1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ Luật Dân sự 2 Phân tích hợp đồng đặt cọc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thuê nhà ở

12 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập học kỳ môn Luật Dân sự 2. Đề bài: Phân tích hợp đồng đặt cọc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thuê nhà ở. Hãy sưu tầm và phân tích một vụ việc về hợp đồng thuê nhà ở trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng nhà ở cũng tăng lến Sử dụng nhà có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau, từ mục đích thiết yếu nhất là để ở đến những mục đích như tạo địa điểm buôn bán, mở dịch vụ,… Tuy nhiên, trong bất cứ hợp đồng nào cũng tồn tại vấn đề rủi ro nhất định Do đó, đi kèm với các hợp đồng thường có một biện pháp bảo đảm

để tăng tính đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chính Để làm rõ hơn vấn

đề trên, trong phạm vi bài này, ta sẽ phân tích đề 13: “Phân tích hợp đồng đặt cọc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thuê nhà ở Hãy sưu tầm và phân tích một vụ việc về hợp đồng thuê nhà ở trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.”

NỘI DUNG

I, Cơ sở lý luận chung về hợp đồng đặt cọc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thuê nhà ở

1.Lý luận chung về hợp đồng thuê nhà ở:

1.1 Khái niệm:

Áp dụng điều 480 BLDS về hợp đồng thuê tài sản, có thể định nghĩa hợp đồng thuê nhà ở như sau: “ Hợp đồng thuê nhà ở là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên cho thuê giao tài sản, ở đây là nhà ở, cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn còn bên thuê phải trả tiền thuê.”

1.2.Đặc điểm

+ Là hợp đồng chuyển gia quyền sử dụng tài sản

+ Là hợp đồng có đền bù

+ Là hợp đồng song vụ

+ Có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế Vì pháp luật không quy định, do vậy tùy vào hai bên thỏa thuận, hợp đồng thuê nhà ở có thể là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực tế phụ thuộc vào hai bên có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực hợp đồng

1.3 Hình thức:

Trang 2

Theo điều 492 “Hình thức hợp đồng thuê nhà phải được thành lập bằng văn bản, nếu thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên thì phải công chứng hoặc chứng thực và phải đăng kí, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Thông thường, hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện trong thời gian dài và nhà ở là tài sản gắn liền với đất, được sự quản lý của nhà nước do vậy, trong mọi trường hợp, hợp đồng thuê nhà ở có giá trị khi được thành lập bằng văn bản Trường hợp thuê nhà trên 6 tháng thì phải công chứng, chứng thực cũng như đăng kí

2 Lý luận chung về biện pháp bảo đảm đặt cọc:

2.1 Định nghĩa :

Đặt cọc là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kia một tài sản ( tiền, vật ) trong một thời hạn nhất định nhằm đảm bảo việc giao kết, thực hiện một hợp đồng, mà các bên đang hướng tới hoặc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng là giao kết giữa các bên

2.2.Đặc điểm:

+ Về thời điểm xác lập: đặt cọc có thể xác lập khi chưa có bất kỳ hợp đồng nào được xác lập giữa 2 bên mà mới chỉ có sự hứa hẹn về việc xác lập hợp đồng

+ Về đối tượng bảo đảm: Đối tượng của đặt cọc chỉ có thể là tiền hoặc vật Trong đó nếu đối tượng là tiền thì khoản tiền đó luôn đồng thời mang 2 chức năng là bảo đảm và thanh toán Theo đó, khi mục đích đặt cọc chưa được thực hiện thì khoản tiền mang chức năng bảo đảm, nếu đã được thực hiện và bên đặt cọc là bên có nghĩa vụ thanh toán thì khoản tiền mang chức năng thanh toán

+ Về mục đích: biện pháp đặt cọc có 2 mục đích là bảo đảm giao kết và bảo đảm thực hiện hợp đồng Trong đó, tùy theo từng trường hợp cụ thể, biện pháp đặt cọc có thể mang mục đích đơn ( chỉ bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng), có thể mang mục đích

Trang 3

kép ( vừa bảo đảm cho việc giao kết vừa bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đó)

+ Về chủ thể: Trong đặt cọc không thể xác định được bên bảo đảm và bên được bảo đảm bới 3 lí do : (1) quan hệ đặt cọc có thể xác lập trước khi quan hệ nghĩa vụ giữa 2 bên được hình thành ( trong trường hợp này chưa thể xác định bên nào có nghĩa vụ) (2) nếu đặt cọc với mục đích là bảo đảm giao kết thì bên nào cũng phải thực hiện việc giao kết hợp đồng (3) nếu đặt cọc với mục đích bảo đảm thực hiện hợp đồng thì bên nào cũng phải thực hiện hợp đồng đó Do đó pháp luật không quy định cụ thể bên nào phải đặt cọc và

vì thế có thể là 1 trong 2 bên là bên đặt cọc tùy hoàn cảnh cụ thể

+ Về tính bảo đảm: từ nội dung và đặc điểm về chủ thể có thể thấy cả 2 bên đều được bảo đảm, bởi bên nào cũng phải chịu hậu quả của đặt cọc Có thể nói biện pháp đặt cọc là biện pháp bảo đảm 2 chiều

2.3 Hình thức :

Điều 358 BLDS quy định “Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.”

Mặt khác, theo quy định tại điều 29 Nghị định 163/2006 về giao dịch bảo

đảm: “Trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền

mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước.” thì khi một bên giao cho bên kia một tài sản

chỉ được coi là quan hệ đặt cọc nếu các bên đã xác1ập văn bản về đặt cọc và trong văn bản đó xác định rõ khoản tài sản được chuyển giao giữa hai bên là tài sản đặt cọc Nói ngược lại, một bên giao cho bên kia một khoản tài sản với mục đích bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng nhưng không lập thành văn bản hoặc có lập thành văn bản về giao nhận tài sản mà không xác định rõ là tài sản đặt cọc thì giao dịch đó vẫn không được chấp nhận là giao dịch đặt cọc, khoản tài sản đó chỉ mang chức năng thanh toán Ngoài ra, pháp luật không bắt buộc nhưng văn bản của giao dịch bảo đảm đặt cọc có thể đươc công chứng , chứng thực tùy theo thỏa thuận các bên

Trang 4

3 Mối liên hệ về hiệu lực giữa hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 đã quy định

cụ thể về mối quan hệ giữa hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dấn sự Xét cụ thể về một hợp đồng thuê nhà ở có bảo đảm bằng thế đặt cọc thì có thể hình dung mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng này như sau:

Theo Khoản 1, nếu hợp đồng thuê nhà ở có bảo đảm bằng biện pháp đặt cọc bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên nhưng chưa được thực hiện thì hợp đồng đặt cọc bị chấm dứt Hợp đồng đặt cọc bị chấm dứt trong trường hợp này, nghĩa là đã có hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp nữa, chứ không phải là hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu ngay từ khi ký kết

Theo khoản 2 và khoản 4, việc hiệu lực của hợp đồng đặt cọc bị chấm dứt ở trường hợp nào ( vô hiệu, bị hủy bỏ, đơn phương chấm dứt) cũng không làm chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Theo khoản 3, nếu hợp đồng thuê nhà ở có bảo đảm bằng đặt cọc bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi

ý chí đơn phương của một bên và đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng đặt cọc không bị đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đặt cọc này vì thấy không cần thiết phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa

Theo Khoản 5, nếu hợp đồng thuê nhà ở bị vô hiệu, bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn

bộ hợp đồng thuê nhà ở thì bên nhận cọc ( bên chủ nhà ) có quyền xử lý phần tiền cọc để thanh toán nghĩa vụ trả tiền nhà của bên thuê nhà ở cho đến thời điểm hợp đồng bị vô hiệu, bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt

Trang 5

II, Phân tích vụ việc thực tiễn:

1 Tóm tắt vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà ở”

Nguyên đơn: Ông Phạm Công Trình, (sau đây sẽ gọi là bên A)

Bị đơn: Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt – Hàn; Đại

diện theo pháp luật: Bà Phan Thị Dung ( Sau đây sẽ gọi là bên B)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị Kim Thu (vợ ông Trình)

+ Ngày 01/12/2006, vợ chồng ông Phạm Công Trình, bà Phạm Thị Kim Thu,

có ký hợp đồng thuê nhà với Công ty đào tạo chuyển giao công nghệ Việt – Hàn do bà Phan Mỹ Dung là chủ tịch Hội Đồng quản trị (HĐQT); nội dung

vợ chồng ông Trình cho công ty Việt – Hàn thuê ngôi nhà số 47 Võ Văn Dũng, phường Ô chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với thời hạn 10 năm nhằm phục vụ hai mục đích mở lớp giảng dạy nghề và để ở

+ Theo nội dung hợp đồng, kể từ ngày 01/01/2007, giá thuê 1.050 USD/tháng cho 30 tháng đầu tiên Sau khi ký hợp đồng thuê nhà bên B sẽ đặt cọc cho bên A khoản tiền không tính lãi là 1.000 USD và từ tháng thứ 13 là 2.150 USD để đảm bảo thực hiện và tuân thủ các điều kiện của hợp đồng Sau khi ký hợp đồng, bên B đặt cọc 1000 USD và thanh toán tiền nhà đến hết tháng 6/2008

+ Trong quá trình sử dụng, bên B có tiến hành sửa chữa nhà, khi đến hạn giao hết số tiền đặt cọc là 01/01/2008, bên B vẫn không giao tiền cho bên A + 4/2008, bà Dung đề nghị chấm dứt hợp đồng, ông Trình đăng báo cho thuê nhà

+ Tháng 6/2008, ông Trình tiếp tục có thông báo yêu cầu công ty chuyển nốt tiền đặt cọc, nhưng phía công ty không đáp ứng được mà còn yêu cầu bổ sung phụ lục hợp đồng, ông Trình đồng ý tăng mức phạt đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu tăng tiền đặt cọc Nhưng hai bên không thỏa thuận được + Ngày 25/06/2008, công ty gửi văn bản yêu cầu gia đình ông Trình bồi thường 5300 USD và 20.000.000đ tiền vận chuyển Tháng 7/2008, bên thuê

đã không tiến hành trả lại nhà mà lại tiến hành niêm phong ngôi nhà lại

Trang 6

+ Ông Trình có đơn khởi kiện ra Tòa vào ngày 4/11/2008.

2 Giải quyết vụ án

2.1 Những tranh chấp đó đã được Tòa án nào giải quyết hay chưa được tòa án giải quyết?

Trong vụ án này, có hai tranh chấp xảy ra, đó là tranh chấp về khoản tiền đặt cọc Đến thời hạn giao hết số tiền đặt cọc, bên thuê đã không chuyển tiền cho bên cho thuê, mặc dù đã được bên thuê yêu cầu nhiều lần Sau đó, vợ chồng ông Trình đăng báo tìm người thuê nhà.Từ đó, hai bên xảy ra tranh chấp

Tranh chấp thứ hai, là tranh chấp về khoản tiền bồi thường thiệt hại 5300USD và 20.000.000đ tiền hỗ trợ vận chuyển Số tiền này, là do công ty yêu cầu ông Trình đền bù cho nhưng ông Trình không đồng ý và yêu cầu ký phụ lục tăng tiền đặt cọc, những sự kiện trên đã khiến hai bên xảy ra tranh chấp

Trong hai tranh chấp này, có tranh chấp đầu tiên đã được hai Toàn giải quyết, nhưng tranh chấp thứ hai thì chưa được Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết

2.2 Cách giải quyết của Tòa án

- Tòa Án cấp sơ thẩm đã giải quyết như sau :

Tuyên bố giao dịch dân sự thể hiện bằng “hợp đồng thuê nhà giữa ông Phạm Công Trình và Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt Hàn do bà Phan Mỹ Dung đại diện ký ngày 01.12.2006” là giao dịch dân sự

vô hiệu

Buộc bên thuê là Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt Hàn do bà Phan Mỹ Dung đại diện phải trả lại nhà 47 Võ Văn Dũng, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội cho vợ chồng ông Phạm Công Trình, bà Phạm Thị Kim Thu do bà Đinh Thị Lành làm đại diện theo ủy quyền

Trang 7

Buộc Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt Hàn do bà Phan Mỹ Dung đại diện có trách nhiệm thanh toán tiền thuê nhà cho ông Phạm Công Trình, bà Phạm Thị Kim Thu do bà Đinh Thị Lành làm đại diện số tiền là 256.789.375 đồng

Buộc Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt Hàn do

bà Phan Mỹ Dung đại diện theo ủy quyền phải dỡ bỏ các thiết bị lắp đặt

và phần cải tạo, sửa chữa không được chấp nhận tại 47 Võ Văn Dũng để trả lại nguyên hiện trạng ban đầu ngôi nhà trên cho ông Phạm Công Trình

và bà Phạm Thị Kim Thu

Buộc Công ty cổ phần đào tạo chuyển giao công nghệ Việt Hàn do

bà Phan Mỹ Dung đại diện phải thanh toán tiền điện nước trong thời gian Công ty sử dụng

Bác các yêu cầu khác của đương sự.Ngoài ra bản án còn tuyên về

án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

- Đối với Tòa phúc thẩm đã giải quyết như sau :

Quyết định sửa bản án sơ thẩm, tuy nhiên, bản án sơ thẩm cũng chỉ có

sự thay đổi về trách nhiệm thanh toán tiền thuê nhà cho ông Phạm Công Trình, bà Phạm Thị Kim Thu do bà Đinh Thị Lành làm đại diện số tiền là 196.017.125 đồng

2.3 Bình luận về cách giải quyết của Tòa án:

Trong vụ án trên , ta xác định được có 2 tranh chấp chính cần giải quyết, tuy nhiên qua 2 lần xét xử , tòa án vẫn chưa giải quyết tranh chấp liên quan đến khoản tiền 5300 USD và 20 triệu đồng tiền vận chuyển do bên thuê yêu cầu Mặt khác, Tòa án không nhắc đến việc xử lí số tiền 1000 USD đặt cọc cho 12 tháng đầu của bên thuê mà ông Trình đã nhận Thêm nữa, cả hai lần Tòa xét xử khi đưa ra tuyên bố giao dịch dân sự thể hiện bằng “hợp đồng thuê nhà giữa vợ chồng ông Trình và công ty cổ phần Việt – Hàn” đã không nêu rõ lý do tại sao giao dịch dân sự vô hiệu

Trang 8

Theo quan điểm cá nhân, cả Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều đã sai khi yêu cầu Công ty Việt - Hàn phải thanh toán tiền thuê nhà cho ông Trình, bởi

lẽ phía trên Tòa đã tuyên vô hiệu, thì phía dưới không được yêu cầu bên thuê phải thanh toán tiền thuê nhà, mà phải gọi là khoản tiền bồi thường thiệt hại cho quãng thời gian ngôi nhà ông Trình không có khả năng sử dụng để sinh lợi tức

2.4 Quan điểm cá nhân đề xuất cách giải quyết vụ việc:

Đầu tiên, chúng ta xác định mục đích của hợp đồng thuê nhà trong vụ

án này là thuê nhà để nhằm thực hiện song song hai mục đích vừa để thành lập trung tâm đào tạo ngắn hạn và dài hạn cho sinh viên, vừa để ở Trong Bộ luật dân sự 2005, hợp đồng thuê nhà ở được quy định từ điều 492 đến điều

500, do đó ta áp dụng các điều luật này để giải quyết vụ án

Trong vụ án này, ta sẽ xem xét tính hợp pháp của hợp đồng thuê nhà ở, tính hợp pháp của hợp đồng đặt cọc, quy định phạt cọc và quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ta sẽ lần lượt xem xét từng vấn đề

Thứ nhất, tôi đồng ý với quan điểm của Tòa là giao dịch dân sự vô

hiệu Dựa vào những căn cứ sau:

Về hình thức hợp đồng thuê nhà, theo điều Điều 492 BLDS 2005:

“Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Xét trong vụ án này, ngôi nhà của

ông Trình cho thuê với thời hạn 10 năm, xét theo quy định pháp luật phải công chứng, chứng thực và phải đăng ký Tuy nhiên, hợp đồng thuê nhà ông Trình do hai bên lý kết lại không hề nhắc đến việc hợp đồng được đem đi công chứng, chứng thực và đăng ký, nên hợp đồng này có thể vi phạm về hình thức

Về đối tượng thanh toán của hợp đồng thuê nhà , hai bên sử dụng ngoại

tệ Theo quy định của pháp lệnh ngoại hối của Ủy ban thường vụ quốc hội số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm 2005, các cá nhân thường trú trong nước không được phép sử dụng ngoại tệ cụ thể tại Điều 22 Quy định

Trang 9

hạn chế sử dụng ngoại hối: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh

toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, uỷ thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép” Ta thấy hai

bên đã vi phạm quy định pháp luật, từ đó dẫn đên vi phạm về nội dung hợp đồng

Từ đó ta kết luận hợp đồng thuê nhà vô hiệu Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được quy định tại điều 137 BLDS 2005, theo đó, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên thuê phải trả lại nhà cho ông Trình theo tình trạng ban đầu khi nhận nhà, cụ thể phải gỡ bỏ các thiết bị đã lắp đặt trong nhà, còn ông Trình trả lại tiền đã nhận cho bên thuê Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường

Thứ hai, xét tính hợp pháp của hợp đồng đặt cọc và giải quyết tranh

chấp về đặt cọc

Theo vụ án trên , việc đặt cọc đã sử dụng đối tượng là ngoại tệ, tương

tự như xét tính hợp pháp của hợp đồng thuê nhà, hợp đồng đặt cọc vô hiệu Ta thấy cả hai bên đều có lỗi trong việc dẫn đến hậu quả hợp đồng vô hiệu Do

đó theo quy định tại điểm d mục 1 phần I nghị quyết 01/2003 về “Hướng dẫn

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình” thì sẽ không tiến hành phạt cọc Hai bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên cho thuê hoàn trả lại cho bên thuê tiền đặt cọc

Cụ thể, ông Trình sẽ trả lại 1000USD tiền đặt cọc đã nhận cho bên thuê là công ty Việt-Hàn

Thứ ba, giải quyết tranh chấp về khoản tiền 5300USD và 20 triệu đồng

tiền vận chuyển mà bên thuê yêu cầu

Trong việc xét xử hai lần của Tòa đều không giải quyết về yêu cầu này của bên thuê Xét thấy Tòa án nên điều tra làm rõ khoản tiền này là những khoản tiền gì tạo thành Nếu có đầy đủ chứng minh được những khoản tiền đó

Trang 10

phù hợp với quy định pháp luật và bảo đảm quyền lợi chính đáng cho bên thuê thì đưa ra xem xét yêu cầu ông Trình bồi thường thiệt hại cho công ty Việt -Hàn

Thứ tư, giải quyết bồi thường thiệt hại:

Bên thuê nhà giao tiền thuê nhà đến hết tháng 6 năm 2008, nhưng đến khi xảy ra tranh chấp giữa hai bên là từ tháng 7/2008, bên thuê đã không tiến hành trả lại nhà mà lại tiến hành niêm phong ngôi nhà lại ( với lí do bảo vệ trang thiết bị đã lắp trong ngôi nhà thuê) Xét thấy theo quy định trong BLDS

2005, bên thuê nhà muốn sửa nhà phải có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê Trong trường hợp này không hề nhắc đến việc sửa nhà của bên thuê

đã được đồng ý bằng văn bản nên bên thuê là bên có lỗi Mặt khác, bên thuê chỉ trả tiền đến tháng 6/2008 nhưng lại niêm phong nhà đến tận tháng 7/2008, bên thuê có lỗi tiếp trong trường hợp này nên bên thuê phải có trách nhiệm bồi thường cho bên cho thuê Bởi lẽ, trong thời gian nhà bị niêm phong nếu bên thuê trả lại nhà thì bên cho thuê sẽ không bị thâm hụt lợi nhuận khai thác

từ ngôi nhà đó Số tiền bồi thường sẽ dựa vào sự thỏa thuận của các bên, nếu các bên không thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật và theo thiệt hại cụ thể xác minh được qua quá trình điều tra

Cuối cùng, bên thuê nhà phải trả số tiền cho việc đã sử dụng nhà thuê

18 tháng cho ông Trình Số tiền này sẽ do Tòa án quyết định dựa trên mức giá thuê nhà cùng loại tại địa phương nơi xét xử Ngoài ra bên thuê phải thanh tóan tiền điện, nước, sinh hoạt phí đã sử dụng trong vòng 18 tháng đó

KẾT LUẬN

Qua phân tích một vụ việc cụ thể liên quan đến hợp đồng thuê nhà, ta có thể thấy được hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh xung quanh hợp đồng nói chung và hợp đồng thuê nhà trong phạm vi bài này Và thực tiễn xét xử đôi khi vẫn chưa thật sự thỏa đáng Do đó, vai trò của Tòa án ngày càng quan

Ngày đăng: 05/08/2020, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w