Bởi vậy, sức khỏe là điều kiện tiênquyết định để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền trí tài tríthức vào hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, để biến tri th
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường đại học Kinh tế quốc dân,Khoa sau đại học, Khoa Kinh tế chính trị, các đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu trong vàngoài nước… đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS , người đã tận tâmhướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện, do hạn chế về lý luận và kinh nghiệm thu được cũng
do thời gian nghiên cứu eo hẹp, luận văn không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mongnhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo và các bạnđồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 5
1.1 Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 5
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực con người 5
1.1.2 Phát triển nguồn lực con người 7
1.2 Khái niệm và các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 9
1.2.1 Khái niệm chung và những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.9 1.2.1.1 Khái niệm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững 9
1.2.1.2 Những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững 11
1.2.2 Các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 14
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 17
1.4 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 20
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 20
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 21
1.4.3 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á 23
1.4.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 25
CHƯƠNG 2 28
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 28
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 28
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới 28
2.2 Thực trạng nguồn lực con người của Việt Nam 40
2.2.1 Thực trạng về thể chất, về trình độ văn hóa và kỹ thuật chuyên môn 40
2.2.2 Chỉ số HDI của người Việt Nam 47
2.2.3 So sánh năng lực của con người Việt Nam với các quốc gia khác 48
2.3.2 Phát huy năng lực, đãi ngộ và tôn vinh người tài 53
CHƯƠNG 3 56
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 56
NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 56
3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 56
Trang 33.2 Quan điểm định hướng về phát triển kinh tế - xã hội bền vững và định vị nguồn lực conngười đối với phát triển kinh tế - xã hội 573.2.1 Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội 573.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với phát triển con người Việt Nam theo mục tiêu “Tất cả vì con người, vì hạnh phúc, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên” 593.2.3 Đào tạo và phát triển nguồn lực con người phải tính đến xu hướng hội nhập quốc tế
và sớm tiếp cận kinh tế tri thức 613.3 Giải pháp phát triển nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 623.3.1 Giải pháp nâng cao thể chất con người Việt Nam 623.3.2 Nhóm giải pháp về phân bổ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 633.3.3 Nhóm giải pháp về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo con người 723.3.4 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội (ASXH) 84
Trang 4CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 51.1 Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 5
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực con người 5
1.1.2 Phát triển nguồn lực con người 7
1.2 Khái niệm và các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 9
1.2.1 Khái niệm chung và những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.9 1.2.1.1 Khái niệm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững 9
1.2.1.2 Những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững 11
1.2.2 Các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 14
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 17
1.4 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 20
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 20
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 21
1.4.3 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á 23
1.4.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 25
CHƯƠNG 2 28
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 28
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 28
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới 28
2.2 Thực trạng nguồn lực con người của Việt Nam 40
2.2.1 Thực trạng về thể chất, về trình độ văn hóa và kỹ thuật chuyên môn 40
2.2.2 Chỉ số HDI của người Việt Nam 47
2.2.3 So sánh năng lực của con người Việt Nam với các quốc gia khác 48
2.3.2 Phát huy năng lực, đãi ngộ và tôn vinh người tài 53
CHƯƠNG 3 56
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 56
NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 56
3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 56
3.2 Quan điểm định hướng về phát triển kinh tế - xã hội bền vững và định vị nguồn lực con người đối với phát triển kinh tế - xã hội 57
3.2.1 Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội 57
Trang 63.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với phát triển con người Việt Nam theo mục tiêu “Tất cả vì con người, vì hạnh phúc, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên” 593.2.3 Đào tạo và phát triển nguồn lực con người phải tính đến xu hướng hội nhập quốc tế
và sớm tiếp cận kinh tế tri thức 613.3 Giải pháp phát triển nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 623.3.1 Giải pháp nâng cao thể chất con người Việt Nam 623.3.2 Nhóm giải pháp về phân bổ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 633.3.2.1 Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu phân bổ nguồn nhân lực, cơ cấu nghề nghiệp và phân công lao động xã hội phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 653.3.2.1 Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu phân bổ nguồn nhân lực, cơ cấu nghề nghiệp và phân công lao động xã hội phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 653.3.2.2 Đổi mới phương pháp đánh giá con người và sử dụng con người nhằm phát huy cao hiệu quả năng lực thành công của họ 673.3.3 Nhóm giải pháp về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo con người 723.3.3.1 Nâng cấp và hiện đại hóa từng bước hệ thống các trường từ mầm non đến đại học, trung tâm và các viện nghiên cứu 763.3.3.2 Thực hiện một cuộc “Cách mạng học tập” để nâng cao chất lượng đào tạo ngangtầm khu vực và thế giới 773.3.3.3 Xây dựng và hoàn thiện mô hình “Xã hội học tập” ở Việt Nam 783.3.3.4 Thực hiện đồng thời xã hội hóa giáo dục với quốc tế hóa giáo dục; đề cao vai tròcủa nhà nước trong giáo dục 803.3.4 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội (ASXH) 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là những năm gần đây, nguồn lực con người vớiphát triển kinh tế - xã hội bền vững đã được nhiều giới quan tâm nghiên cứu
Từ thế kỷ XVIII, Adam Smith đã xây dựng lý thuyết về vai trò của con ngườitrong hoạt động kinh tế và được phổ biến từ những năm 70/XX qua các công trình củaTheodor Schultz (giải thưởng Nobel năm 1972) và Gary Becker (giải thưởng Nobelnăm 1992) – con người được chứng minh là một trong những nguồn lực chính của sựphát triển Theo kết quả khảo sát 192 nước do Ngân hàng Thế giới tiến hành, chỉ có16% mức gia tăng của các nền kinh tế chuyển đổi là do vốn vật chất tạo thành; 20% là
do vốn tự nhiên; còn tới 64% là gắn với con người và xã hội Điều này cũng đượcTemple và Johnson (năm 1998) chứng minh khi phát hiện ra tốc độ tăng trưởng củathu nhập bình quân đầu người và năng suất tổng hợp có mối quan hệ chặt chẽ với xãhội ban đầu (Initial Social Capital)
Sang thế kỷ XXI là thời đại kinh tế tri thức Tri thức, với tư cách là yếu tố sảnxuất độc đáo sẽ thay thế đất đai, tài nguyên… Tri thức với tư cách là nguồn tài nguyênchủ chốt, sẽ thay đổi về cơ bản kết cấu xã hội, sáng tạo ra động lực phát triển mới,đồng thời thông qua sự chuyển hóa hiện thực của các cá thể, sự thay đổi tiến trình của
sự sống Nền kinh tế tri thức sẽ làm cho tiền vốn, kỹ thuật và nhân tài lưu động cựcnhanh, đồng thời cũng đề ra những tiêu chuẩn mới đối với nhân tài
Vấn đề nguồn lực con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm từlâu Ngay từ đại hội III, con người đã được coi là nguồn vốn quý nhất Đại hội VII tiếptục khẳng định: nguồn lực lớn nhất, quý nhất của chúng ta là tiềm lực con người ViệtNam Tại đại hội VIII, vai trò quyết định của con người trong phát triển kinh tế - xãhội được đề cao: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sựphát triển nhanh và bền vững” Quan điểm này tiếp tục khẳng định tại Đại hội IX vàĐại hội X
Thành tựu của hai thập kỷ đổi mới ở Việt Nam được đánh giá là kết quả của cảnhững nhân tố phi vật chất, nguồn lực con người, văn hóa, xã hội… Trong điều kiện
Trang 8toàn cầu hóa hiện nay, việc Việt Nam gia nhập WTO đòi hỏi phải có những nỗ lực lớn
để tham gia sau rộng vào sân chơi chung của thế giới Nghiên cứu, khai thác, phát huynguồn lực con người nhằm thể hiện vai trò của chúng vừa là thành tố, vừa là mục tiêu
và động lực của sự phát triển, cần được xem là một hướng đi đúng đắn Những tiếpcận đa dạng về vấn đề này cũng như việc sử dụng nguồn lực con người trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia trên thế giới sẽ là cơ sở lý luận và thựctiễn cho những định hướng và giải pháp mang tính nguyên tắc đối với Việt Nam
Xuất phát từ ý nghĩa trên, tác giả đã lựa chọn để tài: “Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam”.
Nêu những gợi mở ban đầu về việc đào tạo, nghiên cứu sử dụng hiệu quả vàđầu tư hợp lý cho con người để phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam trongthời kỳ 2011 – 2020
3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận dụngphương pháp trừu tượng hóa kết hợp với phương pháp hệ thống, logic và lịch sử, phântích và tổng hợp
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một sốcông trình liên quan; phỏng vấn các nhà khoa học, các chuyên gia về xã hội học, vềnhân chủng học…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động của con người (theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng) thông qua
sự vận dụng những năng lực hữu dụng hiện có và tiềm tàng của họ nhằm tác động vàoquá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững
- Phạm vi: Đề tài nghiên cứu thực trạng về việc sử dụng và đào tạo con ngườinhằm phát huy những năng lực hữu dụng của họ trong phát triển kinh tế - xã hội ở ViệtNam trong thời kỳ đổi mới; từ đó, nêu những định hướng và những giải pháp đào tạo,
Trang 9nghiên cứu và sử dụng có hiệu quả và đầu tư hợp lý cho nguồn lực con người ViệtNam trong giai đoạn 2011 – 2020.
5 Tổng quan nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trên thế giới
Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững đã thu hút được
sự quan tâm của nhiều nhà học giả và tổ chức quốc tế
- Coleman phân chia vốn thành ba loại: vốn vật thể (tài chính, cơ sở hạ tầng,trang thiết bị…), con người (trình độ đào tạo, kiến thức thu nạp, kỹ năng…) và xã hội(sự tin cậy, chuẩn mực hành vi, ứng xử cá nhân, sự trừng phạt) Theo ông, xã hội tồntại trong gia đình và trong cộng đồng, ở dạng cụ thể hoặc tiềm ẩn, có thể chuyển hóasang vốn kinh tế (khi nó mang tính hàng hóa công) và có thể được tăng thêm giá trị do
nỗ lực cá nhân
- F.Fukuyama cho rằng có sự tương tác giữa con người và xã hội: con người có
thể làm tăng xã hội Trong Social and Development The Coming Agenda, Fracis
Fukuyama đã phân tích mối tương quan giữa xã hội và phát triển, giữa xã hội và chínhsách, cùng những minh chứng, những kết quả cụ thể việc sử dụng con người và xã hội
ở một số nước tiêu biểu
- Trong Trust, Social Capital, and Economic Development Journal of the European
Economic Association, Patrick Fracois và Jan Zabojnik làm rõ mối tương tác giữa con
người với phát triển kinh tế, nêu nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau giữa những quốc gianghèo, hiệu quả kinh tế thấp và những quốc gia giầu, hiệu quả kinh tế cao
Trong nước
Ở Việt Nam, đóng góp to lớn của sức dân trong quá trình xây dựng và phát triểnđất nước thể hiện rất rõ qua nhiều giai đoạn lịch sử Song việc nhìn nhận sức dân dướitrạng thái nguồn lực con người cũng như đánh giá vai trò của con người trong pháttriển kinh tế - xã hội bền vững mới chỉ được nghiên cứu và bước đầu ứng dụng rộngrãi trong thời gian gần đây
Trong cuốn Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nguyễn Hữu
Dũng đề cập tới khái niệm con người và quy nguồn nhân lực thành con người Tương
tự, cuốn Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 10hóa của Phạm Minh Hạc giới thiệu những khái niệm con người; và dựa trên những
định nghĩa, ông mở rộng nội hàm thuật ngữ con người
Dưới đây là một số công trình, bài viết đề cập tới nguồn lực con người trongphát triển kinh tế - xã hội đã được xuất bản ở Việt Nam:
- Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia 2001.
- Phạm Minh Hạc – chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước, mã số KX07, Con người Việt
Nam – Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội.
- Nguyễn Hữu Dũng, Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, NXB
Lao động Xã hội, 2003
- Vũ Khiêu – Thành Duy, Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt
Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2000.
- Hồ Sĩ Quý – chủ biên, Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong phát triển
xã hội, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2001.
- Nguyễn Đức Khiển, Con người và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, NXB
Lao động Xã hội, 2003
- Nguyễn Minh Tú, Tô Đình Thái, Các chính sách huy động và phân bổ nguồn
lực cho phát triển kinh tế của Nhật Bản, NXB Chính trị Quốc gia, 1996.
- Trung tâm thông tin tư liệu, CIEM, Phát triển con người và phát triển nguồn
lực, 2007
Những công trình trên là những tài liệu tham khảo quý giá về lý luận và thựctiễn của đề tài
6 Cấu trúc bài luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực con người trong phát triển
kinh tế - xã hội bền vững
Chương 2: Thực trạng tác động của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế
- xã hội ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp sử dụng và đào tạo nguồn lực con người nhằm phát
triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG
Nhận thức đúng về nguồn lực con người gắn liền với sự nhận thức đúng về pháttriển kinh tế - xã hội bền vững đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ con ngườimột cách toàn diện: trí, đức, thể, mỹ
1.1 Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực con người
Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng cùng nghĩa với khái niệm
nguồn lực con người vì đều được dịch từ cụm tiếng Anh Human Resourses Các khái
niệm này được sử dụng từ những năm 60/XX ở các nước phương Tây và một số nướcchâu Á; giờ đây đã thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trícủa nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, các khái niệmnày được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 90 tới nay
Khái niệm về nguồn nhân lực hay nguồn lực con người khá đa dạng, được đềcập từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đến nay chưa có một tài liệu chính thức nào
về khái niệm nguồn lực hay nguồn lực con người
Trong lý thuyết về Lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sảnxuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của lực lượng sảnxuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ
xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xãhội
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như mộtphương tiện chủ yếu, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của sản xuất và dịch vụ
Trong lý luận về vốn, con người được đề cập như một loại vốn, một thành tố cơbản, tất yếu của quá trình sản xuất kinh doanh Với cách tiếp cận này, Ngân hàng Thếgiới cho rằng: “Nguồn lực con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực,
kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu” Như vậy, nguồn lực con người ở đây
Trang 12được coi như là một nguồn vốn bên cạch các loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốncông nghệ, tài nguyên, thiên nhiên…
Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự và cho rằng: “Nguồn nhân lực làtất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người liên quan tới sự phát triểncủa mỗi cá nhân và của đất nước” Quan niệm này được xem xét nguồn lực con ngườichủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sựphát triển của kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, giáo sư tiến sĩ Phạm Minh Hạc – Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nướcmang mã số KX-07, cho rằng: “Nguồn lực con người cần được hiểu là dân số và chấtlượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực vàphẩm chất”
Trong dịp gặp các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học – công nghệ các tỉnh,thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định: “Nguồn lực con người baogồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyển thống của dân tộc ta”
Do nghiên cứu nguồn nhân lực xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên
có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng nhìn chung, các khái niệm
đó đều thống nhất về nội dung cơ bản là: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức laođộng cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự pháttriển kinh tế - xã hội”
Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực, trước hết cần phải hiểu đó là toàn bộnhững người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xãhội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn
bộ quá trình đó, hướng tới mục tiêu đã được lựa chọn Do vậy, nguồn nhân lực khôngchỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm một tổng thể cácyếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc Đó chính làcác yếu tố thuộc về chất lượng nhân lực Ngoài ra, còn phải nói tới cả cơ cấu của laođộng, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và co cấu ngành nghề Khi nói tới nguồn nhân lực,cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ và trình độ chuyên môn của con người, bởi vì trílực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển kinh thế - xã hội khi thể
Trang 13lực của con người được phát triển Thể lực con người không khỏe mạnh sẽ hạn chế sựphát triển trí tuệ của cá nhân và của cả cộng đồng Bởi vậy, sức khỏe là điều kiện tiênquyết định để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền trí tài tríthức vào hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất.
Tóm lại, từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể
hiểu: Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
1.1.2 Phát triển nguồn lực con người
Theo ILO (LDDQT): Phát triển nguồn lực con người bao hàm không chỉ sựchiếm lĩnh, trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triểncon người có nhu cầu sử dụng năng lực để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng nhưthỏa mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
Cho dù khái niệm phát triển nguồn lực con người được xem xét ở những góc độkhác nhau, tùy theo lĩnh vực mà họ quan tâm, nhưng tựu chung lại thì phát triển nguồnnhân lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ là nhằm tạo ra sự biến đổi về số lượng
và chất lượng về mặt thể lực, trí lực, kĩ năng, kiến thức, tinh thần của từng lao động,tạo lập một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lí và sử dụng năng lực của con người cùngvới đội ngũ của họ vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội
Tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cho rằng có 5 điểm làm phát sinhnăng lượng và phát triển nguồn lực con người:
1 Sức khỏe, dinh dưỡng và môi trường
2 Giáo dục và đào tạo
3 Việc làm và thu nhập
4 Tự do chính trị và kinh tế
5 Phát triển kinh tế, biến đổi kinh tế - xã hội
Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì nguồn lực conngười (nguồn nhân lực) đóng vai trò quyết định Nguồn nhân lực phụ thuộc vào các
Trang 14giá trị, các chuẩn mực, lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất Bất cứ quốc gia nào khixác lập chương trình phát triển nhân lực đều dựa trên một hệ thống giá trị phù hợp.
Bất cứ hệ thống nhân lực nào cũng có thể dự báo trước một giai đoạn nhất địnhcho sự phát triển dựa trên cơ sở các thông số chuẩn xác
Nguồn lực liên quan đến phát triển nhân lực có nhiều mức độ, mô hình khácnhau, hệ thống khác nhau, bao gồm từ phát triển cá nhân, phát triển nhóm, phát triển tổchức và phát triển cộng đồng xã hội Để phát triển nguồn nhân lực con người hữu ích,phải quan tâm và tăng cường khả năng nguồn lực để hoạt động trong phạm vi nền vănhóa tương ứng
Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có kiểu mẫu và mô hình về nguồnlực con người, đều do truyền thống và văn hóa quy định Không có một phương phápphát triển nguồn nhân lực phổ cập cho mọi quốc gia Nguồn lực con người luôn luônthay đổi và phát triển phù hợp với nhau cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của cácquốc gia
Phát triển nguồn lực con người không phải là một lĩnh vực của riêng một nhómhay một chuyên ngành, một lĩnh vực nào Phát triển nguồn nhân lực là một tiến trìnhtăng trưởng và mục đích của sự tăng trưởng đó dựa trên những giá trị được tôn trọng;mặt khác, phát triển nguồn nhân lực giúp con người hình thành rõ các giá trị trong họ,các bước đi của mỗi thành viên theo một định hướng rõ ràng
Phát triển nguồn nhân lực tựu chung là gia tăng giá trị cho con người, giá trịtinh thần, giá trị đạo đức, giá trị vật chất, thể chất
Theo Liên hợp quốc, phát triển con người gồm hai mặt, hai công việc chính:Trước hết phải đầu tư vào con người, phát triển nhân tính và khả năng của họ; tiếptheo, tạo ra các cơ hội, điều kiện và môi trường thuận lợi cho con người hoạt động,phát triển hiệu suất của họ Giữa hai mặt trên có mối quan hệ tương hỗ với nhau
UNESCO cũng đưa ra quan điểm về phát triển con người là:
- Phát triển con người toàn diện, trong sự hội nhập của con người vào xã hội vàtrong sự phát huy của cá nhân con người, trên bình diện tinh thần, đạo đức và vật chất
- Quá trình phát triển con người phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của những giátrị nhân văn, nhân đạo
Trang 15Tóm lại, phát triển nguồn lực con người là các hoạt động nhằm tạo ra nguồnnhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, đồng thởi bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân Phát triển nguồn nhânlực là một bộ phận hợp thành quan trọng yếu trong chiến lược phát triển con người.Trong công cuộc phát triển con người, cần coi trọng quá trình làm biến đổi về sốlượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lực.
Xét về tiềm năng, việc phát triển nguồn lực con người thông qua giáo dục, đàotạo nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe… làm cho nguồn lực con người không ngừngphát triển trở thành tiềm năng vô tận Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn lựccon người dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ Vấn đề quan trọng là phải khai thác, huyđộng, phát huy một cách hiệu quả nhất tiềm năng đó và phát triển kinh tế - xã hội Đóchính là quá trình chuyển hóa nguồn lực con người dưới dạng tiềm năng thành “vốnnhân lực”
1.2 Khái niệm và các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Trong thời đại ngày nay, khi đề cập đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vữngcủa một quốc gia không thể không đề cập đến các mô hình phát triển kinh tế - xã hộibền vững của cộng đồng quốc tế
1.2.1 Khái niệm chung và những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.2.1.1 Khái niệm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Để hiểu rõ khái niệm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, trước hết phải bắt đầu
từ việc nghiên cứu khái niệm: “Tăng trưởng kinh tế”
Theo kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm theo
hai nghĩa Theo nghĩa thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về mặt quy mô sản
lượng của nên kinh tế trong một thời kì nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạtđộng sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Nó được tính bẳng mức độ tăng bìnhquân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian thời kỳ nhất định (thường làmột năm) Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện trực tiếp trình độ mở rộng quy mô sản
Trang 16lượng đầu ra và có quan hệ phụ thuộc vào sự tăng lên của quy mô sử dụng các nguồnđầu vào Theo nghĩa này, tăng trưởng kinh tế biểu hiện về mặt số lượng của quá trình
phát triển kinh tế Theo nghĩa thứ hai, tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng
hơn cả về mặt lượng và mặt chất Về mặt lượng, tăng trưởng kinh tế được biểu hiệnqua ở quy mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu của sự gia tăng sản lượng và quy mô kinh tế
Về mặt chất, tăng trưởng kinh tế chính là sự tiến bộ về mặt cơ cấu kinh tế xã hội Tiến
bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội thường được đo bằng các tiêu chí như năng suất lao động;hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn, lao động, tài nguyên, đất đai; đổi mớikhoa học công nghệ, phát triển nguồn lực con người; giải quyết bất bình đẳng xã hội;phát triển cân đối ngành, vùng… Chất lượng tăng trưởng kinh tế chính là quy định vốn
có của nó, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh
tế khác với các hiện tượng khác Chất lượng tăng trưởng kinh tế được quy định bởichất lượng của các yếu tố cấu thành và phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thànhtạo nên tăng trưởng kinh tế
Từ sự phân tích trên đây, có thể hiểu: Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là một khái niệm dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và một giai đoạn nhất định Nó bao gồm các yếu tố như chất lượng của nguồn nhân lực lao động, trình độ kỹ thuật và công nghệ khai thác nguồn nhân lực sẵn có nhằm tạo nên năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế phát triển đem lại phúc lợi xã hội cao hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn… Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ qua lại và thống nhất với nhau Như vậy, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế phải đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, điều đómới tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Tóm lại, phát triển kinh tế - xã hội bền vững là một khái niệm tổng hợp, baogồm nhiều thuộc tính cơ bản và không cơ bản Ngân hàng thế giới (WB), chương trìnhphát triển Liên hợp quốc (UNDP) và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải Nobel
Trang 17như G.Becker, R.Lucas, Amatya Sen, J.Stiglitz… đã đưa ra bốn tiêu chuẩn đặc trưng
phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững:
1 Năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độtăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài
2 Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với phát triển môi trường bền vững
3 Tăng trưởng kinh tế phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và xóađói giảm nghèo
4 Tăng trưởng kinh tế cần phải kết hợp với việc đổi mới thể chế chính phủ để cóthể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao hơn
1.2.1.2 Những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
• Tiêu chí về năng suất
Những lý luận về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế cho thấy nguồngốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố tạo thành và vai trò của mỗi yếu tố phụ thuộc vàotừng hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi nước Đối với các nước nghèo, vốn vậtchất có vai trò quan trọng Đối với các nước công nghiệp, vai trò của TFP lại quantrọng hơn Theo Robert Solow, hệ số năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) là tổnghợp của các yếu tố như sự thay đổi công nghệ, tăng trưởng kỹ năng sản xuất, vốn nhânlực và các yếu tố khác liên quan tới tăng trưởng kinh tế Hệ số TFP càng lớn thì hiệuquả kinh tế càng tốt và năng suất lao động càng cao
Sự tham gia của lao động phổ thông trong quá trình sản xuất ở các nước đangphát triển đem lại những hiệu quả tăng trưởng rất hạn chế Giáo dục phổ thông vẫn chủyếu phản ánh quy mô lao động ở trình độ thấp, mà theo các lý thuyết tăng trưởng nộisinh thì lao động trình độ cao mới đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng GDP
Lợi ích của việc đầu tư nguồn nhân lực trong tăng trưởng TFP được nhiều lýthuyết tăng trưởng đề cập Các công trình nghiên cứu về kinh tế học nhân lực liên quanđến tăng trưởng TFP đều khẳng định lợi ích của việc đầu tư nguồn nhân lực bởi cácluận điểm sau:
- Đầu tư nguồn nhân lực ở các trình độ giáo dục giúp các quốc gia tiếp cận đượccác hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật cao, tiếp thu hiệu quả sự chuyên giao công nghệnước ngoài và sản xuất những công nghệ mới Việc tập trung cho đào tạo nguồn nhân
Trang 18lực trong các ngành khoa học kỹ thuật sẽ giúp các nước đẩy nhanh qua trình tăng năngsuất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
- Đầu tư nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sẽ có vai trò quan trọng hơn trongphát triển công nghệ, bởi nó tạo ra lực lượng lao động có kỹ thuật cao, tạo nên nănglực đổi mới, vận dụng công nghệ phù hợp với điều kiện trong nước, tránh những rủi rotrong quá trình đổi mới công nghệ
Đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao phải bắt nguồn từ việc ưu tiên cho việcphổ cập giáo dục cơ sở, từ đó tạo nên lực lượng có giáo dục và có kỹ năng cao hơn, tạođiều kiện cho việc mở rộng giáo dục bậc cao
• Tiêu chí về phúc lợi xã hội
Khía cạnh tiếp theo phản ánh sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững của một quốcgia là việc xem xét vấn đề “Ai có lợi từ tăng trưởng kinh tế” Có thể nói tăng trưởngkinh tế là điều kiện thiết yếu cho phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi con người Cácchỉ tiêu phản ánh việc nâng cao phúc lợi của người dân trong quá trình tăng trưởngkinh tế bao gồm:
Các chỉ tiêu phản ánh việc cải thiện và nâng cao nhu cầu cơ bản của con người:
Để xác định phát triển kinh tế có nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống haykhông, kinh tế học phát triển đã đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh các nhu cầu cơbản của con người, bao gồm:
- Các chỉ tiêu phản ánh mức sống như thu nhập bình quân đầu người trong mộtnăm, tỷ lệ cung cấo calo bình quân đầu người/ngày, lượng lương thực bình quân đầungười…
- Các chỉ tiêu phản ánh tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, cụ thể là: tuổithọ bình quân, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ lệ y bác sỹ bình quân đầu người,
tỷ lệ chỉ tiêu công cộng về sức khỏe…
- Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển nguồn nhân lực bao gồm: tỷ lệ biết chữcủa lực lượng lao động, tỷ lệ mù chữ, số năm đi học bình quân, chỉ tiêu ngân sách nhànước dành cho giáo dục, tốc độ tăng dân số bình quân, tỷ lệ thất nghiệp…
• Tiêu chí về ổn định kinh tế và phát triển bền vững
Trang 19Tiêu chuẩn này liên quan đến 5 yếu tố chủ yếu: Thất nghiệp, lạm phát, chuyểndịch cơ cấu kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường.
* Thất nghiệp:
Thất nghiệp thường đem lại những tác động tiêu cực đối với cả lĩnh vực kinh tế
và xã hội Về mặt kinh tế, thất nghiệp làm mất đi những giá trị kinh tế trong sản xuấthàng hóa và dịch vụ, đồng thời tạo ra những chi phí trợ cấp thất nghiệp không nhỏ Dothất nghiệp tăng nhanh, năng suất lao động của người công nhân và năng lực của toàn
bộ nền kinh tế đều có chiều hướng giảm Về mặt xã hội, thất nghiệp thường đe dọatính ổn định của mỗi gia đình, của nền kinh tế và của toàn xã hội
* Lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát là do: cầu tăng do chính sách tài chính và tiền tê mởrộng làm cho giá cả hàng hoá tăng; hoặc là chi phí tăng đẩy giá nguyên vật liệu vàhàng hoá tăng Ngoài những nhân tố truyền thống trên yếu tố tâm lý cũng tham gia tácđộng Những nền kinh tế tăng trưởng không ổn định hoặc có những biến cố lớn nhưthiên tai, chiến tranh…lạm phát thường có xu hướng tăng cao và điều này khiến chochất lượng tăng trưởng kinh tế không thể được duy trì
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đánh giá là một nhân tố tạo nên sự phát triển ởmọi thời đại các lý thuyết tăng trưởng liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đềucho rằng tăng trưởng kinh tế cao thường đi đôi với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếnhanh chóng tạo nên tính hiện đại và hiệu quả hơn cho nền kinh tế Khác với các tiêuchí về tăng trưởng kinh tế chủ yếu phản ánh sự biến đổi về lượng trong quá trình côngnghiệp hoá, các tiêu chí về chuyển dịch cơ cấu phản ánh cả sự biến đổi về chất của quátrình này Xem xét các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nhà kinh tếhọc phát triển, áp dụng trong thời đại ngày nay có thể thấy những thay đổi cơ cấu chủyếu bao gồm các cơ cấu về ngành, cơ cấu kinh tế đối nội và đối ngoại, cơ cấu xuấtnhập khẩu, cơ cấu vùng và cơ cấu lao động
* Phát triển bền vững
Trang 20Năm 1987 Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã đưa ra định nghĩa vềphát triển bền vững là: Sự phát triển “đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguyhại đến khả năng của các thế hệ tương lai” Khái niệm này chủ yếu đề cập đến nhữngthách thức của nhân loại về môi trường sinh thái đang bị phá hoại nghiêm trọng Tuynhiên, hiểu theo nghĩa rộng hơn, phát triển bền vững là một vấn đề liên ngành trong đóphản ánh mối liên hệ giữa con người với tự nhiên Hơn nữa, mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên lại chỉ có thể được giải quyết có hiệu quả khi mối quan hệ giữa conngười và con người đã được giải quyết Phát triển kinh tế đã trở thành điều kiện để cảithiện quan hệ của con người với môi trường tự nhiên Như vậy, môi trường có thể bịtổn hại nếu phát triển quá tải, phát triển bất chấp khả năng chịu đựng của môi trường.Nhưng môi trường cũng có thể bị tàn phá bởi sự đói nghèo của con người.
1.2.2 Các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Trên thực tế, vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hộikhông phải bao giờ cũng được coi trọng một cách thỏa đáng
Các nhà kinh tế học cổ điển đều cho rằng gồm ba yếu tố: công nghệ, vốn vật
chất và lao động Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời đại vai trò của các yếu tốnày trong quá trình sản xuất cũng có sự thay đổi Các nhà kinh tế học của trường phái
cổ điển đều nhấn mạnh đến yếu tố đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai được đánhgiá là một yếu tố quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế
Adam Smith (1723 – 1790) – nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh với tác phẩm nổitiếng “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của cải cách dân tộc” đã khẳng định: Laođộng của con người là “Thước đo thực tế của giá trị” Ông cho rằng cội nguồn của cải,tài sản quốc gia phụ thuộc vào hai nhân tố: tỷ lệ lao động trong nền sản xuất vật chất;trình độ phát triển của nhân công lao động
David Ricardo (1772 – 1832), người đưa Kinh tế chính trị cổ điển Anh lên đỉnhcao, chứng minh rằng: tăng trưởng kinh tế là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm củalợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc và chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ
Trang 21thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn đối với tăng trưởng và ông đã xác định:Lao động của con người là nguồn gốc duy nhất của giá trị.
Lý luận của Các Mác về lực lượng sản xuất gồm hai bộ phận: Lực lượng sản
xuất vật chất và nguồn lực con người
Lực lượng sản xuất vật chất bao gồm toàn bộ tư liệu sản xuất mà con ngườidùng để sản xuất như hệ thống công cụ sản xuất, đối tượng sản xuất, hệ thống kết cấu
hạ tầng…; trong đó công cụ sản xuất là yếu tố động nhất và cách mạng – trình độ pháttriển của nó phản ánh trình độ văn minh của một thời đại kinh tế, biểu hiện năng lựchoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất
Nguồn lực con người bao gồm đội ngũ người lao động với tri thức, kỹ năng, kỹxảo, kinh nghiệm, phương pháp sản xuất và thói quen lao động của họ
Các yếu tố trong cấu trúc lực lượng sản xuất có quan hệ hữu cơ với nhau, trong
đó con người là yếu tố chủ thể và quyết định, bởi vì con người vừa tạo hệ thống công
cụ sản xuất, vừa là người sử dụng làm sống động, tăng sức mạnh của chúng, từ đónâng cao năng suất lao động xã hội – một tiêu chí chung nhất và quan trọng nhất củatiến bộ xã hội
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, những thành tựu nổi bật của khoa học và kỹthuật đã làm nảy sinh ý tưởng cho rằng sự phồn vinh kinh tế đang đến gần Đây là thời
kỳ “Kỹ trị” Trong khi đó, nhân công được coi như là một yếu tố của hao phí sản xuất,
là yếu tố bất định Nhiều nước công nghiệp định hướng và đổi mới trang thiết bị màvẫn giữ nguyên cách tổ chức lao động truyền thống Những mô hình lấy công nghệlàm trung tâm đã bị thất bại Nhiều tổ hợp sản xuất được tự động hóa ở trình độ cao tỏ
ra kém hiệu quả so với các xí nghiệp chỉ đơn thuẩn cơ giới hóa Thực tế cho thấy, conngười sáng tạo ra công nghệ mới vì thiếu đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng tươngứng và cơ chế quản lý điều hành thích hợp dẫn đến không phát huy được hiệu quả sảnxuất, cho dù trang thiết bị hiện đại, tiên tiến Từ bài học này, nhiều nước đã thay đổicăn bản chiến lược phát triển của mình, tìm mô hình mới nhằm phát huy và sử dụngnguồn nhân lực Thời kỳ “Kỹ trị” chuyển dần sang thời kỳ “Nhân trị”
Trang 22Triết lý kinh doanh đã có một bước ngoặt từ quan niệm coi công nghệ là trungtâm sang coi con người là trung tâm, ưu tiên con người ở các khía cạnh tri thức, trình
độ chuyên môn và động cơ lao động Một mô hình mới được hình thành để phát huy
và sử dụng nguồn nhân lực Cơ sở của mô hình này là định hướng vào loại nhân công
có trình độ cao, hòa nhập vào hệ thống sản xuất liên tục của quá trình làm giàu thêmvốn kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn, là tính chất linh hoạt của đội ngũcông nhân và cách tổ chức lao động
Muốn tồn tại trong điều kiện thị trường cạnh tranh gay gắt, giới doanh nghiệp ởcác nước phương Tây cũng buộc phải thay đổi căn bản các chiến lược phát triển củamình Ngày càng có nhiều người thừa nhận quan điểm cho rằng: Tiền đề có ý nghĩaquyết định khả năng cạnh tranh là đội ngũ nhân công có trình độ chuyên môn cao,thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức, có tinh thần trách nhiệm, quan tầm đến kếtquả sản xuất, được bảo đảm việc làm ổn định Dưới nhiều hình thức khác nhau, người
ta thấy có xu thế tìm kiếm mô hình mới nhằm phát huy và sử dụng nguồn nhân lực, đóchính là một hệ thống sản xuất lấy con người làm trung tâm Trong quá trình đổi mới
đi lên đó, có sự kết hợp giữa cải tiến công nghệ và tổ chức sản xuất, đào tạo đội ngũnhân công
Hệ thống lấy con người làm trung tâm bao hàm trong nó tăng khả năng đốingoại, hợp tác giữa nhân công và giới chủ đặc biệt là khi nhịp độ sản xuất ngày càngcao Nhờ hệ thống này, khoảng cách chênh lệch giữa mức độ dân chủ về chính trị vàkinh tế được giảm bớt, mức độ tham gia của nhân công vào công việc chung của xínghiệp tăng lên và sự tham gia của người lao động vào kết quả hoạt động của công ty,cũng như vào chủ sở hữu và quản lý được mở rộng
Bước sang thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại càng tác độngmạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra được những bước nhảy vọt
Kinh tế tri thức hình thành và ngày càng đóng vai trò nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất xã hội Tri thức (hay trí tuệ) với tư cách là yếu tố sản xuất độcđáo sẽ thay thế đất đai, tài nguyên và được coi như là tư bản trí tuệ, trở thành sức mạnhhàng đầu, là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã hội Đúng như Các Mác
Trang 23đã dự đoán khoa học trở thành lực lượng sản xuát trực tiếp Trong kinh tế trí thức, trítuệ được đẩy tới đỉnh cao của thời đại, sáng tạo ra động lực phát triển mới… Đến đây,nhận thức về vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội bềnvững phải được đổi mới và bổ sung: Người không đơn thuẩn là người lao động “cơbắp”, mà quan trọng hơn là người lao động sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ - “con ngườikinh tế” trở thành “con người trí tuệ” Con người trở thành trí tuệ ở đây không chỉ làtầng lớp trí thức truyển thống, mà còn là người lao động trực tiếp bằng trí tuệ của họ.
Họ bao gồm cả công nhân trí thức hóa – công nhân cổ trắng, nông dân trí thức hóa –nông dân áo trắng Cũng từ đây đặt ra tiêu chuẩn mới đối với các nhân tài, họ cần đượcchăm sóc, bồi dưỡng, tôn vinh và đãi ngộ thỏa đáng xứng với sự đóng góp của họtrong tiến bộ của xã hội “trí thức”
Tóm lại, trong thời đại văn minh nông nghiệp, đất đai, thủy lợi là nhân tố thenchốt nhất của sự phát triển xã hội, vì con người còn phụ thuộc vào thiên nhiên Trong
xã hội côn nghiệp và văn minh công nghiệp truyền thống, nguồn tài nguyên, tư bản(tiền tệ) trở thành nhân tố then chốt của sự phát triển xã hội Trong xã hội văn minhhiện đại, nhân tài, trí thức đang trở thành nhân tố kinh tế then chốt của sự phát triển
“Xã hội kinh tế tri thức” Xã hội kinh tế tri thức là xã hội nhân tài Nhà khoa họcTrung Quốc, Tần Ngôn Trước đã phác họa bức tranh phát triển lịch sử như sau: Điểnhình của kiến trúc xã hội cổ đại là kim tự tháp phương Đông và lầu tháp phương Đông,
vì thế chế độ xã hội cũng là kết cấu lầu, kim tự tháp độc tài Điển hình của kiến trúc xãhội công nghiệp là khối vuông, hộp diêm, lầu chim bồ câu Hai mươi phần trăm dân số
ở tầng trên nắm được trí thức Xã hội tri thức theo kết cấu mạng, kiến trúc loại hình trínăng, tổ chức dân chủ cũng theo cấu trúc mạng
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Tại hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro năm 1992, đã thông quatuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển gồm 27 nguyên tắc cơ bản vàchương trình vì nghị sử 21 về các giải pháp bền vững chung cho toàn thế giới trongThế kỷ 21
Trang 24Từ hội nghị Rio de Janeiro 1992, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chínhsách về phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tư tưởng về phát triển kinh tế - xã hội bền vững đã thể hiện qua các Đại hộiĐảng VII, VIII, IX, X
Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng CSVN lần thứ IX năm 2001 thông qua chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội bền vững 10 năm 2001 – 2010 đã xác định các yếu tốtrong sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước: “Phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường, nhấn mạnh việc bảo vệ và cải thiện môi trường, giữ gìn đa dạng sinhhọc với phát triển kinh tế xã hội”, “nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều
có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quảphát triển”
Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng CSVN lần thứ X năm 2006 đã rút ra 5 bài họckinh nghiệm lớn từ thực tiễn tới đổi mới đát nước và để ra tư tưởng chỉ đạo về pháttriển kinh tế - xã hội bền vững giai đoạn 2006 – 2010 Trong báo cáo chính trị đã chỉra: “Đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng kinh tế đạt được bước chuyển biến quan trọng vềnâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của sự phát triển”
Quan điểm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững đã xuyên suốt trong tưtưởng chỉ đạo của các Đại hội của Đảng Ngay quá trình chuẩn bị cho Đại hội Đảnglần thứ XI, quan điểm này tiếp tục được vận dụng một cách sâu sắc và toàn diện.Trong dự thảo báo cáo chính trị của Đại hội nêu: quan điểm phát triển chiến lược 10năm 2010 – 2020 là: “Phát triển nhanh gắn liền với bền vững, phát triển bền vững làyêu cầu xuyên suốt trong chiến lược và quá trình thực hiện chiến lược; đổi mới đồng
bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủnghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; thực hành dân chủ,phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và làmục tiêu của sự phát triển; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phải xây dựng nền kinh tế độc lập tực chủ
Trang 25ngày càng cao và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển vàbền vững”.
Đảng CSVN từ khi thành lập đến nay luôn luôn xuất phát từ những luận điểmcủa Các Mác và của V.I Lênin, đã khẳng định “Con người là vốn quý nhất, chăm lohạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Tại Đại hội đạibiểu Đảng CSVN lần thứ 3 (9/1960), Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói rằng: “HồChủ Tịch rất coi trọng con người bởi vì nó là vốn quý nhất Cuộc chiến đấu và chiếnthắng của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cũng như công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội, chung quy là thắng lợi của con người”
Năm 1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã phát triển luậnđiểm về chủ trương xây dựng “Con người mới” và nhấn mạnh lòng nhân ái là truyềnthống đặc trưng của dân tộc ta Đặc biệt, bắt đầu từ công cuộc đổi mới đất nước thì vấn
đề con người của Đảng càng được đặc biệt chú trọng và đặt vào đúng vị trí của nó
Cùng với bài học kinh nghiệm “Lấy dân làm gốc”, Đại hội đại biểu lần thứ VI(12/1986) đã khẳng định vai trò quyết định của “Nhân tố con người” trong toàn bộ sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng củacon người và lấy việc phục vụ của con người là mục đích cao nhất”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng CSVN đã đưa ra tưtưởng đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, của sự nghiệpxây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định: “Nguồnnhân lực dồi dào, con người Việt Nam là nguồn nhân lực quan trọng nhất”
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khóa VII đã đưa ranghị quyết về chiến lược con người “chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố conngười” đã nâng tầm nhận thức lý luận về vai trò con người: Sự phát triển con ngườiquyết định mọi sự phát triển như phát triển xã hội, phát triển kinh tế, phát triển vănhóa… Tại hội nghị này, Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: “Chúng ta cần hiểu biếtsâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể củamọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất, mọi nền văn minh quốc gia”
Trang 26Hội nghị TW lần thứ 7 khóa VII cũng đã chỉ ra: “Lấy việc phát huy nguồn nhânlực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Tiếp tục những quan điểm lý luận đúng đắn về nguồn lực con người trong sựnghiệp công nghiệp hóa, Ban chấp hành trung ương khóa VIII đã tiến hành hội nghịlần thứ 2 (12/1996) bàn về giáo dục đào tạo và khoa học – công nghệ lại một lần nữakhẳng định: “Để thực hiện mục tiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã đề ra, cần khai thác
và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quýbáu nhất, có vai trò quyết định”
Tại Đại hội Đảng CSVN lần thứ IX, lần thứ X cũng khẳng định lại quan điểmtrên “Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người…”, “điều đó có ýnghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa về vật chất, trí tuệ
và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân,một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta…” (trích văn kiện Đại hội X)
Rõ ràng, đường lối của Đảng và nhà nước Việt Nam đã tạo một bước ngoặtquan trọng trong xác định vị trí và vai trò của nguồn lực con người Việt Nam trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.4 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ngay sau thời kỳ Tokygawa, quan niệm coi học tập có vị trí cao, coi khả nănghiểu biết là điều kiện để nắm quyền điều hành chính quyền các cấp, đã giúp Nhật Bảnđược xem là quốc gia có nền giáo dục phổ cập rộng rãi Cả những tầng lớp thương gia,lao động chân tay cũng tích cực học tập để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.Thêm vào đó, trong những nguyên nhân đưa Nhật Bản đạt được những kỳ tích lớn hơnnhiều so với những quốc gia có tài nguyên và công nghệ ở mức ngang bằng hoặc lớnhơn, nhiều chuyên gia dẫn ra một nguyên nhân sâu xa được xem như một triết lý pháttriển, đó là tư tưởng “Thoát Á” xuất hiện ngay từ thế kỷ XIX và được xem là kim chỉnam cho chủ trương cải cách văn hóa Nhật Bản để phát triển kịp các nước phươngTây Ngày 16/3/1885, bài “Thoát Á Luận” của Fukuzawa Yukichi (1835- 1901) đăng
Trang 27trên tờ Thời sự Tân báo của Nhật Bản đã cổ vũ phong trào Minh Trị Duy Tân, cổ vũchủ trương thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa tiểu nông, cổ hủ lạc hậu, nặng vềhình thức của các nước châu Á, để học theo nền văn minh phương Tây và hội nhậpvào thế giới bên ngoài Chính việc thực hiện những chính sách nâng cao chất lượngnguồn nhân lực với phương châm xã hội học tập văn minh phương Tây, cộng với sựthành công của phong trào Duy tân đã giúp Nhật Bản hình thành được một hệ thốngthang giá trị mới và hội nhập được với thế giới với một tư cách một cường quốc vềkinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật Trên tinh thần hướng ngoại, chủ trương vaymượn tri thức, bắt chước kỹ thuật, công nghệ nước ngoài trong sản xuất hàng hóa phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đã trở thành một trong những phương châm giáodục, đào tạo nguồn nhân lực, làm tiền đề cho việc ban hành chính sách sử dụng nhânlực tài năng của Nhật Bản
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc chỉ trong 4 thập kỷ, ngoài sự nỗ lựcvượt qua mọi rào cản, Trung Quốc cho thấy vai trò quan trọng của Chính phủ cũngnhư của các nhà lãnh đạo xuất chúng trong việc hoạch định chiến lược phát triển, trong
đó có chiến lược bồi dưỡng, giáo dục đào tạo và sử dụng nhân tài và chiến lược pháttriển khoa học công nghệ
Quả vậy, ngay từ những năm thực hiện cải cách, Chủ tịch Đặng Tiểu Bình đãxác định rõ công tác đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc phát triển đất nước trongbài phát biểu ngày 30/6/1984: “…Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn chủ nghĩa xã hội làphát triển các lực lượng sản xuất Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được chứng
tỏ, nếu phân tích cuối cùng cho thấy là các lực lượng này phát triển nhanh hơn và tolớn hơn so với chế độ tư bản chủ nghĩa Khi các lực lượng sản xuất này phát triển, đờisống văn hóa và vật chất của nhân dân sẽ luôn luôn được cải thiện Một trong bốnthiếu sót sau khi thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chúng ta đã khôngchú ý đầy đủ tới việc phát triển các lực lượng sản xuất Chủ nghĩa xã hội có nghĩa làxóa bỏ nghèo khó Sự bần cùng không phải là chủ nghĩa xã hội, càng không phải làchủ nghĩa cộng sản” Phát biểu của chủ tịch Đặng Tiểu Bình đã trở thành kim chỉ nam
Trang 28cho việc lựa chọn chiến lược và chính sách đào tạo nguồn nhân lực – lực lượng sảnxuất chính yếu cần có – cho những bước phát triển nhảy vọt của Trung Quốc sau này.Luôn khẳng định rằng bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là vấn đề có tính chiến lược,Chủ tịch Đặng Tiểu Bình tuyên truyền cho toàn Đảng, toàn dân Trung Quốc tư tưởngchiến lược này qua các nội dung chủ yếu sau:
1 Xây dựng hiện đại hóa đòi hỏi phải bồi dưỡng hàng loạt nhân tài đủ tiêuchuẩn, trong đó có những nhân tài hàng đầu đạt chất lượng quốc tế
2 Thực hiện việc chọn nhân tài theo 4 nguyên tắc sau: 1/ Có cả đức cả tài (thái
độ chính trị, phẩm chất chính trị, tác phong tư tưởng của nhân tài và năng lực công tác,trình độ chuyên môn nghiệp vụ ); 2/ Là người có hiền đức, có năng lực (tiêu chuẩnhiền đức được đặt lên trước, nhưng tài năng cũng được nhấn mạnh ); 3/ Chọn ngườitheo việc (để người tài có điều kiện hoàn thành tốt công việc được giao); 4/ Sử dụngtheo tài năng (căn cứ vào tố chất, sở trưởng của người tài để bố trí công việc phù hợp)
3 Phát hiện nhân tài và nhận biết tài năng bằng những phương thức phỏng vấnđiều tra, đăng báo mời tham gia, thu thập thông tin, thi tuyển, tiến cử và tự tiến cử
4 Bồi dưỡng đào tạo thông qua các biện pháp: Cử những sinh viên ưu tú tới cơ
sở để rèn luyện từ 1 – 2 năm, đưa các cán bộ trẻ đương chức xuống cơ sở rèn luyện,luân chuyển cán bộ, yêu cầu cán bộ tự rèn luyện tại chỗ
5 Về chính sách sử dụng nhân tài: Thứ nhất, phải tin tưởng vào phẩm chất
chính trị của trí thức; mạnh dạn sử dụng nhân tài theo tinh thần không quá cầu toàn; sửdụng nhân tài theo 3 nguyên tắc vào (lấy người), dùng (điều động, thăng chức, kỷ luật,giáng chức) và ra (thu xếp cho nhân tài cao tuổi về hưu theo luật định ); điều chỉnh
hợp lý việc sử dụng nhân tài để tránh lãng phí nhân tài Thứ hai, cần phải bảo vệ tốt nhân tài Thứ ba, tối ưu hóa việc bố trí nguồn lực tài năng Thứ tư, ra sức tiếp thu tri thức khoa học công nghệ Thứ năm, tạo môi trường cạnh tranh giữa các tài năng nhằm phát huy đầy đủ tính tích cực của con người Thứ sáu, đãi ngộ xứng đáng đối với trí thức trong nước Thứ bảy, khuyến khích Hoa kiều về nước làm việc.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia về kinh tế, nguồn nhân lực đang là một trongnhững khâu yếu nhất của Trung Quốc khi thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách vớicác nước phát triển về công nghệ - kỹ thuật và trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tếtri thức hiện nay Vì vậy, vấn đề được Trung Quốc hết sức quan tâm là đào tạo, sử
Trang 29dụng hiệu quả nguồn lực trong nước và huy động được sự đóng góp của cộng đồngngười Hoa ở nước ngoài.
Đối với Hoa Kiều, Chính phủ thực hiện chính sách khuyến khích hồi hương từcác nước phương Tây, đặc biệt là từ Hoa Kỳ Đến khoảng những năm cuối thập kỷ
1990 , nhất là từ năm 2000, các cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh, trường đại học
đã mở rộng cửa chào đón họ Thủ tướng Chu Dung Cơ trong chuyến thăm MIT năm
1999, đã phát biểu trước đông đảo cử tọa là nhân tài gốc hoa: “Chúng tôi cần các bạn,chúng tôi cần tài năng của các bạn và chúng tôi sẽ trả các bạn mức lương quốc tế nếucác bạn trở về”
Các học sinh Trung Quốc tiếp tục du học Gần 180.000 người đã xuất ngoạinăm 2008, cao hơn năm 2007 xấp xỉ 25% Theo các số liệu thống kê của chính phủTrung Quốc, cứ 4 học sinh đi du học trong thập niên vừa qua, chỉ có 1 người trở về.Những người giành được bằng tiến sĩ khoa học hoặc kỹ thuật tại các trường đại họcHoa Kỳ thường không trở về Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn coi đó là tiềm năng củanguồn nhân lực chất lượng cao, trong tương lai họ sẽ trở về nước
1.4.3 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á
•Singapore:
Từ một nước nghèo, đất hẹp, khan hiếm tài nguyên, Singapore đã phấn đấu trởthành quốc gia có thu nhập đầu người cao, một xã hội có học vấn cao
Ngay từ khi trở thành nước cộng hòa độc lập năm 1965, Singapore đã xác định
sự nghiệp giáo dục là yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng và phát triển Bước vào thế
kỉ 21, khi nền kinh tế tri thức là động lực chính cho toàn cộng đồng, Singapore lạicàng đề cao giáo dục trong việc định hình tương lai của quốc gia Đó là một nền giáodục luôn hướng đến hoàn thiện, được thừa hưởng và phát triển từ hệ thống giáo dụclâu đời của nước Anh vốn xác định rằng nền giáo dục được thiết lập nhằm đáp ứng nhucầu của mọi cá nhân và tìm kiếm nuôi dưỡng tài năng
Thế mạnh của hệ thống giáo dục Singapore thể hiện qua chính sách song ngữtiếng Anh và tiếng Malay, hay Quan thoại, hay Tamil và một chương trình dạy phongphú, trong đó sự sáng tạo và tính liên kết giữ vai trò chủ đạo, nhằm bảo đảm cho mọi
Trang 30người có được những kỹ năng cùng với khả năng tương xứng để tồn tại trong môitrường có tính cạnh tranh cao Giáo dục Singapore được đánh giá là thực tế và hiệuquả, có chất lượng cao nhưng cũng rất căng thẳng Hệ thống giáo dục được chia thànhnhiều cấp, nhiều “luồng”/”ban” khác nhau để phù hợp với khả năng và định hướng củahọc sinh Luồng bình thường kéo dài 5 năm, luồng khá giỏi là 4 năm và luồng họcnghề là 5 năm và theo một chương trình chú trọng về nghề kỹ thuật hơn là văn hóa.Kết thúc kỳ thi lấy chứng chỉ trung học, học sinh có đủ khả năng sẽ học tiếp 2 năm dự
bị Đại học; số còn lại có thể vào các trường dạy nghề kỹ thuật ( Institute of TechnicalEducation ) hay các trường Cao đẳng kỹ thuật (Polytechnic) Học sinh cũng có thểchọn vào Viện giáo dục kỹ thuật (ITE) nhằm trang bị những kỹ năng và kiến thức kỹthuật để đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho các ngành Nằm trong hệ thống các trườngcao đẳng, ITE còn tham gia đào tạo thường xuyên cho công nhân Ở Singapore còn có
hệ thống trường kỹ thuật bách nghệ dành cho những người theo học thực hành nghềđược cấp bằng
Singapore còn được biết đến như là một quốc gia xuất khẩu giáo dục và nềngiáo dục mang tính quốc tế với chất lượng cao Các chiến lược phát triển giáo dục củaSingapore đều có tiêu chí đáp ứng nhu cầu xã hội Khả năng đáp ứng nhu cầu của thịtrường là yếu tố quyết định đối với thế mạnh và thương hiệu của một trường Theo hệthống xếp hạng Times Higher Education Supplement (THES) 10 từ năm 2004,Singapore có 2 trường đại học công lập lọt vào top 100 trường đại học tốt nhất thếgiới Đó là Đại học quốc gia Singapore xếp thứ 12 và Đại học Công nghệ Nanyangxếp thứ 61 Singapore đang tích cực thực hiện chương trình hợp tác với đại họcMassachusetts Mỹ trong việc mở thêm nhiều trường đại học kỹ thuật tại Singaporenhằm dáp ứng kịp thời nhu cầu đào tạo tài năng sáng tạo trong nước
Đào tạo gắn kết xã hội còn thể hiện qua trách nhiệm của các trường đại họctrong việc tìm việc hoc sinh viên mình sau khi tốt nghiệp Bản thân ngành học củatrường khi mở đã được xét trên nhu cầu thực tế của xã hội Vì vậy sinh viên tốt nghiệprất dễ tìm được việc làm Mỗi trường đại học của singapore, dù trường công haytrường tư, luôn có một trung tâm tư vấn việc làm, giúp đỡ sinh viên thực tập tại các
Trang 31công ty, có mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp, công ty liên quan đến ngànhnghề đào tạo.
Singapore còn dành sự quan tâm đặc biệt đối với lực lượng trí thức được đàotạo ở nước ngoài và luôn tìm cách động viên, hướng họ quay trở lại làm việc cho đấtnước Sau khi kết thúc cuộc họp thượng đỉnh quốc tế về hạt nhân tại Hoa Kỳ, Thủtướng Lý Hiển Tông đã tranh thủ giới thiệu một slideshow gồm 20 hình ảnh cập nhậtnhất về Đảo quốc Sư tử với kiều dân và sinh viên Singapore cùng lời phát biểu chântình: “Có rất nhiều cái mới đang diễn ra trong mấy năm gần đây ở Singapore Tôimuốn gửi đến các bạn hình ảnh một vài cái đang diễn ra đó, để các bạn cảm nhận đượcSingapore ngày nay ra sao Để rồi có thể trong các bạn sẽ trỗi dậy chút hồi ức, chútluyến nhớ, và các bạn sẽ trở về thăm nơi đó” Ông cũng ngợi ca kiều bào: “Tôi nghĩcâu chuyện của Singapore có một phần đóng góp đáng kể của những người Singapoređang học tập và làm việc ở nước ngoài Các bạn là một phần của cộng đồng, của giađình chúng ta” Rồi kết thúc bằng một lời mời gọi: “Hãy liên lạc với trong nước, hãyliên lạc với nhau”
Singapore không bỏ lỡ cơ hội thu hút tài năng từ các nước khác như Ấn Độ,Trung Quốc, Philippinnes để duy trì ưu thế về nguồn nhân lực chất lượng cao so vớicác nước khác trong khu vực Tuy nhiên, do chính sách phát triển khoa học công nghệchủ yếu theo hướng sao chép, nên năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực Singaporekhông được phát huy đầy đủ Điều này cho thấy nguy cơ suy giảm tính cạnh tranh ởmột số lĩnh vực Theo ý kiến nhiều chuyên gia, rơi vào tình trạng này trong điều kiệncông nghệ thay đổi nhanh chóng hiện nay là do Singapore vẫn đang ưu tiên nhữngmục tiêu trật tự xã hội vốn không phải là những điều kiện thích hợp với sự tồn tại củamột xã hội sáng tạo Như vậy, Singapore không thể đạt được những thành tựu khoahọc công nghệ to lớn, xứng tầm quốc tế nếu không có chiến lược, chính sách quốc giađúng đắn ưu tiên tập trung cho phát triển khoa học công nghệ
1.4.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các quốc gia, khu vực diễn ra ngày càng gay gắthiện nay, nguồn nhân lực thực sự trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình
Trang 32phát triển kinh tế - xã hội bền vững Không chỉ có vai trò quan trọng, nguồn nhân lựcchất lượng cao còn có ý nghĩa trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như bất bìnhđẳng, đói nghèo, ô nhiễm môi trường… Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao được xem là yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững của cả cácnước phát triển và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Ngoài việc thựchiện những biện pháp cụ thể để giải quyết những thách thức lớn nhất về phát triển củathế giới như nâng cao sức khỏe con người, bảo tốn các nguồn tài nguyên thiên nhiên,tăng cường phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, thì thành công trong việc đào tạonguồn nhân lực con người chuẩn bị cho phát triển tương lai, đặc biệt là chính sách đàotạo, sử dụng tài năng (tài năng khoa học công nghệ, tài năng quản lý kinh doanh, tàinăng kinh doanh, đào tạo quan chức lãnh đạo và tuyển chọn công chức, ưu tiên chínhsách khoa học công nghệ và tận dụng ưu thế của nền văn hóa) của một số nước là bàihọc quý giá đối với Việt Nam.
Đối với Nhật Bản, việc lựa chọn tài năng quản lý được coi là thế mạnh củaquốc gia này, khi đội ngũ công chức của Nhật Bản luôn được đánh giá là có chấtlượng cao Giới học vấn ưu tú này có ảnh hưởng rất lớn tới mối quan hệ giữa quanchức Chính phủ và thể chế tư nhân, những nhân tố quyết định sự thành bại của kinh tếNhật Bản Tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài suốt thập kỉ 1990 có một trong nhữngnguyên nhân là sự suy giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Nhật Bản trên thịtrường thế giới được giải thích là do Nhật Bản đã quá tập trung vào việc khuyến khíchsao chép công nghệ nước ngoài, đầu tư cho khoa học ứng dụng Để cải thiện và nâng caochất lượng nguồn nhân lực, Chính phủ đã tập trung đầu tư vào khoa học cơ bản và kíchthích sáng tạo Bên cạnh đó, trước tình trạng “Dân số già”, Chính phủ đã chuyển hướng
ưu tiên đầu tư nhiều hơn vào yếu tố con người thay vì vào cơ sở hạ tầng kinh tế
Trung Quốc, công xưởng của thế giới đạt được những kỳ tích kinh tế trongnhững thập kỉ qua chủ yếu là nhờ áp dụng công nghệ cao, nhanh chóng làm chủ đượccông nghệ nước ngoài thông qua một nguồn nhân lực được đào tạo tốt Chính phủTrung Quốc luôn xem bồi dưỡng, giáo dục đào tạo và bồi dưỡng nhân tài và phát triểnkhoa học công nghệ là những chiến lược quốc gia quan trọng Mục tiêu của Trung
Trang 33Quốc không chỉ đào tạo nhân tài khoa học công nghệ hàng đầu thế giới mà còn bồidưỡng cho đông đảo người lao động có trình độ kĩ thuật để nâng cao hiệu suất côngviệc Việc thu hút nhân tài Hoa kiều về nước làm việc cũng là một phần quan trọng củachiến lược này Thậm chí, để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách về công nghiệp với cácnước phát triển, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tuyên bố rằng Đảng Cộng sản TrungQuốc sẵn sàng thay đổi cả những nguyên tắc cơ bản để có thể thu hút được nhân tài.
Singapore, một quốc đảo nhỏ bé nổi tiếng nghèo tài nguyên, một nền kinh tếđứng đầu khu vực đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế ít bị tác động bởi những biếnđộng bên ngoài Trong xã hội này, sự sáng tạo và tính liên kết giữ vai trò chủ đạo,nhằm đảm bảo cho mọi người có được những kỹ năng cùng với khả năng tương xứng
để tồn tại trong môi trường có tính cạnh tranh cao Trước những thách thức của xuhướng toàn cầu hóa, Chính phủ Singapore tiến hành những cải cách nhằm xây dựngmột hệ thống giáo dục lấy năng lực làm động lực thay thế cho hệ thống giáo dục lấyhiệu suất làm động lực trước đó Với phương châm “Dạy ít hơn, học nhiều hơn ”,chính sách giáo dục, đào tạo của Singapore giúp cho những người có năng lực sáng tạo
có điều kiện học tập thường xuyên, biết tự hướng dẫn, chấp nhận rủi ro, có khả nănglàm việc tập thể, trung thành và tận tụy với đất nước Singapore Việc mỗi trường đạihọc có một trung tâm tư vấn việc làm giúp đỡ sinh viên thực tập tại các công ty, đã tạo
sự gắn kết chặt chẽ giữa trường và các doanh nghiệp, công ty liên quan đến nghànhnghề đào tạo
Có thể nói trong điều kiện công nghệ luôn thay đổi hiện nay, một thể chế chínhtrị kinh tế dân chủ và mở cửa, một cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ hiện đại, mộtnguồn nhân lực tài năng chấp nhận thay đổi và thích ứng nhanh chóng với điều kiệnmới là những tiền đề quan trọng bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bềnvững trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra sôi động và rộng khắp
Những bài học kinh nghiệm nêu trên là quý giá, thiết thực… có thể gợi mở về cácgiải pháp đào tạo, sử dụng có hiệu quả, đầu tư hợp lý cho nguồn nhân lực con ngườinhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
Sau nhiều nỗ lực thực hiện cải cách và hội nhập, bước chuyển mang tính bứt phánày dựa trên hai nội dung cốt yếu là chyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, baocấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh
tế, và chuyển từ phát triển khép kín sang đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,
đã đưa đến những thành công đáng khích lệ, làm thay đổi cả lượng và chất đời sốngkinh tế - xã hội theo 3 nhóm tiêu chí sau:
Nhóm tiêu chí tăng trưởng kinh tế:
Sau hai thập niên thực hiện Đổi mới 1986 – 2005, nhờ tốc độ kinh tế tăng trưởngnhanh, Việt Nam đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái của nền kinh tế, đưanền kinh tế ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài hàng chục năm với mứclạm phát tăng tới 774,7% vào năm 1986
Tốc độ tăng GDP: Trong thời kì này, GDP tăng 4 lần Giai đoạn 1991 – 2000,
GDP tăng bình quân 7 – 8%/ năm so với 4 – 5% của thời kì 1960 – 1980 Năm 2000,GDP tăng gấp hơn 2 lần so với năm 1990 Tốc độ tăng GDP tiếp tục tăng cao đạt 8,2%vào năm 2006, 8,45% vào năm 2007, mức cao thứ hai ở châu Á (sau Trung Quốc)
Bảng 1 : Tốc độ tăng GDP toàn quốc (%) Năm
Chỉ tiêu
1991 1995
1996 2000
-2001 –
2005 2006 2007 2008 2009
2010 (dự báo)
Nguồn: Kỷ yếu 20 đầu tư trực tiếp nước ngoài, trang 15.
Trang 35Năm 2009, việc điều chỉnh chính sách đã giúp chặn đà suy giảm kinh tế trongbối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra sâu rộng Sản xuất kinh doanh phụchồi và có bước phát triển nên tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2009 vẫn đạt 442,34nghìn tỉ đồng, vượt 13,4% so với dự toán Tổng chi ngân sách Nhà nước đạt 584,70nghìn tỉ đồng, tăng 19% so với dự toán Tính đến ngày 31/12/2009, dư nợ Chính phủbằng khoảng 41,9% GDP, dư nợ ngoài nước bằng khoảng 38,9% GDP, đều nằm tronggiới hạn an toàn cho phép Trong 4 tháng đầu năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội tiếptục có những chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo, lạm phát vẫn trongtầm kiểm soát Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/4/2010
đã đạt 29,2% dự toán năm, cao hơn so với một số năm gần đây Đầu tư phát triển tiếptục được đẩy mạnh với tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý 1/2010 tăng 26,23% so vớicùng kỳ năm 2009, đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước tăng tới 46,38%
Trong bản xếp hạng Môi trường thương mại toàn cầu 2010 (dựa trên khảo sáttại 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, theo 9 nhóm tiêu chí: mức độ tiếp cận thị trường,quản trị hải quan, thủ tục xuất – nhập khẩu, quản trị thương mại xuyên biên giới, hạtầng giao thông, dịch vụ giao thông, công nghệ thông tin, hệ thống pháp luật và anninh trật tự) được Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố hồi tháng 6/2010,Việt Namđứng ở vị trí thứ 71 trên thế giới, tức tăng 18 bậc so với 20091 Theo ông ThierryGeiger, chuyên gia kinh tế của WEF, đồng tác giả của báo cáo, Việt Nam là một trongnhững nền kinh tế có tốc độ cải thiện môi trường thương mại nhanh nhất thế giới hiệnnay Nguyên nhân chính của tiến bộ này là việc gia nhập WTO năm 2007 cũng nhưnhững nỗ lực trong việc tự do hóa khu vực sản xuất cũng như dịch vụ trong giai đoạn
từ nay đến năm 2012
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng thể hiện qua hệ số ICOR (IncrementalCapital Output Ratio) cho thấy Việt Nam cần điều chỉnh chính sách cho phù hợp vớibối cảnh mới
Trang 36Bảng 2: Hệ số ICOR
Năm
Vốn đầu tư
(ngàn tỉ đồng)
GDP giá thực tế (ngàn tỉ đồng)
Tốc độ tăng GDP (%)
Vốn ĐT/GDP (%)
ICOR (lần)
Nguồn: Từ năm 1995 đến năm 2003 được tính theo Giáo trình Kinh tế Đầu tư, ĐH
KTQD, trang 27; từ năm 2004 đến năm 2007 được tính theo Niên giám thống kê 2007,các trang 71, 72, 93
Những phân tích trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam thời gianqua chưa tương thích với tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư
Theo đánh giá của các chuyên gia WEF, những trở ngại không nhỏ đối với quátrình tăng tốc nền kinh tế Việt Nam hiện nay là cơ sở hạ tầng giao thông với vị trí thứ
103 trên bảng xếp hạng, mật độ sân bay thấp (xếp thứ 104), chất lượng đường bộ kém(95) cũng như thiếu các công trình phụ trợ (93) Ngoài ra, mức độ cởi mở nền kinh tếđối với sự tham gia của nước ngoài của Việt Nam cũng chưa được WEF đánh giá cao
do mức độ tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp còn bị hạn chế(xếp thứ 102) cho dù thu hút FDI (xếp thứ 26) và thu hút lao động nước ngoài (xếp thứ46) đều ở mức khá cao
Trang 37Bảng 3: Bình quân GDP theo đầu người
Nguồn: Niên giám Thống kê 2007, trang 71.
Tăng trưởng kinh tế đã giúp cải thiện thu nhập của người dân cũng như gia tăngsức mua Sức mua tăng đến lượt nó lại thúc đẩy việc mở rộng hoặc ra đời thêm nhiềungành công nghiệp sản xuất nhiều loại hàng tiêu dùng mới, cao cấp, đáp ứng nhu cầutiêu dùng ngày càng trở nên đa dạng
Nhóm tiêu chí chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu nền kinh tế: Vào giai đoạn 1986 – 1990, Việt Nam mới đạt được mụctiêu đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng để ổn định và bắt đầu phát triển Từ thập kỉ
1990, sau khi đã cơ bản hoàn thành tiền đề cho Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, ViệtNam chuyển sang thời kì mới thúc đẩy mạnh chiến lược Công nghiệp hóa, Hiện đạihóa Cơ cấu nền kinh tế và khu vực kinh tế có sự chuyển dịch tích cực
Căn cứ vào thực tế cho thấy, hệ số “đo lệch ” tỷ trọng của khối nông nghiệp quacác giai đoạn luôn âm ( - ) Cụ thể, giai đoạn 1991 – 1994 là -11,3; giai đoạn 1995 –2000: -4,7 và giai đoạn 2001 – 2007: -3,0 Trong khi đó, diễn biến tương tự của khốicông nghiệp – xây dựng đều dương ( + ); tương ứng, đạt lần lượt là +6,2%; +7,5 ;+3,5 Còn độ lệch của khối dịch vụ chưa đáng kể, lúc âm ( - ), lúc dương ( + ) ; tươngứng, đạt lần lượt là +5,1%; -2,8%, -0,5% Các chỉ số trên cho thấy, trong nền kinh tế
đã bắt đầu diễn ra quá trình CNH, HĐH
Cơ cấu ngành công nghiệp: Theo số liệu trang điện tử của Tổng cục Thống kê,
Việt Nam có 3 ngành công nghiệp, đó là khai thác, chế biến và sản xuất/phân phối điện
Trang 38nước Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất: 85% với sảnxuất thực phẩm và đồ uống dẫn đầu, tiếp đến là ngành khai thác dầu thô và khí đốt.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sản
xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ Năm 2005, laođộng nông nghiệp chiếm 57% so với gần 18% của khu vực công nghiệp và xây dựng
và 25% của khu vực dịch vụ
Cơ cấu kinh tế đối ngoại: Kinh tế đối ngoại phát triển, đẩy nhanh khả năng hội
nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới Việt Nam nối lại quan hệ với các tổchức quốc tế như WB, ADB năm 1993, chính thức trở thành thành viên ASEAN, tíchcực tham gia AFTA và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995; tham giá sánglập ASEM năm 1996, trở thành thành viên APEC năm 1998, ký kết hiệp định khungvới EU, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, WTO 2007 Chính sách kinh tế đốingoại trở nên thông thoáng đã tạo điều kiện mở rộng thêm thị trường xuất khẩu, thuhút ngày càng nhiều các nguồn đầu tư nước ngoài
Đối với ngoại thương: Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, từ 17,8% /năm
giai đoạn 1991 – 1995 tăng lên 21% /năm giai đoạn 1996 – 2000 và đạt 17,5%/nămgiai đoạn 2001 – 2005 Năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước mới đạt 2,4 tỷUSD; năm 2007 tăng lên đạt 48,4 tỷ USD, tăng gấp 20,3 lần Cơ cấu sản phẩm xuấtkhẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng những mặt hàng có hàm lượng khoahọc, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và giảm dần những mặt hàng nông, lâm,thủy sản thô hoặc sơ chế Chẳng hạn, tỷ trọng hàng công nghiệp trong cơ cấu hàngxuất khẩu từ 18,7%/năm 1985 tăng đến 77% / năm 2005
Trang 39Bảng 4: Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu (% )
Năm
Trong đó: Công nghiệp nặng và
Nguồn: Kỷ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài, trang 87; số liệu 2008, 2009.
Những số liệu trong bảng dưới đây cho thấy, tốc độ xuất khẩu những năm quathường tăng hơn 2 lần so với tốc độ tăng GDP
Bảng 5: tốc độ tăng GDP và xuất khẩu (% )
Nguồn: Tập hợp từ Niên giám Thống kê 2007, trang 71 và trang 447
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong GDP ngày càng tăng cho thấy đóng gópngày càng lớn của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 6: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong GDP (%)
Nguồn: Niên giám Thống kê 2007, trang 71.
Hiện nay, sản phẩm Việt Nam đã có mặt trên 160 nước Tính cạnh tranh của hànghóa trên các thị trường được cải thiện Xuất khẩu dịch vụ đạt tốc độ tăng bình quân
Trang 4015,7%/năm Thị trường nhập khẩu được mở rộng về phạm vi và quy mô Đó là các thịtrường châu Á, ASEAN, châu Âu, châu Mỹ, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ Ngoài ra làmột số thị trường tiềm năng khác, như châu Phi, các nước Cộng hòa Ả rập thốngnhất…
Đối với ĐTNN: Được xem là một trong những nguồn cung cấp vốn đầu tư phát
triển, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, ĐTNN đã cónhững đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng kinh tế Sau khi gia nhập WTOlượng vốn vay này lên tới 20,3 tỷ USD năm 2007, tăng gần 70% so với năm 2006,chiếm trên 20% tổng vốn đầu nước ngoài trong 20 năm qua1 Tính từ năm 1988 đếnnay, Việt Nam đã thu hút gần 10.000 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng kýkhoảng 142 tỷ USD Riêng trong năm 2008, FDI vào Việt Nam tăng đột biến với tổng
số vốn đăng ký lên tới 64 tỷ USD, giải ngân 11,5 tỷ USD và quy mô vốn đạt tới 60triệu USD/dự án2
Mặc dù đến năm 1991 mới có sản phẩm xuất khẩu, các doanh nghiệp có vốnĐTNN đã đạt giá trị xuất khẩu ngày một tăng: từ 52 triệu USD năm 1991 tăng lên đạt
440 triệu USD năm 1995, tức tăng tới 8,5 lần, 786 triệu USD năm 1996, 3.169 triệuUSD năm 2000 Tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn 1996-2000 đạt trung bình từ 11%-30%năm Tỷ trọng kim ngạch của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng dần:
từ 0,25% năm 1991 tăng lên đạt 8,5% năm 1995 Các năm tiếp theo, tỷ trọng đóthường đạt trên 20% (không tính phần xuất khẩu dầu thô) Kết quả này khẳng định,khu vực có vốn ĐTNN là một thực thể không thể thiếu trên mặt trận xuất khẩu củaViệt Nam, góp phần tạo ra xung lực mới, đẩy nhanh sự gia tăng từ lượng sang chuyểnbiến về chất Quá trình này thể hiện rất rõ trên 3 khía cạnh sau:
- Số lượng các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh: từ
40 đơn vị thuộc thành phần kinh tế nhà nước tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu năm
1985, tăng rất nhanh lên 270 đơn vị năm 1990 và đạt khoảng 40 nghìn đơn vị thờiđiểm hiện nay, tức tăng gấp 1.000 lần so với năm 1996
1 5 thành tựu nổi bật của 20 năm FDI tại Việt Nam, http://www.asset.vn/kinhte/dautu/daututructiep/75.asset
2 http://vietnamnet.vn/kinhte/2009/01/826410