1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV Thạc sỹ_đầu tư phát triển thủy điiện ở miền bắc nước ta giai đoạn 2005 đến nay

102 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 689,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư phát triển thuỷ điện nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ởhiện tại để tiến hành các hoạt động xây dựng nhà máy, cung cấp thiết bị…hoàn thành nhà máy thuỷ điện nhằm mục đích cung

Trang 1

Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả không thể tránh khỏi nhữngsai sót Tác giả rất mong được nhận được sự nhận xét góp ý để luận vănnghiên cứu được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU……….……… 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN ……… 4

1.1 Những vấn đề chung về đầu tư phát triển thuỷ điện …… 4

1.1.1 Khái quát về đầu tư phát triển thuỷ điện ………. 4

1.1.1.1 Khái niệm ……… 4

1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển thuỷ điện……… 4

1.1.2 Lợi thế và hạn chế của thuỷ điện so với các phương thức sản xuất điện khác……….…… 6

1.1.2.1 Lợi thế của phương thức sản xuất thuỷ điện………. 6

1.1.2.2 Hạn chế của phương thức sản xuất thuỷ điện…….……. 9

1.1.3 Tiềm năng, cơ hội đầu tư phát triển thuỷ điện tại khu vực miền Bắc nước ta……… 11

1.1.3.1 Tiềm năng tự nhiên……….……. 11

1.1.3.2 Tiềm năng kinh tế kỹ thuật………. 13

1.1.4 Cơ hội đầu tư……….…… 14

1.1.4.1 Khái quát thị trường điện Việt Nam……….

14

1.1.4.2 Tình hình đầu tư vào thuỷ điện của EVN……… 16

1.1.4.3 Cơ hội đầu tư……… 17

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển thuỷ điện 20 1.2 Nội dung của đầu tư phát triển thuỷ điện……… 26

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển thuỷ điện……… 27

1.3.1 Kết quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá……… 27

1.3.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện………

28 1.3.1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm……… 28

Trang 3

1.3.2 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá………. 30

1.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu

2.2.1.3 Vai trò của ngành Điện đối với sự phát triển kinh tế … 41

2.2.2 Quy mô vốn đầu tư thực hiện……… 42

2.2.2.1 Nhu cầu vốn đầu tư……… 42 2.2.2.2 Thực trạng huy động và sử dụng vốn

2.2.3 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển thuỷ điện 47

2.2.3.1 Nguồn vốn tự có của EVN 48

2.2.3.2 Nguồn vốn vay tín dụng Nhà nước từ Ngân hàng Phát triển 49

2.2.3.3 Vay vốn các Ngân hàng thương mại quốc doanh trong

2.2.3.4 Phát hành trái phiếu trong nước và nước ngoài……… 50 2.2.3.5 Các nguồn khác……… 52

2.2.3 Nội dung đầu tư phát triển thuỷ điện……… 53

2.3 Đánh giá tình hình thực hiện đầu tư phát triển thuỷ điện VN

Trang 4

2.3.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện ……… 56

2.3.1.2 Năng lực sản suất tăng thêm……….… 58

2.3.2 Hiệu quả đạt được 59

2.3.2.1 Hiệu quả tài chính……… 59

2.3.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội 62

2.4 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động đầu tư phát triển thuỷ điện trong thời gian qua……… 65

2.4.1 Quá trình thực hiện đầu tư……… 65

2.4.2 Chi phí đầu tư……… ……… … 68

2.4.3 Quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư ……….……… 71

2.4.4 Môi trường đầu tư 74

Chương 3: DỰ BÁO, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢP PHÁP THÚC ĐẤY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN TRONG THỜI GIAN TỚI… 79

3.1 Dự báo nhu cầu điện năng giai đoạn 2010 – 2015……… 79

3.1.1 Sự cần thiết phải dự báo……… 79

3.1.2 Dự báo nhu cầu điện năng, đầu tư phát triển thuỷ điện giai đoạn 2010 – 2015……… 79

3.2 Mục tiêu, chiến lược phát triển……… 81

3.3 Một số giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư vào thuỷ điện 84

3.3.1 Giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn………. 84

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn….……… 86

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn……… 87

3.3.4 Giải pháp nguồn nhân lực……… 88

3.4 Một số kiến nghị 89

3.4.1 Hoàn thiện về tổ chức và cơ chế……… 89

3.4.2 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển điện năng………

90 3.4.3 Giảm độc quyền Xây dựng thị trường điện cạnh tranh -Đa dạng hoá hình thức đầu tư………

Trang 5

KẾT LUẬN……… 95

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tiềm năng kỹ thuật trên các dòng chảy thuộc khu vực miền Bắc 13Bảng 1.2: Quy hoạch dự án thuỷ điện nhỏ và kêu gọi đầu tư của EVN…… 19Bảng 2.1 Danh mục nhà máy do EVN làm chủ đầu tư giai đoạn trước2005……… …… 38Bảng 2.2 Vốn đầu tư kế hoạch giai đoạn 2005 - T6/2009……… 43Bảng 2.3 Vốn đầu tư thực hiện thuỷ điện thực hiện 2005 -T6/20009……… 44Bảng 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thuỷ điện giai đoạn 2005-T6/2009 47Bảng 2.5 Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn của EVN 2005-T6/2009 48Bảng 2.6 Số vốn vay ngân hàng thương mại trong thời kỳ 2005-T6/2009… 5

0Bảng 2.7 Số lượng vốn cho vay dự án ĐTPT Thủy điện năm 2005-2009… 5

1Bảng 2.8 Nội dung chi phí đầu tư giai đoạn 2005 - T6/2009………….…… 5

5Bàng 2.9 Sản lượng điện tăng thêm……… 5

8Bảng 3.1 Kế hoạch đầu tư ngành điện 2010 - 2015……… 79Bảng 3.2 Kế hoạch đầu tư thuỷ điện theo vùng 2010 - 2015……….… 80

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá ngày hôm nay, điện

đã trở thành nhu cầu sống còn của tất cả các ngành sản xuất Hầu như khôngmột thiết bị hiện đại tiên tiến, không một nước nào trên thế giới muốn pháttriển mà lại không phát triển công nghiệp sản xuất điện Do đó công nghiệpsản xuất điện đã trở thành xương sống của tất cả các ngành sản xuất trong nềnkinh tế quốc dân, chưa kể đến nhu cầu sống hàng ngày Điện cũng góp phầnkhông nhỏ trong việc làm cho cuộc sống xã hội ngày càng văn minh hơn

Trong tình hình hiện nay phát triển thuỷ điện cũng là một trong nhữngngành được khuyến khích đầu tư để cung cấp thêm nguồn điện cho điện lướiquốc gia Góp phần giảm tình trạng thiếu điện trầm trọng mỗi khi vào nhữngđợt cao điểm Nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển thuỷ điện khu vực miềnBắc trong thời gian qua để thấy đầu tư thuỷ điện là một ngành có tiềm năngphát triển Với tình trạng cung luôn không đáp ứng được cầu thì đầu tư pháttriển thuỷ điện trong thời gian này không những là quyết định đầu tư đúng vìvới dự án đầu tư phát triển thuỷ điện có tỉnh khả thi cao mà còn phù hợp vớitình hình phát triển của vùng và chính sách phát triển của Đảng và nhà nước,

đảm bảo yêu cầu điện luôn đi trước một bước đúng như khẩu hiệu: “Điện,

đường, trường, trạm”.

Lý do chọn đề tài

Đầu tư phát triển nguồn điện, đặc biệt là thuỷ điện luôn được sự quantâm của nhà nước và xã hội Xong với nhu cầu ngày càng tăng cao thì điệnluôn trong tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu do đó nghiên cứu tình hìnhđầu tư phát triển thuỷ điện là để xem xét tiềm năng phát triển, nhu cầu trongtương lai và cơ hội đầu tư vào ngành để có thể tăng khả năng cung ứng điệnđáp ứng nhu cầu tăng trưởng và góp phần vào thúc đẩy kinh tế theo hướngCông nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước

Trang 8

Từ nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển thuỷ điện của EVN tác giả điđến kết luận rằng tiềm năng phát triển thuỷ điện là rất lớn bên cạnh đó nguồnlực của EVN lại hạn chế, hiệu quả đầu tư khu vực nhà nước chưa cao… Do

đó khuyến khích phát triển đầu tư thuỷ điện đối với những thành phần chủđầu tư ngoài EVN, đây cũng là một kênh đầu tư rất hấp dẫn, để phần nàogiảm bớt gánh nặng về vốn, áp lực giải ngân cũng được san sẻ Đảm bảotrong thời gian tới sẽ khắc phục tình trạng thiếu điện tạo điều kiện cho sự tăngtrưởng sản lượng điện năng theo đúng kế hoạch đã đề ra góp phần đảm bảo anninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển thuỷ điện của EVN khu vựcmiền Bắc trong giai đoạn 2005 - 2009 và dự báo nhu cầu phát triển, phươnghướng cũng như kế hoạch đầu tư phát triển của EVN trong giai đoạn 2010-2015

Bên cạnh đó luận văn nghiên cứu về tình hình thực hiện nguồn vốn, cơcấu, tỷ trọng vốn giữa các nguồn trong tổng mức đầu tư và từ đó thấy được

Trang 9

nhu cầu vốn của thực tế, nhu cầu tiềm năng so với nhu cầu có thể đáp ứng qua

đó thấy được sự cần thiết nên đầu tư vào phát triển thuỷ điện khu vực miềnBắc

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu đầu tư phát triển thuỷ điện, đặc biệt là đầu tư phát triểnthuỷ điện miền Bắc Việt Nam là một địa bàn thật sự rất giàu tiềm năng.Nhưng bên cạnh đó tiềm năng chưa được khai thác cho tương xứng Nhu cầuthực tế tăng cao trong thời gian vừa qua, tốc độ phát triển ngành điện khôngtương ứng với tốc độ phát triển kinh tế Gánh nặng về vốn làm cho các dự ánđiện chậm giải ngân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ Từ đó luôn xảy ra tìnhtrạng thiếu điện trầm trọng trong thời gian qua

Vì vậy đầu tư ngoài EVN là rất quan trọng và cần được khuyến khích.Các nhà đầu tư cùng nhau đối thoại, tìm hiểu thông tin, cơ hội hợp tác đầu tư,kinh doanh vào khu vực để các Bộ, ban ngành, các địa phương và Ngân hàng

bổ sung, điều chỉnh các cơ chế, chính sách, đưa ra các dự án đầu tư phù hợpnhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nhanh chóng triển khaicác dự án, góp phần thúc đẩy KT-XH các tỉnh Tây Bắc phát triển nhanh, bền

vững để “Đánh thức vùng tiềm năng Tây Bắc”.

Trang 10

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT

TRIỂN THUỶ ĐIỆN

1.1 Những vấn đề chung về đầu tư phát triển thuỷ điện

1.1.1 Khái quát về đầu tư phát triển thuỷ điện

1.1.1.1 Khái niệm

Thuỷ điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước Đa số nănglượng thuỷ điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làmquay một turbine nước và máy phát điện Thuỷ điện là nguồn năng lượng cóthể hồi phục

Đầu tư phát triển thuỷ điện nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ởhiện tại để tiến hành các hoạt động xây dựng nhà máy, cung cấp thiết bị…hoàn thành nhà máy thuỷ điện nhằm mục đích cung cấp điện trong tương laiphục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân

1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển thuỷ điện

Đầu tư phát triển thuỷ điện mang tính độc quyền cao Từ khi EVNthành lập nhà nước giao sản xuất, phân phối và kinh doanh cho một mìnhEVN quản lý Trong thời kỳ cơ chế mở cửa EVN cũng đã đảm nhận tốt vai tròcủa mình với đầu tư nhiều công trình mang lại thành quả cao

Bên cạnh đó đầu tư thuỷ điện cũng mang đầy đủ những đặc điểm củađầu tư phát triển

Vốn đầu tư ban đầu của hoạt động đầu tư phát triển thuỷ điện thườngrất lớn lên tới hàng ngàn tỷ đồng Như công trình thuỷ điện Sơn la số vốn hơnnăm chục ngàn tỷ đồng và được huy động từ nhiều nguồn Quy mô vốn đầu tưthuỷ điện lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, lập

dự án đầu tư, thẩm định dự án, quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, bố trí vốn theotiến độ đầu tư tránh để bị chậm tiến độ do thiếu vốn đầu tư

Trang 11

Lao động cần sử dụng cho các dự án thuỷ điện rất lớn, đặc biệt đối vớicác dự án trọng điểm quốc gia Dự án thuỷ điện Sơn La huy động hàng ngànlao động, làm suốt ngày đêm Nhân lực là vấn đề quan trọng, cần có kế hoạchđịnh trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độđầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực dovấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôidư…

Thời gian tiến hành của hoạt động đầu tư phát triển thuỷ điện kéo dàithường từ 3- 5 năm cho những công trình từ 100 mW trở lên Nhiều côngtrình công suất lớn thì thời gian tiến hành đầu tư đầu tư kéo dài đến hàng chụcnăm Như công trình thuỷ điện Hoà Bình tiến hành khởi công từ năm 1979 vàcho đến năm 1988 mới hoàn thành tổ máy 1 và đi vào phát điện, đến năm

1994 sau 15 năm xây dựng công trình - trong đó có 9 năm vừa quản lý vậnhành vừa giám sát thi công các tổ máy - nhà máy thuỷ điện Hoà Bình mớiđược khánh thành Do vốn lớn nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, nên chủđầu tư thường tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trunghoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kếhoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơbản

Thời gian phát điện công trình đầu tư thuỷ điện kéo dài và thường làhàng mấy chục năm Nhà máy thuỷ điện Thác Bà, nhà máy thuỷ điện HoàBình được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước, tính đến nay đã được

50 năm Chủ đầu tư cần phải có những kế hoạch đầu tư dài lâu sao cho đảmbảo được kết quả của nhà máy phát huy và đem lại hiệu quả cao nhất

Đầu tư phát triển thuỷ điện thường ảnh hưởng đến đời sống của rấtnhiều hộ dân sống trong vùng nhà máy xây dựng Xây dựng Thuỷ điện Sơn

La đã phải di dân hơn 19.000 hộ dân ảnh hưởng đến 3 tỉnh Điện Biên, Sơn

Trang 12

La, Lai Châu Vì vậy trong công tác quy hoạch về đền bù giải phóng mặtbằng, tái định cư phải đánh giá xem xét đánh giá tổng thể những ảnh hưởng

và đời sống sau di dân để tránh được những hậu quả xã hội xấu ảnh hưởngđến an ninh cũng như vấn đề dân sinh

1.1.2 Lợi thế và hạn chế của thuỷ điện so với các phương thức sản xuất điện khác

1.1.2.1 Lợi thế của phương thức sản xuất thuỷ điện

Cũng như các phương thức sản xuất điện khác thì thuỷ điện góp phầnđáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước cũng như kinh tế địaphương nơi dự án thực hiện Thuỷ điện nói riêng và ngành điện nói chung làngành chủ chốt của nền kinh tế là nền tảng và góp phần thúc đẩy ngành kinh

tế khác phát triển Những lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng là điện năng,đường xá, công nghiệp và thương mại, từ đó phát triển kinh tế, nâng cao sứckhoẻ và giáo dục, tăng cường chất lượng sống

Bên cạnh đó thuỷ điện là phương thức sản xuất điện có nhiều ưu điểmhơn so với các phương thức sản xuất điện năng khác Vừa đem lại hiệu quảkinh tế cao vừa đem lại lợi ích cho xã hội

Thuỷ điện thúc đẩy an ninh năng lượng và ổn định giá: Nước không

giống như khí thiên nhiên hoặc nhiên liệu chất đốt, nó không phụ thuộc vào

sự dao động của thị trường Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế đượcgiá thành nhiên liệu Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu cảnh tăng giácủa nhiên liệu hoá thạch như dầu mỏ, khí gas tự nhiên hay than đá, và khôngcần phải nhập nhiên liệu Song song với đó thì nhiệt điện hay điện nguyên tửđều cần tiêu thụ những nguồn nhiên liệu đầu vào như: than dầu, khí… đểphục vụ cho quá trình sản xuất Những nguồn nhiên liệu này đều là tài nguyênthiên nhiên của đất nước và có khả năng cạn kiệt, trong tương lai những

Trang 13

nguồn nhiên liệu này phải nhập khẩu như vậy kế hoạch sản xuất rất phụ thuộcvào thị trường nhiên liệu nhập khẩu và an ninh quốc gia.

Tác động đến môi trường: suốt quá trình tồn tại, thuỷ điện sản sinh một

lượng rất nhỏ các khí gây hiệu ứng nhà kính (GHGs), bù lại việc phát thảiGHGs từ các nhà máy nhiệt điện chạy than, dầu và khí đốt, thuỷ điện có thểlàm chậm lại việc cảnh báo toàn cầu về GHGs Mặc dù mới chỉ có 33% cácnguồn năng lượng thuỷ điện được khai thác và phát triển trên thế giới, nhưng

đã giúp toàn thế giới tránh phải đốt tương đương 4,4 triệu thùng dầu mỗingày

Thuỷ điện cải thiện chất lượng bầu không khí: Các nhà máy thuỷ điện

không gây ô nhiễm môi trường Chúng thay thế việc phát điện sử dụng nguồnnhiên liệu hoá thạch, do vậy giảm thiểu sương mù và mưa a-xít Hơn nữa, các

dự án thuỷ điện không phát ra bất kỳ một phụ phẩm độc hại nào đối với môitrường Điều này cho thấy thuỷ điện là công nghệ sạch và ưu điểm hơn hẳn sovới các công nghệ sản xuất khác Thuỷ điện là chìa khoá chính cho phát triểnbền vững Nhờ tính kinh tế, tích cực với môi trường và những đảm bảo về mặt

xã hội

Thời gian vận hành: các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn

các nhà máy nhiệt điện, một số nhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay đãđược xây dựng từ 50 đến 100 năm trước

Chi phí vận hành: thuỷ điện là nguồn năng lượng tái tạo, thuỷ điện sử

dụng năng lượng của dòng nước mà không làm suy yếu nó để sản suất điệnnăng với hiệu quả cao về mặt chi phí, hiệu suất, tính linh hoạt và tin cậy Chiphí quản lý, vận hành và nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tựđộng hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường Đâycũng là ưu điểm so với nhiệt điện, điện nguyên tử với chị phí vận hành

Trang 14

thường xuyên rất cao Luôn luôn phải đảm bảo an toàn về kỹ thuật và cần mộtđội ngũ vận hành túc trực suốt ngày đêm rất lớn.

Nâng cao độ tin cậy và ổn định lưới điện: Việc quản lý lưới điện phụ

thuộc vào sự nhanh nhạy, linh hoạt của các nguồn phát điện để đáp ứng nhucầu phụ tải đỉnh, giữ mức điện áp hệ thống và nhanh chóng khôi phục hệthống sau khi bị mất điện Điện năng được phát từ các nhà máy thuỷ điện cóthể được đưa vào lưới nhanh hơn các nguồn năng lượng khác Có thể ngay lậptức đáp ứng nhu cầu điện năng thay đổi Thay đổi công suất nhanh theo yêucầu phụ tải Khả năng tăng công suất của thủy điện từ 0 lên cực đại là nhanhchóng và có thể dự đoán trước, cho phép thuỷ điện đáp ứng các mức thay đổiphụ tải và cung cấp các dịch vụ phụ thuộc điện năng để giữ cân bằng giữanguồn cấp và nhu cầu phụ tải Nhờ có sự linh hoạt và khả năng tích trữ lớn

mà thuỷ điện là cách hiệu quả nhất với chi phí có lợi nhất, trong khi đó điềunày khó xảy ra với các nhà máy nhiệt điện không thể dừng lại hoàn toàn hàngngày, thay đổi công suất chậm… và đó cũng là ưu điểm so với nhiệt điện, hayđiện nguyên tử

Bên cạnh đó thuỷ điện còn có những ưu điểm khác: Sự hình thành hồ

chứa đã tạo cảnh quan đẹp cho môi trường Việc xây dựng các công trình thuỷđiện tạo việc làm cho một bộ phận khá lớn người lao động, tạo sự ổn định về

xã hội Những hồ chứa được tạo thành bởi các nhà máy thuỷ điện thường lànhững cơ sở thư giãn tuyệt vời cho các môn thể thao nước và trở thành điểmthu hút khách du lịch Các đập đa chức năng được xây dựng để tưới tiêu, kiểmsoát lũ, hay giải trí, có thể xây thêm một nhà máy thuỷ điện với giá thànhthấp, tạo nguồn thu hữu ích trong việc điều hành đập

Góp phần tích trữ nguồn nước sạch: Các hồ chứa thuỷ điện thu thập

nước mưa để sau đó có thể sử dụng cho sinh hoạt và tưới tiêu Nhờ việc tíchtrữ nước, các hồ chứa ngăn chặn việc ngập úng do xả toàn bộ khối nước và

Trang 15

giảm khả năng ngập lụt và hạn hán Các nhà máy thuỷ điện hồ chứa bằng bơmhiện là công cụ đáng chú ý nhất để tích trữ năng lượng về tính hữu dụng, chophép phát điện ở mức thấp vào giờ thấp điểm để tích nước sau đó cho chảy ra

để phát điện vào giờ cao điểm hàng ngày Việc vận hành cách nhà máy thuỷđiện hồ chứa bằng bơm cải thiện năng lực cung cấp của hệ thống phát điện

1.1.2.2 Hạn chế của phương thức sản xuất thuỷ điện

Đầu tư phát triển thuỷ điện có nhược điểm lớn nhất là chi phí ban đầu cao hơn, thời gian đầu tư kéo dài hơn so với những hình thức đầu tư khác: Vì

vậy đầu tư phát triển thuỷ điện cần một khối lượng vốn lớn, tiến hành trongmột thời gian dài Vấn đề thu xếp vốn, phân kỳ đầu tư hợp lý cũng là mộttrong những vấn đề lớn của các nhà đầu tư

Quy hoạch chưa thống nhất: điều chỉnh lộn xộn, các dự án thuỷ điện

chồng chéo, ảnh hưởng đến rừng và lưu vực, làm thay đổi tốc độ dòng chảy

hạ lưu ảnh hưởng đến bồi lắng và xói mòn Hồ chứa tạo ra ngập lụt đất đai,mất nguồn phù sa ở những khu vực hạ lưu sông, thay đổi hệ động thực vật,ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái và tạo ra những biến đổi

vi khí hậu trong vùng ngập

Thuỷ điện bị phụ thuộc vào nguồn nước (thời tiết): trên thực tế việc sử

dụng nước tích trữ đôi lúc khá phức tạp bởi vì yêu cầu tưới tiêu có thể xảy rakhông trùng với thời điểm yêu cầu điện lên mức cao nhất Những thời điểmhạn hán có thể gây ra các vấn đề rắc rối bởi vì mức bổ sung nước không thểtăng kịp với mức yêu cầu sử dụng Nếu yêu cầu về mức nước bổ sung tốithiểu không đủ, có thể gây ra giảm hiệu suất và việc lắp đặt một turbine nhỏcho dòng chảy đó là không kinh tế

Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện lớn có thể phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh: Một số dự

án thuỷ điện cũng sử dụng các kênh, thường để đổi hướng dòng sông tới độ

Trang 16

dốc nhỏ hơn nhằm tăng áp suất có được Trong một số trường hợp, toàn bộdòng sông có thể bị đổi hướng để trơ lại lòng sông cạn Ảnh hưởng rất lớnđến hạ lưu vùng sông nơi có thể có rất nhiều người sinh sống hoặc có thể làvùng sản suất, đất nông nghiệp.

Sự phát điện của nhà máy điện cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường của dòng sông bên dưới: Thứ nhất, nước sau khi ra khỏi turbine thường chứa

rất ít cặn lơ lửng, có thể gây ra tình trạng xối sạch lòng sông và làm sạt lở bờ

sông Thứ hai, vì các turbine thường mở không liên tục, có thể quan sát thấy

sự thay đổi nhanh chóng và bất thường của dòng chảy Lượng oxy hoà tan

trong nước có thể thay đổi so với trước đó Cuối cùng, nước chảy ra từ turbine

lạnh hơn nước trước khi chảy vào đập, điều này có thể làm thay đổi số lượngcân bằng của hệ động vật, gồm cả việc gây hại tới một số loài ảnh hưởng đến

hệ sinh thái

Một nhược điểm nữa của các công trình thuỷ điện là việc tái định cư

dân chúng sống trong vùng hồ chứa: Trong nhiều trường hợp không một

khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự xa rời của họ về tổ tiên và vănhoá đã gắn liền với vùng đất họ đã sinh sống từ nhiều đời vì chúng có giá trịtinh thần rất lớn đối với họ

Sự hình thành các hồ chứa tạo ra di dân tái định cư với số lượng lớndẫn đến thay đổi nơi sống, thay đổi điều kiện sinh hoạt và văn hoá của đồngbào dân tộc thiểu số trong vùng Nhiều công trình thuỷ điện đã xây dựng xongnhưng nhiều năm sau vẫn chưa giải quyết xong những vấn đề xã hội và môitrường Những tác động tiêu cực đến môi trường của dự án là những tác độngtiềm ẩn khó có thể nhận biết cũng như đánh giá và kiểm soát Hơn nữa, vềmặt lịch sử và văn hoá các địa điểm quan trọng có thể bị biến mất

Ngoài ra sự hình thành các hồ chứa lớn còn là nguyên nhân sâu xa củavấn đề động đất kích thích cũng chưa thể đánh giá và dự đoán trước

Trang 17

Việc xây đập tại vị trí địa lý không hợp lý có thể gây ra những thảmhoạ như vụ Đập Vajont tại Ý, gây ra cái chết của 2001 người năm 1963 Hayviệc khai thác hầm lò không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật gây ra cái chết thươngtâm của hàng chục người như ở Thuỷ điện Bản Vẽ năm 2007.

1.1.3 Tiềm năng, cơ hội đầu tư phát triển thuỷ điện tại khu vực miền Bắc nước ta

1.1.3.1 Tiềm năng tự nhiên

Đất nước ta trải dài 1630 km từ cực bắc đến cực nam, chiều rộng lớnnhất ở miền Bắc là 600 km Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, mưanhiều, nóng và ẩm Lượng mưa trung bình năm 4.000 - 5.000mm, nơi mưathấp nhất cũng đạt đến 1.000mm Ở miền Bắc mùa mưa trong năm thườngkéo dài đến 3 -5 tháng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, 6 Lượng mưa tập trungvào 3 tháng có mưa nhiều nhất chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng mưa trongnăm

Thống kê thuỷ văn cho thấy, trung bình mỗi năm bề mặt địa hình khuvực miền Bắc tiếp nhận hàng tỷ m3 nước, hiện mới sử dụng rất ít Mật độsông suối có sự dao động khá lớn giữa các vùng tương đối phù hợp với sựphân bố không gian của điều kiện khí hậu và cấu trúc địa chất, địa hình nênngoài khai thác thủy điện thì nguồn nước còn có thể dùng vào mục đích cấpnước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp

Hệ thống sông ngòi miền Bắc Việt Nam có mật độ cao chiếm hàngngàn km Hầu hết các sông có độ dốc lòng sông lớn, lắm thác ghềnh Dòngchảy sông ngòi được hình thành có độ dốc lớn bởi các núi cao từ 800 -1000m, rất thuận lợi cho việc khai thác thủy điện

Trang 18

Nhìn trên bản đồ đất nước, khu vực miền Bắc có hệ thống sông, suốikhá dầy đặc, với mật độ từ 1,0 đến 1,8 km/km2 cùng với nguồn nước khá dồidào, chất lượng tốt, trữ lượng nước động vào khoảng 4.448 triệu m3 Hai lưuvực sông Đà và sông Mã đã tạo cho Tây Bắc giống như những lòng mángkhổng lồ, có đoạn “máng” nằm dưới có 100m (so với mặt biển) xung quanh lànúi Trong đó, sông Đà, sông Mã, gồm nhiều chi lưu lớn như: Nậm Mu, NậmChiến, Nậm Trai, Nậm Muội, Nậm Pàn, Nậm Công, Nậm Sai, Nậm Lẹ, NậmThi, Suối Tấc, Suối Sập và nhiều suối nhỏ, độ dốc lớn trên diện tích lưu vựcrộng.

Như vậy tự nhiên đã rất ưu ái cho khu vực miền Bắc những điều kiệnthuận lợi nhất để có khả năng phát triển thuỷ điện, so với nhu cầu phát triểncủa nền kinh tế hiện nay thì đầu tư phát triển thuỷ điện khu vực miền Bắc nóiriêng và cả nước nói chung là xu hướng phát triển chung của xã hội và đấtnước Khai thác tiềm năng, góp phần làm nền tảng cho sự phát triển sản xuất

Trang 19

và một phần quan trọng là đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng củangười dân.

1.1.3.2 Tiềm năng kinh tế kỹ thuật

Tiềm năng trên lý thuyết (dựa vào lưu lượng nước và dòng chảy) đượcxác định là 300 tỷ kWh tương đương khoảng 31.000 mW Tiềm năng kinh tế

kỹ thuật được xác định là 80 kW tương đương với công suất 20.000 mW

Theo tài liệu quy hoạch các dòng sông do công ty cổ phần tư vấn xâydựng điện 1 lập đã được phê duyệt và là quy hoạch thủy điện Quốc gia cho hệthống sông chính thì trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thống sông chínhkhu vực miền Bắc như sau:

Bảng 1.1 Tiềm năng kỹ thuật trên các dòng chảy thuộc khu vực miền Bắc

máy (mW)

Điện lượng TB hằng năm (E0 năm) (triệu kWh)

Nguồn: Báo cáo tiềm năng thuỷ điện - PECC1 - EVN (năm 2007)

Đến cuối năm 2008 tổng công suất lắp máy của các nhà máy đang vậnhành là 3.460 mW tương ứng với lượng điện trung bình 15 tỷ kWh/ năm Nhưvậy đã khi thác trên 30% tiềm năng kinh tế kỹ thuật Tiềm năng thủy điện vừa

và nhỏ đến 30 mW cũng đạt khoảng 3.000 mW

Tiềm năng thuỷ điện trên các dòng là rất lớn đạt 41.843 triệu kWh chưa

kể đến những dòng nhỏ khác thì so với công suất khai thác đã thực hiện thìchưa tương xứng với tiềm năng

Trang 20

Có thể nói, nhu cầu sử dụng năng lượng điện của cả nước ta nói chungngày một tăng cao Nhất là vào mùa khô thường xảy ra tình trạng thiếu điệnphục vụ sản xuất sinh hoạt Từ đó nhu cầu về tăng sản lượng điện, khai thácnguồn tài nguyên này một cách hiệu quả nhất đang được đặt ra cấp thiết

1.1.4 Cơ hội đầu tư

Cơ hội đầu tư được phân tích dựa trên cơ sở phân tích thị trường điệnhiện tại và trong tương lai Nhu cầu của nền kinh tế và khả năng cung ứngđiện của EVN từ đó kết luận về cơ hội đầu tư thuỷ điện của EVN cũng nhưcủa các chủ đầu tư ngoài EVN

1.1.4.1 Khái quát thị trường điện Việt Nam

Chính sách của Đảng và Nhà nước về việc phát triển thị trường điện lựcđược thể chế hóa tại điều 18 Luật Điện lực được Quốc hội thông qua ngày03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2005 Theo định hướng, thị trườngđiện Việt Nam sẽ được phát triển theo ba cấp độ: Thị trường phát điện cạnhtranh; Thị trường bán buôn cạnh tranh; Thị trường bán lẻ cạnh tranh

Trong giai đoạn 2005 - 2009 thị trường điện đang trong giai đoạn thịtrường phát điện cạnh tranh Các công ty sản xuất điện và cạnh tranh với nhau

để bán điện cho EVN Để bắt đầu giai đoạn này, EVN đã thực hiện chuyển

đổi một số các nhà máy điện trực thuộc sang hoạt động dưới hình thức công

ty cổ phần trong đó Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối, hình thànhthị trường điện nội bộ Theo chiến lược phát triển của EVN, thị trường điệnnội bộ được hình thành với các đặc điểm:

Thị trường điện bắt buộc trong đó các thành viên tham gia thị trườngchào bán toàn bộ năng lượng trên thị trường Toàn bộ năng lượng bao gồm cảphần năng lượng mua bán qua các hợp đồng song phương giữa EVN và cáccông ty phát điện đều thực hiện thông qua qua thị trường điện

Trang 21

EVN là cơ quan mua điện duy nhất trên thị trường điện nội bộ Các nhàmáy điện tham gia thị trường điện nội bộ bán 95% sản lượng điện cho EVNthông qua thoả thuận mua bán điện, phần còn lại sẽ giao dịch thông qua thịtrường điện Thoả thuận mua bán điện được xây dựng theo dạng hợp đồng saikhác (Contract for Difference) Đây thực chất là hợp đồng tài chính, chia sẻrủi ro giữa các bên mua và bán khi có sự lên xuống của giá thị trường

Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia đồng thời đảm nhiệm chứcnăng cơ quan vận hành hệ thống và chức năng cơ quan vận hành thị trường

Mô hình này đảm bảo cho hệ thống điện vận hành ổn định, an toàn đặc biệttrong điều kiện hệ thống điện nước ta còn có tỷ lệ dự phòng thấp

Về đối tượng đầu tư phát triển nguồn điện mới, trong số nhà máy điệnmới xây dựng, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ tham gia đầu tư vàphát triển 24 nhà máy thuỷ điện có quy mô nhỏ với tổng công suất là1.001mW, các liên doanh giữa EVN và nhà đầu tư trong phát triển 3 nhà máyvới công suất 1.950mW Như vậy, mức đầu tư phát triển nguồn điện do cácthành phần ngoài quốc doanh sẽ cung cấp khoảng 27% trong tổng sản lượngđiện của Việt Nam cho đến năm 2010 Đến năm 2010 tổng công suất sản xuấtđiện của cả nước sẽ là 21.893mW, đảm bảo đáp ứng mức nhu cầu điện tối đa(Pmax) là 16.000mW với một lượng công suất dự trữ khoảng 20%

Mức tiêu thụ điện trên đầu người của Việt Nam thấp nhất so với cácnước Châu Á Năm 2006, đạt mức 600 kwh/đầu người, so với 2.059 kwh củaTrung Quốc và 1.998 kwh của Thái Lan Dự kiến đến năm 2011, sẽ đạt 900kwh, vẫn chưa bằng ½ so với Trung Quốc và Thái Lan

Việt Nam là nước đang phát triển nên nhu cầu điện năng phục vụ sảnxuất và sinh hoạt rất lớn Theo tính toán của EVN, để đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế với tốc độ tăng trưởng từ 7,5 - 8%/năm và với mục tiêu đến năm

Trang 22

2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp, thì trong 20 năm tới(đến 2025) nhu cầu điện sẽ phải tăng từ 18 - 20% mỗi năm.

Trong giai đoạn 2006 - 2015 có xét đến triển vọng 2025, Việt Nam cầnxây dựng thêm nguồn điện đặc biệt là thuỷ điện - nguồn cung cấp điện lớncủa cả miền Bắc cũng như toàn quốc Trước mắt, giai đoạn 2010 - 2015 chắcchắn sẽ thiếu điện do các nguồn điện dự kiến xây dựng và đưa vào vận hànhkhông đảm bảo tiến độ Với luật điện lực mới, Nhà nước đã xóa bỏ độc quyềntrong đầu tư phát triển nguồn điện, lưới điện phân phối Thị trường đầu tưnguồn điện đã được mở rộng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp tham gia.Như vậy cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư là rất lớn

1.1.4.2 Tình hình đầu tư vào thuỷ điện của EVN

Hiện các nhà máy phát điện mà EVN chiếm 100% vốn điều lệ cungứng được 62% sản lượng điện sản xuất hệ thống (sản lượng năm 2007 là42.146 triệu KW); các nhà máy phát điện của EVN chiếm cổ phần chi phốicung ứng sản lượng điện sản xuất 11% hệ thống (sản lượng năm 2007 là7.121 triệu KW); điện mua của các nhà máy phát điện ngoài EVN là 27% hệthống (sản lượng năm 2007 là 17.996 triệu KW) Theo kế hoạch, EVN thựchiện cổ phần hoá 24 đơn vị thành viên trong năm 2007, trong năm 2008, thựchiện cổ phần hoá 5 đơn vị thành viên Hiện nay, EVN vẫn đang đốc thúc cácnhà thầu thi công, phấn đấu đưa vào vận hành các công trình điện theo kếhoạch đã đề ra, với nhu cầu rất lớn nhưng EVN luôn trong tình trạng thiếuvốn, vì vậy tăng cường huy động vốn là nhu cầu cấp thiết trong thời gian hiệnnay

Với nhu cầu hằng năm tăng tới 16 - 17%, điện đang là lĩnh vực cungkhông đáp ứng đủ cầu, do đó thu hút mối quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư.Nguồn lực của một mình EVN không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển điệnnăng cho nền kinh tế, vì thế việc huy động mọi hình thức đầu tư là rất cần

Trang 23

thiết và dự kiến đến năm 2010, các nguồn điện ngoài EVN sẽ cung cấp tới30% sản lượng điện toàn quốc.

Trong số 5 hình thức huy động vốn đầu tư, bao gồm phát hành tráiphiếu doanh nghiệp, vay nợ, ODA, cổ phần hóa doanh nghiệp trực thuộc và

triển khai các dự án điện độc lập thì phương án cuối cùng, khuyến khích các

thành phần kinh tế tham gia phát triển điện và phát triển thị trường điện đượcchú ý nhất Bản thân các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng đang yêu cầuđược tham gia đầu tư nhiều hơn vào ngành điện

1.1.4.3 Cơ hội đầu tư

Có thể nói, nhu cầu sử dụng năng lượng điện của cả nước ta nói chung

và khu vực miền Bắc nói riêng ngày một tăng cao Nhất là vào mùa khôthường xảy ra tình trạng thiếu điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt Từ đó nhu cầu

về tăng sản lượng điện, khai thác nguồn tài nguyên này một cách hiệu quảnhất đang được đặt ra cấp thiết

Luật Điện lực cho phép thành lập các công ty đầu tư theo hình thức cổphần hoặc liên doanh, theo đó hình thức xây dựng - vận hành - chuyển giao(BOT) phổ biến hơn cả Vấn đề khiến các nhà đầu tư dè dặt nhất là khúc mắc

về giá cả Nhà đầu tư muốn EVN ấn định giá tối thiểu cho các hợp đồng dàihạn kéo dài khoảng 15 - 20 năm để họ yên tâm đầu tư Bài học từ dự án ở BảnHoàng (Cao Bằng) với công suất 0,75 mW là một ví dụ, dự án này hoàn thành

mà không thể phát điện bởi EVN không chịu ký hợp đồng mua điện, trong khitrên địa bàn tỉnh Cao Bằng tình hình thiếu điện khá trầm trọng Ngoài ra, cácnhà đầu tư cũng phải xin giấy phép đầu tư theo Luật Điện lực và việc này mấtrất nhiều thời gian Do đó chủ trương chỉ đạo các ngành chức năng giảm thờigian thẩm định, phê duyệt thiết kế cơ sở, cấp giấy chứng nhận đầu tư, thủ tụcđánh giá tác động môi trường Cùng với đó niềm vui đã đến với các doanhnghiệp khi đầu năm 2009, các ngân hàng đồng loại giảm lãi suất cho vay Có

Trang 24

ngân hàng sau khi củng cố đã ban hành cơ chế thông thoáng như cho vay dàihạn tới 10 năm hoặc chính sách kích cầu của Chính phủ, đây thực sự là điềukiện để các nhà đầu tư vững tâm thực hiện dự án.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam: 6 tháng đầu năm 2009, nhu cầu điện sảnxuất tăng 18,41%, điện thương phẩm tăng 19,98% Đây là mức tiêu thụ quácao, vượt khả năng cung ứng của toàn hệ thống Mặt khác, thống kê cho thấy,hiện vẫn có nhiều doanh nghiệp xin đầu tư dự án tại miền Bắc như vậy chothấy đầu tư phát triển nguồn điện đặc biệt là thuỷ điện vẫn là một trong nhữnglĩnh vực được và nên quan tâm của các nhà đầu tư trong thời gian tới

Theo dự đoán của các chuyên gia trong ngành trong 2 - 3 năm trở lạiđây là giai đoạn bùng nổ của các dự án điện độc lập (IPP) Nếu như năm

2002, sản lượng của các IPP chỉ chiếm 7% với 620 mW thì năm 2005 lên tới13,6%, tương đương 2.400 mW Số liệu thống kê cho thấy, hiện có khoảng 14

dự án do các nhà đầu tư trong nước triển khai với công suất trên 10.000 mW

và khoảng 11.000 mW nữa do các nhà đầu tư nước ngoài đăng ký, trong sốcác nhà đầu tư Việt Nam có hai tập đoàn lớn là Petro Vietnam và Tập đoànThan và Khoáng sản Việt Nam

Do nhu cầu tăng cao không ngừng về phụ tải và điện lượng chủ trươngcủa chính phủ như sau: Bên cạnh việc Nhà nước đầu tư các công trình thủyđiện lớn, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong vàngoài nước đầu tư xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ theo cáchình thức sở hữu khác nhau để phát huy hết tiềm năng của đất nước Vì vậytrong TSĐ VI và nghiên cứu của các cơ quan chức năng như: Viện NăngLượng, các công ty tư vấn xây dựng… có hàng trăm công trình thủy điện cócông suất từ 1mW đến hàng trăm mW TSĐ VI chỉ ra tiềm năng thuỷ điện nhỏcông suất < 30mW của Việt Nam ước tính khoảng 2300mW có thể tạo ra điệnnăng khoảng 8 tỷ KWh

Trang 25

Bảng 1.2 Quy hoạch dự án thuỷ điện nhỏ và kêu gọi đầu tư của EVN

STT Tỉnh, thành phố Tổng số

DA

Tổng công suất (mW)

Nguồn: Quy hoạch dự án thuỷ điện nhỏ - Viện Năng Lượng

Theo như bảng thống kê trên thì cơ hội đầu tư phát triển thuỷ điện theonhận định của các chuyên gia là rất lớn, không chỉ là phát triển và đầu tư các

dự án IPP, mua cổ phần của các công ty trực thuộc EVN mà còn có thể thamgia mua cổ phần của các nhà cung cấp nguyên vật liệu cho các nhà máy củaEVN và các dự án IPP

Đầu tư vào thủy điện vừa và nhỏ không những chỉ nhằm mục tiêu đápứng kịp thời nhu cầu điện năng, mà còn khẳng định sự đa dạng trong sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các đơn vị kinh tế lớn đã vàđang xây dựng theo mô hình tập đoàn Đặc biệt, với các đơn vị trong ngànhxây lắp, việc làm chủ đầu tư các dự án thủy điện vừa và nhỏ không chỉ tậndụng được thiết bị, lao động mà còn là bước tập dượt để làm chủ đầu tư xâydựng những dự án nguồn điện lớn

Chủ trương đa dạng hóa đầu tư đối với thủy điện vừa và nhỏ là hướng

đi đúng đắn, được các địa phương có nhiều tiềm năng về thủy điện cũng như

Trang 26

các doanh nghiệp ủng hộ Trong điều kiện thiếu nguồn điện như hiện nay thìtổng công suất từ thủy điện vừa và nhỏ cung cấp cho hệ thống điện quốc giahoặc từng khu vực là sự đóng góp đáng kể.

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển thuỷ điện

Do nguồn thủy năng của Việt Nam khá dồi dào và thuộc dạng nănglượng tái tạo nên việc đầu tư phát triển nguồn năng lượng thủy điện mang lạinhiều lợi ích cho Nhà nước và các nhà đầu tư Tuy nhiên việc xây dựng vàđầu tư các công trình thủy điện trong hệ thống điện cũng chứa nhiều tiềm ẩn

và thách thức lớn Nhất là trong điều kiện quy hoạch tổng thể thuỷ điện củaViệt Nam còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đánh giá một cáchhoàn chỉnh Trong "Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 -

2015 có xét triển vọng đến năm 2025" đã đề cập đến các vấn đề sau:

1.1.5.1 Ảnh hưởng của thời tiết và các điều kiện tự nhiên

Việc xây dựng một loạt các nhà máy thuỷ điện (đặc biệt lại tập trungnhiều nhà máy lớn ở miền Bắc) sẽ dẫn đến một rủi ro do điều kiện thời tiết.Khi xuất hiện các năm kiệt nước, nhà máy thủy điện sẽ không đảm bảo côngsuất phát điện và điện lượng cần thiết vào các mùa khô Theo thống kê củaTrung tâm điều độ quốc gia Việt Nam, trong các năm từ 2005 đến 2010 hàngnăm đều hụt một lượng công suất hàng trăm mW và hàng trăm triệu KWh vàogiờ cao điểm trong mùa khô do thiếu nước từ các trạm thủy điện hệ thốngđiện đã phải sa thải một lượng phụ tải khá lớn từ 200 mW đến 300 mW

Do có tỷ lệ thuỷ điện khá lớn trong hệ thống điện nên trong chươngtrình phát triển nguồn điện đã bố trí công suất dự trữ mùa khô lớn hơn mùatích nước để đảm bảo an toàn cho hệ thống điện cụ thể: Đến năm 2015 tổngcông suất lắp đặt là 40.700mW (trong đó thuỷ điện là 13.500mW), nhu cầuphụ tải là 31.495 mW tỷ lệ dự phòng theo công suất đặt là 28,9% mùa tíchnước và 30,2% mùa kiệt

Trang 27

1.1.5.2 Ảnh hưởng do cung cấp và chế tạo thiết bị

Theo kế hoạch phát triển các nguồn điện từ 2005 đến 2015 sẽ xây dựng

29 công trình thuỷ điện có công suất > 50mW và vài chục các công trình thuỷđiện có công suất < 50mW điều này chưa tính đến một nguyên nhân ảnhhưởng lớn đến kế hoạch phát triển thủy điện đó là khâu chế tạo và cung cấpthiết bị thủy điện Do năng lực chế tạo thiết bị của nền cơ khí Việt Nam cònhạn chế nên hầu hết thiết bị thủy điện đều nhập của nước ngoài (của EU, Ấn

Độ, Nga và phần lớn thiết bị thuỷ điện được nhập của Trung Quốc) Thực tếcho thấy theo kế hoạch mốc hoàn thành các trạm thủy điện của Việt Nam vàđưa vào lưới của hệ thống điện đều chậm hơn so với tiến độ từ 6 tháng đếnmột vài năm với lý do chính chậm cung cấp thiết bị, do không đồng bộ như:thuỷ điện Tuyên Quang, thuỷ điện Nho Quế, thuỷ điện Bản Chát… Điều nàyảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch phát triển nguồn của hệ thống, gây ra thiết hạirất lớn cho hệ thống điện phải phát bù bằng điện Điezen giá cao hoặc nhiệtđiện của các trạm IPP Ngoài ra việc chậm tiến độ phát điện của các nhà máy

sẽ làm cho tính khả thi của dự án thuỷ điện giảm đi một cách rõ rệt do tăngchi phí đầu tư kéo dài thời gian vay và trả lãi vay

1.1.5.3 Ảnh hưởng bởi nguồn vốn, tiến độ giải ngân

Thực tế phát triển thủy điện Việt Nam trong những năm qua cho thấy:Việc đầu tư cho các công trình thủy điện có vốn đầu tư rất lớn (hàng trăm đếnhàng chục ngàn tỷ đồng cho một công trình), việc triển khai hàng trăm côngtrình cùng một thời điểm dẫn đến nguy cơ thiếu nguồn vốn đầu tư xây dựngcông trình, thị trường ngân hàng biến động bất bình thường, ngân hàng tănglãi xuất vay nhưng cũng không có số dư cho vay (trong năm 2005 - 2006 -

2007 - 2008 lãi suât vay tăng từ 8%/năm lên 10% - 11%/năm thậm trí tăngđến 15% - 18% vào thời kỳ đỉnh điểm) Điều này dẫn đến rất nhiều công trìnhthuỷ điện đã khởi công nhưng thiếu hoặc không có kinh phí để triển khai ví

Trang 28

dụ: Thuỷ điện Nho Quế, thuỷ điện Văn Chấn 36mW, thuỷ điện An Điềm II,Thuỷ điện Bắc Hà, thuỷ điện Minh Lương… và rất nhiều công trình thuỷ điệnlớn khác bị ảnh hưởng bởi tiến độ giải ngân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ.

1.1.5.4 Tính khả thi của dự án phát triển điện

Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để quyết định việc bỏ vốn đầu

tư, là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư Dự án đầu tư có khả thithì kết quả đầu tư mới phát huy tác dụng, vì vậy lập dự án đầu tư đòi hỏi phải

có đội ngũ chuyên môn năng lực cao, giầu kinh nghiệm kết hợp với nghiêncứu tình hình thực tế để đảm bảo một dự án đầu tư có chất lượng

Hoạt động tư vấn là một nhân tố rất quan trọng trong quá trình lập dự

án đầu tư Nếu hoạt động tư vấn còn có những bất cập về năng lực, thiếu đồng

bộ, thiếu chuyên gia giỏi chuyên sâu, hoặc chưa xây dựng được hệ thống cơ

sở dữ liệu thông tin chuyên ngành để cung cấp thông tin nhanh, đúng, đủ, vềtrình độ phát triển công nghệ, thiết bị, vật liệu mới không đáp ứng được nhucầu phát triển sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án điện

1.1.5.5 Hệ thống pháp luật trong nước

Nhà nước ban hành Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, LuậtThuế… và ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các Luật trên đồngthời với các văn bản dưới Luật khác nhằm khuyến khích đầu tư, mặt khácđảm bảo thu hút vốn đầu tư vào các dự án nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

Luật Điện lực được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 11 làmtiền đề xây dựng và phát triển ngành Điện Việt Nam trong giai đoạn tới Bêncạnh đó là các Nghị định 105/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Hướng dẫn thihành một số điều của Luật Điện lực, Nghị định 111/2006/NĐ-CP về Quản lýđầu tư, Nghị định 16/2005/NĐ-CP và Nghị định 112/2006/NĐ-CP về Quản lýđầu tư xây dựng, Quyết định 30/2006 của Bộ Công nghiệp về Quản lý dự ánđiện độc lập (IPP)… với mục tiêu khuyến khích các thành phần kinh tế tham

Trang 29

gia đầu tư vào ngành Điện trong hai khâu sản xuất và phân phối (trong khiNhà nước tiếp tục giữ độc quyền trong khâu truyền tải điện) Trong tương laikhuôn khổ pháp lý càng được mở rộng bằng việc thực hiện các cam kết gianhập WTO từng bước hình thành thị trường điện lực cạnh tranh có điều tiếtcủa Nhà nước.

1.1.5.6 Sự phát triển của thị trường tài chính

Với hai dòng tài chính trực tiếp và gián tiếp, thị trường tài chính là nơi

mà EVN có thể huy động vốn với các kỳ hạn và cách thức khác nhau phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu một thị trường tài chính phát triển,thì đó là điều kiện thuận lợi tạo cho ngành Điện có nhiều cơ hội lựa chọn vàkhai thác nguồn vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động của mình

Một thị trường tài chính phát triển đòi hỏi phải có hệ thống thông tinđược công khai trên thị trường, phải phát triển cạnh tranh trên cơ sở có sự canthiệp của Nhà nước ở mức độ thích hợp Ở Việt Nam thị trường tài chính đã

và đang phát triển góp phần cung ứng vốn cho hoạt động của các ngành kinhdoanh nói chung và ngành Điện nói riêng, cũng như trong việc thu hút cácnhà đầu tư tham gia thị trường Trong điều kiện hội nhập kinh tế thì thị trườngtài chính quốc tế phát triển là nơi cung ứng vốn cho ngành tốt nhất để pháttriển

1.1.5.7 Cơ cấu đầu tư và phương thức huy động vốn đầu tư

Cơ cấu đầu tư và phương thức huy động vốn đầu tư có tác động quantrọng đến phát triển nguồn điện, nếu vướng mắc trong cơ cấu đầu tư vàphương thức huy động vốn đầu tư thì việc đầu tư sẽ bị kéo dài Nếu chỉ chú ýviệc đầu tư phát triển nguồn điện mà không có đầu tư thích đáng vào pháttriển lưới điện thì nhất định sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, hoặc hạn chế cungcấp điện ở nhiều khu vực, do vậy vào giờ cao điểm vẫn buộc phải vận hành

Trang 30

các cụm diesel tại chỗ với giá thành rất cao, trong khi nguồn điện vẫn có khảnăng đáp ứng, tức là đầu tư kém hiệu quả Đây cũng là một nguyên nhân cảntrở tính tích cực của các chủ thể thị trường trong việc đầu tư phát triển nguồnđiện.

Ở nước ta, việc đền bù để di dân giải phóng mặt bằng phục vụ cho xâydựng thủy điện đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn, đồng thời phải có chính sách

xã hội của Nhà nước đảm bảo việc di dân và tạo việc làm ổn định cuộc sốnglâu dài cho những người thuộc diện di dời Nếu có cơ chế đầu tư thích hợp,tạo điều kiện để người dân khu vực bị thu hồi đất tham gia vốn vào các côngtrình phát triển nguồn điện và lưới điện thì tiến độ triển khai công trình sẽnhanh hơn, sẽ tạo sức hấp dẫn hơn cho việc thực hiện đa dạng hóa đầu tư pháttriển nguồn điện Thực tế một số công trình xây dựng nguồn điện và lưới điệntriển khai chậm và kéo dài có nguyên nhân chủ yếu là do vướng mắc trongvấn đề đền bù giải phóng mặt bằng

1.1.5.8 Phương thức tổ chức việc huy động vốn và tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất điện

Nếu doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi sở hữu như thực hiện cổphần hóa, chuyển đổi cơ chế quản lý như cơ chế giá, cơ chế bù công ích, cơchế hỗ trợ đầu tư đưa điện đến vùng sâu, vùng xa thì sẽ có nhiều cơ hội hơntrong việc huy động vốn của các chủ đầu tư trong xã hội Nếu doanh nghiệpđược phép phát hành cổ phiếu và cổ phiếu có tính đại chúng, được đưa raniêm yết công khai trên thị trường chứng khoán thì khả năng thực hiện đadạng hóa huy động vốn đầu tư cũng được thuận lợi hơn

Trên thực tế, phần lớn vật tư phải nhập bằng ngoại tệ mạnh và tỷ giáđồng tiền Việt Nam thay đổi nhanh hơn tốc độ điều chỉnh giá điện Đây là mộtnhân tố tác động tiêu cực không nhỏ, gây khó khăn cho ngành Điện trong cân

Trang 31

đối tài chính, tác động tiêu cực tới việc huy động vốn đầu tư xây dựng nguồnđiện.

Việc điều chỉnh giá điện nhằm mục đích tạo nguồn vốn đầu tư, nhưng

do nhiều nguyên nhân khách quan, tiến trình tăng giá điện chậm, tỷ giá biếnđộng lớn nên hiệu quả điều chỉnh giá cho mục đích đầu tư chưa cao Thêmvào đó do có nhiều hoạt động mang tính công ích như đầu tư đưa điện vềnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm hiệu quả đầu

tư không cao Trong khi đó việc đánh giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệpphụ thuộc vào yếu tố trên, làm hạn chế nguồn vốn đầu tư tự có của các doanhnghiệp sản xuất điện, tác động xấu đến thu nhập của người lao động trong cácdoanh nghiệp gây tâm lý người lao động không muốn đưa vốn đầu tư vàophát triển nguồn điện

1.1.5.9 Hội nhập kinh tế quốc tế

Ngoài các nhân tố trên, việc hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta cũng

là một nhân tố rất quan trọng để chúng ta thu hút các nguồn đầu tư nước ngoàivào phát triển nguồn điện Chúng ta đã chính thức gia nhập tổ chức thươngmại thế giới (WTO), đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Đây

là nhân tố tạo khả năng thúc đẩy phát triển nguồn điện của nước ta Tuynhiên, để khả năng đó biến thành hiện thực, chúng ta cần có cơ chế chính sách

và biện pháp phát triển thị trường để tạo sức hấp dẫn cho cá nhân và tổ chứcnước ngoài vào nước ta hợp tác đầu tư

Hội nhập kinh tế quốc tế có tác dụng kích thích kinh tế Việt Nam pháttriển, nền kinh tế Việt Nam chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường, cáchoạt động kinh doanh phải tuân thủ theo quy luật của thị trường Nền kinh tếViệt Nam đã và đang hội nhập nền kinh tế thế giới, trong đó thị trường tiền tệ

và thị trường vốn cũng đang phát triển và đây là điều kiện thuận lợi cho việc

đa dạng hóa huy động vốn để phát triển ngành Điện Thị trường vốn quốc tế

Trang 32

có quy mô lớn là một cơ hội cho đầu tư phát triển nói chung và phát triểnnguồn điện nói riêng.

Như vậy một dự án đầu tư phát triển thuỷ điện chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố Khi tiến hành đầu tư nếu chủ đầu tư nghiên cứu đến những yếu

tố đó thì sẽ giảm thiểu được tác động, ảnh hưởng xấu không cần thiết để cóđược dự án đầu tư với hiệu quả cao

1.2 Nội dung của đầu tư phát triển thuỷ điện

Nội dung của đầu tư phát triển thuỷ điện bao gồm các khoản mục chiphí gắn liền với nội dung của hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư phát triểnchính là qúa trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng cơ sở vậtchất kỹ thuật, thực hiện các chi phí gắn liền với sự hoạt động của các cơ sởvật chất kỹ thuật vừa được tái sản xuất thông qua các hình thức xây dựng, nhàmáy, mua sắm và lắp đặt thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bảnkhác, thực hiện các chi phí gắn liền với sự ra đời và hoạt động của các cơ sởvật chất kỹ thuật đó

Xuất phát từ nội dung hoạt động đầu tư phát triển trên đầu tư phát triểnthuỷ điện được phân chia thành các nội dung sau (nội dung của đầu tư ứngvới các khoản mục chi phí):

Đầu tư xây dựng là những hoạt động đầu tư tạo ra tài sản cố định cho

dự án Hoạt động này là hoạt động chiếm phần lớn số vốn công trình đó là:Đầu tư chi phí xây dựng các công trình, hạng mục thuộc dự án, đầu tư chi phítháo dỡ các vật kiến trúc cũ, đầu tư chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, đầu tưchi phí xây dựng các công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhàtạm tại hiện trường và nhà điều hành (nếu có)

Đầu tư mua sắm và lắp đặt thiết bị cũng là một khoản mục nội dungquan trọng trong tổng mức đầu tư bao gồm: Đầu tư chi phí mua sắm thiết bịcông nghệ, đầu tư chi phí vận chuyển từ cảng và nơi mua đến công trình, đầu

Trang 33

tư chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu contener tại cảng Việt Nam, chi phí bảo quảnlưu kho, thuế và chi phí bảo hiểm thiết bị công trình, đầu tư đầu tư chi phí lắpđặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh (nếu có).

Đầu tư quản lý dự án và các khoản đầu tư khác: Đầu tư chi phí thiết kế,đầu tư chi phí ban quản lý dự án, đầu tư chi phí và lệ phí thẩm định… đượctính bằng tỷ lệ % Đầu tư chi phí khác như chi phí xây dựng, chi phí đào tạocông nhân, cán bộ kỹ thuật, thuê chuyên gia vận hành sản xuất, chi phí đền bùtái định cư… được tính bằng cách lập dự toán chi tiết

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển thuỷ điện

1.3.1 Kết quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá

Kết quả của hoạt động đầu tư được thể hiện ở khối lượng vốn đầu tưthực hiện và năng lực sản xuất tăng thêm

1.3.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện

Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành cáchoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xâydựng, chi phí cho công tác mua sắm, lắp đặt thiết bị, chi phí quản lý dự án vàcác chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự ánđầu tư được duyệt

Đối với đầu tư phát triển thuỳ điện với khối lượng vốn lớn, thời gianthực hiện đầu tư dài thì vốn đầu tư được tính là thực hiện khi từng hoạt độnghoặc từng giai đoạn của mỗi công cuộc đầu tư hoàn thành Bên cạnh đó đầu tưphát triển thuỷ điện sử dụng vốn ngân sách thì vốn đầu tư thực hiện được tínhnhư sau:

Công tác xây dựng được tính theo phương pháp đơn giá Tính theophương pháp này thì căn cứ vào đơn giá dự toán của nhà nước (cụ thể là BộXây Dựng, Bộ Công Thương…) và nhân với khối lượng công tác xây dựng

Trang 34

(đã được phê duyệt trong thiết kế dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phêduyệt) tương ứng cộng với các khoản mục chi phí theo quy định của nhànước.

Công tác mua sắm trang thiết bị máy móc được xác định dựa trên giámua cộng với chi phí vận chuyển đến địa điểm tiếp nhận, chi phí bảo quảncho đến khi giao lắp từng bộ phận hoặc toàn bộ máy móc

Đối với những chi phí khác thì được tính theo tỷ lệ % theo quy địnhcủa nhà nước Một số chi phí khác được tính dự toán chi tiết và được cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt

1.3.1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

Tài sản cố định huy động là công trình, hạng mục công trình, đối tượng

xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc trọng quá trìnhxây dựng, mua sắm đã làm xong thủ tục nghiệm thu và có thể đưa vào hoạtđộng được ngay

Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản

xuất phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng để sảnxuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định đượcghi trong dự án đầu tư

Có hai hình thức huy động: Huy động toàn bộ và huy động bộ phận Đối với dự án thuỷ điện có công suất lớn với các công trình thuỷ điện

có công suất lớn, nhiều tổ máy và có thể phát điện riêng biệt khi đã hoànthành xây dựng thì sử dụng cách tính: Huy động bộ phận là việc huy độngtừng đối tượng, từng hạng mục xây dựng của công trình vào hoạt động ởnhững thời điểm khác nhau do thiết kế quy định Hình thức này áp dụng đốivới công cuộc đầu tư xây dựng có quy mô lớn, hạng mục xây dựng có khảnăng phát huy tác dụng độc lập Hình thức đánh giá này được áp dụng đối với

Trang 35

dự án thuỷ điện Tuyên Quang Năm 2007 thuỷ điện Tuyên Quang phát điện tổmáy thứ nhất và đến cuối năm 2008 thì mới tiến hành phát điện tổ máy 2 và 3.Như vậy dùng phương pháp tính này sẽ phản ánh tốt hơn kết quả của hoạtđộng đầu tư.

Đối với những dự án thuỷ điện có quy mô nhỏ hơn thì sử dụng cáchtính: Huy động toàn bộ là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng,hạngmục xây dựng không có khả năng phát huy tác dụng độc lập hoặc dự ánkhông dự kiến cho phát huy tác dụng dụng độc lập đã kết thúc quá trình xậydựng mua sắm và sẵn sàng sử dụng ngay Hình thức huy động này áp dụngđối với công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn

Các tài sản cố định được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăngthêm là sản phẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư, chúng có thể được biểuhiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật Các chỉ tiêu bằng hiện vật như: số lượngcác tài sản cố định được huy động, công suất hoặc năng lực phát huy tác dụngcủa các tài sản cố định được huy động… Chỉ tiêu giá trị các tài sản cố địnhđược huy động tính theo giá trị dự toán hoặc giá trị thực tế, tuỳ thuộc mụcđích sử dụng chúng trong công tác nghiên cứu kinh tế hay quản lý hoạt độngđầu tư Sử dụng chỉ tiêu giá trị cho phép xác định toàn bộ khối lượng các tàisản cố định được huy động của tất cả các ngành, đánh giá tổng hợp tình hìnhthực hiện kế hoạch và sự biến động của chỉ tiêu này ở mọi cấp độ quản lýkhác nhau

1.3.2 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá

Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa cáckết quả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ

ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định

1.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư

Trang 36

Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầuphát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống củangười lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốnđầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so vớiđịnh mức chung.

Để đánh giá hiệu quả tài chính chúng ta phải sử dụng một hệ thống cácchỉ tiêu Mỗi một chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiệu quả và sử dụngtrong những điều kiện nhất định và bao gồm các chỉ tiêu:

Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án: Chỉ tiêu này phản

ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư Chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính chotừng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động trong từng năm của đời

dự án Chỉ tiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả hoạt động của toàn bộ côngcuộc đầu tư Các chỉ tiêu này phải được tính chuyển về mặt bằng tiền tệ theothời gian

Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư (T): Chỉ tiêu này cho biết thời

gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận vàkhấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệu quả khi T≤ T định mức Thờigian thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao

Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR): Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi

suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của

dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu cân bằng với tổng chi Dự án

có hiệu quả khi IRR≥ r giới hạn Tỷ suất giới hạn được xác định căn cứ vào

các nguồn vốn huy động của dự án Chẳng hạn dự án vay vốn đầu tư thì tỷsuất giới hạn là lãi suất vay, nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư thì tỷ suất giớihạn là mức chi phí cơ hội của vốn, nếu huy động vốn từ nhiều nguồn thì tỷsuất giới hạn là tỷ suất bình quân từ các nguồn huy động…

Trang 37

Và một số chỉ tiêu khác tuỳ vào mục đích của chủ đầu tư có thể sửdụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá.

1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội

Thứ nhất: Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án

Bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số lao động cóviệc làm ở các dự án khác được thực hiện do đòi hỏi của dự án đang đượcxem xét Trong khi tạo việc làm cho một số lao động, thì sự hoạt động của dự

án mới cũng có thể làm cho một số lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanhkhác bị mất việc do các cơ sở này không cạnh tranh nổi với sản phẩm của dự

án mà phải thu hẹp sản xuất Trong số những lao động của dự án, có thể cómột số là người nước ngoài Do đó số lao động của đất nước có việc làm từviệc sẽ chỉ bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp phục vụ cho dự

án trừ đi số lao động mất việc ở các cơ sở có liên quan và số người nướcngoài làm việc cho dự án

Đối với các dự án xây dựng công trình thuỷ điện thì số lao động có việclàm được tính là số lao động làm việc trực tiếp tại dự án và những lao động tạinhững dự án xây dựng các tuyến đường giao thông, thông tin liên lạc, nhữnglao động của những ngành phụ trợ… Một số lao động gia tăng do dự án thuỷđiện thực hiện như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… Một số lao độngkhác làm trong các ngành dịch vụ như: du lịch sinh thái, thư giãn, cung cấpcác dịch vụ ăn uống

Thứ hai: Cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương: Để xây dựng nhà máy

thủy điện nhiều con đường sẽ được xây dựng mới và nâng cấp các con đường

cũ, hệ thống giao thông vận tải sẽ được hình thành để phục vụ việc chuyênchở nguyên vật liệu và thiết bị Xây dựng hệ thống thông tin liên lạc phục vụcho suốt quá trình thực hiện dự án và hậu dự án… Tất cả những cơ sở hạ tầng

Trang 38

này sẽ được chuyển giao cho người dân địa phương góp phần tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển du lịch và phát triển kinh tế địa phương.

Thứ ba: Góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa

phương Khi dự án đi vào hoạt động nó sẽ tác động tích cực tới sự phát triểnkinh tế xã hội địa phương và góp phần giảm khoảng cách kinh tế giữa thànhthị và nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, tạonền tảng cho các ngành công nghiệp khác phát triển

Thứ tư: Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp

và nghề nuôi trồng thủy sản Sau khi hoàn thành việc xây dựng đập, một hồnhỏ sẽ được tạo thành là môi trường thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Hồchứa tạo nguồn nước cung cấp cho nông nghiệp theo như yêu cầu tưới tiêu.Người dân thay vì trồng 1 - 2 vụ/năm thì khi có hồ chứa có thể cung cấp nướctheo nhu cầu người dân có thể tích cực trồng nhiều vụ mùa (lúa, màu) xem kẽ,góp phần nâng cao mức sống của người dân địa phương

Thứ năm: Đời sống tinh thần và văn hóa, do tiếp xúc với đội ngũ cán

bộ công nhân viên có trình độ văn hóa cao và thiết bị máy móc hiện đại Do

có thêm công ăn việc làm từ khi có dự án thực hiện sẽ từng bước nâng caotầm hiểu biết cho người dân địa phương và cải thiện những tập tục văn hóalạc hậu

1.3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư

Thứ nhất: Những nhân tố khách quan

Những yếu tố kinh tế: Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến dự

án bao gồm: khả năng tăng trưởng GDP; tình trạng lạm phát; tiền lương bìnhquân; tỷ giá hối đoái; những lợi thế so sánh của khu vực so với những nơikhác Sự thay đổi của một trong những nhân tố này dù ít hay nhiều cũng tácđộng đến dự án Do đó trước lúc đầu tư chủ đầu tư phải đánh giá một cách tỉ

mỉ những yếu tố này để đảm bảo khả năng sinh lời và bảo toàn vốn của dự án

Trang 39

Những yếu tố thuộc về chính sánh của nhà nước: Chiến lược đầu tư có

sự chi phối từ các yếu tố về chính trị và chính sánh của Nhà nước Bởi vậy,trong suốt quá trình hoạt động đầu tư nhà đầu tư đều phải bám sát theo nhữngchủ trương và sự hướng dẫn của Nhà nước, cần chú trọng đến các mối quan

hệ quốc tế đặc biệt là các nhân tố từ sự hội nhập ASEAN và bình thường hoáquan hê Việt Mỹ, các chủ trương chính sách của nhà nước về thực hiện côngcuộc đổi mới và mở cửa xem đó là những nhân tố quyết định đến chiến lượcđầu tư dài hạn của chủ đầu tư

Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Trong quá trình xây dựng

và triển khai các dự án đầu tư không thể không chú trọng đến các điều kiện tựnhiên - nhất là với dự án thuỷ điện, bởi vì trên thực tế, các dự án đầu tư thuỷđiện đều chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Nếu các điều kiện tự nhiên ởtại dự án không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án điều đó

có thể gây rủi ra cho khả năng thu hồi vốn, ảnh hưởng trong vận hành dự ánlàm giảm hiệu quả dự án

Những nhân tố thuộc về văn hoá - xã hội: Khía cạnh văn hoá - xã hội từlâu đã có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công cuộc đầu tư Đây là mộtyếu tố khá quan trọng ảnh hưởng nhiều và lâu dài đối với dự án Do đó cầnphân tích một cách kỹ lưỡng trước khi đầu tư để tối ưu hoá hiệu quả đầu tư

Thứ hai: Các yếu tố chủ quan

Khả năng tài chính: đây là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảđầu tư Năng lực tài chính mạnh ảnh hưởng đến vốn, nguyên vật liệu, máymóc… cấp cho dự án và do đó ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của dự

án Năng lực tài chính cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn đầu tư từcác thành phần kinh tế khác

Năng lực tổ chức: có thể coi đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng nhiềuđến hiệu quả đầu tư Nếu năng lực tổ chức tốt sẽ nâng cao chất lượng dự án,tiết kiệm chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư

Trang 40

Chất lượng nhân lực: mọi sự thành công của dự án đều được quyết địnhbởi con người Do đó chất lượng của lao động cả về trí tuệ và thể chất có ảnhhưởng rất quan trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh nói chung và kết quảhoạt động đầu tư nói riêng

Trình độ khoa học - công nghệ: xe, máy thi công hiện đại có ảnh hưởnglớn đến tiến độ và chất lượng của dự án, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả đầu

tư Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến uy tín trong việc thu hút vốn đầu tư vàđấu thầu để có các dự án

Như vậy để duy trì tốc độ phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam pháttriển theo mục tiêu trung bình 8%/năm thì một trong những nhiệm vụ thenchốt là đảm bảo an ninh năng lượng, trong đó đảm bảo nhu cầu công suất vàphụ tải của hệ thống điện theo các tổng sơ đồ là một yêu cầu bắt buộc và có ýnghĩa vô cùng quan trọng Chủ trương Việt Nam trong phát triển các nguồnnăng lượng đặc biệt năng lượng điện là phát huy tối đa các nguồn năng lượngcủa đất nước, đồng thời tranh thủ hợp tác với các nước láng giềng để đảm bảocung cấp cho nhu cầu theo các tổng sơ đồ

Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam còn khá lớn, đặc biệt là trữ năng kinh tếthuỷ điện còn chưa được khai thác Thuỷ điện còn là một nguồn năng lượngtái tạo, năng lượng sạch ngoài việc cung cấp một nguồn điện năng lớn cho đấtnước còn có nhiều tác động tích cực khác đến môi trường nên trong nhữngnăm qua Nhà nước luôn có những chính sách khuyến khích để phát triển thuỷđiện

Thị trường điện Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai.Bên cạnh đó cơ hội đầu tư thuỷ điện tại khu vực miền Bắc đặc biệt là nhữngtỉnh miền núi phía bắc rất lớn nơi mà chính quyền địa phương luôn tạo điềukiện và mời gọi đầu tư Nhà nước đầu tư các công trình thủy điện lớn còn lại

là khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư

Ngày đăng: 11/08/2020, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Văn Đài - Trưởng ban Thẩm định (2008)“ Vài nét về ngành điện Việt Nam và kế hoạch khai thác” - Tập đoàn Điện lực Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: )“ Vài nét về ngànhđiện Việt Nam và kế hoạch khai thác”
2. TS. Nguyễn Huy Hoạch (2008) “Thuỷ điện Việt Nam - Hiện trạng và kế hoạch phát triển” - Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Điện 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuỷ điện Việt Nam - Hiện trạng vàkế hoạch phát triển”
3. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt (2007) “Lập dự án đầu tư “ Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lập dự án đầu tư “
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo Dục
4. PGS.TS Từ Quang Phương, PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt (2007)”Kinh tế đầu tư” Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đầu tư”
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
5. Viện khoa học công nghệ Việt Nam, “Báo cáo Đánh giá kế hoạch phát triển điện lực Việt Nam” 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo Đánh giá kế hoạch pháttriển điện lực Việt Nam”
6. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2009), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện vốn đầu tư (2005 - 2008), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thựchiện vốn đầu tư (2005 - 2008)
Tác giả: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Năm: 2009
7. Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện 1 kết hợp với Viện Năng Lượng Việt Nam (2007) “Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam”
12.Tạp chí Điện Lực số 16, 18, 19, 25, 28, 36 và một số tài liệu trên các báo, tạp chí chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Điện Lực
8. Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện 1, (2005 - 2009), Dự án đầu tư công trình thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Tuyên Quang và một số thuỷ điện khác Khác
9. Quy hoạch điện VI ban hành kèm theo quyết định số 110/2007/QĐ- TTg Ngày 18 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w