũng với cách làm việc như trên, đối với học sinh, chúng tôi tập trung vàomột số vấn đề chủ yếu:
- Thái độ, tinh thần học tập bộ môn Lịch sử nói chung của học sinh ở trường
ta hiện nay (vấn đề 1).
- Nhận thức của học sinh về tài liệu Văn học và vai trò của tài liệu Văn học
trong dạy học Lịch sử (vấn đề 2).
- Mức độ hứng thú và khả năng ghi nhớ của học sinh khi thầy (cô) sử dụng
tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử (vấn đề 3).
- Hiểu biết của học sinh về tài liệu Văn học liên quan đến giai đoạn lịch sử
1930 - 1954 (vấn đề 4).
II.2.3 Kết quả điều tra
Về phía giáo viên:
Về mức độ cần thiết phải sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử dântộc nói chung và dạy học lịch sử Việt Nam nói riêng, có 8/9 giáo viên (chiếm tỷ lệ
Trang 1289%) cho rằng: nếu sử dụng được tài liệu Văn học để dạy học chắc chắn sẽ hiệu quảhơn bởi tài liệu Văn học phản ánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử, sử dụng nó sẽgóp phần làm cho giờ học lịch sử sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh,giúp các em nhận thức bài học lịch sử sâu sắc hơn Một trong số giáo viên đượcphỏng vấn, điều tra cho rằng họ chưa tự tin để sử dụng vì mới ra trường, kinhnghiệm giảng dạy chưa nhiều
Khi được hỏi về phương pháp, cách thức sử dụng tài liệu Văn học trong dạy
học lịch sử dân tộc, có 100% giáo viên trả lời rằng họ sử dụng tài liệu Văn học đểminh họa, cụ thể hóa sự kiện, nhân vật lịch sử nhằm làm cho nội dung bài học hấpdẫn hơn Chưa có giáo viên sử dụng tài liệu Văn học để kiểm tra, đánh giá, haychứng minh một luận điểm khoa học Hai trong số 9 giáo viên được điều tra (chiếm
tỉ lệ 22%) thỉnh thoảng có sử dụng tài liệu Văn học để rút ra nguyên nhân, ý nghĩalịch sử, bài học kinh nghiệm
Với phiếu điều tra Tình hình sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử
Việt Nam hiện nay ở các trường Trung học phổ thông nói trên, có gần 90% giáo
viên được hỏi có sử dụng tài liệu Văn học, nhưng sử dụng không thường xuyên Cụthể, có 3/9 giáo viên (33%) sử dụng thường xuyên và 6/9 giáo viên (66%) thỉnhthoảng có sử dụng tài liệu Văn học
Về nguồn tài liệu tham khảo, điều kiện thư viện của các trường, khi chúng tôihỏi thầy (cô) trong giảng dạy, việc sử dụng tài liệu Văn học đã gặp những khó khăn
và thuận lợi như thế nào? Trong số giáo viên được hỏi, có 5/9 người (56%) cho rằngnhà trường có thư viện và cũng có tài liệu Văn học để tham khảo nhưng không đầy
đủ Nguồn tài liệu Văn học để sử dụng chủ yếu do họ tự sưu tầm Có 2/9 giáo viên(22%) cho rằng nhà trường có tạo điều kiện trong mức độ và hoàn cảnh cụ thểnhưng các tài liệu còn rất nghèo nàn, thư viện còn rất sơ sài Khi được hỏi về thểloại tài liệu Văn học mà thầy cô thường sử dụng khi dạy học, đa số giáo viên trả lờichủ yếu là dùng thể loại thơ Họ cho rằng, sử dụng tài liệu Văn học thể loại vănxuôi phải mất nhiều công sức và thời gian chuẩn bị hơn
Về hình thức tổ chức dạy học, trong số thầy cô được hỏi, có 8/9 giáo viên(89%) trả lời họ sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học nội khóa Đây là một thực
tế phổ biến vì để tổ chức được việc dạy học Lịch sử có sử dụng tài liệu Văn học
Trang 13dưới những hình thức khác còn liên quan đến nhiều yếu tố như kinh phí, quỹ thờigian, sự an toàn….Khi được hỏi tổ bộ môn có đề đạt hình thức dạy học ngoại khóa,
dã ngoại không và lãnh đạo trường có tạo điều kiện không, 2/9 giáo viên (22%)khẳng định là có nhưng các trường hợp này lại rơi vào những trường Trung học phổthông có lãnh đạo là giáo viên dạy Văn hoặc Sử Một vài giáo viên (thường là cán bộĐoàn) khẳng định họ đã nhiều lần sử dụng tài liệu Văn học để tổ chức ngoại khóacho toàn trường hoặc từng khối nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc như ngàythành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, ngày Cách mạng tháng Tám thànhcông 19/08… Nhìn chung, số lượng giáo viên, số lần cũng như hình thức sử dụng tàiliệu Văn học trong dạy học lịch sử chưa thường xuyên, chưa được chú ý với tư cách
là một phương pháp
Với câu hỏi: sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử, thầy (cô) hướngtới mục đích gì ? Có 8/9 giáo viên (89%) trả lời rằng, ý đồ của họ (xuất phát điểm)
là nhằm tăng thêm hứng thú, sự chú ý đối với học sinh, làm cho tiết dạy bớt nặng
nề, đơn điệu Đối với các tiêu chí khác như nhằm phát triển năng lực tư duy, nhằmrút ra bài học, quy luật lịch sử thì đa số giáo viên trả lời là chưa thực sự tính đếnđiều đó Nhìn chung, vấn đề sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học lịch sử ở cáctrường Trung học phổ thông nói trên, ở những giáo viên được điều tra đã được tiếnhành nhưng vẫn còn hạn chế
để chúng tôi giải quyết các vấn đề mang tính lý luận ở chương tiếp theo
Trang 14
III: TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP.
III 1.TƯ LIỆU VĂN HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954
III.1.1 Đặc điểm của khóa trình Lịch sử Việt Nam 1945- 1954 trong chương trình Lịch sử lớp 12 Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Giai đoạn 1945-1954(Từ sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày 21-7-1954).Giai đoạn lịch sử này có những nội dung lớn cơ bản sau.
- Sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong tình hìnhđất nước gặp muôn vàn khó khăn thử thách, nhân dân ta vừa xây dựng chính quyềncách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính, vừa đấu tranhchống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền từ cuối năm 1946, chống thực dânPháp mở rộng cả nước
- Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) tiến hành trong điều kiện nước
ta có độc lập và chính quyền Vì vậy, kháng chiến và kiến quốc là hai nhiệm vụchiến lược của cách mạng nước ta trong thời kì này:
+ Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, và từ năm 1950 chống cả sựcan thiệp của Mĩ, trải qua nhiều giai đoạn với các mốc chiến tháng Việt Bắc - Thu-Đông 1947, chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950, chiến thắng trong Đông - Xuân1953-1954 Điện Biên Phủ là trận chiến thắng quyết định đưa đến kí kết Hiệp địnhGiơnevơ năm 1954 về Đông Dương kết thúc chiến tranh
+ Kiến quốc nhằm xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, phục vụ khángchiến, phục vụ nhân sinh, tạo điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi chiếntranh kết thúc
III.1.2 Phân loại tư liệu Văn học được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
III.2.1 Thể loại văn xuôi
- Văn chính luận là thể văn phân tích, bình luận các vấn đề chính trị, xã hội đương thời Vì vậy, thể loại này mang tính hiện thực rất cao., Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và nhiều tác phẩm khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh Xét về giá trị lịch
Trang 15sử thì đây là những văn kiện, tài liệu gốc trực tiếp liên quan đến sự kiện, xuất hiệnđồng thời với sự kiện lịch sử diễn ra.
- Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại tác phẩm Văn học khai thác về chủ đề
lịch sử, thường đề cập đến những sự kiện, nhân vật tiêu biểu Vì lẽ đó, đây là mộtloại tài liệu tham khảo khá quan trọng, cần khai thác trong dạy học lịch sử Tuynhiên, khi sử dụng, giáo viên phải nắm vững cốt lõi, hiểu đúng sự kiện, hiện tượnglịch sử, không để bị chi phối bởi phần hư cấu của nhà văn Tiêu biểu cho thể loại
này ở giai đoạn lịch sử liên quan là Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc.
- Truyện, ký sự và truyện ký là các thể thể loại phổ biến trong giai đoạn này.
Với chủ trương văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận kháng chiến nên những nhàvăn đồng thời là những chiến sĩ Vệ quốc đã có mặt trên mọi nẻo đường đất nước,trong từng chiến dịch lịch sử, ghi chép (ký) lại mọi khía cạnh của cuộc kháng chiến,kiến quốc Vì vậy, đây là những thể loại có giá trị lịch sử cao
- Hồi ký cách mạng là những ghi chép trên cơ sở nhớ lại những sự việc đã
trải qua của những người trực tiếp tham gia, chứng kiến sự kiện Tác giả là nhữngchiến sĩ cách mạng, thông thường là những nhà lãnh đạo Đây là thể loại có giá trị
lịch sử Tiêu biểu cho thể loại này là những tác phẩm Những năm tháng không thể nào quên, tổng hồi ký Điện Biên Phủ.
- Thư viết trong kháng chiến là một dạng nhật ký của những chiến sĩ Vệ
quốc Đây là những bức thư tác giả viết cho người thân ở hậu phương kể lại chuyệnchiến trường mà mình đã trải qua đồng thời bày tỏ niềm thương nỗi nhớ của chínhmình cũng như khát vọng độc lập, đoàn tụ Đây là những tư liệu quý nằm rải rác ởtrong nhân dân, sau này được các nhà báo, nhà nghiên cứu sưu tầm, biên tập vàcông bố với sự đồng ý của người sở hữu (giống như nhật ký của Đặng Thùy Trâm,Nguyễn Văn Thạc thời chống Mỹ) Vì lẽ đó, loại tài liệu Văn học cũng rất có giá trịnếu khai thác và sử dụng đúng phương pháp
III.1.2 Thể loại thơ, ca
- Thơ Hồ Chủ tịch được viết trong kháng chiến chống Pháp không nhiều
nhưng đã phản ánh rất cô đọng, đầy đủ tinh thần của cuộc kháng chiến “thần thánh”
Trang 16mà Người là kết tinh cao cả Đó là tinh thần chủ động, lạc quan và niềm tin khángchiến nhất định thắng lợi.
- Thơ của các nhà thơ đương thời là một “vườn thơ” hết sức phong phú và
rực rỡ Có thể nói đây là thể loại phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện nhất vềcon người kháng chiến và cuộc sống kháng chiến Các nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận,Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu,
Quang Dũng…đã để lại nhiều bài thơ đặc sắc, trong đó, Việt Bắc của Tố Hữu là một
nhành hoa tươi thắm nhất, là đỉnh cao của dòng văn học kháng chiến chống Pháp
- Ca dao kháng chiến là loại văn vần, chủ yếu bằng thể thơ lục bát khuyết
danh, được sáng tác theo lối tức cảnh Đó là những đóa hoa đồng nội nhiều màu,nhiều vẻ, mùi hương thoang thoảng rất đượm Đó là những “vần thơ báng súng” củaanh bộ đội, là “câu hò tiếp vận” của chị dân công - những viên ngọc quý như lờingợi khen của Hồ Chủ tịch
III.1.4 Bảng thống kê các nhóm tài liệu Văn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954( XEM PHỤ LỤC 2)
III.2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU VĂN HỌC THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954
III 2.1 Sử dụng tài liệu Văn học để xây dựng biểu tượng lịch sử
Xây dựng biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng
là yêu cầu mang tính bắt buộc trong dạy học lịch sử Đặc trưng của bộ môn lịch sửrất có ưu thế trong việc này, đặc biệt càng thuận lợi hơn khi kết hợp với việc sửdụng tài liệu Văn học
Trong giai đoạn lịch sử 1930 -1954 có rất nhiều biểu tượng lịch sử cần phảixây dựng cho học sinh để các em hiểu sâu sắc hơn về một giai đoạn lịch sử oai hùngcủa dân tộc: biểu tượng về một dân tộc Việt Nam đoàn kết, quật khởi trong Cáchmạng tháng Tám 1945, biểu tượng chiến sỹ Cộng sản trong tù, biểu tượng về anh bộđội Cụ Hồ, đặc biệt là biểu tượng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh…v.v…
Khi giảng bài 18 - Những năm dầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1954), tại mục 2 (IV) - Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950,
Trang 17để xây dựng biểu tượng Bác Hồ trực tiếp ra trận để động viên bộ đội và chỉ đạochiến dịch, giáo viên sử dụng những đoạn tài liệu Văn học sau đây:
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người, từng người một.
Sợ cháu mình giật thột,
Bác dón chân nhẹ nhàng.[20, tr 30]
Đồng thời kể cho các em nghe câu chuyện Bác Hồ từ chối đi ngựa ra chiến
dịch để cùng với bộ đội “chống gậy lên non xem trận địa”, dành ngựa để thồ hàng
và chở người đau yếu Khi đó, các em sẽ hiểu và cảm phục, kính yêu vô cùng vịlãnh tụ vĩ đại - người Cha già của dân tộc Việt Nam:
Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ.
Người ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đường đi, từng bước, từng giờ [20, tr 29].
Trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược có rấtnhiều biểu tượng đẹp đẽ được thơ ca khắc họa thành công Chỉ bằng ít câu thơ, biểutượng dân tộc Việt Nam ra trận để đánh đuổi xâm lăng hiện lên một cách hùng vĩ,đầy tính thần thoại nhưng lại rất hiện thực:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp, trùng trùng,
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc những đoàn,
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay [20, tr 312].
Một ví dụ khác, để xây dựng biểu tượng quân và dân Bình-Trị-Thiên “thà
quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950), đoạn tài liệu Văn học sau đây sẽ góp
phần rất đắc lực:
Trang 18“Đêm qua có cuộc họp giữa Ban chỉ huy trung đoàn các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ, tại Xê-ca Bốn để quyết định những vấn đề cấp thiết của chiến khu Hoà Mỹ lúc này Cuộc tấn công bao vây chiến khu của giặc đã bước sang ngày thứ mười hai Trong mười hai ngày qua, cường độ các đợt tấn công của giặc vào núi càng dữ dội Tất cả các đợt tấn công đều
bị quân ta đánh bật ra Quân ta vũ khí ít, quân số không đông, nhưng được rừng cây che phủ, và bọn giặc lại không thông thuộc địa hình, nên Ban chỉ huy trung đoàn tin chắc dù chúng tấn công với lực lượng gấp đôi cũng không thể vào được trong núi Nhưng gay go nhất vẫn là lương thực Ba ngày qua cả chiến khu đều ăn sắn Những lon gạo cuối cùng được vét được vet vét dồn cho bệnh viện với mấy chục thương binh Tỉnh uỷ và Uỷ ban tỉnh đã liên tiếp cử nhiều đoàn cán bộ, đêm bí mật bò qua phòng tuyến địch, vượt sông Ô Lâu, về đồng bằng hai huyện Phong, Quảng huy động lương thực tiếp tế cho chiến khu đang bị bao vây Nhưng bọn giặc bao vây chiến khu rất chặt Không tấn công được vào núi, chúng xoay đổi chiến thuật, vây hãm chiến khu dài ngày, cắt đứt mọi đường tiếp tế từ đồng bằng lên Chiến khu sẽ kiệt lương thực Việt minh tất phải ra hàng, nếu không hàng thì chết đói
Trong mười hai ngày qua, hàng chục đoàn dân công tiếp tế của các xã đồng bằng, gánh gạo, muối lên chiến khu, đã bị bọn địch phục kích tiêu diệt Gạo, muối lẫn với máu và xác người nằm lăn lóc trên đường từ đồng bằng lên núi Nhưng nhân dân các huyện đồng bằng vẫn gan góc, quyết liều thân với giặc để cứu chiến khu Đoàn tiếp tế này vừa ngã xuống, xác vừa được mang
về chưa kịp chôn cất, đoàn tiếp tế khác đã hăm hở lên đướng Nhiều đoàn
đã phải đi một quãng đường dài gấp năm, gấp bảy đường chính, với hy vọng lọt được qua vòng vây giặc Họ băng qua Quảng Trị, vòng lên núi xanh, rồi từ núi xanh quặt trở lại Hoà Mỹ.” [25, tr 755]
Cũng là câu chuyện về việc người thương binh Bùi Xuân Tảo bị thương gãychân khi tấn công tiểu đội Âu Phi tại Biên Hòa (Đồng Nai) ngày 01 tháng 01 năm
1946, phải cắt chân bằng biện pháp thủ công trên chiến trường do không có thuốcgây mê, dưới ngòi bút của nhà thơ, người đọc, người nghe phải rơi nước mắt:
Trang 19“Bác sĩ đang cưa chân
một thương binh bằng cưa thợ mộc.
Bác sĩ vừa cưa, vừa khóc,
Chị cứu thương nước mắt tràn trề.
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre,
Người chiễn sĩ vẫn mải mê hát.
Cưa cứ cưa, xương cứ đứt,
Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng.
Hai tay anh siết chặt đôi hông,
Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát
Đoàn quân Việt Nam đi,
Chung lòng cứu quốc” [18, tr 176-177].
Ngoài ra, có rất nhiều biểu tượng lịch sử đẹp đẽ, hùng tráng trong giai đoạnlịch sử này mà giáo viên có thể xây dựng cho học sinh thông qua việc sử dụng tàiliệu Văn học như biểu tượng về chiến sĩ Cộng sản bất khuất, kiên cường đấu tranhtrong chốn lao tù, biểu tượng anh Vệ quốc quân, biểu tượng Chiến sĩ Điện Biên,biểu tượng chiến khu Việt Bắc…
III.2.2 Sử dụng tài liệu Văn học để nêu câu hỏi, bài tập nhận thức
Trong mỗi tiết học, bài học, việc xác định nhiệm vụ nhận thức có ý nghĩa cực
kì quan trọng mang tính quyết định đối với hiệu quả của nó Mục đích của việc nêunhiệm vụ nhận thức là giúp học sinh ý thức được những vấn đề cơ bản nhất cần phảihiểu và nắm chắc của bài sắp học, tức là đặt ra ngay từ đầu nhiệm vụ để học sinhhình dung trước những sự kiện và hiện tượng lịch sử cơ bản, then chốt của bài học
Thông thường, nhiệm vụ nhận thức được giáo viên nêu lên bằng một hoặcvài câu hỏi trước khi vào dạy bài mới để kích thích tư duy của học sinh, giúp các emsuy nghĩ, tập trung vào những nhiệm vụ cốt lõi Quá trình của bài học diễn ra nhằmgiải quyết những nhiệm vụ nhận thức đã được đặt ra Cuối tiết học, học sinh trả lờiđược những câu hỏi đó là bài học đã đạt kết quả
Ngoài ra, đối với loại bài tập về nhà, giáo viên có thể hướng dẫn cho họcsinh sưu tầm những tài liệu Văn học về một số giai đoạn hoặc một số chủ đề lịch sử
Trang 20như thơ văn viết về Bác Hồ, thơ văn của Bác viết về lịch sử … Làm được điều này,chẳng những học sinh sẽ tự mình bổ sung thêm những hiểu biết về văn học, về lịch
sử mà các em còn được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
III.2.3 Sử dụng tài liệu Văn học để khái quát, rút ra bài học lịch sử
Rút ra bài học lịch sử là một đích đến của người dạy và học lịch sử Quátrình nhận thức, tiếp cận chân lý là quá trình “từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng; từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Trước hết, chúng ta cần phải nhậnthức rằng: “Học tập lịch sử phải đạt đến trình độ nắm quy luật và ý nghĩa thực tiễncủa việc học lịch sử là biết vận dụng những bài học của quá khứ trong cuộc sốnghiện tại Công việc này cũng là một bộ phận quan trọng của việc phát triển tư duy
và năng lực” [13, tr 168]
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều bài học sâu sắc quý báu, đã được các nhànghiên cứu tổng kết và đúc rút ra, có sẵn trong tài liệu lịch sử, trong sách giáo khoa.Tuy nhiên, nhiệm vụ của người giáo viên không phải là thông báo cho học sinhnhững quy luật, bài học lịch sử đó, vì như thế, các em sẽ không hiểu được mối liên
hệ bên trong, bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Với cách dạy học này, quyluật, bài học lịch sử mà các em được nghe chỉ là một sự áp đặt, giáo điều, nhồi sọnhư nhà giáo dục người Đức Disterverg đã khẳng định: người giáo viên tồi truyềnđạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm chân lý [13 tr 255] Mặt khác, sáchgiáo khoa hiện nay được viết theo hướng giảm rất nhiều phần kết luận khái quát Vìvậy, việc giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh rút ra bài học, nêu quy luật… làmột yêu cầu không thể thiếu
Không phải tài liệu Văn học nào cũng có thể sử dụng để rút ra bài học lịch sửđược Điều này đòi hỏi giáo viên cần phải đầu tư nhiều công sức trong việc lựa chọntài liệu Văn học
Để giúp học sinh rút ra được bài học: nhân dân ta có lòng yêu nước nồngnàn, mỗi khi có giặc ngoại xâm thì tinh thần yêu nước ấy kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước (lời Hồ Chủ tịch),
giáo viên đọc cho học sinh nghe đoạn thơ trích trong bài “Đất nước” của Nguyễn
Đình Thi viết trong kháng chiến chống Pháp:
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trang 21Trời đầy chim và đất đầy hoa,
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước, thương nhà [20, tr 33].
Để giúp học sinh rút ra chân lý: toàn dân và toàn quân đoàn kết một lòng,quyết tâm kháng chiến cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thì nhất định sẽ thắnglợi, giáo viên có thể cung cấp cho các em tài liệu Văn học:
Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Sức ta đã mạnh Người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập nhất định thành công [20, tr 19].
III.2.4 Sử dụng tài liệu Văn học để tổ chức học tập theo nhóm.
Làm việc theo nhóm trong học tập (ở trên lớp) là phương pháp học tập tươngđối mới ở nước ta, đã và đang được áp dụng rộng rãi đồng thời thể hiện được tính
ưu việt của nó Cách dạy học này phát huy được tính tích cực, hợp tác sáng tạotrong học tập của học sinh Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nhiều vấn đề liên quanđến giáo dục còn tồn tại nhiều bất cập (như mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thứcnhiều, yêu cầu giáo dục cao với thời lượng dạy học có hạn) thì phương pháp làmviệc theo nhóm tỏ ra rất thích hợp Làm việc theo nhóm trong giờ học là một cách tổchức dạy học yêu cầu học sinh phải nỗ lực lớn, cố gắng suy nghĩ để nêu ra được ýkiến của mình trên cơ sở học sinh đã nghiên cứu sách giáo khoa, nghiên cứu tài liệuVăn học đã được giáo viên cung cấp Cách làm này giúp học sinh độc lập suy nghĩ,tập cho các em tìm tòi nghiên cứu và tập diễn đạt suy nghĩ của cá nhân Mặt khác,trong trường hợp chưa đạt được sự thống nhất, các em sẽ trao đổi hoặc tranh luậnvới nhau về những ý kiến chưa thống nhất Từ đó mà các em biết bảo vệ ý kiếnriêng của mình, không lệ thuộc vào suy nghĩ của bạn Đó cũng là cách góp phầnhình thành ở thế hệ trẻ lòng tự tin trong học tập
Trang 22Sử dụng tài liệu Văn học để học tập theo nhóm trong dạy học lịch sử có thểthực hiện bằng nhiều cách Theo chúng tôi, cách phổ biến và hiệu quả là kết hợp vớiphương pháp đặt câu hỏi cho học sinh thảo luận.
Ví dụ, để làm cho học sinh hiểu rõ thêm đường lối kháng chiến chống Phápcủa đảng ta, giáo viên chia lớp thành một số nhóm học tập (khoảng 4 đến 5 nhóm,theo tổ học tập hoặc dãy bàn) Trước hết, giáo viên cung cấp cho học sinh phiếu tài
liệu Văn học toàn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch:
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.
Không chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ ai là người Việt nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến! Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.
Việt nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm! [21, tr 135].
Tiếp theo, giáo viên đặt ra một số câu hỏi và yêu cầu các em làm việctheo nhóm:
1 Liệu chúng ta có thể tiếp tục nhân nhượng nữa không? Nếu nhân nhượngtiếp (đáp ứng tối hậu thư của Pháp ngày 18 tháng 12 năm 1946) thì điều gì xảy xa?
Trang 232 Đường lối kháng chiến của ta được thể hiện trong đoạn tư liệu là đường lốinhư thế nào?
3 Tại sao chúng ta phải thực hiện đường lối đó?
4 Thực hiện đường lối trên, chúng ta có cơ sở để tin rằng: cuộc kháng chiếnnhất định thắng lợi Tại sao?
Mỗi nhóm sẽ thảo luận, trao đổi trong vòng 5 đến 7 phút, sau đó cử đại diệnnhóm trả lời Giáo viên căn cứ vào kết quả làm việc của các em, vừa uốn nắn vừacủng cố bằng những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để đi đến câu trả lời hoàn thiện
3.2.5 Tổ chức trò chơi lịch sử từ tài liệu Văn học.
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân củamình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kíchthích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của người học Học tập thôngqua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn
Trò chơi học tập khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luậtchơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưngchúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị (chơi là phương tiện,học là mục đích) Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng,
tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳngcho học sinh
Qua trò chơi học tập, người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri thức,nhiều khái niệm và hình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện tượngxung quanh
Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khác nhau
mà không có chủ định từ trước Mặt khác, trò chơi học tập còn giúp người học cảmnhận được một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tính tíchcực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học
Trong dạy học chính khóa, giáo viên cũng có thể sử dụng tài liệu Văn học để
tổ chức trò chơi lịch sử Đối với những bài học, tiết học tổng kết cuối một khóatrình lịch sử, mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng quy định phải hệ thống, khái quátlại cho học sinh những kiến thức đã học Với loại bài học này, nếu giáo viên không
Trang 24có sự sáng tạo trong việc chuẩn bị giáo án, tổ chức phương án dạy học thì rất dễ gâynhàm chán cho học sinh
Ví dụ, khi dạy bài 20, Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954), ở tiết học thứ 2 (tiết 34 PPCT), giáo viên có thể tổ chức một
số trò chơi lịch sử trong giờ học để làm cho tiết học sinh động, hứng thú hơn nhưngvẫn đảm bảo tốt mục tiêu, nhiệm vụ bài học Đây là tiết học cung cấp những kiếnthức mang tính khái quát như: nguyên thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc khángchiến chống Pháp Về phần này, giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà tự học trongsách giáo khoa Để cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, giáo viên giành thời gian tổ chứccho học sinh tham gia một số trò chơi Để làm được điều này, giáo viên phải chuẩn
bị kỹ trước ở nhà
Trước hết là trò chơi có tên gọi Đi tìm nhân vật, sự kiện.
Cách chơi: Giáo viên chuẩn bị ở nhà một số phiếu tài liệu Văn học liên quanđến những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu giai đoạn kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược 1946-1954 Giáo viên chia lớp ra thành 2 đội (theo dãy bàn học),quy ước là đội A và đội B Mỗi đội có 01 đội trưởng Giáo viên trực tiếp tham gialàm người quản trò
Luật chơi: Học sinh ngồi yên lặng, tập trung nghe người quản trò đọc 1 tàiliệu Văn học Nếu có điều kiện thì dùng đèn chiếu cho học sinh xem Giáo viên yêucầu học sinh không được sử dụng tài liệu Ai vi phạm sẽ mất quyền chơi và đội bịtrừ 05 điểm Sau khi đọc xong, giáo viên nêu câu hỏi Học sinh của 2 đội chú ýnghe để bấm chuông giành quyền trả lời Mỗi câu trả lời đúng được tính 10 điểm.Nếu đội này trả lời sai thì đội còn lại được quyền trả lời tiếp Đến khi xong trò chơi,đội nào giành nhiều điểm hơn là chiến thắng Để thêm phần hấp dẫn, giáo viên cóthể mua một số bút viết làm phần thưởng cho đội thắng
Bắt đầu trò chơi:
Giáo viên cung cấp phiếu tài liệu Văn học sau:
“Sông Lô đầy xác.
Ngày 10 tháng 11 năm 1947, bộ đội Pháp kéo xuống sông Gâm Bên thủy thì do quan tư Kergaravat và Petit chỉ huy Bê bộ thì do quan ba Bruneau lãnh đạo.
Trang 25Bộ đội Pháp đang nghênh ngang kéo đi đến ngã ba sông Lô thì bất thình lình đại bác, bazoka, súng máy, súng trường, lựu đạn ta bắn vào Tiếng đạn lẫn tiếng reo làm vang trời chuyển đất.
Kết quả, trận phục kích này Pháp bị đắm hai thuyền, ba tàu bị hỏng, hơn
350 quan và lính chết đạn, chết cháy và chết trôi.
Từ hai giờ trưa đến ba giờ sáng lửa cháy vùn vụt, xác nổi lềnh bềnh hơn một cây số trên sông Lô Đến nỗi nước sông thối máy ngày không dùng được.”[16, tr 75].
Và đưa ra một số câu hỏi:
1 Trận đánh trên diễn ra ở địa phương nào (huyện, tỉnh)?
2 Trận đánh trên thuộc chiến dịch nào?
3 Chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947 do ta hay địch chủ động tấn công?
4 Ý nghĩa của chiến thắng Việt Bắc thu-đông 1947?
Tiếp theo, giáo viên cung cấp phiếu tài liệu văn học khác:
“Chống gậy lên non xem trận địa,
“Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.
“Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu đẩu,
“Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy” .”[16, tr 91].
Và câu hỏi kèm theo:
1.Bài thơ trên nói về sự kiện gì?
2.Ai là tác giả bài thơ trên?
3.Ai “Chống gậy lên non xem trận địa”?
4.Chiến dịch Biên giới thu-đông 1950 do ta hay địch chủ động tấn công?5.Ý nghĩa của chiến thắng Biên giới thu-đông 1950
Tương tự như vậy, giáo viên cung cấp phiếu tài liệu văn học và đạt câuhỏi về các sự kiện tiêu biểu khác Việc học sinh tham gia trả lời các câu hỏi giúpcho cả lớp ôn lại những kiến thức cơ bản đã học Học sinh có 45 phút vừa họcvừa chơi rất học thú vị Giáo viên có điều kiện kiểm tra việc lĩnh hội kiến thứclịch sử của các em
Trang 26Ngoài ra, tùy vào sự chuẩn bị của mình, giáo viên có thể đua ra nhiều tròchơi bổ ích khác.
3.2.6 Sử dụng tài liệu Văn học để kiểm tra, đánh giá học sinh.
Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng khép lại một quá trình dạy học và
mở ra quá trình dạy học mới cao hơn Kiểm tra, đánh giá không phải lúc nào cũngthực hiện một cách máy móc là yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi trong sách giáokhoa hoặc từ ngân hàng đề sẵn có vì như vậy sẽ dễ lặp lại, nhàm chán Chủ trươngđổi mới kiểm tra, đánh giá cả về nội dung cũng như hình thức hiện nay cho phépngười giáo viên linh hoạt, sáng tạo hơn Đối với biện pháp này, chúng tôi thiên vềviệc kiểm tra, đánh giá khả năng tiếp thu, hiểu nội dung lịch sử của học sinh trênlớp ( để phân biệt với biện pháp nêu câu hỏi và bài tập nhận thức)
Sử dụng tài liệu Văn học để kiểm tra, đánh giá học sinh trong dạy học lịch sử
cũng là một biện pháp thú vị và có hiệu quả Ví dụ, khi dạy bài 18 - Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1946-1950 ), để làm
rõ hơn về cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở các đô thị, chủ yếu là ở Hà Nội, giúpcác em có cái nhìn đầy đủ về sự kiện này, giáo viên có thể cung cấp cho các emđoạn tư liệu:
“Những con đường mới xuất hiện trong lòng các ngôi nhà với những bức tường đục xuyên thông Sân thượng, bao lơn, cửa sổ trở thành những vị trí bắn Tường nhà được khoét làm lỗ châu mai Nền nhà được đào lên làm
hố chiến đấu và nơi ẩn nấp Các gia đình nhắm trước những đồ đạc để khi cần là tung ngay ra mặt đường lập thành những chiến lũy cản địch Đồng bào trong liên khu chuẩn bị ba tháng lương ăn…Những ụ đất với những cột gỗ, thanh sắt tua tủa dựng lên ở nhiều nơi trong thành phố…Các đội quân quyết tử tổ chức lễ tuyên thệ, nhận vũ khí, sẵn sàng làm nhiệm vụ các chiến sĩ này sẽ ôm bom ba càng lao vào xe tăng, bọc thép của địch… Các cây to dọc hè phố đã được khoan lỗ đặt mìn Công nhân xe lửa và xe điện chuẩn bị sẵn những toa xe khi cần sẽ đánh đổ bít kín những con đường vẫn còn để chừa cho quân Pháp qua lại”[10, tr 402-403].
Tiếp đó, giáo viên cho học sinh xem một số tranh, ảnh về cuộc chiến đấu củaquân và dân ta ở Hà Nội, về những chiến sĩ cảm tử ôm bom ba càng lao vào xe tăng,
Trang 27xe bọc thép của địch, về cuộc chuẩn bị hết sức tự nguyện, khẩn trương của nhân dân
Hà Nội…Nếu có điều kiện, chiếu cho các em xem một số đoạn phim tư liệu về sựkiện này Sau cùng, giáo viên đưa ra một số câu hỏi: Tại sao nhân dân Hà Nội lạisẵn sàng và tự nguyện hi sinh của cải và xương máu của mình để chiến đấu? Cáchđánh của nhân dân ta ở các đô thị độc đáo ở chỗ nào? Cuộc chiến đấu này nhằmmục đích gì? Dạy về sự kiện này theo hướng nói trên tức là giáo viên đã kết hợpmột lúc nhiều phương pháp dạy học Học sinh sẽ hiểu được bản chất của vấn đề: sự
hi sinh của quân và dân ta là vì nền độc lập dân tộc, là “quyết tử cho Tổ quốc quyếtsinh” Cách đánh của ta vô cùng độc đáo là tạo nên những “mê cung”, những “trận
đồ bát quái” ngay trong lòng thành phố làm cho kẻ thù mạnh hơn ta về vũ khí phảibất ngờ để ta tiêu hao sinh lực địch Cách đánh này giúp chúng ta hoàn thành nhiệm
vụ cầm chân địch, làm chậm bước tiến hành quân của chúng để ta có điều kiện sơtán người và của về vùng nông thôn, rừng núi, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâudài Như vậy, trong khi sử dụng tài liệu Văn học, giáo viên đã kết hợp nhiều phươngpháp, thao tác sư phạm như sử dụng đồ dùng trực quan, nêu câu hỏi nhận thức, giảithích…Với cách dạy này, chẳng những học sinh sẽ hiểu được một cách cụ thể, sốngđộng về cuộc chiến đấu anh dũng, sáng tạo của quân và dân ta trong các đô thị, nhất
là ở Hà Nội mà còn hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng ta,làm nền tảng để tiếp thu tốt kiến thức ở những bài tiếp theo
Trang 28IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI (Thực nghiệm sư phạm)
IV.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm
Kết hợp với kết quả điều tra xã hội học đã có, thực nghiệm sư phạm vớinhững phép toán thống kê chính xác, giúp tác giả có căn cứ để kiểm chứng những
vấn đề lý luận đã đề xuất xung quanh vấn đề Tích hợp tư liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 để có kết luận về tính khả thi của đề tài.
IV.2 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là bước tiếp tục của công tác điều tra bằng dự giờthăm lớp, xử lý phiếu điều tra Để đảm bảo độ tin cậy cao, trước khi lấy kết quả,chúng tôi giành cho giáo viên một thời gian khá dài để nghiên cứu giáo án thựcnghiệm và tài liệu Văn học và dạy một số tiết ở một số lớp theo những giáo án này
để thầy và trò làm quen trước Sau đó, chúng tôi chọn lựa đối tượng thực nghiệm,tiến hành các tiết dạy chính thức để lấy kết quả Việc chấm điểm cũng được tiếnhành một cách sức khách quan, khoa học Bằng phương pháp thống kê toán học, kếtquả thực nghiệm và đối chứng được xử lý để có số liệu cuối cùng
* Đối tượng thực nghiệm
- Về phía giáo viên, chúng tôi mời những thầy, cô dạy lớp thực nghiệm cũngnhư lớp đối chứng là những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy và trực tiếp giảngdạy lớp 12 từ 5 năm trở lên
- Đối với học sinh, chúng tôi chọn các lớp đối chứng cũng như thực nghiệm
có mặt bằng chung nhất có thể Đó là học sinh các lớp 12 của trường THPT PhướcThiền
* Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi chọn 1 bài thuộc giai đoạn 1945-1954 để thực nghiệm:
Bài 18 - Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1954).
* Kết quả thực nghiệm
- Điểm trung bình cộng kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm: