1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CHO ĐẤT NƯỚC”

15 765 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 41,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lẽ trên, việc phát huy và sử dụng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNHHĐH ở nước ta hiện nay là một điều hết sức cần thiết và cần có những sự quan tâm đúng mực.Việt Nam đang thực hiện quá trình CNHHĐH đất nước để hòa nhập vào trào lưu tiến bộ của thế giới. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được trên cơ sở đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp hài hòa giữa tài lực và vận lực của đất nước. Bản thân là một sinh viên trong tương lai gần sẽ trở thành một trong những con người có trách nhiệm xây dựng đất nước, chúng em tự cảm thấy mình phải phấn đấu nỗ lực hơn để trở thành những nguồn lực có chất lượng cao để đóng góp sức mình vào sự phát triển của đất nước.

Trang 1

Lời mở đầu Bước vào thời kì đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc

tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển bổ sung qua các đại hội Một trong những quan điểm đó là “lấy và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh

và bền vững” được nhấn mạnh vai trò hết sức to lớn của con người trong sự nghiệp CNH-HĐH đối với sự phát triển kinh tế của xã hội Chủ trương đúng đắn đó đang và sẽ tiếp tục khẳng định trong những bước đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” - đã trở thành tư tưởng quán xuyến cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đều quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người có tầm nhìn vĩ đại, những lời dạy của Người giúp chúng ta nhận thức được nhiều điều to lớn

Việt Nam đang thực hiện quá trình CNH-HĐH đất nước để hòa nhập vào trào lưu tiến bộ của thế giới Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được trên cơ sở đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp hài hòa giữa tài lực và vận lực của đất nước Bản thân là một sinh viên trong tương lai gần sẽ trở thành một trong những con người có trách nhiệm xây dựng đất nước, chúng em tự cảm thấy mình phải phấn đấu nỗ lực hơn để trở thành những nguồn lực có chất lượng cao để đóng góp sức mình vào sự phát triển của đất nước.

Chính vì những lẽ trên, việc phát huy và sử dụng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta hiện nay là một điều hết sức cần thiết và cần có những sự quan tâm đúng mực.

Trang 2

A- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN ĐIỂM: “LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CHO ĐẤT NƯỚC”

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về vai trò của nhân tố con người trong tiến trình phát triển xã hội

Trong lịch sử, con người là sản phẩm của xã hội, nhưng mặt khác là chủ thể thúc đẩy xã hội phát triển Trong tiến trình của các cuộc cải biến xã hội theo con đường cách mạng, con người luôn luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực của tiến trình

đó

Với sự ra đời của triết học Mác, vấn đề con người đã được nhìn nhận, đánh giá và lý giải một cách sâu sắc, khoa học và toàn diện Đặc biệt, triết học Mác đã

có những phân tích hết sức đúng đắn và khoa học về vị trí, vai trò của con người đối với sự phát triển xã hội Vai trò quan trọng không thể thay thế của con người

trong tiến trình phát triển lịch sử thể hiện tập trung trên một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nhờ hoạt động lao động, con người không chỉ tạo nên bước

chuyển quan trọng của mình, “tách” khỏi thế giới động vật để trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này, mà còn "tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một cách hiện thực” như C.Mác đã khẳng định V.I Lênin cũng chỉ rõ rằng, con người

là nhân tố quyết định, làm biến đổi thế giới bằng chính những hành động thực tiễn của mình Trên cơ sở thực tiễn, nhận thức của con người về hiện thực khách quan ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, tiếp cận gần hơn bản chất của khách thể Quá trình vươn lên không ngừng trong nhận thức, phản ánh thế giới khách quan cũng chính là quá trình con người tích cực hoá năng lực tư duy của mình thông qua sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, suy lý lôgíc để nắm bắt những quy luật vận động, phát triển của thế giới Trên cơ sở đó, con người vận dụng những hiểu biết, tri thức

về thế giới vào hoạt động thực tiễn nhằm cải biến thế giới, phục vụ lợi ích của mình Nhờ con người mà tự nhiên hoang sơ đã trở thành tự nhiên nhân tạo, thành thế giới tự nhiên mang tính người với những đặc tính hoàn toàn mới; đến lượt nó, giới tự nhiên đã hoà nhập vào đời sống xã hội của con người như một thành tố không thể thiếu Đồng thời, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người

có thể hoàn thiện mọi tố chất: thể chất, trí tuệ, tình cảm, tâm lý của mình để ngày càng thể hiện đầy đủ tư cách một thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên - sinh học với cái xã hội - văn hoá

Thứ hai, do có năng lực nhận thức và cải tạo thế giới, con người đóng vai trò là chủ thể hoạt động sáng tạo lịch sử, làm cho lịch sử vận động theo hướng tiến

bộ Lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động của con người Con là chủ thể của các quan hệ kinh tế - xã hội và mọi giá trị tinh thần của xã hội Theo quan niệm duy vật về lịch sử, sự phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay (và tiếp tục

Trang 3

sau này), suy cho cùng, được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một bộ phận cấu

thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng - kết nối các yếu tố

khác với nhau để chúng phát huy tác dụng V.I.Lênin hoàn toàn đúng khi ông coi

"lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" Thực tế cho thấy, lao động của con người không chỉ cải biến tự nhiên, mà

còn cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” Như vậy, con người và xã hội loài người tồn tại, phát triển được không phải là nhờ vào một sức mạnh thần bí, vô hình nào từ bên ngoài,

mà chính là do hoạt động sản xuất vật chất Con người sử dụng sức lao động của

mình (cả cơ bắp lẫn trí tuệ) kết hợp với các công cụ, phương tiện sản xuất khác để tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn các nhu cầu của bản thân

và xã hội Lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời và lúc đó, chính con người - với tư cách chủ thể các quan hệ sản xuất - bằng hoạt động thực tiễn cách mạng của mình tạo lập nên quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; theo đó, tạo nên bước phát triển mới của phương thức sản xuất và của xã hội Trong các cuộc cách mạng xã hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm, là lực lượng tiến hành cuộc đấu tranh đưa xã hội sang một giai đoạn phát triển mới, tiến bộ hơn Đó chính là vai trò tích cực của nhân tố con người trong phát triển lịch sử thông qua quá trình thay thế hợp quy luật hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn Nói cách khác, thông qua quá trình đó, con người đã sáng tạo, "viết nên" lịch sử của mình Theo Mác, phát triển sản xuất vì sự nghiệp phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện là quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, để sản xuất ra những con người toàn diện Và hơn nữa, Mác coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh để cải biến xã hội

Thứ ba, trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác của sự phát triển xã

hội, con người đóng vai trò nguồn lực trọng yếu nhất; hơn thế, còn là nguồn lực vô tận, có thể khai thác không bao giờ cạn Như chúng ta đã biết, sự phát triển xã hội luôn cần đến một hệ thống các nguồn lực khác nhau, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, Trong đó, con người thể hiện như một nguồn tài nguyên quý giá nhất Các nguồn lực vật chất ngoài con người đương nhiên là cần thiết cho sự phát triển, song chúng là những nguồn lực hữu hạn, nghĩa là có thể bị cạn kiệt và một

số trong đó là không thể tái tạo được; hơn nữa, chúng cũng chỉ thực sự phát huy

giá trị khi được kết hợp với nguồn lực con người Trong khi đó, nguồn lực con

người có những tiềm năng nổi trội hơn hẳn Đặc biệt, trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh như ngày nay, trí tuệ được coi là nguồn tài

Trang 4

nguyên vô hạn; đồng thời, lao động trí tuệ của con người có ảnh hưởng quyết định đối với năng suất, chất lượng lao động và do vậy, con người trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững

Như vậy, có thể thấy nhân tố con người đóng vai trò cực kỳ to lớn trong lịch

sử phát triển của nhân loại Một mặt, trong toàn bộ các nhân tố hợp thành cơ thể xã hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm; mặt khác, trong hệ thống động lực

thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển, con người là động lực cơ bản, quan trọng nhất

và đóng vai trò quyết định

2 Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong tiến trình phát triển đất nước

Trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” Con người là vốn quý của xã hội nên con người giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội Điều đó khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên,

xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó Vì vậy, con người đã trở thành nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử Bởi vì, chỉ có con người mới

có trí tuệ và năng lực sáng tạo vô hạn theo chiều hướng tiến bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi Tư tưởng

về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: “Đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Trong

tư tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… Người nói:

“Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”, là “Được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”

Và cũng nằm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên” Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng Chuyên là sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò

Trang 5

của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một chiến lược lâu dài “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Tóm lại: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để xây dựng đất nước giàu mạnh Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc Vì vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nhân lực.

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1 Thực tiễn Việt Nam, quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

- Một số chính sách của Đảng, Nhà Nước:

+ Đảng ta luôn khẳng định mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

+ Quyết định phê duyệt đề án dạy nghề cho lao động nông thôn 2009-2020 + Chiến lược công tác dạy nghề giai đoạn 2011-2020

- Nguồn lao động:

+ Việt Nam hiện đứng thứ 14 trong các nước đông dân nhất thế giới Theo kết quả điều tra (Tổng cục Dân số) năm 2011, Việt Nam có gần 87.611 nghìn người Điều này phản ánh nguồn nhân lực Việt Nam đang phát triển dồi dào Trong đó, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ cao, khoảng 79% dân số cả nước Rõ ràng Việt Nam đang có một “cơ hội vàng” khi sở hữu một lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010 – 2020 Trong đó, nguồn nhân lực nông dân chiếm số lượng đông nhất (71%) nhưng chất lượng vẫn còn yếu kém, do còn thiếu áp dụng các khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Nguồn nhân lực công nhân là gần 11% dân số Nguồn nhân lực trí thức tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên chiếm khoảng 3% dân số Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,4 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ

có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rât thấp, chiếm khoảng 40%.

+ Cơ cấu đào tạo bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: đại học và trên đại học

là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới tỷ lệ này là 1 -4-10 Theo đánh giá của ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với nước khác Nếu thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB; Hàn Quốc đạt 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59 Chất lượng đào tạo của các trường đại học còn nhiều hạn chế, đầu ra thiếu chuyên môn, thiếu kĩ năng cần thiết, phần

Trang 6

lớn sinh viên ra trường chưa định hướng được nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn chưa vững, hầu hết không đạt yêu cầu của các doanh nghiệp Phân bố cũng chưa cân đối.

Tóm lại: Có thể thấy nguồn nhân lực Việt Nam như sau

- Nguồn nhân lực khá dồi dào nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, khai thác, đào tạo hiệu quả.

- Tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao, lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn nhiều.

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất.

- Cơ cấu phân bố lao động theo ngành nghê và vùng miền mất cân đối.

Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, … còn

chưa tốt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Thực tiễn thế giới:

Các quan niệm về công nghiệp hoá Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia Kinh nghiệm lịch sử cho thấy Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên

sẽ dẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từng quốc gia, thậm chí đối với một nước trong những thời kỳ lịch sử khác nhau Điều

đó được thể hiện khá rõ ở sự đa dạng trong việc lựa chọn mô hình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở các nước trên thế giới Nhưng tựu chung lại luôn thể hiện quan điểm lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Nhật Bản: Nếu nhắc đến công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước chúng ta không thể không nhắc đến Nhật Bản Một đất nước Châu Á với xuất phát điểm nghèo đói, lạc hâu, nguồn tài nguyên nghèo nàn Chỉ trong vòng 30 năm từ cuối thế kỉ 19 đến đàu tế kỉ 20, Nhật Bản đã có

1 bước phát triển ngoạn mục khiến cả thế giới phải thay đổi cách nhìn về đất nước nhỏ bé này:

- Vai trò người lãnh đạo: Để cải cách thay đổi 1 đất nước là điều vô cùng khó khăn đòi hỏi những con người thật sự trí tuệ và can đảm Nhật Bản qua các thời kì quan trong đều có những con người lãnh đạo rất mẫu mực Ta có thể kể đến như Minh Trị Thiên

Trang 7

Hoàng nổi tiếng với cuộc Duy tân Minh Trị Ông biết sử dụng người tài, và luôn biết lắng nghe cận thần cũng như dân chúng, ông sở hữu tấm lòng bao dung và chăm chỉ,

có rất nhiều ý tưởng Không thể không kể đến những chính sách cải cách làm thay đổi thần kì nước Nhật sau chiến tranh (1952-1973)

- Tinh thần Samurai trong con người xã hội Nhật Bản: Nhật Bản nổi tiếng với nền văn hóa của những võ sĩ dũng mãnh- những võ sĩ Samurai Samurai đã trở thành biểu tượng cho 1 giới võ sĩ đáng kính nể trong xã hội Họ được to luyện trong tư tưởng trầm lặng , an nhiên của Phật giáo Họ phải co đủ 3 yếu tố: trung thành, can đảm và danh dự đẻ giữu gìn 3 yếu tố này họ phải có thêm lòng tín nghĩa và tự trọng Tinh thần Samurai đã ăn sâu vào tâm thức của xã hội, con người Nhật Bản Nó hiện diện trong mọi lĩnh vực và mọi thành phần xã hội như 1 tài nguyên vô giá Rất nhiều ng lanhc đạo của Nhật đã khia thác tài nguyên này tạo nên thành công cho công cuộc CNH-HĐH ở Nhật.

- Nền giáo dục: Trong công cuộc CNH-HĐH, ng lãnh đạo Nhật Bản rất khôn ngoan khi xây dựng một nền giáo dục tuyệt đối Hình người lãnh đạo đất nước đc suy tôn tối đa Tất cả ý chí, tinh thần, vật chất của quốc gia , của dân chúng đều dành cho sự phục

vụ, hi sinh của người lãnh đạo Điều này ăn sâu trog tiềm thức ng dân Nhật Làm cho cuộc cải cách, đổi mới trở nên dễ dàng khi ng dân cả nước đồng lòng.

Tóm lại: Nhật Bản có chính sách cải cách hợp lí, kịp thời Lãnh đạo đất nước sáng suốt

có hướng đi đúng đắn và mạnh dạn Nhân dân trong nước đồng lòng, cần cù, chịu khó, kỉ cương cao, chất lượng cao Nền giáo dục tiên tiến và biết đi theo kịp thế giới.

Singapore:

Singapore có diện tích chỉ 660 km2, rộng hơn thành phố Hà Nội của Việt Nam một chút.

Đi xe máy một lèo hơn 30 phút là đi xuyên hết cả đất nước Dân số chỉ gần 5 triệu người, xấp xỉ dân số Sài Gòn Tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn không có gì cả Chỉ có con người, và một ít đất để ở Năm 1960, GDP của Singapore chỉ là 0,7 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người chỉ là 427 đô-la Mỹ/ năm Thế mà năm 2005, GDP của Singapore

đã là hơn 116 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người là 26,892 đô-la Mỹ/năm Nước Singapore hiện nay là nước có thu nhập bình quân đầu người lớn thứ 2 ở châu Á, sau Nhật Bản và nằm trong hàng các nước tiên tiến, văn minh, giàu có nhất trên thế giới Kinh nghiệm đầu tiên và quan trọng nhất có thể thấy được là đảng PAP của ông Lý Quang Diệu tập hợp được rất nhiều người tài, người có học vấn cao Là người lãnh đạo, thì cần phải có nhiều người tài Không có tài, thì không thể lãnh đạo được Đó là ý kiến của ông Lý Quang Diệu Bản thân ông Tổng bí thư Lý Quang Diệu đã tốt nghiệp ngành luật ở trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh năm 1949, khi ông 26 tuổi Quan điểm của ông Tổng bí thư đảng kiêm Thủ tướng Lý Quang Diệu về trọng dụng, thu hút nhân tài đã được đảng PAP thực hiện triệt để, rất có hiệu quả “Lãnh đạo xấu sẽ đuổi

Trang 8

người tốt,người giỏi, không cho họ được giữ những chức vụ quan trọng” Đất nước Singapore không những tìm tòi và sử dụng người tài trong công dân Singapore, mà còn thu hút nhân tài từ nước khác đến Người tài đến Singapore làm việc, được định cư lâu dài, và được gia nhập quốc tịch Singapore dễ dàng.

B VÌ SAO PHẢI LẤY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC:

Nguồn lực con người là gì?:

Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội,… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người, có thể sử dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Nguồn lực con người luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế :

- Nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất.

- C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của LSX.

- Trong truyền thống VN xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia"

Chủ nghĩa Xã hội có được xây dựng thành công hay không còn tuỳ thuộc vào việc chúng

ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi Việt Nam bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã

hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa"

Để làm rõ hơn quan điểm trên của Hồ Chí Minh, cần nghiên cứu vai trò nguồn lực con người trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội.

Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế

- Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định

Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu: nhan tố tự nhiên, nhân tố con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn)

Nguồn lực con người xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và trong tương lai Vai trò của người lao động được Lênin nhấn mạnh là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất Con người là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, chỉ khi kết hợp con người, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng Mặc khác con người là khách thể, là đối tượng khai thác các năng

Trang 9

lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển => Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các quá trình kinh tế xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực

Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác sử dụng các nguồn lực khác Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn

Kinh tế tăng trưởng mang lại sự giàu có về vật chất => Không ngoài mục đích đáo ứng tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con người.=> Con người không chỉ là tác động mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế

Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực chính trị

Từ khi giai cấp công nhân và đảng của nó lãnh đạo toàn xã hội thì con người đã được giải phóng khỏi áp bức dân tộc, áp bức giai cấp, trở thành người làm chủ đất nước, nhân dân

tự tổ chức thành nhà nước dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, Hồ Chí Minh nhiều lần lưu ý rằng, nước ta phải đi đến dân chủ thực sự, "Chúng ta phải ra sức thực hiện

những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự”

Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh.

Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ.

Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của Đảng, phổ biến luật pháp của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu dân tin; người dân chủ động tích cực thực hiện đường lối đó,

có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội sẽ làm tăng sức mạnh của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi

âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực xã hội

Trang 10

Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội

Ở đây, vị trí trung tâm của con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải

là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải mà là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền.=> Vậy để phát triển xã hội bền vững trước hết cần phát triển con người một cách bền vững

Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tue tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : Phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững Quan điểm của Đảng đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới con người trước hết và treeb hết phải nêu cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến dổi tự nhiên, là phương tiện, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế đồng thời

là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế- xã hội

C NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN

I ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NHỮNG LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC.

Trước hết phải khẳng định đây là một quan điểm cực kì đúng đắn có thể áp dụng cho bất kì quốc gia, dân tộc nào Sự tồn tại bền vững và phát triển theo con đường tiến bộ xã hội của một quốc gia dân tộc nào cũng phụ thuộc vào 5 yêu tố nguồn lực chủ yếu: vốn, khoa học và công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế và quản

lý nhà nước Trong đó, nguồn lực con người được coi là yếu tố cơ bản và quyết định nhất.

Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của thời kỳ hội nhập đang trở thành đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Việt Nam có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng lao động khá dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, thực tế chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, cần được cải thiện

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII, khẳng định: “phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể

và cộng đồng xã hội”(1)

Ngày đăng: 05/11/2018, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w