1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nồng độ fructosamin huyết thanh trong đánh giá mức độ kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường

90 36 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh nội tiết - chuyển hóa có tốc độ tăng nhanh trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; trong đó, đái tháo đường typ 2 chiếm tới 90 - 95% [25]. Bệnh có tính chất xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn tới không chỉ ngành y tế mà cả kinh tế xã hội. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng rối loạn chuyển hóa glucid, protid và lipid do hậu quả của kháng insulin kết hợp với giảm chế tiết insulin tương đối hay tuyệt đối. Tăng glucose máu dẫn đến các biến chứng cấp tính và lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là tim, mắt, thận, thần kinh. Cùng với sự phát triển kinh tế kéo theo sự thay đổi lối sống công nghiệp làm giảm các hoạt động thể lực, tình trạng dồi dào về thực phẩm, tốc độ đô thị hóa nhanh và sự già đi của dân số đã tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh đái tháo đường phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế giới. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF - International Diabetes Federation), năm 2013, thế giới có khoảng 382 triệu người mắc đái tháo đường; dự tính đến năm 2035, tức trong vòng chưa đầy 25 năm tới con số này tăng trên 592 triệu người. Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây ra khoảng 5,1 triệu ca tử vong trong năm 2013 [36]. Kiểm soát đường máu trong điều trị đái tháo đường là yếu tố then chốt để ngăn ngừa và làm chậm tiến triển các biến chứng của bệnh. Trong quá trình điều trị, các chỉ số glucose, HbA1C và fructosamin được dùng để theo dõi và đánh giá hiệu quả việc kiểm soát đường máu. Glucose máu phản ánh chính xác nồng độ glucose trong máu tại thời điểm lấy máu xét nghiệm nhưng không đánh giá được sự dao động của nồng độ glucose máu trong cả quá trình điều trị. HbA1C (Hemoglobin A1C) là một chỉ số được dùng phổ biến trong theo dõi bệnh nhân đái tháo đường. HbA1C phản ánh đường máu trung bình của bệnh nhân trong thời gian khoảng 3 tháng trước đó và có ý giá trị dự đoán các biến chứng của bệnh. Tuy nhiên, HbA1C không cho phép đánh giá kiểm soát đường máu trong thời gian ngắn (2 - 3 tuần) và nhiều trường hợp xét nghiệm HbA1C không đáng tin cậy như bệnh nhân thiếu máu, rối loạn cấu trúc huyết sắc tố… [41]. Fructosamin là sản phẩm đường hóa của albumin, phản ánh lượng đường trong phức hợp của glucose với albumin. Glucose gắn vào albumin theo tỷ lệ thuận và một chiều, tức là khi đã gắn vào sẽ không tách rời. Thời gian tồn tại của Fructosamin trong máu tương đương với albumin (thời gian bán hủy của albumin là 14 - 20 ngày). Vì vậy, fructosamin có giá trị thăm dò kết quả điều trị được sớm hơn so với HbA1C: khoảng 1 - 3 tuần so với HbA1C là 6 - 8 tuần [27]. Ngoài ra, trong những trường hợp xét nghiệm HbA1C không phản ánh chính xác sự dao động của đường máu thì xét nghiệm fructosamin được thực hiện thay thế [39]. Khoa khám bệnh - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên quản lý một lượng lớn bệnh nhân đái tháo đường và xét nghiệm fructosamin huyết thanh mới được triển khai. Để có căn cứ khoa học giúp cho việc quản lý, chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường được tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nồng độ fructosamin huyết thanh trong đánh giá mức độ kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với mục tiêu: 1. Mô tả nồng độ fructosamin huyết thanh ở các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. 2. So sánh sự phù hợp của fructosamin huyết thanh va HbA1C trong đánh giá mức độ kiểm soát đường máu ở các đối tượng trên.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

LÊ THỊ HƯƠNG THU

NỒNG ĐỘ FRUCTOSAMIN HUYẾT THANH TRONG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG MÁU

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Dịch tễ học bệnh đái tháo đường 3

1.2 Phân loại đái tháo đường 5

1.3 Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 2 8

1.4 Đặc điểm lâm sàng và các biến chứng 9

1.5 Các phương pháp điều trị đái tháo đường typ 2 13

1.6 Các chỉ số đánh giá kiểm soát đường máu 17

1.7 Các nghiên cứu về fructosamin trong nước và nước ngoài 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 31

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 32

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 32

2.3.2 Chỉ tiêu nghiên cứu 33

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.4 Vật liệu nghiên cứu 38

2.5 Xử lý số liệu 38

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41

3.2 Đặc điểm nồng độ fructosamin huyết thanh của các đối tượng nghiên cứu 45

Trang 3

3.3 So sánh sự phù hợp của HbA1C và fructosamin huyết thanh trong đánh

giá kiểm soát đường máu 50

Chương 4 BÀN LUẬN 55

4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 55

4.2 Đặc điểm nồng độ fructosamin huyết thanh của đối tượng nghiên cứu 58

4.3 So sánh sự phù hợp của frutosamin và HbA1C trong đánh giá kiểm soát đường máu 63

KẾT LUẬN 69

KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Sự phân bố và gia tăng ĐTĐ theo khu vực 4

Bảng 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm HbA1C 23

Bảng 2.1 Phân loại tăng huyết áp ở người ≥ 18 tuổi 34

Bảng 2.2 Phân loại thể trạng theo BMI (WHO – 2000, phân loại dành riêng cho khu vực châu Á) 35

Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ĐTĐ typ 2 (theo hội Nội tiết và ĐTĐ Việt Nam) 37

Bảng 2.4 Ý nghĩa của hệ số Kappa 39

Bảng 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh và tuổi trung bình theo giới 41

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 41

Bảng 3.3 Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.4 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu luyện tập thê dục 43

Bảng 3.5 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có tiền sử hút thuốc lá 44

Bảng 3.6 Phân bố thể trạng theo BMI của đối tượng nghiên cứu 44

Bảng 3.7 Tiền sử gia đình liên quan đến THA, ĐTĐ 45

Bảng 3.8 Hàm lượng fructosamin trung bình của đối tượng nghiên cứu 45

Bảng 3.9 Hàm lượng fructosamin trung bình theo nhóm tuổi tại thời điểm T1 46

Bảng 3.10 Hàm lượng fructosamin trung bình theo thời gian mắc bệnh tại thời điểm T1 46

Bảng 3.11 Hàm lượng fructosamin trung bình theo protein niệu tại thời điểm T1 47

Bảng 3.12 Tương quan giữa hàm lượng fructosamin và chỉ số lipid máu tại thời điểm T1 47

Bảng 3.13 Kiểm soát đường máu thông qua chỉ số fructosamin của đối tượng nghiên cứu 48

Trang 5

Bảng 3.14 Kiểm soát đường máu thông qua chỉ số fructosamin theo nhóm

tuổi tại thời điểm T1 48 Bảng 3.15 Kiểm soát đường máu thông qua chỉ số Fructosamin theo thời gian

mắc bệnh tại thời điểm T1 49 Bảng 3.16 Kiểm soát đường máu thông qua chỉ số fructosamin theo protein

niệu tại thời điểm T1 49 Bảng 3.17 Hàm lượng HbA1C trung bình của đối tượng nghiên cứu 50 Bảng 3.18 Kiểm soát đường máu thông qua chỉ số HbA1C của đối tượng

nghiên cứu 50 Bảng 3.19 Tương quan giữa hàm lượng glucose, fructosamin và HbA1C 51 Bảng 3.20 Sự phù hợp giữa hai phương pháp fructosamin và HbA1C trong

đánh giá đối tượng nghiên cứu đạt mục tiêu (T1) 53 Bảng 3.21 Sự phù hợp giữa hai phương pháp fructosamin và HbA1C trong

đánh giá đối tượng nghiên cứu đạt mục tiêu (T2) 54 Bảng 3.22 Sự phù hợp giữa hai phương pháp fructosamin và HbA1C trong

đánh giá đối tượng nghiên cứu đạt mục tiêu (T3) 54 Bảng 4.1 Kết quả nghiên cứu đánh giá cân bằng đường huyết theo HbA1C

của một số tác giả 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Các biến chứng của ĐTĐ 13

Hình 1.2 Khuyến cáo điều trị ĐTĐ typ 2 theo ADA (2016) 17

Hình 1.3 Mô hình phân tử hemoglobin A 20

Biểu đồ 3.1 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 42

Biểu đồ 3.2 Tiền sử các bệnh lý liên quan 43

Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa fructosamin và HbA1C tại thời điểm T1 52

Biểu đồ 3.4 Tương quan giữa fructosamin và HbA1C tại thời điểm T2 52

Biểu đồ 3.5 Tương quan giữa fructosamin và HbA1C tại thời điểm T3 53

Trang 7

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh nội tiết - chuyển hóa có tốc độ tăng nhanh trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; trong đó, đái tháo đường typ 2 chiếm tới 90 - 95% [25] Bệnh có tính chất xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn tới không chỉ ngành y tế mà cả kinh tế xã hội Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng rối loạn chuyển hóa glucid, protid và lipid

do hậu quả của kháng insulin kết hợp với giảm chế tiết insulin tương đối hay tuyệt đối Tăng glucose máu dẫn đến các biến chứng cấp tính và lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là tim, mắt, thận, thần kinh

Cùng với sự phát triển kinh tế kéo theo sự thay đổi lối sống công nghiệp làm giảm các hoạt động thể lực, tình trạng dồi dào về thực phẩm, tốc độ đô thị hóa nhanh và sự già đi của dân số đã tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh đái tháo đường phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế giới Theo Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF - International Diabetes Federation), năm 2013, thế giới

có khoảng 382 triệu người mắc đái tháo đường; dự tính đến năm 2035, tức trong vòng chưa đầy 25 năm tới con số này tăng trên 592 triệu người Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây ra khoảng 5,1 triệu ca tử vong trong năm

2013 [36]

Kiểm soát đường máu trong điều trị đái tháo đường là yếu tố then chốt để ngăn ngừa và làm chậm tiến triển các biến chứng của bệnh Trong quá trình điều trị, các chỉ số glucose, HbA1C và fructosamin được dùng để theo dõi và đánh giá hiệu quả việc kiểm soát đường máu

Glucose máu phản ánh chính xác nồng độ glucose trong máu tại thời điểm lấy máu xét nghiệm nhưng không đánh giá được sự dao động của nồng độ glucose máu trong cả quá trình điều trị

Trang 8

2

HbA1C (Hemoglobin A1C) là một chỉ số được dùng phổ biến trong theo dõi bệnh nhân đái tháo đường HbA1C phản ánh đường máu trung bình của bệnh nhân trong thời gian khoảng 3 tháng trước đó và có ý giá trị dự đoán các biến chứng của bệnh Tuy nhiên, HbA1C không cho phép đánh giá kiểm soát đường máu trong thời gian ngắn (2 - 3 tuần) và nhiều trường hợp xét nghiệm HbA1C không đáng tin cậy như bệnh nhân thiếu máu, rối loạn cấu trúc huyết sắc tố… [41]

Fructosamin là sản phẩm đường hóa của albumin, phản ánh lượng đường trong phức hợp của glucose với albumin Glucose gắn vào albumin theo tỷ lệ thuận và một chiều, tức là khi đã gắn vào sẽ không tách rời Thời gian tồn tại của Fructosamin trong máu tương đương với albumin (thời gian bán hủy của albumin là 14 - 20 ngày) Vì vậy, fructosamin có giá trị thăm dò kết quả điều trị được sớm hơn so với HbA1C: khoảng 1 - 3 tuần so với HbA1C là 6 - 8 tuần [27] Ngoài ra, trong những trường hợp xét nghiệm HbA1C không phản ánh chính xác sự dao động của đường máu thì xét nghiệm fructosamin được thực hiện thay thế [39]

Khoa khám bệnh - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên quản lý một lượng lớn bệnh nhân đái tháo đường và xét nghiệm fructosamin huyết thanh mới được triển khai Để có căn cứ khoa học giúp cho việc quản lý, chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường được tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nồng độ fructosamin huyết thanh trong đánh giá mức độ kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với mục tiêu:

1 Mô tả nồng độ fructosamin huyết thanh ở các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

2 So sánh sự phù hợp của fructosamin huyết thanh và HbA1C trong đánh giá mức độ kiểm soát đường máu ở các đối tượng trên

Trang 9

3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Dịch tễ học bệnh đái tháo đường

ĐTĐ là một bệnh mạn tính xuất hiện khi cơ thể không thể sản xuất đủ hormon insulin hoặc không thể sử dụng insulin một cách hiệu quả [25] Insulin là một hormon được sản xuất từ tuyến tụy, cho phép glucose từ máu đi vào trong tế bào nơi glucose được chuyển thành năng lượng cho các hoạt động chức năng của cơ thể Người bị ĐTĐ không hấp thu glucose như bình thường và glucose vẫn lưu hành trong máu (tình trạng tăng glucose máu) gây tổn hại đến các mô của cơ thể theo thời gian Các tổn thương này dẫn đến các biến chứng suy giảm chức năng và đe dọa tính mạng của người bệnh

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, lối sống công nghiệp, giảm thiểu các hoạt động thể lực, dồi dào về thực phẩm, dư thừa về năng lượng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ typ 2

1.1.1 Trên thế giới

Theo thống kê của Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF - International Diabetes Federation) qua các thời kỳ, số người mắc bệnh ĐTĐ và gánh nặng của bệnh đối với xã hội không ngừng gia tăng Trong ấn bản thứ 6 về

“Diabets atlas - bản đồ bệnh đái tháo đường” năm 2013, IDF ước tính thế giới

có khoảng 382 triệu người mắc ĐTĐ, chiếm 8,3% dân số thế giới Nếu duy trì tốc độ phát triển như vậy, dự tính đến năm 2035 số người mắc ĐTĐ sẽ là khoảng 592 triệu người, chiếm 8,8% dân số thế giới tại thời điểm đó Như vậy, trong vòng chưa đầy 25 năm, số người mắc ĐTĐ được dự tính là sẽ tăng 55%, đây là một tốc độ đáng báo động [36]

Trang 10

4

Một thực trạng đáng lo ngại đó là có tới 80% bệnh nhân ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và tốc độ phát triển bệnh ở các khu vực này cũng rất cao [36]

Bảng 1.1 Sự phân bố và gia tăng ĐTĐ theo khu vực

(Triệu người)

Năm 2035 (Triệu người) Tăng (%)

kỳ Cũng trong năm 2013 ĐTĐ gây ra khoảng 5,1 triệu ca tử vong trên toàn thế giới và chi phí y tế cho việc chăm sóc bệnh nhân ĐTĐ ước tính trên 548

tỷ đô la, dự tính đến năm 2035 con số này sẽ là trên 627 tỷ đô la [36]

Một vấn đề đang được quan tâm đó là ĐTĐ không được chẩn đoán do tình trạng quản lý bệnh ĐTĐ còn nhiều yếu kém Tình trạng này không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển, thậm chí ngay cả ở các nước phát triển tỷ lệ ĐTĐ không được chẩn đoán cũng rất phổ biến Cũng theo ước tính của IDF,

Trang 11

5

năm 2013 có khoảng 175 triệu trường hợp ĐTĐ không được chẩn đoán Hầu hết các trường hợp này là ĐTĐ typ 2 [36] Các nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều trường hợp ĐTĐ không được chẩn đoán đã có biến chứng như bệnh thận mạn tính, bệnh võng mạc, thần kinh và tim mạch Người ta nhận thấy việc chẩn đoán ĐTĐ giống như một tảng băng, phần nổi - phần được chẩn đoán - chiếm một phần nhỏ, còn phần chưa được chẩn đoán chính là phần chìm của tảng băng này [70]

ĐTĐ đã, đang và sẽ là một “đại dịch” trên phạm vi toàn thế giới Đó không chỉ là vấn đề của ngành y tế mà đòi hỏi sự phối hợp hành động trên nhiều lĩnh vực

1.1.2 Tại Việt Nam

Theo một điều tra dịch tễ học của bệnh viện Nội tiết Trung ương năm

2012, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại các vùng miền Núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ lần lượt là: 4,82%; 5,81%; 6,37%; 3,82%; 5,95%; 7,18% và toàn quốc là 5,42%

Tỷ lệ mắc rối loạn dung nạp glucose máu của các vùng trên lần lượt là 10,7%; 11,25%; 13,06%; 10,7%; 17,53%; 13,58% và toàn quốc là 13,68% Phần lớn người dân hiểu biết về bệnh ở mức độ thấp, chỉ có 0,3% có kiến thức tốt Tỷ

lệ mắc bệnh ĐTĐ trong hai cuộc điều tra năm 2002 và 2012 cho thấy sau 10 năm tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng từ 2,7% lên 5,42%; tăng khoảng 201%, đây là tỷ lệ báo động về sự gia tăng bệnh ĐTĐ tại Việt Nam [1]

1.2 Phân loại đái tháo đường

Theo quan điểm hiện nay, ĐTĐ được phân loại như sau [5], [26]:

1.2.1 Đa ́ i tháo đường typ 1

ĐTĐ typ 1 được gây ra bởi phản ứng tự miễn dịch khi hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công vào các tế bào β của tụy Kết quả của quá trình này là

cơ thể không thể sản xuất đủ insulin để đáp ứng nhu cầu chuyển hóa Cơ chế

Trang 12

6

bệnh sinh của bệnh vẫn chưa được hiểu biết một cách đầy đủ Bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường gặp nhất ở trẻ em và người trẻ Bệnh nhân ĐTĐ typ 1 phải dùng insulin để duy trì nồng độ glucose bình thường trong máu

ĐTĐ typ 1 thường xuất hiện đột ngột và có thể có các triệu chứng: khát nước và khô miệng, đái nhiều, đói nhiều, cảm giác mệt mỏi, giảm cân đột ngột, chậm lành vết thương, nhiễm trùng tái phát,…

1.2.2 Đa ́ i tháo đường typ 2

ĐTĐ typ 2 thường gặp nhất, chiếm 90 - 95% các trường hợp ĐTĐ [25] Bệnh được đặc trưng bởi sự rối loạn hoạt động hay rối loạn tình trạng tiết insulin kèm theo kháng insulin Do các triệu chứng của bệnh thường kín đáo, diễn biến một cách âm thầm nên ĐTĐ typ 2 thường không được chẩn đoán trong nhiều năm

Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chưa được biết một cách rõ ràng, nhưng có nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh đã được ghi nhận, bao gồm [13]:

 Tăng đường máu trong thời kỳ mang thai

Ngược lại với ĐTĐ typ 1, đa phần các bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có thể kiểm soát đường máu thông qua việc điều chỉnh chế độ ăn, uống, tăng cường hoạt động thể lực và sử dụng thuốc uống hạ đường máu Khi không thể duy trì đường máu như mong muốn bằng các biện pháp trên, insulin sẽ được bổ sung vào chế độ điều trị [25]

Trang 13

7

1.2.3 Đái tháo thường thai kỳ

Là tình trạng giảm dung nạp glucose hoặc ĐTĐ được phát hiện lần đầu trong lúc mang thai (không loại trừ khả năng bệnh nhân đã có giảm dung nạp glucose hoặc ĐTĐ từ trước nhưng chưa được phát hiện) Với ĐTĐ thai kỳ, tỷ

lệ cao bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn của thai kỳ hơn là giai đoạn sớm Phần lớn các trường hợp sau sinh đường máu có thể trở về bình thường Tuy nhiên, những trường hợp ĐTĐ thai kỳ này có nguy cơ phát triển thành ĐTĐ typ 2 trong tương lai ĐTĐ thai kỳ nếu không được phát hiện và điều trị tốt sẽ có những tác động tiêu cực đến cả người mẹ và thai nhi [5]

1.2.4 Các thể đa ́ i tháo đường khác [5]

− Thiếu hụt di truyền chức năng tế bào β: MODY 1, MODY 2, MODY 3, AND ty lạp thể (mitochondrial)

− Thiếu hụt di truyền về tác động của insulin: Kháng insulin typ A, hội chứng Leprechaunism, hội chứng Rabson-Mendelhall, ĐTĐ teo mô mỡ

− Bệnh tuyến tụy ngoại tiết: Viêm tụy mạn, xơ sỏi tụy, chấn thương tụy, cắt tụy toàn bộ, ung thư tụy, xơ nang tụy

− ĐTĐ thứ phát sau các bệnh nội tiết: Bệnh to đầu chi, hội chứng Cushing, cường giáp, u tủy thượng thận, u tế bào tiết glucagon,…

− ĐTĐ do thuốc hoặc hóa chất: Glucocorticoid, hormone tuyến giáp, thiazide, interferon,…

− Nhiễm khuẩn: Virus sởi, quai bị, cytomegalovirus

− Hội chứng di truyền kết hợp với bệnh ĐTĐ: Hội chứng Down, hội chứng Klinefelter, hội chứng Turner,…

Trang 14

8

ĐTĐ typ 2 là bệnh hình thành do tác động qua lại của các yếu tố di truyền

và yếu tố môi trường (mắc phải) Vai trò của yếu tố di truyền đã được chứng minh trên nghiên cứu các trường hợp sinh đôi Vai trò của yếu tố môi trường cũng đã được chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu gần đây Yếu tố di truyền và mắc phải có vai trò quyết định gây ra bệnh ĐTĐ typ 2 thông qua cơ chế gây kháng insulin ở tổ chức mỡ và cơ vân, sản xuất glucose quá mức ở gan và sự khiếm khuyết tế bào β

1.3.1 Vai trò của sự đề kháng insulin

Đề kháng insulin tức giảm độ nhạy cảm với insulin của các tổ chức Ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, insulin không có khả năng thực hiện những tác động của mình như ở những người bình thường, biểu hiện thông thường bằng sự gia tăng nồng độ insulin trong máu Từ lâu người ta đã nhận thấy đáp ứng chuyển hoá với insulin (sự nhạy cảm với insulin) bị suy giảm trong một số tình trạng sinh lý và bệnh lý như béo phì, thai nghén, bị bệnh cấp tính, đái

tháo đường typ 2

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khởi đầu của sự xuất hiện bệnh ĐTĐ typ 2 đều bắt đầu từ kháng insulin Những yếu tố mắc phải như béo phì, ít hoạt động thể lực, tuổi cao là những yếu tố quan trọng góp phần gây ra kháng insulin Nhưng kháng insulin vẫn là một đặc điểm di truyền có vai trò quyết định ở tất cả các bệnh nhân ĐTĐ typ 2

Do rất khó đo lường sự đề kháng insulin trong thực tế và sự đề kháng insulin không hằng định trên một bệnh nhân, nên việc xác định vai trò của sự suy giảm độ nhạy cảm với insulin (hay sự đề kháng insulin) trong nguyên nhân của ĐTĐ typ 2 gặp nhiều khó khăn [2], [15]

Trang 15

9

1.3.2 Cơ chế rối loạn hoạt động của tế bào β

Cơ chế chính gây rối loạn hoạt động của tế bào β trong bệnh ĐTĐ typ 2 chưa rõ, tuy nhiên chắc chắn là có sự kết hợp của yếu tố di truyền và yếu tố mắc phải Các nghiên cứu cho thấy khối tế bào β bị giảm đi ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 Giải thích cho hiện tượng này có một số giả thuyết như sau: 1) Sự tích lũy mỡ ở tế bào β làm tăng quá trình chết theo chương trình của tế bào; 2) Vai trò của IAPP (islet amyloid polypeptide) là chất độc gây tăng chết tế bào β theo chương trình; 3) Bất thường chế tiết insulin ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được cải thiện khi glucose máu được kiểm soát tốt [15]

1.4 Đặc điểm lâm sàng và các biến chứng

1.4.1 Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng bệnh ĐTĐ rất đa dạng, các triệu chứng kinh điển được mô tả trong y văn là: Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, mệt mỏi, sút cân Nhưng thông thường người bệnh ĐTĐ typ 2 được phát hiện một cách tình cờ hoặc đến viện vì các triệu chứng khác nhau như [14], [15]:

 Triệu chứng về da: Khô da, mụn nhọt, hoại tử mỡ da

 Triệu chứng tim mạch: Đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành, thiếu máu

cơ tim

 Triệu chứng hô hấp: Viêm phổi, viêm phế quản do tạp khuẩn

 Triệu chứng tiêu hoá: Viêm lợi, viêm quanh răng, viêm dạ dày, rối loạn tiêu hoá

 Triệu chứng tiết niệu: Viêm thận bể thận cấp hoặc mạn

1.4.2 Biến chứng

Biến chứng của bệnh ĐTĐ rất đa dạng, bao gồm các biến chứng cấp tính

và các biến chứng mạn tính

- Các biến chứng cấp tính gồm có hôn mê do toan ceton, hôn mê do tăng

áp lực thẩm thấu, hôn mê do toan lactic và hôn mê do hạ đường huyết Đây là

Trang 16

* Bệnh lý tim mạch:

Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật phổ biến nhất ở bệnh nhân ĐTĐ [70] Các bệnh tim mạch thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ là đau ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại vi Ở bệnh nhân ĐTĐ, tăng huyết áp và cholesterol máu cao là các yếu tố nguy cơ góp phần làm gia tăng biến cố tim mạch [25]

* Bệnh thận mạn tính:

ĐTĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận mạn tính Bệnh được gây ra bởi tình trạng tổn thương các mạch máu nhỏ ở thận, làm cho thận giảm dần chức năng, cuối cùng dẫn đến suy thận Duy trì đường máu, huyết áp và cholesterol máu trong giới hạn bình thường làm giảm nguy

cơ bệnh thận do ĐTĐ [64]

Hiện nay, microalbumin niệu được khuyến cáo đưa vào sử dụng để phát hiện tổn thương thận ở giai đoạn sớm do ĐTĐ [17]

* Bệnh mạch máu ngoại vi:

ĐTĐ và hút thuốc lá là hai yếu tố chính gây ra bệnh mạch máu ngoại vi Đối với bệnh nhân ĐTĐ, nguy cơ mắc bệnh mạch máu ngoại vi gia tăng cùng với tuổi, thời gian mắc bệnh và sự xuất hiện của biến chứng thần kinh ngoại

vi Điều trị cần tích cực và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và bỏ thuốc lá [64] Bệnh nhân cần được siêu âm

Trang 17

11

Doppler mạch chi dưới hàng năm để phát hiện kịp thời để phát hiện các mảng

xơ vữa hình thành trong lòng mạch

* Biến chứng mắt:

Điển hình là bệnh lý võng mạc do ĐTĐ Bệnh võng mạc do ĐTĐ là biến chứng vi mạch ở cả ĐTĐ typ 1 và typ 2, xuất hiện ở gần như toàn bộ bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và hơn 77% trường hợp ĐTĐ typ 2 Bệnh lý võng mạc do ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở các nước công nghiệp và là nguyên nhân gây mù ngày càng phổ biến ở các nước thu nhập thấp và trung bình WHO ước tính rằng, bệnh lý võng mạc do ĐTĐ gây 4,8% trong số 37 triệu trường hợp mù lòa trên thế giới [69]

Ngoài ra có thể gặp biến chứng đục thuỷ tinh thể, liệt cơ vận nhãn, tăng nhãn áp,…

* Biến chứng thần kinh:

Biến chứng thần kinh là một dạng biến chứng hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, thường gặp là biến chứng thần kinh tự động (liệt dạ dày, đại tràng, đờ bàng quang, liệt dương ở nam giới,…) và biến chứng thần kinh ngoại vi (tê bì, dị cảm, tăng cảm giác đau, rối loạn phản xạ gân xương,…) Các tổn thương khác như liệt dây thần kinh sọ, teo cơ ít gặp hơn [15]

* Biến chứng nhiễm khuẩn:

Các bệnh lý nhiễm khuẩn như nhiễm nấm, vi khuẩn, virus thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ hơn so với những người khỏe mạnh do tổn thương mạch máu, thần kinh làm giảm khả năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại các tác nhân bên ngoài như các khả năng hóa ứng động bạch cầu, khả năng tưới máu cho vết thương… Vì vậy, bệnh lý nhiễm khuẩn ở các bệnh nhân ĐTĐ cũng có tiên lượng nặng hơn Các nhiễm khuẩn thường gặp như nhiễm khuẩn da niêm

Trang 18

* Các biến chứng cho thai kỳ:

Phụ nữ bị ĐTĐ dù ở typ nào khi mang thai cũng có nguy cơ cao xuất hiện biến chứng nếu không được theo dõi và kiểm soát đường máu chặt chẽ Đường máu cao trong thời kỳ mang thai có thể gây các bất thường cho thai nhi, tăng kích thước và trọng lượng thai nhi, sản xuất thừa insulin,… Điều này dẫn đến hàng loạt các vấn đề khi sinh như chấn thương cho cả mẹ và con, hạ đường máu đột ngột ở trẻ, tăng tỷ lệ tử vong chu sinh Những bà mẹ có ĐTĐ thai kỳ và con của họ đều có nguy cơ cao bị mắc ĐTĐ typ 2 [5]

* Các biến chứng khác:

ĐTĐ có một mối liên quan đến sức khỏe răng miệng, như tăng nguy cơ viêm lợi ở những người kiểm soát đường máu kém Viêm lợi tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến mất răng ở bệnh nhân ĐTĐ

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra liên quan giữa ĐTĐ typ 2 và tình trạng ngừng thở khi ngủ, ước tính khoảng 40% bệnh nhân ngừng thở khi ngủ có ĐTĐ [25]

Trang 19

13

Hình 1.1 Các biến chứng của ĐTĐ

1.5 Các phương pháp điều trị đái tháo đường typ 2

Cho đến nay chưa có phương pháp nào có thể điều trị khỏi bệnh ĐTĐ, tuy nhiên nếu bệnh nhân ĐTĐ được quản lý và điều trị đúng đắn, bệnh nhân sẽ có cuộc sống gần như bình thường Ngược lại, nếu không được điều trị tốt thì bệnh sẽ tiến triển ngày một nặng hơn và gây những biến chứng nặng nề

Quan điểm hiện nay trong khi điều trị bệnh nhân ĐTĐ typ 2 là “cá thể hóa”, tức là khi điều trị cần linh hoạt, tuỳ bệnh nhân cụ thể mà thầy thuốc đưa

ra chỉ định điều trị phù hợp [25]

Trang 20

14

1.5.1 Chế độ ăn, uống

Tiết chế ăn, uống là nền tảng của điều trị và phòng ngừa ĐTĐ, với mục đích nhằm đảm bảo cung cấp dinh dưỡng, cân bằng đầy đủ về lượng và chất

để có thể duy trì đường máu và cân nặng phù hợp, đảm bảo cho người bệnh

có đủ sức khoẻ để hoạt động và công tác

Thực tế, không có một công thức tính cụ thể về chế độ ăn cho tất cả các bệnh nhân ĐTĐ typ 2 vì chế độ ăn cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

+ Thể trạng gầy, béo

+ Có lao động thể lực hay không

+ Tập quán ăn uống

+ Kinh tế gia đình

Dựa vào những yếu tố trên mà người thầy thuốc có thể đưa ra những chế

độ ăn hợp lý cho từng người bệnh

1.5.2 Chế độ vận động thể lực

Vận động, thể dục hợp lý giúp cải thiện tác dụng insulin, giảm tình trạng đề kháng insulin, giảm glucose máu lúc đói, glucose máu sau ăn, cải thiện các rối loạn chuyển hóa, tim mạch và tâm lý ở bệnh nhân ĐTĐ

Nguyên tắc: Vận động đều đặn hằng ngày với mức độ tương đương nhau Vận động vừa sức và kéo dài có lợi hơn là vận động nhiều trong thời gian ngắn Cần biết rằng, vận động quá mức làm tăng tiết các hormon gây tăng glucose máu, có hại hơn có lợi [5]

1.5.3 Phương pháp điều trị dùng thuốc viên hạ đường máu

Các loại thuốc hạ đường máu được chỉ định sau khi chế độ ăn và vận động thể lực bị thất bại trong việc kiểm soát đường máu Việc sử dụng thuốc phải luôn luôn đi kèm với các nguyên tắc về tiết chế ăn uống và vận động

Trang 21

15

Các nhóm thuốc hạ glucose máu dùng đường uống

− Sulfamid hạ đường máu:

Các Sulfamid này thuộc nhóm sulfonylureas Hiện nay, thuốc được dùng phổ biến để điều trị ĐTĐ typ 2 Gồm 3 thế hệ: Thế hệ 1 (Tolbutamid, chloropropamid) hiện nay không còn sử dụng trên lâm sàng, thế hệ 2 (gliclazid, glibenclamid), thế hệ 3 (glimepiride) Cơ chế tác dụng chính của các Sulfamide hạ đường máu là kích thích tuỵ tăng tiết insulin nội sinh [19] Tác dụng phụ đáng lưu ý của nhóm thuốc này là gây tăng cân và hạ đường máu, nhất là các thuốc có thời gian bán thải dài, người già và bệnh nhân suy thận [19]

− Các thuốc uống hạ đường máu khác:

Ngoài hai nhóm thuốc chính kể trên, hiện nay có nhiều nhóm thuốc khác cũng được sử dụng trong điều trị ĐTĐ typ 2: Nhóm không sulfonylurea (meglitinid, nateglinid), nhóm acarbose (glucobay), Một số thuốc ĐTĐ mới

- được coi là triển vọng mới trong điều trị ĐTĐ như nhóm thuốc làm tăng hiệu ứng incretin, thuốc ức chế DPP-4, thuốc đồng vận GLP-1, nhóm thuốc

ức chế tái hấp thu đường ở ống thận,…[6]

Trang 22

16

1.5.4 Insulin trong điều trị đái tháo đường typ 2

Trong ĐTĐ typ 2, sự tăng đường máu là do giảm tiết hay có sự đề kháng insulin nên phương pháp điều trị chủ yếu là điều chỉnh chế độ ăn và dùng thuốc viên hạ đường máu Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ typ 2 kéo dài, tuỵ mất dần khả năng bài tiết insulin, gây thiếu hụt insulin Lúc này, người bệnh ĐTĐ typ 2 cần một lượng insulin đưa vào cơ thể để đáp ứng nhu cầu chuyển hoá đường Insulin là chỉ định bắt buộc trong các trường hợp bệnh nhân có đường máu quá cao; các trường hợp hôn mê do toan ceton, toan lactic, tăng áp lực thẩm thấu; bệnh nhân trong tình trạng nhiễm trùng, phẫu thuật; có biến chứng suy gan, suy thâ ̣n …[15], [55]

Insulin luôn giữ vai trò quan trọng trong điều trị ĐTĐ vì vai trò đối với chuyển hóa các chất carbonhydrat, lipid, protid của cơ thể và khả năng kiểm soát đường máu toàn diện, không giới hạn, sử dụng được cho nhiều tình trạng bệnh lý [58] Từ thế hệ insulin được chiết xuất từ động vật (heo, bò), đến thế

hệ insulin standard - human insulin sản xuất theo công nghệ r-DNA là insulin

có cấu trúc giống 100% với insulin do tụy người sản xuất Các insulin thế hệ mới (insulin analogs) tuy cũng sản xuất theo công nghệ r-DNA nhưng cấu trúc chỉ giống 99,99% với insulin do tụy người sản xuất, bằng cách thay 1-2 acid amin trên cấu trúc, insulin annalogs đã ra đời Các loại analogs theo thời gian tác dụng bao gồm insulin tác dụng nền (basal analogs: glargine, detemir), insulin tác dụng nhanh (rapid analogs: lispo, aspart, glulisine), insulin trộn sẵn (pre-mixed varieties) Ưu thế của insulin annalogs là tác dụng giống như insulin nội sinh nên hiệu quả, an toàn, ít nguy cơ hạ đường máu, ít tăng cân, dung nạp tốt, tác dụng ổn định [6]

Hiện nay, insulin dạng uống và insulin dạng hít (inhaled insulin) đã và đang được nghiên cứu để đưa vào sử dụng [6]

Trang 23

17

* Vấn đề tuân thủ trong điều trị đái tháo đường

"Tuân thủ" là sự tuân theo các ý muốn của người khác, trong điều trị ĐTĐ

đó là sự tuân theo của bệnh nhân đối với các hướng dẫn điều trị của thầy thuốc Sự tuân thủ liên quan đến các thuốc được chỉ định hoặc các biện pháp điều trị khác và thái độ hợp tác của bệnh nhân

Trong quá trình điều trị mỗi bệnh nhân sẽ được thầy thuốc xây dựng cho một chế độ điều trị cụ thể về chế độ ăn uống, sinh hoạt và chế độ thuốc hàng ngày

Hình 1.2 Khuyến cáo điều trị ĐTĐ typ 2 theo ADA (2016) [25] 1.6 Các chỉ số đánh giá kiểm soát đường máu

1.6.1 Chỉ số glucose máu

Chỉ số glucose máu phản ánh chính xác nồng độ glucose máu tại thời điểm lấy máu làm xét nghiệm Định lượng đường máu là xét nghiệm phổ biến

Trang 24

18

nhất và sớm nhất được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh ĐTĐ [44]

− Định lượng đường máu lúc đói:

Đây là một xét nghiệm thường quy, được làm phổ biến nhất trong chẩn đoán cũng như trong quá trình điều trị bệnh nhân ĐTĐ Bệnh nhân cần nhịn đói trước khi lấy máu xét nghiệm ít nhất 8 - 10 giờ, thời điểm lấy máu thường vào buổi sáng khi mà bệnh nhân đã nhịn đói qua đêm Giá trị bình thường ≤ 5,6 mmol/l [11]

− Định lượng đường máu sau ăn (2 giờ):

Đường máu bắt đầu tăng sau ăn khoảng 10 phút Ở người bình thường, nồng độ đường máu sẽ đạt đỉnh sau ăn khoảng 1 giờ và không vượt quá 7,8 mmol/l Sau 2 - 3 giờ, nồng độ đường máu sẽ trở về giới hạn bình thường, tuy nhiên sự tiêu hóa và hấp thu carbonhydrat còn tiếp tục sau 5 - 6 giờ Ở người mắc ĐTĐ, đường máu sau ăn sẽ tăng dai dẳng, không trở về bình thường sau

2 - 3 giờ Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh sự tăng nhanh và kéo dài của đường máu sau ăn tạo ra các đáp ứng mô và góp phần vào sự hình thành các biến chứng của bệnh ĐTĐ [25] Do đó ngoài đường máu lúc đói, cần căn

cứ vào kết quả đường máu sau ăn để điều chỉnh chế độ điều trị phù hợp

− Tự theo dõi đường máu (SMBG - Self-monitoring of Blood Glucose):

Các thử nghiệm lâm sàng chính ở các bệnh nhân ĐTĐ điều trị bằng insulin sử dụng SMBG như là một phần của can thiệp đa yếu tố để chứng minh lợi ích của việc kiểm soát đường máu tích cực trên các biến chứng của bệnh Các thử nghiệm này đã gợi ý SMBG là một phần không thể thiếu trong điều trị tích cực [25] SMBG cho phép bệnh nhân đánh giá đáp ứng của cá nhân họ với việc điều trị, đồng thời đánh giá họ có đạt mục tiêu kiểm soát Tích hợp kết quả SMBG vào quá trình quản lý bệnh nhân ĐTĐ có thể là công

Trang 25

1.6.2 Chỉ số HbA1C

− Hemoglobin và quá trình tạo thành HbA1C:

Hemoglobin (Hb) là một protein màu (chromoprotein), gồm một phân tử globin gắn với bốn nhân hem Sự tổng hợp Hb bắt đầu từ giai đoạn tiền nguyên hồng cầu đến giai đoạn hồng cầu lưới ở trong tủy xương Quá trình tạo thành Hb gồm có tổng hợp hem và tổng hợp globin

+ Hem: Là một sắc tố có màu, chung cho tất cả các loài, gồm một vòng porphylin, trung tâm chứa ion Fe2+ (quyết định màu đỏ của hồng cầu)

+ Globin: Là một protein đặc trưng cho từng loài, cấu tạo gồm bốn chuỗi polypeptide (α, β, δ, γ) giống nhau từng đôi một, mỗi chuỗi gắn với một hem Bình thường ở người trưởng thành có các loại Hb sau:

+ HbA1: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi β (α2β2), chiếm tỷ lệ 94 - 98%

+ HbA2: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi δ (α2δ2), chiếm tỷ lệ 2 - 3,5%

+ HbF: gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi γ (α2γ2), chiếm tỷ lệ 0 - 1% (còn gọi là huyết sắc tố bào thai vì chiếm tỷ lệ rất cao ở giai đoạn cuối của thai nhi và thời kỳ sơ sinh)

Ngoài ra khi có đột biến các gen cấu trúc hay gen điều hòa sẽ tạo ra các

Hb bất thường như: HbS, HbE, HbC, HbJ, bệnh thalassemia

Trang 26

20

Hình 1.3 Mô hình phân tử hemoglobin A

Sự kết hợp giữa glucose với một acid amin ở phần cuối của chuỗi β trong phân tử Hb tạo ra sản phẩm trung gian là Aldimin, sau đó Aldimin sẽ chuyển hóa thành HbA1 Tùy thuộc vào loại đường và vị trí gắn vào HbA, có 4 loại HbA1: HbA1a1, HbA1a2, HbA1b, HbA1C Trong máu đường đơn chủ yếu là glucose nên thành phần chủ yếu của HbA1 là HbA1C Phản ứng này chỉ xảy

ra theo một chiều và không cần chất xúc tác HbA1C tồn tại cùng với thời gian tồn tại của hồng cầu ở trong máu (khoảng 120 ngày)

− Vai trò của HbA1C:

Năm 1970, lần đầu tiên người ta ghi nhận hemoglobin glycat hóa (HbA1C) như một Hb “bất thường” trên bệnh nhân ĐTĐ Sau khi được phát hiện, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh có sự liên quan giữa nồng độ HbA1C và đường máu Tiềm năng sử dụng HbA1C trong việc chăm sóc bệnh nhân ĐTĐ lần đầu được đề cập đến vào năm 1985 trong một báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới Năm 2005, Tổ chức Y tế Thế giới cùng Liên đoàn Đái

Trang 27

21

tháo đường Thế giới đã xem xét và cập nhật lại các tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ Sau khi cân nhắc các dữ kiện thông tin và bằng chứng sẵn có vào thời điểm hiện tại, Ủy ban các chuyên gia thống nhất chưa nên chấp nhận sử dụng HbA1C như một tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ do tính chuẩn xác trong kỹ thuật xét nghiệm còn chưa được chuẩn hóa [12] Vào tháng 3 năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới tham khảo ý kiến của Ủy ban các chuyên gia đã đưa HbA1C là một trong các tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ Chẩn đoán ĐTĐ khi HbA1C ≥ 6,5%, xét nghiệm phải được thực hiện ở cơ sở xét nghiệm đã được NGSP (National glycohemoglobin standardization programe) cấp giấy chứng nhận và chuẩn hóa trong theo kỹ thuật dùng trong nghiên cứu DCCT (Diabetes control and complications trial) [46]

HbA1C tồn tại cùng với sự tồn tại của hồng cầu trong máu (120 ngày) do

đó nồng độ HbA1C phản ánh mức dao động đường máu trung bình trong vòng 8 - 12 tuần trước Xét nghiệm này có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày mà bệnh nhân không cần nhịn đói Các nghiên cứu gần đây đều nhấn mạnh vai trò của HbA1C trong việc theo dõi kiểm soát bệnh nhân ĐTĐ và việc đưa HbA1C về càng gần trị số bình thường càng làm giảm

có ý nghĩa các biến chứng của bệnh Theo nghiên cứu UKPDS (UK spective Diabetes Study), một nghiên cứu đa trung tâm theo dõi dài hạn các biến chứng của bệnh ĐTĐ, khẳng định kiểm soát đường máu tích cực làm cải thiện các biến chứng của bệnh Giảm 1% HbA1C có thể làm giảm 43% các bệnh mạch máu ngoại vi và cắt cụt chi dưới, 37% các bệnh mạch máu nhỏ, 19% đục thủy tinh thể, 16% biến chứng suy tim, 14% biến chứng nhồi máu cơ tim và 12% nguy cơ đột quỵ [64]

Pro-− Hạn chế của xét nghiệm HbA1C:

Không thể phủ nhận vai trò của HbA1C trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ĐTĐ, tuy nhiên nồng độ HbA1C có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu

Trang 28

22

tố như di truyền, huyết học và các bệnh lý liên quan

HbA1C phụ thuộc vào tuổi của hồng cầu, trong những trường hợp hồng cầu bị chậm thay đổi dẫn đến nhiều hồng cầu già, HbA1C đo được bị tăng giả tạo, không tương ứng với giá trị glucose máu trung bình Điều này thường gặp

ở những bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt, thiếu vitamin B12, thiếu folate Ngược lại, trong những trường hợp hồng cầu bị thay đổi quá nhanh, tỷ lệ hồng cầu non tăng cao bất thường, giá trị HbA1C đo được bị giảm giả tạo, không tương ứng với giá trị glucose máu trung bình Trường hợp này thường gặp ở những bệnh nhân bị tan máu, thiếu máu, những bệnh nhân được điều trị thiếu sắt, thiếu vitamin B12, thiếu folate [12]

Giá trị HbA1C có thể tăng cao hoặc giảm giả tạo trong những trường hợp bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính [49], [63] Tăng giả tạo có thể do nhiễu phân tích bởi hemoglobin bị carbamyl hóa khi nồng độ ure máu cao, dẫn đến giá trị HbA1C tăng giả tạo trong một số xét nghiệm Giá trị HbA1C có thể giảm giả tạo trong trường hợp lọc máu ngoài thận, đặc biệt trong trường hợp điều trị với erythropoietin [37], [52], [58]

Giá trị HbA1C còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp xét nghiệm Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ (ADA), xét nghiệm HbA1C phải được tiến hành trong một cơ sở xét nghiệm sử dụng phương pháp xét nghiệm đã được NGSP (National Glycohemoglobin Standardization Program) cấp chứng nhận và chuẩn hóa theo kỹ thuật xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu DCCT (Diabetes Control and Complications Trial) [46]

Các bệnh lý về Hemoglobin làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả xét nghiệm HbA1C Các bệnh HbF, HbE, methemoglobin, thalassemia hoặc các thay đổi hemoglobin do di truyền hoặc hóa chất, … có thể làm tăng hay giảm HbA1C [61], [66], [71] Đặc biệt trong bệnh lý HbE, một biến thể Hb phổ biến ở khu

Trang 29

số HbA1C không phù hợp [56]

Như vậy, mặc dù được coi là “tiêu chuẩn vàng” trong theo dõi điều trị ĐTĐ nhưng HbA1C cũng không đáng tin cậy trong nhiều trường hợp Trong những trường hợp này, xét nghiệm fructosamin huyết thanh được đề nghị thay thế [50]

Bảng 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm HbA1C [12]

1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất hồng cầu

Tăng HbA1C: thiếu sắt, thiếu Vitamin B12, giảm sinh hồng cầu

Giảm HbA1C: sử dụng erythropoietin, sắt, viamin B12, bệnh gan mạn tính, tăng hồng cầu lưới

2 Thay đổi về hemoglobin

Các bệnh về huyết sắc tố, HbF, HbE, methemoglobin, thay đổi hemoglobin do di truyền, hóa chất…có thể làm tăng hay giảm HbA1C

Tăng HbA1C: tăng đời sống hồng cầu sau cắt lách

Giảm HbA1C: giảm đời sống hồng cầu: lách to, bệnh huyết sắc tố, viêm khớp dạng thấp, sử dụng thuốc chống virus, ribavirin, dapsone

Trang 30

24

5 Kỹ thuật xét nghiệm

Tăng HbA1C: tăng bilirubin, carbamyl hemoglobin, nghiện rượu, dùng aspirin liều cao, dùng thuốc phiện kéo dài

Giảm HbA1C: tăng triglyceride máu

Biến thể HbA1C: do di truyền

1.6.3 Chỉ số fructosamin

− Danh pháp:

Fructosamin là tên gọi thông thường của 1- amino 1- deoxy fructose, cũng được gọi là isoglucosamine, hay nói bao quát hơn, fructosamin là một ketoamin, sản phẩm của phản ứng không cần enzym giữa đường (chủ yếu là glucose) và protein (chủ yếu là albumin) Albumin hay protein liên kết với glucose tạo thành sản phẩm “glycated”, viết tắt là SGA (serum glycated albumin) hay SGP (serum glycated protein) [27] Thuật ngữ “glycation” được

sử dụng để chỉ các phản ứng tạo thành các sản phẩm glycated Từ năm 1982, fructosamin bắt đầu được sử dụng trong các tài liệu sinh hóa lâm sàng để thay thế cho thuật ngữ “glycated protein” và “glycated albumin” [42]

− Quá trình đường hóa:

Trong cơ thể quá trình đường hóa diễn ra như sau: nhóm carbonyl của glucose kết hợp với nhóm amino của protein tạo thành aldimine (Schiff base), những chất này tiến triển thành ketoamin bền vững, chính là fructosamin Phản ứng này chỉ diễn ra theo một chiều và không cần có sự tham gia của chất xúc tác [27] Hàm lượng fructosamin ở người bình thường dưới 285µmol/l, tăng cao ở bệnh nhân ĐTĐ mà glucose máu không được kiểm soát tốt [11]

− Các phương pháp định lượng fructosamin:

+ Phenylhydrazine Procedure:

Ghiggeri GM và cộng sự [34] đã làm sạch “glycated albumin” từ huyết thanh của bệnh nhân ĐTĐ và phát hiện chất này phản ứng với

Trang 31

25

phenylhydrazine để tạo thành sản phẩm phenylhydrazone hấp thụ bước sóng

350 nm Tuy nhiên, phương pháp này không được triển khai ở các phòng xét nghiệm lâm sàng

+ Furosine Procedure:

Fructosamin bị thủy phân trong thời gian 18 giờ trong môi trường HCl 6 mmol/l ở 950C tạo thành 50% lysine, 30% furosine, 10% pyridosine và các sản phẩm khác Furosine được định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng (liquid chromatography) Mặc dù phương pháp này được khuyến cáo bởi độ đặc hiệu cao nhưng bước thủy phân kéo dài 18 giờ là một trở ngại lớn trong việc triển khai tại các phòng xét nghiệm [27]

+ Affinity Chromatography:

Acid phenylboric trong dung dịch kiềm tạo phức hợp với nhóm cis-diol của đường Huyết thanh của bệnh nhân được trộn với dung dịch N-3-aminobenzene boric acid Hỗn hợp này được khuấy lên ở bước sóng 330 nm ở

200C, chất fluorescence tỏa ra được đo ở bước sóng 490 nm Phương pháp này không được sử dụng rộng rãi tại các phòng xét nghiệm lâm sàng [27] + 2-Thiobarbituric Acid (TBA) Colorimetric Procedure:

Đây là phương pháp đo màu TBA Xử lý fructosamin với acid tạo ra hydroxymethylfurfuraldehyde (HMF) HMF được ước tính bằng cách đo sự hấp phụ ở bước sóng 284 nm

5-+ Nitroblue tetrazolium (NBT) Colometric Procedure:

Phương pháp NBT dựa trên khả năng khử của fructosamin trong môi trường kiềm Mẫu huyết thanh của bệnh nhân được cho thêm chất đệm carbonate (PH 10,8 và 370C) có chứa NBT, chất này sau đó bị khử và hấp thụ bước sóng 530 nm Phương pháp này có ưu điểm là nhanh, độ đặc hiệu cao, rẻ tiền và dễ tự động hóa [27]

Trang 32

26

+ Phương pháp ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay):

Ngày nay, ELISA là phương pháp phổ biến để định lượng fructosamin vì

độ nhạy và độ đặc hiệu cao Nguyên lý của phương pháp này dựa trên kỹ thuật miễn dịch enzyme gắn cạnh tranh Kháng thể sử dụng trong phương pháp ELISA là kháng thể đơn dòng thu hoạch từ chuột được miễn dịch với albumin glycosyl hóa tinh khiết Kháng thể này chỉ nhận diện và gắn với các epitope trên phân tử albumin glycosyl hóa mà không gắn với các protein khác cũng như albumin không glycosyl hóa

− Lợi ích lâm sàng của định lượng fructosamin:

Fructosamin tăng rõ ràng ở những bệnh nhân ĐTĐ so với nhóm không bị ĐTĐ [33], [42] Thời gian tồn tại của fructsomin trong máu bằng thời gian tồn tại của albumin (khoảng 28 ngày), ngắn hơn thời gian tồn tại của HbA1C (khoảng 120 ngày) Do đó, giá trị fructosamin phản ánh nồng độ đường máu trung bình trong khoảng thời gian ngắn hơn (2-3 tuần trước) Như vậy, fructosamin đáp ứng với sự thay đổi đường máu nhanh hơn so với HbA1C Định lượng fructosamin giúp thầy thuốc lâm sàng đánh giá hiệu quả của phác

đồ điều trị sớm hơn (ít nhất 2 tuần), trong khi HbA1C phải đợi ít nhất 4 tuần mới có thể thấy được sự thay đổi Điều này phù hợp với việc đánh giá bệnh nhân điều trị nội trú, bệnh nhân ĐTĐ mang thai cần kiểm soát đường máu chặt chẽ Đối với các bệnh nhân điều trị ngoại trú có kiểm soát, việc định lượng fructosamin hàng tháng cho phép đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị trong tháng trước đó và điều chỉnh chế độ điều trị phù hợp, thay vì phải đợi

3 tháng đối với HbA1C [30], [39], [40], [52], [73]

Trong các trường hợp chỉ số HbA1C không phản ánh chính xác sự dao động nồng độ glucose máu bao gồm tất cả các bệnh lý về máu làm ảnh hưởng (tăng hoặc giảm nồng độ hemoglobin) thì sử dụng fructosamin như một phương tiện thay thế, tuy nhiên cần làm thường xuyên hơn [43], [45], [48]

Trang 33

27

Nghiên cứu trong nhóm dân số suy thận mạn tính, nhất là bệnh nhân có tiêm erythropoietin thì sử dụng xét nghiệm fructosamin hay glycated albumin có giá trị hơn HbA1C [63]

Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy giá trị của fructosamin hay

“glycated albumin” không chỉ đánh giá kiểm soát đường máu mà còn có giá trị trong việc dự đoán một số biến chứng mạn tính của ĐTĐ [31], [57], [59], [60]

Ngoài ra, một số nghiên cứu đã đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng fructosamin trong việc sàng lọc và chẩn đoán ĐTĐ [28], [32], [35], [53] Nghiên cứu trên mô hình động vật cho thấy nồng độ fructosmin tăng ở chó, mèo bị stress kéo dài (do kích thích) gây tăng glucose máu mạn tính Không thấy nồng độ fructosamin tăng khi chó, mèo bị kích thích trong thời gian ngắn, tăng đường máu thoáng qua [47] Định lượng fructosamin có thể làm giảm tỷ lệ chẩn đoán sót bệnh ĐTĐ trong trường hợp mẫu bệnh phẩm máu được chuyển tới phòng xét nghiệm muộn, làm cho đường máu cao trở về bình thường do các tế bào máu tiêu thụ [35]

− Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả định lượng fructosamin:

+ Hàm lượng albumin máu thấp ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của xét nghiệm fructosamin, lúc này hàm lượng fructosamin không phản ánh đúng hàm lượng đường máu trung bình của bệnh nhân Theo tác giả Van-Dieijen-Visser MP và cộng sự (1986), nồng độ albumin ở mức cao hơn hay thấp hơn

30 g/l sẽ ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm fructosamin [65] Tình trạng rối loạn protein máu có thể ảnh hưởng đến giá trị fructosamin như bệnh lý gammaglobulin, đặc biệt là typ IgM, có thể làm cho kết quả không đáng tin cậy [29] Trong tình trạng bệnh nhân có phù nhưng albumin không giảm có thể tính tương quan giữa fructosamin và protein theo công thức sau:

Fructosamin hiệu chỉnh = (fructosamin đo được ×72) / protein toàn phần

Trang 34

28

+ Các yếu tố như vàng da, tan máu và tình trạng mỡ máu ít gây ảnh hưởng đến kết quả định lượng fructosamin Ở liều điều trị, các nhóm thuốc thông thường cũng không gây ảnh hưởng nhiều đến kết quả xét nghiệm Riêng nhóm thuốc Levodopa và oxytetracycline dùng liều cao có thể làm fructosamin cao giả tạo [62]

+ Trong phương pháp nitro tetrazolium (NBT) có một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm fructosamin đã được chứng minh: superoxide dismutase (SOD) làm giảm quá trình khử của thuốc thử NBT Một số chất khi

có mặt ở nồng độ cao sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả như heparin, EDTA, bilirubin, triglyceride, acid ascorbic, acid uric và glutathione Các yếu

tố trên làm kết quả fructosamin tăng giả tạo Trong đó heparin, EDTA, Bilirubin phải đạt đến nồng độ rất cao trong mẫu máu mới có thể gây sai số rõ rệt Điều này ít gặp trên lâm sàng Riêng acid uric ở nồng độ 0,93 µmol/l đã gây sai số [62] Do đó, các kit thương mại sử dụng trong định lượng fructosamin bằng thuốc thử NBT ngày nay đều được bổ sung uricase - enzym thủy phân acid uric, loại bỏ ảnh hưởng của acid uric đến kết quả xét nghiệm

1.7 Các nghiên cứu về fructosamin trong nước và nước ngoài

1.7.1 Các nghiên cứu trong nước

Tác giả Lương Quỳnh Hoa năm 2013 tiến hành nghiên cứu 100 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 điều trị nội trú tại bệnh viện Nội tiết Trung ương thấy rằng

có sự tương quan thuận mạnh giữa glucose máu trung bình - fructosamin ở thời điểm vào vào viện và ra viện Trong khi mối tương quan giữa glucose và HbA1C chỉ thấy ở thời điểm vào viện Có mối tương quan thuận mạnh giữa hàm lượng fructosamin và HbA1C [9]

1.7.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Ko GT, Chan JC, Yeung VT và cộng sự năm 1998 thực hiện nghiên cứu trên 2877 đối tượng người Trung Quốc ở Hồng Kông, những người có các

Trang 35

29

yếu tố nguy cơ rối loạn dung nạp đường máu khác nhau Các đối tượng được thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường để sàng lọc ĐTĐ Các tác giả nhận thấy việc sử dụng cặp xét nghiệm đường máu lúc đói và HbA1C hoặc fructosamin giúp xác định các đối tượng ĐTĐ tiềm tàng, sau đó chẩn đoán xác định bằng nghiệm pháp dung nạp đường Điều này sẽ làm giảm khoảng 80% trường hợp cần làm nghiệm pháp [35]

Tác giả Petitti DB và cộng sự năm 2001 thực hiện nghiên cứu trên 140 đối tượng người lớn có mức HbA1C từ 8% trở lên, xét nghiệm fructosamin được thực hiện hàng tuần cùng với việc theo dõi đường máu hàng ngày, kết quả được đánh giá sau 3 tháng và 6 tháng Các tác giả kết luận rằng việc sử dụng thêm xét nghiệm fuctosamin hàng tuần để theo dõi đường máu không làm cải thiện việc kiểm soát đường máu ở các bệnh nhân ĐTĐ [54]

Araceli Loste và M Carmen Marca năm 2001 thực hiện nghiên cứu về fructosamin và glycated hemoglobin (HbA1C) trong đánh giá kiểm soát đường máu ở chó đã nhận thấy fructosamin và HbA1C tăng có ý nghĩa ở nhóm chó tăng đường máu và có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa fructosamin huyết thanh và HbA1C ở nhóm này [47]

Tác giả Chen SH, Chen RL và cộng sự năm 2002 khi theo dõi 25 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 trong thời gian 16 tuần nhận thấy rằng cả fructosamin và HbA1C đều tương quan có ý nghĩa với đường máu tại nhà từ tuần 1 đến tuần

16 Tương quan giữa fructosamin và đường máu mạnh hơn từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 trong khi tương quan giữa HbA1C và đường máu mạnh hơn từ tuần

4 đến tuần thứ 12, mạnh nhất từ tuần 8 đến tuần 10 Trừ tuần thứ nhất, tương quan giữa HbA1C và đường máu đều mạnh hơn tương quan giữa fructosamin

và đường máu [30]

Wan - Chen Wu, Wen - Ya Ma, Jung - Nan Wei và cộng sự trong nghiên cứu sử dụng glycated albumin để hướng dẫn chẩn đoán ĐTĐ đã theo dõi 1559

Trang 36

30

đối tượng từ năm 2006 đến năm 2012 và kết luận: Trong chẩn đoán ĐTĐ, định lượng SGA kèm theo tiêu chuẩn đường máu lúc đói nhạy hơn sử dụng riêng chỉ số đường máu lúc đói để đánh giá việc cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường hay không Giá trị giới hạn tối ưu của SGA trong chẩn đoán ĐTĐ là 15% Sử dụng tiêu chuẩn đường máu lúc đói 5,6 mmol/l kết hợp với fructosamin < 15% để loại trừ và đường máu lúc lúc đói 7 mmol/l hoặc SGA

≥ 17% để chẩn đoán ĐTĐ làm tăng độ nhạy trong chiến lược sàng lọc và làm giảm tỷ lệ đối tượng cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường SGA sử dụng như một xét nghiệm thay thế cho HbA1C trong một số trường hợp xét nghiệm HbA1C không phản ánh đúng tình trạng đường máu trong chẩn đoán ĐTĐ [67]

Dawlat Sany, Yasser Elshahawy, Walid Anwar và cộng sự năm 2013 khi

so sánh 25 bệnh nhân lọc máu bị ĐTĐ typ 2, 25 bệnh nhân lọc máu không bị ĐTĐ, 25 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có bệnh thận mạn tính và 10 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 chức năng thận bình thường đưa ra kết luận rằng: GA (glycated albumin) có giá trị hơn HbA1C trong đánh giá kiểm soát đường máu ở bệnh nhân lọc máu và trong các trường hợp HbA1C thấp do dùng erythropoietin và thiếu máu [58]

Trang 37

31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm 150 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đã được chẩn đoán và đang điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

− Bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ typ 2 theo tiêu chuẩn của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2012

− Bệnh nhân được lập sổ điều trị và theo ngoại trú tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

− Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA (2012) [24]:

+ HbA1C ≥ 6,5% Xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng phương pháp đã được NGSP phê duyệt và chuẩn hóa theo phương pháp thực hiện trong nghiên cứu DCCT; hoặc

+ Glucose máu lúc đói ≥ 7 mmol/l (126 mg/dl), bệnh nhân nhịn đói ít nhất

8 giờ trước khi lấy máu; hoặc

+ Glucose máu 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp đườ ng ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl); hoặc

+ Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) trên bệnh nhân có triệu chứng điển hình của tình trạng tăng đường máu mạn tính hoặc cơn tăng đường máu cấp tính

Trong trường hợp không có triệu chứng lâm sàng của tình trạng tăng đường máu, cần phải lặp lại các tiêu chí chẩn đoán từ 1 đến 4 để xác định chẩn đoán

Trang 38

32

* Xác định ĐTĐ typ 2 [23]:

+ Người lớn > 30 tuổi

+ Triệu chứng lâm sàng không rầm rộ (phát hiện tình cờ)

+ Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ mắc bê ̣nh đái tháo đường

+ Bệnh nhân kiểm soát được đường máu bằng thuốc viên hạ đường máu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

− Bệnh nhân phải nhập viện điều trị trong tình trạng hôn mê do tăng hoặc giảm glucose máu trong thời gian theo dõi;

− Bệnh nhân có hàm lượng albumin máu dưới 30 g/l do các nguyên nhân khác nhau (xơ gan mất bù, viêm gan cấp, hội chứng thận hư, suy dinh dưỡng, các bệnh lý ác tính,…);

− Bệnh nhân đang trong tình trạng nhiễm trùng cấp tính;

− Bệnh nhân thiếu máu, bệnh lý Hemoglobin;

− Bệnh nhân suy thận;

− Bệnh nhân không tái khám đầy đủ theo hẹn;

− Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

− Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2016

− Địa điểm nghiên cứu: Tại phòng khám ĐTĐ, khoa Khám bệnh - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

− Nghiên cứu mô tả, tiến cứu

− Phương pháp chọn mẫu: mẫu thuận tiện, cỡ mẫu toàn bộ

Bệnh nhân ĐTĐ typ 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào mẫu nghiên cứu

Trang 39

33

Căn cứ vào các điều kiê ̣n trên - trong khoảng thời gian từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2016 - chúng tôi chọn ra được 150 bệnh nhân đưa vào mẫu nghiên cứ u

2.3.2 Chỉ tiêu nghiên cứu

− Thông tin chung:

+ Tuổi, giới, nghề nghiệp

+ Thời gian mắc bệnh

+ Tiền sử bản thân mắc các bệnh lý liên quan (hạ đường máu, tăng huyết

áp, rối loạn chuyển hóa lipid, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, đau ngực không ổn định)

+ Tiền sử gia đình mắc tăng huyết áp, ĐTĐ

+ BMI

− Đáp ứng mục tiêu 1:

+ Fructosamin huyết thanh (µmol/l): Mứ c đô ̣ kiểm soát glucose máu dựa

vào fructosamin huyết thanh (đạt, không đa ̣t)

Xét nghiệm được làm 3 lần vào 3 thời điểm T1 (khi bắt đầu tiếp xúc với bệnh nhân - tháng thứ nhất), T2 (bệnh nhân tái khám sau 1 tháng - tháng thứ 2), T3 (bệnh nhân tái khám tháng tiếp theo - tháng thứ 3)

+ Lipid máu (triglyceride, cholesterol, LDL-C, HDL-C) (mmol/l): Xét nghiệm làm 3 lần vào 3 thời điểm nghiên cứu

+ Protein niệu (mg/dl): Xét nghiệm thực hiện 3 lần vào 3 thời điểm nghiên cứu

Trang 40

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu

− Các bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn được chọn vào nghiên cứu được hỏi bệnh trực tiếp và thăm khám lâm sàng tỷ mỉ theo trình tự mẫu bệnh án nghiên cứu

− Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ chuẩn của Nhật Bản Thời gian

đo vào buổi sáng, bệnh nhân ở tư thế nằm, đã được nghỉ ngơi 15 phút trước khi đo, bệnh nhân không dùng chất kích thích Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương xác định theo phương pháp Korotkoff

Bảng 2.1 Phân loại tăng huyết áp ở người ≥ 18 tuổi [7]

Ngày đăng: 23/07/2020, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2012), “Kết quả hoạt động điều tra lập bản đồ dịch tễ học bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012 và xây dựng công cụ đánh giá mức độ nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường dành cho người Việt Nam”, Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyển hóa lần thứ VII, tr.23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hoạt động điều tra lập bản đồ dịch tễ học bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012 và xây dựng công cụ đánh giá mức độ nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường dành cho người Việt Nam”, "Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyển hóa lần thứ VII
Tác giả: Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Năm: 2012
2. Tạ Văn Bình (2006), Bệnh đái tháo đường và tăng glucose máu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái tháo đường và tăng glucose máu
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
3. Trần Hồng Chuyên (2013), Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân – cánh tay (ABI) ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn Bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân – cánh tay (ABI) ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Trần Hồng Chuyên
Năm: 2013
4. Nguyễn Hữu Chức (2010), Nghiên cứu tình trạng động mạch lớn chi dưới bằng siêu âm doppler màu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại khoa Chăm sóc bàn chân bệnh viện Nội tiết Trung ương, Luận văn Bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng động mạch lớn chi dưới bằng siêu âm doppler màu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại khoa Chăm sóc bàn chân bệnh viện Nội tiết Trung ương
Tác giả: Nguyễn Hữu Chức
Năm: 2010
5. Trần Hữu Dàng (2014), ‘Đái tháo đường’, Bệnh nội tiết và chuyển hóa (dùng cho học viên sau đại học), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tr.268-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội tiết và chuyển hóa (dùng cho học viên sau đại học)
Tác giả: Trần Hữu Dàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
6. Nguyễn Thị Bích Đào (2014), “Các thuốc đái tháo đường mới – Triển vọng mới trong điều trị đái tháo đường”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 18, số 4, tr.10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuốc đái tháo đường mới – Triển vọng mới trong điều trị đái tháo đường”, "Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Đào
Năm: 2014
8. Bế Thu Hà (2009), Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn, Luận văn Thạc sỹ y học, trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Bế Thu Hà
Năm: 2009
9. Lương Quỳnh Hoa (2013), Đánh giá giá trị Fructosamin huyết thanh trong theo dõi hiệu quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2, Luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giá trị Fructosamin huyết thanh trong theo dõi hiệu quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Tác giả: Lương Quỳnh Hoa
Năm: 2013
10. Hồ Hữu Hóa (2009), Chẩn đoán sớm biến chứng thận bằng xét nghiệm microalbumin niệu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán sớm biến chứng thận bằng xét nghiệm microalbumin niệu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hồ Hữu Hóa
Năm: 2009
11. Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương (2005), Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng, nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 736 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương
Nhà XB: nhà xuất bản y học
Năm: 2005
12. Nguyễn Thy Khuê (2014), “Sử dụng HbA1C trong chẩn đoán đái tháo đường”, Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyền hóa toàn quốc lần thứ VII, tr. 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng HbA1C trong chẩn đoán đái tháo đường”, "Kỷ yếu hội nghị khoa học về nội tiết và chuyền hóa toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Nguyễn Thy Khuê
Năm: 2014
13. Phạm Khuê (2013), Bệnh học lão khoa: từ đại cương đến thực hành lâm sàng, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 216-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học lão khoa: từ đại cương đến thực hành lâm sàng
Tác giả: Phạm Khuê
Nhà XB: nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 2013
14. Nguyễn Kim Lương (2012), Bệnh đái tháo đường trong thực hành lâm sàng, nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái tháo đường trong thực hành lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Kim Lương
Nhà XB: nhà xuất bản y học
Năm: 2012
15. Thái Hồng Quang (2012), Thực hành lâm sàng bệnh đái tháo đường, nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành lâm sàng bệnh đái tháo đường
Tác giả: Thái Hồng Quang
Nhà XB: nhà xuất bản y học
Năm: 2012
16. Trương Văn Sáu (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Trương Văn Sáu
Năm: 2007
17. Hoàng Văn Sơn (2008), “Vai trò của HbA1C và microalbumin trong việc theo dõi điều trị đái tháo đường”, tạp chí y học Việt Nam, tập 351, tr. 47- 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của HbA1C và microalbumin trong việc theo dõi điều trị đái tháo đường”, "tạp chí y học Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Sơn
Năm: 2008
18. Nguyễn Hương Thanh (2010), Nghiên cứu một số tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hương Thanh
Năm: 2010
19. Nguyễn Trọng Thông (2005), ‘Thuốc hạ glucose máu’, Dược lý học lâm sàng, nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 516-524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Trọng Thông
Nhà XB: nhà xuất bản y học
Năm: 2005
20. Đỗ Thị Tính (2010), “Đánh giá kiểm soát đường máu và sự liên quan đến tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”, tạp chí Y học thực hành, tập 717, số 5, tr.117-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiểm soát đường máu và sự liên quan đến tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”, "tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Đỗ Thị Tính
Năm: 2010
21. Nông Thị Tuyến (2012), Đặc điểm glucose máu sau ăn ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm glucose máu sau ăn ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Nông Thị Tuyến
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w