1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu vai trò của cystatin C trong đánh giá biến đổi chức năng thận sớm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tổn thương thận

5 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 317,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh thận mạn tính do đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới suy thận giai đoạn cuối ở các nước phát triển, đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Chẩn đoán bệnh thận mạn tính dựa vào dấu hiệu tổn thương thận hoặc giảm mức lọc cầu thận. Đề tài nhằm mục tiêu nghiên cứu vai trò cystatin C trong đánh giá biến đổi chức năng thận sớm ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tổn thương thận

Trang 1

I đẶT VẤN đỀ

Bệnh thận mạn tính do đái tháo đường là

nguyên nhân hàng đầu dẫn tới suy thận giai đoạn

cuối ở các nước phát triển, đang ngày càng gia

tăng ở Việt Nam Chẩn đoán bệnh thận mạn tính

dựa vào dấu hiệu tổn thương thận hoặc giảm mức

lọc cầu thận Ở giai đoạn sớm tổn thương thận do

đái tháo đường, cấu trúc màng lọc cầu thận đã

có sự biến đổi, khả năng lọc các chất hòa tan có

trọng lượng phân tử lớn hơn 6000 dalton bị thay đổi

trong khi khả năng lọc các chất trọng lượng phân

tử nhỏ như creatinin vẫn bình thường, khi đó mức

lọc cầu thận ước lượng dựa vào creatinin không

phản ánh chính xác khả năng lọc thực tế của thận,

tạo “khoảng mù creatinin” Cystatin C là một protein

gồm 120 acid amin có trọng lượng phân tử 13000

dalton, hệ số thanh thải cystatin C sẽ phản ánh mức

lọc cầu thận biến đổi tương ứng với tổn thương

thận giai đoạn sớm do đái tháo đường Đề tài nhằm

mục tiêu: “nghiên cứu vai trò cystatin C trong đánh

giá biến đổi chức năng thận sớm ở bệnh nhân đái

tháo đường týp 2 có tổn thương thận”.

II đỐI TƯỢNG Và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 đối tượng nghiên cứu

205 bệnh nhân ĐTĐ týp 2 gồm 136 trường hợp có tổn thương thận (nhóm nghiên cứu - N1)

và 69 trường hợp không có tổn thương thận (nhóm chứng - N2) điều trị tại BV Nội tiết Trung ương từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2012

Loại trừ khỏi nghiên cứu những BN có bệnh

lý cấp tính: nhồi máu cơ tim cấp tính, đột quỵ não, nhiễm khuẩn, tiền hôn mê và hôn mê

2.2 Phương pháp nghiên cứu

* Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, cắt ngang,

so sánh

* Nội dung nghiên cứu:

+ Khám lâm sàng

+ Huyết áp được đo bằng phương pháp Korotkoff

+ Xét nghiệm các chỉ số huyết học bằng máy

tự động

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CYsTATIN C TRONG

đÁNH GIÁ BIẾN đỔI CHỨC NĂNG THẬN sỚM Ở

BỆNH NHÂN đÁI THÁO đƯỜNG TÝP 2 CÓ TỔN THƯƠNG THẬN

Đoàn Văn Đệ*, Phạm quốc toản*, Hoàng trung Vinh*

*Học viện Quân Y

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu vai trò của cystatin C trong đánh giá biến đổi chức năng thận giai đoạn

sớm tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

đối tượng và phương pháp: 136 BN ĐTĐ týp 2 có tổn thương thận và nhóm chứng 69 BN ĐTĐ

týp 2 không có tổn thương thận Đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng, xét nghiệm thường quy, xét nghiệm cystatin C huyết thanh, ước lượng MLCT dựa vào creatinin và cystatin C huyết thanh

Kết quả: nồng độ cystatin C huyết thanh liên quan có ý nghĩa với tổn thương thận xác định dựa

vào microalbumin niệu, creatinin liên quan chưa có ý nghĩa Tỉ lệ bệnh nhân thuộc các mức MLCT ước lượng dựa vào cystatin C khác biệt có ý nghĩa so với creatinin, ước lượng MLCT dựa vào cystatin C có thể phát hiện thêm 29,4% bệnh nhân suy thận

Bàn luận: Đánh giá chức năng thận dựa vào cystatin C có thể phát hiện biến đổi chức năng thận

ở giai đoạn sớm tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Từ khóa: cystatin C, đái tháo đường, tổn thương thận.

Trang 2

+ Xét nghiệm một số chỉ số sinh hóa máu lúc

đói: glucose, HbA1c, creatinin

+ Mức lọc cầu thận ước lượng bằng creatinin

theo công thức MDRD: MLCTcre (mL/phút mỗi 1,73

m2) = 186 x (nồng độ creatinin/88,4)–1,154 x (tuổi)–0,203

+ Xét nghiệm cystatin C huyết thanh bằng

phương pháp miễn dịch đo độ đục, lấy mẫu máu

buổi sáng ở tất cả các BN

+ Mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào

cystatin C huyết thanh (MLCTcys) theo công thức

được khuyến cáo bởi Hội thận học Quốc tế

(KDIGO - 2012): MLCTcys= 76,7 x CysC – 1,19

+ Xét nghiệm protein niệu/24 giờ

+ Xét nghiệm microalbumin niệu ở những

bệnh nhân có protein niệu âm tính

* Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu:

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF-2012)

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương thận dựa vào tiêu chuẩn Hội Thận học Hoa Kỳ năm 2012, mức albumin niệu tính theo tỉ lệ ACR: Albumin/ creatinin niệu (mg/g): < 30 là bình thường (MAU (-)); 30 – 300: MAU (+); > 300: MAC (+) MLCT chia làm 5 mức, mức 3 chia thành 3a và 3b + Chẩn đoán thiếu máu dựa và khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (2011)

+ Chẩn đoán tăng huyết áp theo JNC VII (2002)

* Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Đặc điểm tuổi, giới, tỉ lệ BN dựa và mức độ tổn thương thận và một số biến chứng ở

bệnh nhân nghiên cứu (n = 205)

đặc điểm N1 (n = 136) N2 (n = 69) p

Tuổi (năm) 62,4 ± 11,5 57,8 ± 10,9 < 0,05

Microalbumin niệu (+) (n,%) 84 (61,8)

Macroalbumin niệu (+) (n,%) 52 (38,2)

+ Tỉ lệ theo giới giữa các nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê

+ Tuổi trung bình nhóm tổn thương thận cao hơn so với nhóm chứng

+ BN có tổn thương thận mức độ nhẹ chiếm tỉ lệ cao nhất (44,9%)

+ Tỉ lệ BN tăng huyết áp và thiếu máu ở nhóm tổn thương thận cao hơn so với nhóm chứng bệnh

Bảng 2 Biến đổi một số chỉ số xét nghiệm của nhóm nghiên cứu

Chỉ số N1 (n = 136) N2 (n = 69) p

Glucose (mmol/l) 10,8 ± 5,2 13,3 ± 4,8 > 0,05

Creatinin (µmol/l) 111,3 ± 63,6 71,3 ± 11,3 < 0,05

MLCTcre (ml/p) 65,9 ± 25,2 91,7 ± 15,7 < 0,05

Cystatin C (mg/l) 1,51 ± 0,78 0,85 ± 0,16 < 0,05

+ Giá trị trung bình glucose máu và HbA1c ở hai nhóm khác biệt chưa có ý nghĩa

Trang 3

+ Giá trị trung bình nồng độ creatinin, cystatin C huyết thanh ở nhóm tổn thương thận cao hơn so với nhóm chứng không có tổn thương thận

+ Giá trị trung bình mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào creatinin và cystatin C huyết thanh ở nhóm tổn thương thận thấp hơn so với nhóm chứng

Bảng 3 Tỉ lệ BN dựa theo phân loại mức lọc cầu thận của KDIGO-2012

Giai đoạn N1 (n = 136) (n = 69) N2

Tỉ lệ BN có MLCT giảm nhẹ (60-90 ml/p/1,73 m2) ở nhóm tổn thương thận cao hơn so với nhóm chứng, trong đó có 45 BN thuộc nhóm nghiên cứu với MAU (+)và 32 BN thuộc nhóm chứng bệnh với MAU (-)

Bảng 4 So sánh tuổi, giới, thời gian phát hiện đái tháo đường và tăng huyết áp của bệnh nhân

có mức lọc cầu thận từ 60-90 ml/pvới MAU (+) so với nhóm chứng bệnh

đặc điểm MAU (+) (n=45) MAU (-) (n=32) p

Tuổi 63,9 ± 10,9 60,8 ± 10,9 > 0,05

Thời gian ĐTĐ 6,4 ± 5,3 6,5 ± 6,0 > 0,05

Thời gian THA 4,7± 4,6 4,7 ± 3,8 > 0,05

Creatinin(µmol/l) 82,0 ± 14,3 76,2 ± 10,9 > 0,05

Cystatin C(mg/l) 1,17 ± 0,43 0,96 ± 0,15 < 0,05

MLCTcre (ml/p) 76,2 ± 7,2 78,9 ± 7,8 > 0,05

MLCTcys (ml/p) 69,9 ± 22,7 80,8 ± 14,3 < 0,05

+ Tỉ lệ giới, giá trị trung bình tuổi, thời gian phát hiện ĐTĐ và THA của BN có MLCT trong khoảng

60 - 90 ml/p với MAU (+) tương đương với những BN có MAU (-)

+ Giá trị trung bình nồng độ creatinin, mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào creatinin huyết thanh khác biệt không có ý nghĩa giữa những BN có MAU (+) so với MAU (-) với MLCT ước tính theo creatinin trong khoảng 60 - 90 ml/p

+ Giá trị trung bình nồng độ cystatin C ở những BN có MLCTcre trong khoảng 60 - 90 ml/p với MAU (+) cao hơn có ý nghĩa so với MAU (-) Ngược lại giá trị trung bình MLCTcys ở BN có MAU (+) thấp hơn có

ý nghĩa so với BN có MAU (-)

Trang 4

IV BàN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng nghiên

cứu là những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ở lứa tuổi cao,

tương đồng ở nam so với nữ, tuổi trung bình ở

nhóm tổn thương thận cao hơn có ý nghĩa so với

nhóm chứng bệnh (bảng 1) Điều đó lý giải rằng

sau thời gian từ 5 đến 10 năm phát hiện đái tháo

đường sẽ xuất hiện các biến chứng trong đó có

biến chứng thận Tỉ lệ bệnh nhân biến chứng thận

thể MAU (+) cao hơn so với thể MAC (+) (bảng

1) Tỉ lệ bệnh nhân có thiếu máu và tăng huyết áp

ở nhóm tổn thương thận cao hơn có ý nghĩa so

với nhóm chứng bệnh (bảng 1) Kiểm soát kém

glucose máu là yếu tố thúc đẩy tổn thương thận

xuất hiện và tiến triển, kết quả cho thấy glucose

máu và HbA1c ở bệnh nhân nghiên cứu đều ở

mức cao (bảng 2) Giá trị trung bình creatinin,

cystatin C của nhóm tổn thương thận cao hơn

so với nhóm chứng bệnh, ngược lại MLCTcre và

MLCTcyscủa nhóm tổn thương thận thấp hơn so với

nhóm chứng bệnh (bảng 2) Phân tích sâu hơn tỉ

lệ bệnh nhân theo các mức MLCT dựa vào khuyến

cáo năm 2012 của Hội thận học quốc tế KDIGO thấy tỉ lệ bệnh nhân có MLCT trong khoảng

60-90 ml/p thuộc nhóm tổn thương thận cao hơn so với nhóm chứng bệnh (bảng 3) Trong đó chúng tôi thấy ở khoảng MLCT từ 60-90 ml/p có 45 BN MAU (+) thuộc nhóm tổn thương thận và 32 BN MAU (-) thuốc nhóm chứng, hai nhóm này có sự tương đồng về tuổi, giới, thời gian đái tháo đường, thời gian tăng huyết áp (bảng 4) Giá trị trung bình creatinin và MCLTcregiữa hai nhóm khác biệt không

có ý nghĩa (bảng 4) Tuy nhiên, khi phân tích với cystatin C cho thấy, giá trị trung bình cystatin C ở nhóm có MAU (+) cao hơn có ý nghĩa nhóm MAU (-), ngược lại MLCTcys ở nhóm MAU (+) thấp hơn

có ý nghĩa nhóm MAU (-) Với cystatin C huyết thanh là chất chỉ điểm đánh giá mức lọc cầu thận

có thể giúp phát hiện biến đổi chức năng thận ở những BN có tổn thương thận giai đoạn sớm với biểu hiện MAU (+)

Ở bệnh nhân có tổn thương thận giai đoạn sớm, mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào creatinin và cystatin C sẽ nhận những khoảng

Bảng 5 So sánh tỉ lệ bệnh nhân theo mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào cystatin C và

creatinin huyết thanh theo phân mức mức lọc cầu thận của KDIGO (2012)

Phân loại

MLCT

Dựa vào MLCT cys Dựa vào MLCT cre

p

< 0,05

Tỉ lệ BN thuộc các mức MLCT ước lượng dựa vào cystatin C và creatinin khác biệt có ý nghĩa

Bảng 6 Mối liên quan giữa mức lọc cầu thận ước lượng dựa vào cystatin C với mức lọc cầu thận

ước lượng dựa vào creatinintrong chẩn đoán suy thận

MLCT cre (ml/p)

Tổng

< 60 ≥ 60 MLCTcys

(ml/p)

Ước lượng MLCT dựa vào cystatin C làm tăng thêm 29,4% (40/136) bệnh nhân suy thận (MLCT < 60 ml/p)

Trang 5

giá trị khác nhau Phân tích cho thấy với nhóm

nghiên cứu đã chọn, sự khác biệt là có ý nghĩa

(bảng 5) Nồng độ cystatin C biến đổi theo xu

hướng tăng lên ở BN ĐTĐ týp 2 có tổn thương

thận giai đoạn sớm, do đó MLCT ước lượng bằng

cystatin C cũng biến đổi theo xu hướng giảm, có

thể thấp hơn ngưỡng 60 ml/phút, trong khi MLCT

ước lượng bằng creatinin vẫn bình thường hoặc

giảm nhẹ và vẫn ở trên ngưỡng 60 ml/phút Tỉ lệ

BN suy thận (MLCT < 60 ml/p) tăng thêm 29,4%

khi MLCT ước lượng bằng cystatin C so với ước

lượng bằng creatinin huyết thanh (bảng 6), nếu

chỉ đánh giá MLCT bằng creatinin đơn độc sẽ bỏ

sót tỉ lệ đáng kể BN có suy thận mà không được chẩn đoán Trong khuyến cáo của Hội thận quốc

tế KDIGO-2012 về chẩn đoán bệnh thận mạn tính nói chung và bệnh thận mạn do ĐTĐ nói riêng, cystatin C được sử dụng như là chỉ điểm sinh học giúp khẳng định chẩn đoán suy thận khi MLCTcre cho giá trị xấp xỉ 60 ml/phút

V KẾT LUẬN

Sử dụng cystatin C huyết thanh như là chất chỉ điểm sinh học đánh giá chức năng thận có thể phát hiện sớm biến đổi chức năng thận ở giai đoạn tổn thương thận sớm do đái tháo đường

TàI LIỆU THAM KHẢO

1 Byung-Wan Lee, Sung-Hee Ihm (2007)

“The comparison of cystatin C and creatinine as

an accurate serum marker in the prediction of type

2 diabetic nephropathy” Diabetes Research and

Clinical Practice, Vol 78, pp 428–434.

2 Frans J Hoek (2003) “A comparison

between cystatin C, plasma creatinine and the

Cockcroft and Gault formula for the estimation of

glomerular filtration rate” Nephrol Dial Transplant,

Vol 18, pp 2024–2031

3 Grubb A (2011)“Cystatin C as a biomarker

in kidney disease”, Biomarker in kidney disease,

first edition, pp 291-306

4 Jan Kyhse-Andersen, Camilla Schmidt

(1994) “Serum Cystatin C, Determined by a Rapid, Automated Particle-Enhanced Turbidimetric Method, Is a Better Marker than Serum Creatinine

for Glomerular Filtration Rate” Clinical Chemistry,

Vol 40 (10), pp 1921-26

5 Lesley A Stevens, Josef Coresh (2008)

“Estimating GFR using Serum Cystatin C Alone and

in Combination with Serum Creatinine: A Pooled

Analysis of 3418 Individuals with CKD” American

Journal Kidney Disease, Vol 51(3), pp 395–406.

6 Stevens G (2002) “Serum cystatin C is superior

to serum creatinine as a marker of kidney function: a

meta-analysis” Am J Kidney Dis, Vol40(2), pp 221-6

ABsTRACT

eVALUATION OF seRUM CYsTATIN C As AN INDICATOR OF eARLY ReNAL FUNCTION

DeCLINe IN TYPe 2 DIABeTIC NePHROPATHY PATIeNTs Objectives: To evaluate the clinical usefulness of serum cystatin C levels in predicting renal

dysfunctionin type 2 diabetic nephropathy patients

Materials and methods: Plasma samples were obtained from 136 type 2 diabetic nephropathy

patients and 69 diabetes patients without nephropathy for the determination of the levels of creatinine and cystatin C GFR was estimated by serum creatinin and cystatin C In addition, we classified all participants according to the urine albumin/creatinine ratio

Results: Serum cystatin C was significantly higher in albuminuric diabetic patients compared

with normoalbuminuria, the cystatin C estimated GFR was significantly lower in thealbuminuric groups compared with the normoalbuminuric groups Cystatin C showed a highly significant difference in detecting early decline in diabetic nephropathy patients, added 29.4% renal failure

Conclusion: We concluded that estimation of the serum cystatin C level is a useful, practical

and noninvasive tool for early detection of renal dysfunction in the diabetic nephropathy pts

Ngày đăng: 03/07/2020, 05:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w