ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng (ĐTĐ) typ 2 là một bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dƣỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nƣớc trên thế giới. ĐTĐ cũng là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trƣng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của Insulin hoặc kết hợp cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thƣơng, rối loạn và suy yếu chức năng nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt tổn thƣơng mắt, thận, thần kinh và tim mạch [62]. Năm 2015 theo số liệu của IDF, trên thế giới có khoảng 415 triệu ngƣời trƣởng thành từ 20-79 tuổi bị ĐTĐ, theo dự đoán con số đó tiếp tục gia tăng lên 642 triệu ngƣời bị ĐTĐ vào năm 2040 [63]. Tác động của ĐTĐ typ 2 là làm gia tăng tỷ lệ tử vong, giảm chất lƣợng cuộc sống, đồng thời bệnh ĐTĐ, biến chứng ĐTĐ gây tăng gánh nặng kinh tế cho bản thân ngƣời bệnh, cho gia đình và cho xã hội [61]. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, cùng với sự thay đổi lối sống, đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 chung của cả thế giới [100]. Năm 1990 điều tra tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 2 tƣơng ứng là 1,2%, 0,96% và 2,52%. Năm 2001 điều tra tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose máu là 10% [24]. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng năm 2012 tại 6 vùng sinh thái bao gồm Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy tỷ lệ ngƣời mắc bệnh đái tháo đƣờng ở nƣớc ta chiếm 5,7%. Trong đó, Tây Nam Bộ có tỷ lệ cao nhất là 7,2% và thấp nhất là khu vực tây Nguyên là 3,8% [1]. Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thƣờng, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau ăn, kiểm soát nồng độ glucose máu lúc đói, HbA1c và Insulin [1]. Việc kiểm soát tốt glucose máu sau ăn trên bệnh nhân ĐTĐ sẽ góp phần giảm rối loạn chuyển hóa đƣờng đồng thời giảm các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ do tăng glucose máu [39]. Ở nƣớc ta, gạo là thực phẩm chính cung cấp năng lƣợng cho bữa ăn, trong những năm gần đây tỷ lệ % năng lƣợng do glucid cung cấp đã giảm dần so với trƣớc đây nhƣng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (66,4% theo báo cáo năm 2010 so với 74,6% theo báo cáo năm 2000) [7]. Có thể thấy việc giảm ăn gạo ở ngƣời châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng là rất khó khăn do tập quán sử dụng gạo làm lƣơng thực chủ yếu. Do đó ngƣời ta khuyến cáo ngƣời Châu Á nên sử dụng gạo lức/ gạo lật hoăc thay thế một phần gạo trắng băng gao lƣc/gạo lật để phòng chống đái tháo đƣờng, vì gạo lức/ gạo lật có chỉ số đƣờng huyết thấp [65]. Nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy các thực phẩm có chỉ số đƣờng huyết thấp có thể làm hạn chế mức độ tăng đƣờng máu sau ăn của bệnh nhân đái tháo đƣờng [65], [66]. Kết quả từ nghiên cứu thuần tập trên 161,737 đối tƣợng phụ nữ ngƣời Mỹ từ độ tuổi 37-65 tuổi, với không có tiền sử bị đái tháo đƣờng ở thời đi ểm ban đầu, tất cả đối tƣợng này đƣợc theo dõi trong 12-18 năm cho thấy các đối tƣợng ăn 2 phần ăn ngũ cốc nguyên hạt trong ngày sẽ giảm 21% nguy cơ măc đái tháo đƣờng [67]. Gạo lức/ gạo lật cũng là nguồn cung cấp các vi chất dinh dƣỡng nhƣ sắt, magie, vitamin B1, B2, B3, B6, protein và đặc biệt là hàm lƣợng chất xơ của gạo lức cao hơn so với gạo trắng. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của gạo lức là cứng và khó ăn do có lớp cám bên ngoài, đồng thời không thể nấu lẫn cùng gạo trắng do mất nhiều thời gian hơn để gạo chín. Vì vậy, rất khó để duy trì việc ăn gạo lức thƣờng xuyên. Gạo lật nảy mầm là loại gạo mới, đƣợc sản xuất tại Nhật Bản và đã đƣợc sản xuất ở Việt Nam trong những năm gần đây, với ƣu điểm hạt gạo mềm, dễ ăn và dễ nấu hơn so với gạo lức/gạo lật thông thƣờng. Gạo lật nảy mầm đƣợc làm bằng cách ngâm gạo lật trong nƣớc ấm cho đến khi hơi nhú mầm, sau đó xấy khô [65]. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy, quá trình nảy mầm của gạo lật làm tăng hàm lƣợng của các hoạt chất sinh học có trong lớp cám gạo nhƣ γ-aminobutyric acid (GABA), ASG, acid ferulic, hay γoryzanols [64], [65], [95]. Nghiên cƣu cua Ito va công sƣ vê chi sô đƣơng huyêt cua gao trăng , gạo lật nảy mầm và gạo lức cho thấy chỉ số đƣờng huyết của gạo lật nảy mầm thấp nhất (56,9), sau đo đên gao lƣc (61,5) và cao nhất là gạo trắng (75,9) [65]. Nghiên cứu của Bùi Thị Nhung và cộng sự trên nhóm đối tƣợng tiền đái tháo đƣờng cũng cho thấy, chế độ ăn gạo lật nảy mầm đã làm giảm đƣờng máu, mỡ máu và cân nặng có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng [40]. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu can thiệp lâm sàng về gạo lật nảy mầm đều diễn ra trong thời gian ngắn, chƣa có nghiên cứu đánh giá toàn diện về hiệu quả của gạo lật nảy mầm đối với bệnh nhân đái tháo đƣờng typ 2. Vì vậy, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá hiệu quả của sử dụng gạo lật nảy mầm sản xuất tại Việt Nam đối với kiểm soát glucose máu, HbA1c, cải thiện một số chỉ số hóa sinh , chỉ số nhân trắc ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 với 02 mục tiêu : Mục tiêu nghiên cứu : Mục tiêu 1 : Khảo sát tác dụng đối với nồng độ glucose máu sau ăn của bữa ăn đƣợc sử dụng gạo lật nảy mầm ở bệnh nhân đái tháo đƣờng typ 2. Mục tiêu 2 : Đánh giá kết quả kiểm soát glucose, HbA1c và một số chỉ số sinh hóa máu , nhân trắc ở bệnh nhân đái tháo đƣờng typ 2 sau 16 tuần điều trị đƣợc sử dụng gạo lật nảy mầm trong bữa ăn thay cho gạo trắng truyền thống.
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
TRẦN NGỌC MINH
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG GẠO LẬT NẢY MẦM
TRONG HỖ TRỢ KIỂM SOÁT GLUCOSE MÁU
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa đái tháo đường
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới
1.2.2 Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam
1.3 Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường
1.3.1 Yếu tố tuổi
1.3.2 Yếu tố gia đình
1.3.3 Yếu tố chủng tộc
1.3.4 Yếu tố di truyền
1.3.5 Yếu tố môi trường và lối sống tĩnh tại ít vận động
1.3.6 Tiền sử thai nghén
1.3.7 Tiền sử giảm dung nạp glucose
1.3.8 Tăng huyết áp
1.3.9 Thừa cân béo phì
1.3.10 Rối loạn chuyển hóa Lipid máu
1.3.11 Chế độ ăn và hoạt động thể lực
1.4 Hậu quả của đái tháo đường
1.4.1 Biến chứng của đái tháo đường typ 2
1.4.1.1 Biến chứng cấp tính
1.4.1.2 Biến chứng mãn tính
1.4.2 Ảnh hưởng kinh tế xã hội
1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh
1.5.1 Tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội đái tháo đường Quốc tế ( IDF)
Trang 31.5.2 Tiêu chuẩn theo khuyến cáo của hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA)
1.6 Các biện pháp điều trị đái tháo đường typ 2
1.6.1 Thuốc trong điều trị ĐTĐ
1.6.2 Chế độ luyện tập cho bệnh nhân đái tháo đường
1.6.3 Các nghiên cứu phòng chống và điều trị đái tháo đường và tiền đái tháo đường :
1.6.3.1 Trên thế giới:
1.6.3.2 Tại Việt Nam
1.6.4 Vai trò và các giải pháp dinh dưỡng hỗ trợ phòng chống đái tháo đường
1.6.4.1 Mục tiêu can thiệp dinh dưỡng
1.6.4.2 Nguyên tắc can thiệp dinh dưỡng
1.6.4.3 Diễn biến glucose máu sau ăn ở người bình thường
1.6.4.4 Diễn biến glucose máu sau ăn ở bệnh nhân đái tháo đường typ2
1.6.4.5 Chế độ ăn cho bệnh nhân đái tháo đường
1.6.4.6 Chỉ số đường huyết của thực phẩm đối với bệnh nhân đái tháo đường
1.6.4.7 Phân bố bữa ăn trong ngày của bệnh nhân đái tháo đường
1.6.5 Nghiên cứu về gạo lật nảy mầm
1.6.5.1 Gạo lật nảy mầm
1.6.5.2 Tác dụng của gạo lật nảy mầm
1.6.5.3 Gạo lật nảy mầm sản xuất tại Việt Nam
1.6.5.4 Các nghiên cứu về gạo lật nảy mầm
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nghiên cứu 1:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Thời gian và địa điểm
Trang 42.1.3 Thiết kế nghiên cứu
2.1.4 Cỡ mẫu:
2.1.5 Cách chọn mẫu
2.1.6 Quy trình triển khai nghiên cứu
2.1.7 Phương pháp thu thập số liệu
2.1.8 Xử lý số liệu
2.1.9 Đạo đức trong nghiên cứu
2.2 Nghiên cứu 2:
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2.2 Thời gian và địa điểm
2.2.3 Thiết kế nghiên cứu:
2.2.4 Cỡ mẫu
2.2.5 Cách chọn mẫu:
2.2.6 Sơ đồ nghiên cứu
2.2.7 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ số đánh giá
2.2.8 Tổ chức triển khai can thiệp
2.2.9 Phân tích số liệu:
2.3 Các biện pháp khống chế sai số:
2.4 Thành phần dinh dưỡng của gạo lật nảy mầm
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hiệu quả kiểm soát glucose máu sau ăn của gạo lật nảy mầm:
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu:
3.1.2 Hiệu quả kiểm soát tăng glucose máu sau ăn:
3.2 Hiệu quả hỗ trợ trong kiểm soát glucose máu, HbA1c và một số chỉ số sinh hóa , nhân trắc của gạo lật nảy mầm ở bệnh nhân đái tháo đường typ2
3.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng tại thời điểm trước nghiên cứu
Trang 53.2.2 Một số đặc điểm ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ở nhóm ăn gạo lật nảy mầm trong 16 tuần can thiệp
3.2.3 Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số nhân trắc, huyết áp 3.2.4 Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số Glucose, HbA1c 3.2.5 Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số liên quan đến chuyển hóa lipid CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 4.1 Hiệu quả kiểm soát Glucose máu sau ăn ở bệnh nhân đái tháo đường typ2 4.2 Hiệu quả sử dụng gạo lật nảy mầm sau 16 tuần trong hỗ trợ kiểm soát glucose máu, HbA1c và một số chỉ số nhân trắc, sinh hóa ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 4.2.1 Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số nhân trắc, huyết áp 4.2.2 Hiệu quả can thiệp đối với đối với các chỉ số Glucose, HbA1c 4.2.3 Hiệu quả can thiệp đối với đối với các chỉ số liên quan đến chuyển hóa lipid KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Sơ đồ 1.1 Các bước tiếp cận điều trị bệnh nhân ĐTĐ typ 2 (Cập nhật 2009)
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện sử dụng các thực đơn đánh giá khả năng kiểm soát glucose máu sau ăn
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999 [99]
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường của Tổ chức y tế thế giới (WHO) & Hiệp hội đái tháo đường quốc tế ( IDF) năm 2006 [62]
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường của ADA năm 2006
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán và đo lường hiệu quả điều trị đái tháo đường typ 2 theo ADA qua các năm
Bảng 1.5 Các thuốc thường dùng trong điều trị đái tháo đường
Bảng 1.6 Thành phần dinh dưỡng của gạo lật nảy mầm Biomedviet
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của các thực đơn
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu nghiên cứu (n=22; nam=13; nữ=9)
Bảng 3.2 So sánh mức độ đáp ứng đường máu của thực đơn A với thực đơn B hoặc C
Bảng 3.3 Diện tích dưới đường cong (AUC) glucose máu sau ăn của các thực đơn
Bảng 3.4 Đặc điểm chung của đối tượng trước nghiên cứu
Bảng 3.5 So sánh các chỉ số nhân trắc, huyết áp, hóa sinh máu của hai nhóm tại thời điểm trước can thiệp
Bảng 3.6 So sánh giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn của nhóm chứng và nhóm can thiệp tại thời điểm điều tra ban đầu (T0)
Trang 7Bảng 3.7 Một số dặc điểm riêng của nhóm ăn gạo lật nảy mầm trong 16 tuần can thiệp Bảng 3.8 Sự thay đổi chỉ số nhân trắc, huyết áp trước và sau can thiệp của nhóm gạo lật nảy mầm Bảng 3.9 Sự thay đổi chỉ số nhân trắc, huyết áp trước và sau can thiệp của nhóm ăn gạo trắng Bảng 3.10 So sánh các chỉ số nhân trắc, huyết áp sau can thiệp của nhóm gạo lật nảy mầm và nhóm gạo trắng Bảng 3.11 Sự thay đổi nồng độ Glucose máu , HbA1c của nhóm ăn gạo lật nảy mầm và gạo trắng trước và sau can thiệp Bảng 3.12 Sự thay đổi chỉ số cholesterol, HDL-C, LDL-C và triglyceride của nhóm ăn gạo lật nảy mầm và gạo trắng trước và sau can thiệp Bảng 3.13 So sánh giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn của nhóm chứng và nhóm can thiệp tại thời điểm khi kết thúc can thiệp (T16) Biểu đồ 1.1 So sánh giá trị dinh dưỡng giữa gạo lật nảy mầm, gạo lức và gạo trắng Biểu đồ 1.2 Độ ngọt và độ cứng của gạo lật nảy mầm Biểu đồ 3 So sánh mức tăng đường huyết sau ăn so với trước khi ăn
Trang 8HCCH Hội chứng chuyển hóa
HDL- C High Density Lipoprotein (Lipid có trọng lượng phân tử cao) IDF International Diabetes Federation (Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế)
LDL-C Low Densitive Lipoprotein (Lipid có trọng lượng phân tử thấp) Lp(a) Lipoprotein a
GI Glycemia Index (Chỉ số glucose máu)
UKPDS United Kingdom Prospective Diabetes Study (Ngiên cứu tiến cứu
về đái tháo đường của vương quốc Anh )
OR Odd Ratio (Tỷ xuất chênh)
RLDNG Rối loạn dung nạp glucose
RLGMLĐ Rối loạn glucose máu lúc đói
RLCH Rối loạn chuyển hóa
VDD
JNC
Viện Dinh dưỡng Joint National Committee (Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ) WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới )
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 là một bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới ĐTĐ cũng là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của Insulin hoặc kết hợp cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy yếu chức năng nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt tổn thương mắt, thận, thần kinh và tim mạch [62]
Năm 2015 theo số liệu của IDF, trên thế giới có khoảng 415 triệu người trưởng thành từ 20-79 tuổi bị ĐTĐ, theo dự đoán con số đó tiếp tục gia tăng lên 642 triệu người bị ĐTĐ vào năm 2040 [63] Tác động của ĐTĐ typ 2 là làm gia tăng tỷ lệ tử vong, giảm chất lượng cuộc sống, đồng thời bệnh ĐTĐ, biến chứng ĐTĐ gây tăng gánh nặng kinh tế cho bản thân người bệnh, cho gia đình và cho xã hội [61] Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, cùng với sự thay đổi lối sống, đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 chung của cả thế giới [100] Năm 1990 điều tra tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 2 tương ứng
là 1,2%, 0,96% và 2,52% Năm 2001 điều tra tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose máu là 10% [24] Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 tại 6 vùng sinh thái bao gồm Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta chiếm 5,7% Trong đó, Tây Nam Bộ có tỷ lệ cao nhất là 7,2% và thấp nhất là khu vực tây Nguyên là 3,8% [1]
Trang 10Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau ăn, kiểm soát nồng độ glucose máu lúc đói, HbA1c và Insulin [1] Việc kiểm soát tốt glucose máu sau ăn trên bệnh nhân ĐTĐ sẽ góp phần giảm rối loạn chuyển hóa đường đồng thời giảm các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ do tăng glucose máu [39]
Ở nước ta, gạo là thực phẩm chính cung cấp năng lượng cho bữa ăn, trong những năm gần đây tỷ lệ % năng lượng do glucid cung cấp đã giảm dần
so với trước đây nhưng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (66,4% theo báo cáo năm
2010 so với 74,6% theo báo cáo năm 2000) [7] Có thể thấy việc giảm ăn gạo
ở người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng là rất khó khăn do tập quán
sử dụng gạo làm lương thực chủ yếu Do đó người ta khuyến cáo người Châu
Á nên sử dụng gạo lức/ gạo lật hoặc thay thế một phần gạo trắng bằng gạo lức/gạo lật để phòng chống đái tháo đường, vì gạo lức/ gạo lật có chỉ số đường huyết thấp [65] Nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp có thể làm hạn chế mức độ tăng đường máu sau ăn của bệnh nhân đái tháo đường [65], [66]
Kết quả từ nghiên cứu thuần tập trên 161,737 đối tượng phụ nữ người
Mỹ từ độ tuổi 37-65 tuổi, với không có tiền sử bị đái tháo đường ở thời điểm ban đầu, tất cả đối tượng này được theo dõi trong 12-18 năm cho thấy các đối tượng ăn 2 phần ăn ngũ cốc nguyên hạt trong ngày sẽ giảm 21% nguy cơ mắc đái tháo đường [67] Gạo lức/ gạo lật cũng là nguồn cung cấp các vi chất dinh dưỡng như sắt, magie, vitamin B1, B2, B3, B6, protein và đặc biệt là hàm lượng chất xơ của gạo lức cao hơn so với gạo trắng Tuy nhiên, nhược điểm của gạo lức là cứng và khó ăn do có lớp cám bên ngoài, đồng thời không thể nấu lẫn cùng gạo trắng do mất nhiều thời gian hơn để gạo chín Vì vậy, rất khó để duy trì việc ăn gạo lức thường xuyên
Trang 11Gạo lật nảy mầm là loại gạo mới, được sản xuất tại Nhật Bản và đã được sản xuất ở Việt Nam trong những năm gần đây, với ưu điểm hạt gạo mềm, dễ ăn và dễ nấu hơn so với gạo lức/gạo lật thông thường Gạo lật nảy mầm được làm bằng cách ngâm gạo lật trong nước ấm cho đến khi hơi nhú mầm, sau đó xấy khô [65] Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy, quá trình nảy mầm của gạo lật làm tăng hàm lượng của các hoạt chất sinh học có trong lớp cám gạo như γ-aminobutyric acid (GABA), ASG, acid ferulic, hay γ-oryzanols [64], [65], [95] Nghiên cứu của Ito và cộng sự về chỉ số đường huyết của gạo trắng, gạo lật nảy mầm và gạo lức cho thấy chỉ số đường huyết của gạo lật nảy mầm thấp nhất (56,9), sau đó đến gạo lức (61,5) và cao nhất là gạo trắng (75,9) [65] Nghiên cứu của Bùi Thị Nhung và cộng sự trên nhóm đối tượng tiền đái tháo đường cũng cho thấy, chế độ ăn gạo lật nảy mầm đã làm giảm đường máu, mỡ máu và cân nặng có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng [40]
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu can thiệp lâm sàng về gạo lật nảy mầm đều diễn ra trong thời gian ngắn, chưa có nghiên cứu đánh giá toàn diện
về hiệu quả của gạo lật nảy mầm đối với bệnh nhân đái tháo đường typ 2 Vì vậy, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá hiệu quả của sử dụng gạo lật nảy mầm sản xuất tại Việt Nam đối với kiểm soát glucose máu, HbA1c, cải thiện một số chỉ số hóa sinh , chỉ số nhân trắc ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 với
02 mục tiêu :
Mục tiêu nghiên cứu :
Mục tiêu 1 : Khảo sát tác dụng đối với nồng độ glucose máu sau ăn của
bữa ăn được sử dụng gạo lật nảy mầm ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Mục tiêu 2 : Đánh giá kết quả kiểm soát glucose, HbA1c và một số chỉ
số sinh hóa máu , nhân trắc ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 sau 16 tuần điều trị được sử dụng gạo lật nảy mầm trong bữa ăn thay cho gạo trắng truyền thống
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa đái tháo đường
Đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hoá mạn tính, có yếu tố di truyền Bệnh được đặc trưng bởi sự tăng glucose máu Nguyên nhân chính do thiếu insulin tuyệt đối hoặc tương đối dẫn đến rối loạn chuyển hoá đường, đạm, mỡ và các chất khoáng Những rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng cấp hoặc mạn tính, có thể đưa đến tàn phế hoặc tử vong
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ĐTĐ typ 2 là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin [47]
Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về ĐTĐ: Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau:
- Tăng glucose máu
- Kết hợp bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein
- Bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, tim mạch, thần kinh
- Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2004: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết trong bài tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm khuẩn có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là bệnh ĐTĐ typ 2 và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [1]
Trang 13Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh ĐTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất", bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nước phát triển
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội Năm 2015 theo số liệu của IDF, trên thế giới có khoảng 415 triệu người trưởng thành từ 20-79 tuổi bị ĐTĐ, theo dự đoán con số đó tiếp tục gia tăng lên 642 triệu người bị ĐTĐ vào năm 2040 [63] ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân ĐTĐ và các biến chứng; Cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi Chi phí cho điều trị ĐTĐ của toàn thế giới năm 2007 ước tính 232 ngàn tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên
302 ngàn tỷ đô la Mỹ vào năm 2025 [68]
Bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như
Ấn Độ, Trung Quốc Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, của lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ giảm đi
Tỷ lệ ĐTĐ tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose: 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói: 2,1%, tỷ lệ ĐTĐ khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% [47] Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ tại Indonesia là 5,7%, tỷ lệ suy giảm dung nạp glucose là 10,2% ở lứa tuổi trên 15 tuổi [68]
Trang 14Theo tác giả Wild và cộng sự [102] nghiên cứu đưa ra tỷ lệ ĐTĐ cho mọi độ tuổi trên toàn thế giới năm 2000 là 2,8% và sẽ tăng vào năm 2030 là 4,4% (171 triệu người vào năm 2000 và 366 triệu người vào năm 2030) ngoài
ra tác giả còn đưa ra danh sách những quốc gia có tỷ lệ người mắc ĐTĐ cao nhất thế giới: đứng đầu là Ấn Độ, Trung Quốc, và Hoa Kỳ kết quả này tương
tự kết quả của tác giả King H và cộng sự năm 1995 [70] Nghiên cứu của Shaw JE và cộng sự thực hiện từ 91 quốc gia để xác định tỷ lệ ĐTĐ cho tất
cả 216 quốc gia năm 2010 và 2030 dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới và hội đái tháo đường Mỹ, nhóm tuổi từ 20-79 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới ở người trưởng thành 20-79 là 6,4% (285 triệu người) và tăng lên 7,7% (439 triệu người) năm 2030 [94]
Nghiên cứu của tác giả David và cộng sự 2011: Phân tích số liệu 565 nguồn số liệu từ 110 quốc gia được lựa chọn từ năm 1980 đến tháng 4 năm
2011 cho thấy có 366 triệu người ĐTĐ tuổi từ 20-79, dự kiến sẽ tăng đến 552 triệu vào năm 2030 Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ sống ở quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [51]
1.2.2 Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam
Ở Việt Nam ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và theo mức độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa
Nghiên cứu của Phan Sỹ Quốc và cộng sự năm 1991 trên 4912 đối tượng trên 15 tuổi tại quận nội ngoại thành Hà Nội chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (năm 1985), kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Hà Nội là 1,2% trong đó nội thành là 1,44%, ngoại thành 0,63%, tỷ lệ giảm dung nạp glucose máu là 1,6% [19]
Năm 1993, Mai Thế Trạch và cộng sự điều tra trên 5416 người từ 15 tuổi trở lên ở TP HCM cho kết quả tỷ lệ ĐTĐ là 2,52% [13]
Trang 15Năm 2001 điều tra tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose máu là 10% [24]
Năm 2001, nghiên cứu của Nguyễn Kim Hưng và cộng sự trên 2932 đối tượng tại TP HCM kết quả tỷ lệ ĐTĐ là 3,7%, rối loạn dung nạp glucose máu là 2,4%, rối loạn glucose máu lúc đói là 6,9% [16]
Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 trên đối tượng 30-69 tuổi tại TP HCM cho thấy tỷ lệ ĐTĐ typ 2 năm 2008 là 7,04%, và tỷ lệ ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi [3]
Kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam
Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%) Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012 Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường typ 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường
ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc đái tháo đường mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh đái tháo đường [1]
1.3 Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường
1.3.1 Yếu tố tuổi
Bệnh ĐTĐ có tỷ lệ tăng dần theo độ tuổi Nguyên nhân có thể do sự lão hóa của các cơ quan dẫn đến suy giảm khả năng tiết insulin của tuyến tụy và suy giảm sự nhạy cảm của tế bào với glucose gây suy giảm insulin so với nhu cầu của tế bào [49]
Trang 161.3.2 Yếu tố gia đình
Khoảng 10% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ typ 2 có tiền sử gia đình cũng
bị mắc bệnh ĐTĐ typ 2 Nghiên cứu trên những gia đình bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ typ 2 thấy: Có khoảng 6% anh chị em ruột cùng mắc bệnh ĐTĐ typ 2 và khi bố mẹ bị bệnh ĐTĐ typ 2, thì 5% con cái của họ sẽ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ typ 2, người kia sẽ bị xếp vào nhóm nguy cơ sẽ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 [30]
1.3.3 Yếu tố chủng tộc
Tỷ lệ ĐTĐ typ 2 gặp ở tất cả các dân tộc, nhưng với tỷ lệ và mức độ hoàn toàn khác nhau Ở các dân tộc khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thai kỳ cũng khác nhau, những dân tộc có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 cao, thì có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thai kỳ cũng cao [59] Nghiên cứu thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Tây
Âu da vàng cao hơn người da trắng từ 2-4 lần và tuổi trẻ hơn [54]
1.3.4 Yếu tố di truyền
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu để xác định vai trò của các gen đối với sự phát triển của bệnh đái tháo đường typ 2 Các nghiên cứu (linkage
scan và candidate gene approach) đã xác định các gen PPARG, KCNJ11,
CAPN10, và TCF7L2 có liên quan đến bệnh này Điểm mạnh của các nghiên
cứu này là dựa trên cơ sở cơ chế sinh học phân tử của các gen có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chuyển hoá đường glucose Từ những nghiên cứu
GWA, đã phát hiện một số gen mới như SLC30A8, HHEX, CDKAL1,
CDKN2A/B, IGF2BP2, và FTO có ảnh hưởng lặp lại đến bệnh đái tháo đường
typ 2 ở nhiều cộng đồng dân cư người Âu [52], [90], [91].[108]
1.3.5 Yếu tố môi trường và lối sống tĩnh tại ít vận động
Chế độ sinh hoạt và môi trường sống không cân bằng sẽ dẫn đến sự dư thừa năng lượng và suy yếu khả năng miễn dịch của cơ thể Đây là yếu tố thuận lợi cho bệnh ĐTĐ Ngoài ra, tập quán và thói quen ăn uống hiện đại và các phương tiện vận chuyển tĩnh tại làm cho con người ít vận động sẽ thúc
Trang 17đẩy quá trình tích trữ năng lượng gây ra thừa cân, béo phì và tăng tỷ lệ ĐTĐ
[26] Những khu vực có chế độ ăn giàu chất béo và đường, ít chất xơ cũng
như thói quen sử dụng rượu cũng gây ra tình trạng tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ [35]
1.3.6 Tiền sử thai nghén
Khi mang thai mẹ mắc ĐTĐ thai nghén làm tăng nguy cơ ĐTĐ giai
đoạn sau này Nguyên nhân là do kháng insulin và sự biến đổi của các
hormon hoặc các rối loạn chuyển hóa khi có thai cũng như các biến chứng lúc
sinh làm tăng nguy cơ phát triển thành ĐTĐ [4]
Tiền sử mẹ sinh con nặng cân cũng là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ sau này
Trẻ mới sinh nặng > 4 kg là một yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ typ 2 cho cả
mẹ và con Việc tăng đường huyết của mẹ gây ra kích thích tế bào của thai
nhi trưởng thành dẫn tới việc tăng tiết insulin từ lúc còn trong bào thai Các bé
này thường mắc bệnh béo phì lúc nhỏ, giảm dung nạp glucose và mắc ĐTĐ
khi lớn Các bà mẹ sinh ra các em bé này có nguy cơ mắc ĐTĐ typ 2 cao hơn
so với phụ nữ bình thường [4]
1.3.7 Tiền sử giảm dung nạp glucose
Những người có tiền sử giảm dung nạp glucose, thì khả năng tiến triển
thành bệnh ĐTĐ typ 2 rất cao Những người bị rối loạn dung nạp glucose và
rối loạn glucose máu lúc đói nếu biết sớm chỉ cần can thiệp bằng chế độ ăn và
luyện tập sẽ giảm hẳn nguy cơ chuyển thành bệnh ĐTĐ typ 2 thực sự [12]
1.3.8 Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) được coi là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ typ 2
Đa số bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có THA và tỷ lệ ĐTĐ typ 2 ở người bệnh THA
cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi Tỷ lệ THA ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 đều tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu [20]
Trang 181.3.9 Thừa cân béo phì
Béo phì là một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng đề kháng insulin, cùng các rối loạn chuyển hóa khác như THA và rối loạn mỡ máu đều
có khả năng tiến triển thành ĐTĐ nếu không được kiểm soát tốt Ngay từ những năm 1929, một số nghiên cứu đã cho thấy béo phì là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh ĐTĐ [4] Tỷ lệ béo phì trong đó vòng bụng so với vòng mông tăng có liên quan chặt chẽ tới hiện tượng kháng insulin Hiện tượng kháng insulin với hiện tượng giảm tiết insulin làm giảm tính thấm màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và lipid, ức chế quá trình photphorrin hóa và oxi hóa glucose, làm chậm quá trình chuyển hydratcacbon thành lipid, giảm tổng hợp glycogen ở gan và tăng tân tạo đường mới dẫn đến đái tháo đường [19] Điều tra dịch tễ của Tạ Văn Bình (2008) tại Huế cho thấy: Béo phì chiếm 12,5% tổng số người bị bệnh ĐTĐ, trong đó nam chiếm 35,4% [26]
1.3.10 Rối loạn chuyển hóa Lipid máu
Nghiên cứu năm 2006 của Tạ Văn Bình và cộng sự [24], cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân lần đầu tiên phát hiện đái tháo đường khám tại bệnh viện nội tiết trung ương là 65,3% Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Hoa (2010) cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường là 68% [20] Nghiên cứu của Trịnh Thị Kim Phượng trên 360 bệnh nhân đái tháo đường của bệnh viện Nội tiết tỉnh Nam Định cho thấy tỷ lệ tăng Triglycerid máu là 74,7% Tăng Cholesterol toàn phần là 30% Tăng LDL-C máu là 63,9% Giảm HDL-C là 94,7%[28]
1.3.11 Chế độ ăn và hoạt động thể lực
Kết quả phân tích tổng hợp số liệu từ 3 nghiên cứu theo dõi trên 197,228 đối tượng của Đại học Harvard cho thấy nếu mỗi ngày thay 50g cơm gạo trắng bằng một khối lượng tương ứng cơm gạo lức/ gạo lật sẽ giúp giảm 16% nguy cơ mắc đái tháo đường [89] Một số nghiên cứu cho thấy: Những người có thói quen dùng nhiều đường sacarose, ăn nhiều chất béo sẽ có nguy
Trang 19cơ bị ĐTĐ typ 2 Tỡnh trạng ăn quỏ nhiều chất bộo đó được nhiều tỏc giả chứng minh là những yếu tố nguy cơ gõy bệnh ĐTĐ typ 2 ở người Những người cú thúi quen uống nhiều rượu, cú nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ typ 2 lớn hơn những người uống ớt rượu và ăn uống điều độ [68]
1.4 Họ̃u quả của đái tháo đường
1.4.1 Biến chứng của đái tháo đường typ 2
1.4.1.1 Biến chứng cấp tớnh
- Nhiễm toan ceton và hụn mờ do nhiễm toan ceton: Là một biến chứng nguy hiểm đến tính mạng ng-ời bệnh, nguyên nhân là do thiếu insulin đã gây ra những rối loạn nặng nề trong chuyển hoá protein, lipid và carbohydrate Đây là một cấp cứu nội khoa cần phải đ-ợc theo dõi tại các khoa điều trị tích cực
- Hạ glucose mỏu: Triệu chứng lõm sàng xảy ra khi lượng glucose trong mỏu từ 2,7-3,3 mmol/l tựy vào bệnh nhõn
+ Mức độ nhẹ: Thường là cỏc triệu chứng vó mồ hụi, run chõn tay và đúi Cỏc triệu chứng này sẽ mất đi sau khi uống 10-15 gram carbohydrate,
từ 10 -15 phỳt
+ Mức độ trung bỡnh: Ở mức độ này cỏc phản ứng biểu hiện lõm sàng ở cả 2 mức của hệ thống thần kinh tự động và dấu hiệu thần kinh của giảm lượng glucose ở mụ như: đau đầu, thay đổi hành vi, dễ bị kớch thớch, giảm khả năng chỳ ý, ngủ gà Người bệnh khụng đủ tỉnh tỏo để kết hợp điều trị với thày thuốc Nếu khụng can thiệp kịp thời, người bệnh cũng mau chúng chuyển sang mức nặng
+ Mức độ nặng: Lỳc này lượng glucose mỏu hạ rất thấp Biểu hiện lõm sàng bằng hụn mờ, mất cảm giỏc hoặc những cơn co giật Cấp cứu lỳc này cần truyền glucose tĩnh mạch và/hoặc glucagon
+ Hạ glucose mỏu tiềm tàng hay hạ glucose mỏu khụng triệu chứng
Trang 20- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: Thường gặp ở người mắc đái tháo đường typ 2 trên 60 tuổi, nữ thường gặp hơn nam Bệnh có tiên lượng xấu,
tỷ lệ tử vong cao Có 4 đặc điểm chính:
+ Lượng glucose máu tăng cao ( 33,3mmol/l) thường từ 111,1mmol/l
55,5-+ Không có thể ceton trong nước tiểu hoặc có rất nhẹ
+ Áp lực thẩm thấu huyết tương hoặc huyết thanh trên 340 mosM + Dấu hiệu mất nước nặng
- Hôn mê do nhiễm toan acid lactic: thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 là do tăng acid lactic trong máu Triệu chứng lâm sàng: khởi đầu có tính chất đột ngột, hôn mê xảy ra rất nhanh, sau một vài giờ Nôn nhiều, dấu hiệu mất nước: da nhăn nheo, mắt trũng sâu, da nhợt nhạt rối loạn ý thức, lơ mơ; thân nhiệt giảm, huyết áp giảm, trụy tim mạch Cận lâm sàng: đường máu tăng vừa phải; tăng acid lacid máu (bình thường acid lactic 0,56 – 2,2 mmol/l); dự trữ kiềm giảm, pH máu giảm; bạch cầu trong máu tăng
Ngoài ra còn có nhiều các bất thường về thần kinh khác như mất ngôn ngữ, liệt nhẹ một nửa người, bán manh, rung giật nhãn cầu Đây là một cấp cứu nội khoa nặng, có tỷ lệ tử vong cao cần phải được theo dõi tại các khoa điều trị tích cực
Trang 211.4.2 Ảnh hưởng kinh tế xã hội
Bệnh ĐTĐ là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng Theo hiệp hội ĐTĐ quốc tế, ĐTĐ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 hoặc thứ 5 ở các nước phát triển và đang được coi là đại dịch ở các nước đang phát triển Khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ bị các biến chứng như bệnh mạch vành, tim mạch, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do ĐTĐ, cắt đoạn chi, suy thận, mù mắt Biến chứng này dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ
ĐTĐ là vấn đề nan giải, gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội vì sự phổ biến của bệnh và hậu quả nặng nề của bệnh do phát hiện và điều trị muộn Năm 1997, cả thế giới đã chi 1030 tỷ USD cho điều trị ĐTĐ trong
đó chủ yếu chi cho các biến chứng ĐTĐ trung bình chi phí cho mỗi bệnh nhân bị biến chứng ĐTĐ trên 30 năm là 47420 USD Trung Quốc là một trong những quốc gia có số người mắc ĐTĐ cao nhất thế giới Năm 2007, chi cho bệnh ĐTĐ và biến chứng ĐTĐ là 26 tỷ USD, dự kiến năm 2030 tăng lên 47,2 tỷ USD [52]
1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh
1.5.1 Tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội đái tháo đường Quốc tế ( IDF)
Năm 1999, WHO đã đưa ra tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh ĐTĐ (bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường
của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999 [99]
Chẩn đoán
Nồng độ đường huyết Tĩnh mạch
toàn phần mmol/l (mg/dl)
Mao mạch toàn phần mmol/l (mg/dl)
Huyết tương tĩnh mạch mmol/l (mg/dl) ĐTĐ
Glucose máu lúc đói
hoặc glucose máu bất
Trang 22kỳ, hoặc glucose máu
NPDNG: Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường của Tổ chức y tế thế giới (WHO) & Hiệp hội đái tháo đường quốc tế ( IDF)
Glucose bất kỳ hoặc sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
≥ 11,1 mmol/l
RLDNG Glucose máu lúc đói và < 7,0 mmol/l
Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp
≥ 7,8 và < 11,1 mmol/l
RLĐHLĐ Glucose máu lúc đói và ≥ 6,1 và ≤ 6,9
mmol/l Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp < 7,8 mmol/l
RLĐHLĐ: Rối loạn đường máu lúc đói
Trang 235.2 Tiêu chuẩn theo khuyến cáo của hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA)
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của ADA năm 2006 [33]
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và tiền đái tháo đường
của ADA năm 2006
Glucose lúc đói hoặc
2 giờ sau NPDNG hoặc cả hai
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán và đo lường hiệu quả điều trị đái tháo
đường typ 2 theo ADA qua các năm
Năm Tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA Tiêu chuẩn đánh giá hiệu
quả điều trị của ADA
Trang 24Trong đó: FPG: Fasting plasma glucose (glucose huyêt tương lúc đói)
NPDNG : Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
Tiêu chuẩn mới theo ADA năm 2010 [30]
- Chẩn đoán ĐTĐ dựa trên 1 trong 4 tiêu chí sau:
+ HbA1c ≥ 6,5% Xét nghiệm nên được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng phương pháp chuẩn Nếu HbA1c ≥ 5,7% và ≤ 6,4% thì được chẩn đoán là tiền ĐTĐ
+ Đường huyết lúc đói ≥7,0 mmol/l (126mg/dl) Đường huyết đói là đường huyết được đo ở thời điểm nhịn đói ít nhất 8 giờ Nếu kết quả dương tính, phải làm lại xét nghiệm lặp lại để xác định
+ Đường huyết 2 giờ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) khi làm test dung nạp glucose Test dung nạp glucose nên thực hiện theo mô tả của Tổ chức y tế thế giới, sử dụng dung dịch 75g glucose
+ Đường huyết ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l ( 200mg/dl), kèm theo các triệu chứng lâm sàng (uống nhiều, đái nhiều, mệt mỏi, sút cân)
- Nhóm tăng nguy cơ đối với bệnh ĐTĐ, rối loạn đường máu lúc đói (IGF: Impaired Fasting Glucose), và rối loạn dung nạp đường huyết (IGT: Impaired Glucose Tolerance) là giai đoạn giữa dung nạp glucose bình thường
và ĐTĐ typ 2 IFG và IGT là ngững yếu tố nguy cơ đối với ĐTĐ typ 2
+ IGF được xác định khi glucose huyết tương giữa 100 và 125 mg/dl
Trang 25+ IGT được xác định khi glucose huyết tương 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống từ 140 đến 199 mg/dl
- Khái niệm về HbA1c: Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong
ngày, và tồn tại suốt trong đời sống hồng cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần lễ Do đó xét nghiệm HbA1c cho biết tình trạng kiểm soát glucose máu trong 12 tuần gần nhất Người bệnh chỉ cần thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm glucose máu, nhưng HbA1c chỉ giảm khi
họ tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 12 tuần [11] HbA1c thường diễn đạt bằng tỷ lệ % Nồng độ HbA1c khoảng < 6,5% cho biết bệnh nhân đã được ổn định glucose máu tốt trong 12 tuần trước Nếu HbA1c > 7% glucose máu bệnh nhân không được kiểm soát tốt [31] Trong nhiều năm, xét nghiệm HbA1c giúp đánh giá mức độ glucose trung bình trong máu trong 2-3 tháng qua Nó được sử dụng để theo dõi sự kiểm soát glucose máu ở những người
đã được chẩn đoán bệnh ĐTĐ Từ năm 2010, ADA đã chấp nhận xét nghiệm HbA1c như là một công cụ để chẩn đoán và sàng lọc ĐTĐ Tuy nhiên, chỉ có các xét nghiệm HbA1c được thực hiện từ phòng thí nghiệm được chuẩn hóa mới được sử dụng cho mục đích chẩn đoán hoặc sàng lọc bệnh ĐTĐ
1.6 Các biện pháp điều trị đái tháo đường typ 2
Điều trị ĐTĐ nhằm mục đích kiểm soát nồng độ glucose máu ở mức bình thường , hạn chế tăng glucose máu sau ăn , chỉ số HbA 1c và Insulin , nhưng không gây hạ glucose máu, ngăn ngừa biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn do tăng glucose gây ra, duy trì cân nặng lý tưởng nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh Ba biện pháp cơ bản trong kiểm soát
glucose máu sau ăn ở bệnh nhân ĐTĐ bao gồm : Chế độ ăn , luyện tập , dùng thuốc
1.6.1 Thuốc trong điều trị ĐTĐ
Bảng 1.5 Các thuốc thường dùng trong điều trị đái tháo đường
Trang 26Tên thuốc Ưu điểm Nhược điểm
Metformin Không ảnh hưởng cân nặng
Có thể cải thiện mỡ máu
Tác dụng phụ trên tiêu hoá Nhiễm acid lactic (hiếm)
Sulphonylureas Được dùng rộng rãi Tăng cân
Hạ glucose máu
Thiazolidinediones Hiệu quả kiểm soát glucose
máu lâu dài
Ứ dịch, suy tim ứ huyết Tăng cân, nguy cơ gãy xương
Meglitinides Thời gian tác dụng ngắn Tăng cân
Dùng nhiều liều thường xuyên
Insulin Không giới hạn liều
Cải thiện mỡ máu
Cần phải tiêm chích Tăng cân, hạ glucose máu
Ức chế -Glucosidase Không ảnh hưởng cân nặng
Không làm hạ glucose máu
Thường có tác dụng phụ trên tiêu hoá
Phải dùng 3 lần trong ngày
Chất tương tự Amylin Sụt cân Tiêm, tác dụng phụ trên tiêu hoá
Ít kinh nghiệm sử dụng
Chất ức chế DPP-4 Không ảnh hưởng cân nặng Ít kinh nghiêm sử dụng
Trang 27Sơ đồ 1.1 Các bước tiếp cận điều trị bệnh nhân ĐTĐ typ 2 (Cập nhật 2009)
Trang 281.6.2 Chế độ luyện tập cho bệnh nhân đái tháo đường
- Làm giảm nồng độ Glucose máu cả trong và sau khi tập [1]
- Làm tăng nhạy cảm với insulin máu và tăng tác dụng của insulin, do
đó nhu cầu insulin sẽ giảm đi [25]
- Làm giảm nguy cơ bị các biến chứng tim mạch thông qua những ảnh hưởng có lợi lên mỡ máu và huyết áp ở các bệnh nhân ĐTĐ Theo một số nghiên cứu, tập thể dục có thể làm giảm rối loại chuyển hóa lipid máu : như Cholesterol, Triglyceride, LDL-Cholesterol và làm tăng cholesterol có lợi, hạn chế gây xơ vữa động mạch như HDL-Cholesterol [1], [20], [21], [25]
- Tập thể dục đều đặn có thể làm giảm trung bình 5-10 mmHg cả huyết
áp tâm thu và huyết áp tâm trương Tác dụng này rõ hơn ở các bệnh nhân có tăng huyết áp mức độ nhẹ hoặc vừa [1], [20], [21], [25]
- Làm giảm trọng lượng cơ thể, loại bỏ bớt lượng mỡ thừa ở các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bị thừa cân, hoặc béo phì [1]
- Tập luyện thể dục thường xuyên giúp cải thiện các chức năng tim mạch của người bệnh như làm giảm nhịp tim lúc nghỉ (tim phải hoạt động ít hơn), làm tăng khả năng co bóp tống máu của tim , tăng cường sức khỏe nói chung, tăng khả năng lao động chân tay cũng như sự phối hợp động tác của người bệnh [1]
- Ngoài ra, tập thể dục đều đặn còn mang lại cho người bệnh cảm giác thoải mái và một cuộc sống có chất lượng cao [1]
1.6.3 Các nghiên cứu phòng chống và điều trị đái tháo đường và tiền đái
tháo đường :
1.6.3.1 Trên thế giới: Để dự phòng ĐTĐ, trên thế giới đã có rất nhiều
mô hình can thiệp hỗ trợ phòng chống và điều trị ĐTĐ Các nghiên cứu đều cho thấy việc can thiệp thông qua thay đổi lối sống có hiệu quả trong phòng
ĐTĐ và biến chứng của ĐTĐ [67,69]
Trang 29Nghiên cứu Malmo (Thụy Điển): Nghiên cứu của Thụy Điển trên 217
đối tượng bị RLDNG cho thấy sau 5 năm nhóm can thiệp duy trì được cân nặng và giảm cân hiệu quả BMI của nhóm can thiệp giảm 2,5% so với nhóm chứng chỉ giảm 0,5% Chỉ có 10% đối tượng trong nhóm can thiệp tiến triển thành ĐTĐ trong khi ở nhóm chứng là 28,6% Có sự giảm nguy cơ tương đối
ở nhóm can thiệp 59% trong khi ở nhóm chứng chỉ có 17% [79]
Nghiên cứu Da-Qing (Trung Quốc): Nghiên cứu trên 577 đối tượng bị
RLDNG trong 6 năm cho thấy trong 4 nhóm can thiệp: Dinh dưỡng, luyện tập, kết hợp luyện tập và dinh dưỡng và nhóm không có bất kỳ can thiệp nào Nghiên cứu này cho thấy nhóm có can thiệp chế độ giảm cân và vận động có
sự giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ hàng năm từ 15,7% ở nhóm chứng xuống còn 8% ở các nhóm can thiệp Tủy lệ ĐTĐ ở các nhóm cũng có sự tương quan giữa việc có can thiệp và không có can thiệp tương ứng (nhóm không can thiệp tỷ lệ cao nhất với 68%, nhóm được can thiệp phối hợp tỷ lệ tiến triển ít nhất với 31%) [81]
Nghiên cứu dự phòng ĐTĐ tại Phần Lan: Nghiên cứu phòng chống
ĐTĐ tại Phần Lan trên 523 đối tượng có RLDNG, trong nhóm tuổi 40-64 tuổi, BMI ở mức trên 25kg/m2 trong 4 năm Nghiên cứu cho thấy giữa 2 nhóm chứng và nhóm can thiệp (can thiệp dinh dưỡng và luyện tập), có sự giảm cân nặng, giảm năng lượng của lipid <30%, giảm acid béo bão hòa
<10% tổng số năng lượng tiêu thụ, chất xơ >15g/1000 kcal và chế độ luyện tập trung bình trên 30p/ngày Kết quả cũng cho thấy sự giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ ở nhóm cứng giảm 58% [75]
Nghiên cứu STOP-NIDDM (The Study to Prevent Non Insulin –
Dependent Diabetes Mellitus): Đây là nghiên cứu dự phòng ĐTĐ trên 1429 đối tượng RLDNG mù đôi tại Canada và Châu Âu Nhóm nghiên cứu có sử dụng acarbose (100mg x 3 viên/ ngày) và nhóm placebo Kết quả cho thấy
Trang 30thuốc có hiệu quả giảm tỷ lệ ĐTĐ 25% nhưng khi ngưng thuốc sau 3 tháng điều trị tích cực thì hiệu quả lại giảm dần [46]
Nghiên cứu phòng bệnh ĐTĐ tại Hoa Kỳ (The Diabetes Prevention
Program): Đây là nghiên cứu can thiệp dự phòng 3234 người trên 25 tuổi, BMI trên 24 bị RLDNG 3 nhóm được phân chia theo thứ tự: Nhóm chứng, nhóm sử dụng metformin 850mg x 2 viên/ ngày và nhóm có can thiệp thay đổi lối sống Can thiệp cho thấy mức giảm năng lượng và giảm mỡ trong chế
độ ăn nhằm duy trì việc giảm cân nặng tương đương 700 kcal/tuần Sau 3 năm
tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ ở nhóm thay đổi lối sống là thấp nhất với 14% trong khi nhóm chứng là 29% và nhóm sử dụng metformin là 22% [49]
Nghiên cứu IDPP (Hoa Kỳ) – The Indian Diabetes Prevention
Programe): Nghiên cứu trên 531 người Mỹ gốc Nam Á bị RLDNG, tuổi trung bình 46 cho thấy trong 4 nhóm: Nhóm chứng, nhóm sử dụng metformin, nhóm thay đổi lối sống và nhóm sử dụng metformin kết hợp với thay đổi lối sống có sự giảm nguy cơ mắc bệnh ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng (28,5%) Nghiên cứu cũng cho thấy metformin có hiệu quả khá tốt với những người có BMI dưới 30kg/m2 [98]
Nghiên cứu phòng bệnh ĐTĐ tại Nhật Bản: Nghiên cứu tại Nhật Bản
trên 458 đối tượng nam bị RLDNG được lựa chọn vào 2 nhóm chứng và nhóm can thiệp theo tỷ lệ 4:1 Can thiệp làm giảm BMI xuống dưới 22kg/m2
Mục tiêu cho cá nhân cần đạt tới là giảm chất béo xuống <50g/ngày, hạn chế uống rượu và ăn ở ngoài Sau 4 năm, tần số mắc bệnh tĩnh lũy trong nhóm can thiệp là 3% và nhóm chứng là 9% [76]
Nghiên cứu CDPS (Chinese Diabetes Prevention Study) tại Trung
Quốc: Nghiên cứu 321 đối tượng bị RLDNG chia thành 4 nhóm: Nhóm chứng, nhóm can thiệp dinh dưỡng và luyện tập, nhóm sử dụng metformin và nhóm sử dụng acarbose Sau 3 năm, tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ tương ứng cho thấy nhóm có can thiệp giảm xuống 6% so với nhóm chứng là 34,9% Có mối liên quan giữa phòng bệnh của metformin với BMI mâu thuẫn với nghiên
Trang 31cứu DPP, nghiên cứu DPP chỉ ra không có hiệu quả của metformin ở những người có BMI <30kg/m2
[107]
Nghiên cứu DREAM (Diabetes Reduction Assessment with Ramipiril
and Rosiglitazone Medication): Đây là nghiên cứu sử dụng Rosiglitazone và ramipril phòng ĐTĐ trong thời gian 3 năm trên 5269 đối tượng từ 21 nước trên thế giới Kết quả cho thấy ramipiril giảm 9% tỷ lệ xuất hiện ĐTĐ nhưng không có ý nghĩa thống kê trong khi rosiglitazone giảm 60% nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ và có ý nghĩa thống kê với 70% đối tượng có lượng glucose máu trở về bình thường [48]
1.6.3.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu can thiệp phòng chống ĐTĐ tại Thái Bình và Nam Định:
Nguyễn Vinh Quang và CS nghiên cứu can thiệp dự phòng ĐTĐ bằng tư vấn chế độ dinh dưỡng và luyện tập trên 599 đối tượng có nguy cơ ĐTĐ và tiền ĐTĐ trong độ tuổi từ 30-64 tại Thái Bình và Nam Định trong 18 tháng cho kết quả giảm tỷ lệ mắc ĐTĐ trên cả nhóm không có ĐTĐ và tiền ĐTĐ từ 2,2% ở nhóm chứng xuống 0,9% trong nhóm nghiên cứu không bị bệnh ĐTĐ và từ 27,2% ở nhóm chứng xuống còn 20,5% ở nhóm can thiệp năm 2002 [14]
Nghiên cứu dự phòng ĐTĐ tại Thanh Hóa: Lê Phong và CS nghiên
cứu can thiệp dinh dưỡng và luyện tập có bổ sung thực phẩm thay thế có chỉ
số đường huyết thấp isomalt trong 4 tháng tại tỉnh Thanh Hóa trên 52 đối tượng cho tỷ lệ giảm ĐTĐ trong nhóm đối tượng được chẩn đoán tiền ĐTĐ xuống từ 100% trong nhóm chứng xuống còn 21,1% trong nhóm nghiên cứu [9]
Nghiên cứu của tác giả Trương Tuyết Mai: Sử dụng trà nụ vối trên 72
bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Hà Nội trong 3 tháng cho thấy, trà nụ vối (với liều 6g/lần uống) đã làm hạn chế tăng đường huyết sau ăn của bệnh nhân đái tháo đường, glucose máu của nhóm can thiệp đã giảm có ý nghĩa thống kê
so với nhóm chứng ở thời điểm kết thúc can thiệp Nồng độ HbA1c,
Trang 32Cholesterol, Triglycerid đã giảm xuống một cách có ý nghĩa thống kê ở nhóm can thiệp sử dụng trà nụ vối [27]
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng của Phạm Thị Lan Anh: Đánh giá
hiệu quả sử dụng viên chiết xuất từ lá ổi , vối, sen trên bệnh nhân đái tháo đường sau 12 tuần cho thấy : Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ glucose máu ≤6,7 mmol/L ở nhóm can thiệp tăng có ý nghĩa từ 12,5% lên 53,8%, so với nhóm chứng chỉ tăng từ 8,3% lên 27,8% (p<0,05) và giảm HbA1c ở nhóm can thiệp
từ 6,8±0,7% giảm xuống còn 6,4±0,8% (p<0,05)
Tình hình ĐTĐ đang gia tăng ở Việt Nam Do vậy, việc phòng chống ĐTĐ thông qua các biện pháp dự phòng trong cộng đồng dân cư là rất quan trọng Trong số các biện pháp hỗ trợ điều trị, sự kết hợp giữa chế độ dinh dưỡng hợp lý và chế độ luyện tập đem lại hiệu quả khá tốt thông qua hầu hết các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Do vậy, cần thiết phải có
sự phối hợp giữa các cán bộ dinh dưỡng với các bác sỹ lâm sàng, cộng đồng trong việc hỗ trợ điều trị và kiểm soát ĐTĐ
1.6.4 Vai trò và các giải pháp dinh dưỡng hỗ trợ phòng chống đái tháo đường
ĐTĐ có thể phòng chống được thông qua các biện pháp phòng các yếu
tố nguy cơ của ĐTĐ và tiền ĐTĐ Một số biện pháp trên thế giới hiện tại là
sử dụng các giải pháp dinh dưỡng và chế độ luyện tập thể lực nhằm ngăn ngừa thừa cân, béo phì và các bệnh lý rối loạn chuyển hóa liên quan [19],
[20], [21]
1.6.4.1 Mục tiêu can thiệp dinh dưỡng
- Duy trì cân nặng hợp lý để đảm bảo bệnh nhân có sức khỏe tốt, phòng chống bệnh tật và các biến chứng của đái tháo đường [5,16]
- Đạt được và duy trì tốt nhất các chỉ số sinh hóa [5,16]:
+ Mức đường máu trong giới hạn bình thường để ngăn ngừa và giảm nguy cơ hoặc biến chứng của ĐTĐ
Trang 33+ Lipid và lipoprotein ở mức bình thường làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch + Mức huyết áp (HA) trong giới hạn bình thường
+ Ngăn ngừa các biến chứng của đái tháo đường
1.6.4.2 Nguyên tắc can thiệp dinh dưỡng
- Cung cấp đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng theo lứa tuổi, tình trạng sinh lý, tình trạng lao động, bệnh tật [5,16]
- Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn [5,16]
- Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn [5,16]
- Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết
áp, suy thận [5,16]
- Phù hợp với thói quen ăn uống của bệnh nhân [5,16]
- Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như là khối lượng của các bữa ăn Duy trì được cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng [5,16]
Trong ĐTĐ không có một công thức tính chế độ ăn chung cho tất cả các bệnh nhân, vì còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: Người béo hay gầy, hoạt động thể lực nặng , trung bình hoặc nhẹ , có biến chứng hay không Vì vậy, điều cơ bản trong chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường là phải hạn chế glucid để tránh đường huyết tăng sau khi ăn và hạn chế lipid nhất là các acid béo bão hoà [5,16]
1.6.4.3 Diễn biến glucose máu sau ăn ở người bình thường
Trong điều kiện sinh lý bình thường khi nồng độ insulin máu hạ thấp, khả năng gắn của insulin vào các thụ thể lại tăng và ngược lại khi nồng độ insulin máu tăng thì khả năng gắn vào các thụ thể lại giảm Ở người bình thường, nồng độ glucose máu lúc đói trung bình từ 4,0 đến 5,6 mmol/l Nồng
độ glucose bắt đầu tăng 10 phút sau ăn do kết quả của việc hấp thu glucid trong quá trình tiêu hóa Nồng độ của glucose máu sau ăn phụ thuộc vào sự bài tiết của insulin của tuyến tụy và sự chuyển hóa glucose ở gan và mô ngoại vi
Trang 34Thời gian đạt đỉnh của nồng độ glucose máu phụ thuộc vào nhiều yếu
tố bao gồm thời gian, số lượng và thành phần thực phẩm ăn vào Ở người bình thường, nồng độ cao nhất của glucose máu thông thường là sau 60 phút sau khi ăn, và sẽ không vượt ngưỡng 7,8 mmol/l và trở về nồng độ bình thường sau 2 giờ
1.6.4.4 Diễn biến glucose máu sau ăn ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Ở người bệnh đái tháo đường typ 2, đỉnh tiết insulin bị chậm trễ và không đủ để kiểm soát glucose máu sau ăn Một đặc điểm của người đái tháo đường typ 2 là luôn bị mất pha sớm của sự bài tiết insulin và có sự tăng tiết ở pha thứ 2 nhưng sự tăng tiết đó lại không phù hợp với sự tăng glucose máu Nghiên cứu sự thay đổi theo thời gian của lượng insulin máu trong nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cho thấy khả năng đáp ứng insulin ở phút thứ 60 đến 120 cao hơn người bình thường, nhưng tại pha sớm, sau 30 phút thì nồng độ insulin máu ở đái tháo đường typ 2 lại thấp hơn Tương tự với nghiệm pháp tăng glucose máu ở đường tĩnh mạch, pha bài tiết sớm insulin và một số hocmon khác trong sinh
lý bệnh đái tháo đường typ 2 dẫn đến rối loạn chuyển hóa glucose như tăng sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng tiếp nhận glucose ở mô, cơ đã làm tăng và kéo dài nồng độ glucose máu sau ăn so với người bình thường Do vậy glucose máu sau ăn thường tăng từ 13,0-19,4 mmol/l trên những người bị đái tháo đường typ 2
Nếu làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu lúc đói bằng đường uống chúng ta sẽ thấy rõ hơn sự diễn biến của glucose máu sau khi cho uống 75 gram đường glucose, ở người bình thường trong nửa giờ đầu glucose máu tăng khoảng 7,5 mmol/l sau đó giảm nhanh và thông thường trở lại bình thường ở 5 mmol/l sau 2 giờ do insulin được bài tiết do glucose máu tăng Ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, trong nửa giờ đầu mức glucose trong máu tăng vướt quá 8,0 mmol/l và có thể đạt 11,1 mmol/l sau 2 giờ kếp hợp với sự
Trang 35xuất hiện glucose của đường niệu Glucose máu giảm rất chậm và có thể trở lại bình thường sau 3-4 giờ hoặc lâu hơn nữa
Do nồng độ glucose máu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 luôn trong tình trạng cao nên dẫn đến gây áp lực lớn đến mạch máu, người bệnh luôn trong trạng thái khát nước (trạng thái sinh lý trong trường hợp glucose máu tăng cao) Nếu tình trạng này kéo dài thì sẽ kéo theo rất nhiều nguy cơ: Tổn thương thận, gây biến chứng đến mắt, mỡ máu tăng cao…
1.6.4.5 Chế độ ăn cho bệnh nhân đái tháo đường
- Nhu cầu năng lượng của bệnh nhân đái tháo đường: Tùy theo tình trạng dinh dưỡng và hoạt động thể lực của bệnh nhân [5,16]
- Protein:
+ Năng lượng do protein cung cấp chiếm 13-20% tổng năng lượng cả ngày + Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể tăng lượng protein theo cách sau:
Phẫu thuật: 2-4g/kg thể trọng/ngày
Có thai: thêm 6g/ngày
Cho con bú: < 6 tháng, thêm 15-20g/ngày; >6 tháng 12-15g/ngày
Vận động viên khi tập luyện: 1,2-1,5g/kg thể trọng/ngày
Suy thận lọc máu chu kỳ: 1,2-1,4 g/kg/ngày
+ Trong một số trường hợp cần giảm protein:
Suy thận: Độ 1-2: 0,6-0,8 g/kg cân nặng lý tưởng/ngày Độ 3-4: 0,6 g/kg cân nặng lý tưởng/ngày (không lọc máu)
0,4-Viêm cầu thận cấp: 0,6-0,8 g/kg/ngày
Trang 36dưới 300 mg/ngày Việc kiểm soát chất béo cũng giúp cho ngăn ngừa vữa
xơ động mạch
+ Đối với bệnh nhân đái tháo đường bị thừa cân, béo phì, tăng cân nhanh cần hạn chế ăn thức ăn xào rán , nội tạng động vật , nên sử dụng sữa và chế phẩm sữa tách béo, không đường
- Glucid
+ Tỷ lệ glucid chấp nhận được là 50-65% tổng số năng lượng Nên sử dụng các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp Khi sử dụng nhóm ngũ cốc để cung cấp năng lượng, nên sử dụng các glucid phức hợp như gạo giã dối, khoai củ, hết sức hạn chế đường đơn.Theo Hội tim mạch Mỹ và Hội đái tháo đường của Mỹ cơ cấu khẩu phần nên như sau: Glucid: 55% - 60%; Protein: 15-20% hoặc 1g/kg/ngày; Lipid: 30%
- Bệnh nhân đái tháo đường có thể ăn:
+ Không hạn chế các loại thức ăn có 5% glucid
+ Ăn có mức độ đối với các loại thức ăn có 10- 20% glucid
+ Kiêng, hay hạn chế tối đa đối với các loại đường hấp thu nhanh (mứt, kẹo, bánh ngọt, nước ngọt), trái cây khô là các loại thức ăn có trên 20% glucid
- Vitamin và các yếu tố vi lượng: Nhu cầu vitamin và các yếu tố vi lượng như
nhu cầu khuyến nghị theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý Cần đảm bảo đủ các yếu
tố vi lượng (sắt, iod ), vitamin Các loại này thường có trong rau quả tươi
- Muối ăn: Không cần kiêng muối (Na), nhưng không nên dùng > 5g/ngày
1.6.4.6 Chỉ số đường huyết của thực phẩm đối với bệnh nhân đái tháo đường
Theo Jenkins và cộng sự chỉ số đường huyết là mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn một lượng thức ăn nhất định nghiên cứu so sánh với mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn một lượng thức ăn được coi là chuẩn (bánh mỳ trắng,
là 100%) Các thực phẩm với chỉ số đường huyết thấp làm tăng đường máu
Trang 37từ từ và thấp sau ăn Các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao làm đường máu tăng nhanh và cao sau ăn [66]
Dùng các loại thức ăn có chỉ số tăng đường huyết thấp trong chế độ ăn của đái tháo đường có ưu điểm làm cho đường huyết dễ kiểm soát hơn, cải thiện chuyển hoá lipid, đặc biệt đối với đái tháo đường typ 2 [66]
Bệnh nhân đái tháo đường nên sử dụng các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp trong mỗi bữa ăn Tuy nhiên tất cả glucid ăn vào không nhất thiết phải là thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp Cố gắng ăn các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp nếu có thể Nếu ăn các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao, nên ăn phối hợp cùng các thực phẩm có nhiều chất xơ
Phân loại chỉ số đường huyết của một số loại thực phẩm theo quốc tế
Chỉ số đường
huyết cao
Chỉ số đường huyết trung bình
Chỉ số đường huyết thấp
Chỉ số đường huyết rất thấp
1.6.4.7 Phân bố bữa ăn trong ngày của bệnh nhân đái tháo đường
- Chia nhỏ bữa ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong điều hòa đường huyết, để tránh tăng đường huyết nhiều sau ăn Nên ăn 3 bữa chính và 1-3 bữa phụ [5,16]:
+ Nếu ăn 6 bữa, số lượng mỗi bữa ăn như sau: Bữa sáng: 10%, bữa phụ buổi sáng: 10%, bữa trưa: 30%, bữa phụ buổi chiều: 10%, bữa tối: 30%, bữa phụ vào buổi tối: 10%
+ Nếu ăn 5 bữa, số lượng mỗi bữa ăn như sau: Bữa sáng: 20%, bữa phụ buổi sáng: 10%, bữa trưa: 30%, bữa tối: 30%, bữa phụ vào buổi tối: 10%
+ Nếu ăn 4 bữa, số lượng mỗi bữa ăn như sau: Bữa sáng: 25%, bữa trưa: 35%, bữa tối: 30%, bữa phụ vào buổi tối: 10%
Trang 38- Giờ ăn: phân bố giờ ăn phụ thuộc vào giờ uống thuốc hoặc tiêm thuốc điều trị đái tháo đường Người bệnh cần phối hợp với bác sĩ điều trị để phân
bố giờ ăn cho thích hợp
- Chế độ ăn của người bệnh phải được chọn sao cho nó cung cấp cho cơ thể người bệnh một lượng đường tương đối ổn định và quan trọng nhất là phải tính điều độ và hợp lý về giờ giấc tức là chia số thực phẩm được sử dụng trong ngày ra các bữa ăn chính và phụ hợp lý
- Nếu bệnh nhân có tiêm insulin, phải tính thời điểm lượng đường huyết tăng cao sau bữa ăn phù hợp với thời điểm insulin có tác dụng mạnh nhất Glucid nên được chia đều trong ngày để phù hợp với chu kỳ hoạt động của Insulin
1.6.5 Nghiên cứu về gạo lật nảy mầm
1.6.5.1 Gạo lật nảy mầm
Các nhà nghiên cứu của viện nghiên cứu FANCL, tập đoàn thực phẩm dinh dưỡng và mỹ phẩm FANCL của Nhật Bản đã nghiên cứu và đăng ký phát minh quốc tế và tại Việt Nam sản phẩm "Gạo lật nảy mầm" với tên tiếng Anh là Pre-Germinated Brown Rice (PGBR), PGPR đã được sử dụng rộng rãi tại thị trường Nhật Bản Công nghệ tiên tiến chủ yếu của phát minh này chính là điều chỉnh quá trình nảy mầm thích hợp giúp hoạt hóa các enzym hữu ích trong gạo lật Gạo lật nảy mầm có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn gạo trắng và gạo lật thông thường, trong đó tiêu biểu nhất là các chất như: Acid Gamma Amino Butyric (GABA), Acety Steryl Glucoside (ASG), Inositol Hexaphosphate (IP6), Ferulic acid và Inositol, pre-germinated brown rice-derived steryl glycoside (ASG)
Thành phần dinh dưỡng của gạo lật nảy mầm Nhật Bản : Năng lượng
345 Kcal, Glucid: 71,5 g, Protein: 6g, Chất xơ: 3 g, GABA: 15 mg
Trang 39So sánh hàm lượng dinh dưỡng giữa gạo lật nảy mầm và gạo trắng cho thấy: Hàm lượng chất xơ trong gạo lật nảy mầm cao gấp 3 lần so với gạo trắng, GABA cao gấp 10 lần so với gạo trắng và gấp 4 lần so với gạo lật thông thường, vitamin B1 cao gấp 4 lần so với gạo trắng, vitamin B6 cao gấp
Trang 40Biểu đồ 1.2 Độ ngọt và độ cứng của gạo lật nảy mầm
1.6.5.2 Tác dụng của gạo lật nảy mầm
Hạn chế tăng đường máu ngay sau bữa ăn, tăng cường chuyển hóa và điều hòa đường máu, phòng ngừa và làm chậm tiến triển biến chứng của bệnh đái tháo đường
Phòng ngừa rối loạn mỡ máu, béo phì, bệnh tim mạch và bệnh tăng huyết áp Giúp tăng lượng Cholesterol tốt (HDL), giảm lượng Cholesterol xấu (LDL) và giảm lượng Triglyceride trong cơ thể
Sản phẩm này chứa nhiều chất oxy hóa, acid gamma amino butyric (GABA) giúp bảo vệ cơ thể không bị tổn thương bởi các gốc tự do, tăng cường trí nhớ, bảo vệ chức năng thận
1.6.5.3 Gạo lật nảy mầm sản xuất tại Việt Nam
Sản phẩm gạo lật nảy mầm Biomedviet được làm từ gạo lức ngâm trong nước ấm, chứa nhiều chất xơ, vitamin và khoáng chất hơn so với gạo trắng, đồng thời mềm và dễ nấu hơn gạo lức/gạo lật thông thường
Từ năm 2011, tập đoàn FANCL đã chuyển giao công nghệ sản xuất gạo lật nảy mầm cho công ty Công ty Cổ phần Công nghệ Y Sinh học và Thực