MỤC LỤCTT Đề mục Nội dung Trang1. Lớp 6. Mở đầu: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ 1KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI 21.1 Chủ đề 1. Xã hội nguyên thủy 21.2 Chủ đề 2. Xã hội cổ đại 3LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X 71.3 Chủ đề 1. Buổi đầu lịch sử nước ta 71.4 Chủ đề 2. Thời kì Văn Lang Âu Lạc 91.5 Chủ đề 3. Thời kì Bắc thuộc và cuộc đấu tranh giành độc lập 151.6 Chủ đề 4. Bước ngoặt lịch sử ở đầu thế kỉ X 252 Lớp 7 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI 282.1 Chủ đề 1. Xã hội phong kiến châu Âu (phương Tây) 282.2 Chủ đề 2. Xã hội phong kiến phương Đông 31LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX 322.3 Chủ đề 3. Buổi đầu độc lập thời Ngô Đinh Tiền Lê (Thế kỉ X) 322.4 Chủ đề 4. Nước Đại Việt thời Lý (Thế kỉ XI Đầu thế kỉ XIII) 372.5 Chủ đề 5. Nước Đại Việt thời Trần (Thế kỉ XIII XV) và nhà Hồ (đầu thế kỉ XV) 462.6 Chủ đề 6. Nước Đại Việt đầu thế kỉ XV, thời Lê sơ 592.7 Chủ đề 7. Nước Đại Việt ở các thế kỉ XVI XVII 682.8 Chủ đề 8. Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX 783 Lớp 8 LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917) 823.1 Chủ đề 1. Cách mạng tư sản và sự xác lập của CNTB (giữa XVI nửa sau XIX) 823.2 Chủ đề 2. Các nước Âu Mĩ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 963.3 Chủ đề 3. Châu Á thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XX 1073.4 Chủ đề 4. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 1918) 113LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI (từ năm 1917 đến năm 1945) 1153.5 Chủ đề 1. CM tháng Mười Nga 1917 và công cuộc XD CNXH ở LX (1921 1941) 1153.6 Chủ đề 2. Châu Âu và nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 1939) 1193.7 Chủ đề 3. Châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 1939) 1223.8 Chủ đề 4. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 1945) 1253.9 Chủ đề 5. Sự phát triển của Khoa học kĩ thuật và văn hóa TG nửa đầu thế kỉ XX 128LỊCH SỬ VIỆT NAM từ năm 1858 đến năm 1918 1293.10 Chủ đề 1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 1884) 1293.11 Chủ đề 2. Phong trào kháng chiến chống Pháp cuối Thế kỉ XIX (từ sau năm 1885) 1333.12 Chủ đề 3. Phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỉ XX đến năm 1918 1363.13 Chủ đề 4. Xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1404 Lớp 9 LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI từ năm 1945 đến nay 1434.1 Chủ đề 1. Liên Xô và các nước Đông Âu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1434.2 Chủ đề 2. Các nước Á Phi Mĩ Latinh từ năm 1945 đến nay 1474.3 Chủ đề 3. Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu từ năm 1945 dến nay 1534.4 Chủ đề 4. Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay 1564.5 Chủ đề 5. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật từ năm 1945 đến nay 158LỊCH SỬ VIỆT NAM từ năm 1919 đến nay 1594.6 Chủ đề 1. Việt Nam trong những năm 1919 1930 1594.7 Chủ đề 2. Việt Nam trong những năm 1930 1939 1674.8 Chủ đề 3. Cuộc vận động tiến tới Cách mạng tháng Tám năm 1945 1734.9 Chủ đề 4. Việt Nam từ sau CM tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến (1945 1946) 1784.10 Chủ đề 5. Việt Nam từ cuối năm 1946 đến năm 1954 1814.11 Chủ đề 6. Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 1894.12 Chủ đề 7. Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2000 201
Trang 1CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ BẬC THCS
LỚP 6,7,8,9
Trang 3MỤC LỤC
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI 2
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X 7
1.5 Chủ đề 3 Thời kì Bắc thuộc và cuộc đấu tranh giành độc lập 15
2.1 Chủ đề 1 Xã hội phong kiến châu Âu (phương Tây) 28
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX 32
2.3 Chủ đề 3 Buổi đầu độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (Thế kỉ X) 32
2.4 Chủ đề 4 Nước Đại Việt thời Lý (Thế kỉ XI - Đầu thế kỉ XIII) 37
2.5 Chủ đề 5 Nước Đại Việt thời Trần (Thế kỉ XIII - XV) và nhà Hồ (đầu thế kỉ XV) 46
2.6 Chủ đề 6 Nước Đại Việt đầu thế kỉ XV, thời Lê sơ 59
2.7 Chủ đề 7 Nước Đại Việt ở các thế kỉ XVI - XVII 68
3 Lớp 8 LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917) 82
3.1 Chủ đề 1 Cách mạng tư sản và sự xác lập của CNTB (giữa XVI - nửa sau XIX) 82
3.2 Chủ đề 2 Các nước Âu - Mĩ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX 96
3.4 Chủ đề 4 Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) 113
Trang 4LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI (từ năm 1917 đến năm 1945) 115
3.5 Chủ đề 1 CM tháng Mười Nga 1917 và công cuộc XD CNXH ở LX (1921 -
3.6 Chủ đề 2 Châu Âu và nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939) 119
3.7 Chủ đề 3 Châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939) 122
3.8 Chủ đề 4 Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) 125
3.9 Chủ đề 5 Sự phát triển của Khoa học - kĩ thuật và văn hóa TG nửa đầu thế kỉ XX 128
LỊCH SỬ VIỆT NAM từ năm 1858 đến năm 1918 129
3.10 Chủ đề 1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 - 1884) 129
3.11 Chủ đề 2 Phong trào kháng chiến chống Pháp cuối Thế kỉ XIX (từ sau năm 1885) 133
3.12 Chủ đề 3 Phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỉ XX đến năm 1918 136
3.13 Chủ đề 4 Xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX 140
4 Lớp 9 LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI từ năm 1945 đến nay 143
4.1 Chủ đề 1 Liên Xô và các nước Đông Âu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai 143
4.2 Chủ đề 2 Các nước Á - Phi - Mĩ La-tinh từ năm 1945 đến nay 147
4.3 Chủ đề 3 Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu từ năm 1945 dến nay 153
4.5 Chủ đề 5 Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật từ năm 1945 đến nay 158
4.6 Chủ đề 1 Việt Nam trong những năm 1919 - 1930 159
4.7 Chủ đề 2 Việt Nam trong những năm 1930 - 1939 167
4.8 Chủ đề 3 Cuộc vận động tiến tới Cách mạng tháng Tám năm 1945 173
4.9 Chủ đề 4 Việt Nam từ sau CM tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến (1945 -
4.10 Chủ đề 5 Việt Nam từ cuối năm 1946 đến năm 1954 181
Trang 5CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ BẬC THCS
LỚP 6
Mở đầu: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ
1 Lịch sử là gì?
Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển Vậy Lịch sử là gì?
- Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ
- Lịch sử còn là một khoa học, có nhiệm vụ tìm hiểu và khôi phục lại quá khứ của con người và xã hội loài người
- Để hiểu được những gì chúng ta đang thừa hưởng của ông cha trong quá khứ và biết mình phải làm gì cho tương lai
Trang 6KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI
Chủ đề 1 XÃ HỘI NGUYÊN THỦY
1 Con người đã xuất hiện trên Trái đất như thế nào?
- Cách ngày nay khoảng 5 - 6 triệu năm, trên trái đất đã xuất hiện loài
Vượn cổ có dáng hình người
- Khoảng 3 - 4 triệu năm về trước, loài Vượn cổ đã tiến hóa và xuất hiện
Người tối cổ Người tối cổ đã thoát khỏi thế giới động vật, con người hoàn toàn
đi bằng hai chân, đôi tay đã trở nên khéo léo, có thể cầm nắm và biết sử dụng
những hòn đá, cành cây làm công cụ Đặc biệt, Người tối cổ đã biết chế tạo ra
những công cụ thô sơ (bằng đá) và phát minh ra lửa
- Khoảng 4 vạn năm về trước, Người tối cổ tiến hóa dần trong quá trình lao
động trở thành Người tinh khôn Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể như con
người ngày nay với thể tích sọ não lớn, tư duy phát triển
Như vậy là lao động có vai trò sáng tạo ra con người và xã hội loài người Thông qua các di cốt được tìm thấy ở khắp các châu lục: Đông Phi, Đông Nam
Á, Trung Quốc, châu Âu, Các nhà khảo cổ học đã tái hiện được lịch sử sự xuất hiện và tiến hóa của con người và xã hội loài người trên trái đất
2 Giữa Người tối cổ và Người tinh khôn có sự khác nhau như thế nào?
- Ở Người tối cổ: trán thấp và bợt ra phía sau, u mày nổi cao; cả cơ thể còn
phủ một lớp lông ngắn; dáng đi còn hơi còng, lao về phía trước; thể tích sọ não
từ 850 cm3 đến 1.100 cm3
- Ở Người tinh khôn: mặt phẳng, trán cao, không còn lớp lông trên người;
dáng đi thẳng, bàn tay nhỏ, khéo léo; thể tích sọ não lớn hơn: 1.450 cm3
3 Vì sao xã hội nguyên thủy tan rã?
- Khoảng 4.000 năm TCN, con người phát hiện ra kim loại (đồng và quặng sắt) cùng với thuật luyện kim đã giúp chế tạo ra các công cụ lao động
- Nhờ công cụ bằng kim loại, con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích và năng suất trồng trọt sản phẩm làm ra nhiều, xuất hiện của cải dư thừa
- Một số người chiếm hữu của cải dư thừa, trở nên giàu có xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo Xã hội nguyên thủy dần dần tan rã
Trang 7Chủ đề 2 XÃ HỘI CỔ ĐẠI
1 Các quốc gia cổ đại đã xuất hiện và phát triển như thế nào?
Nội dung Ở phương Đông Ở phương Tây
Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc
Trên các bán đảo Ban Căng ở ta-li-a, ở đó có rất ít đồng bằng, chủ yếu là đất đồi, khô và cứng, nhưng lại có nhiều hải cảng tốt, thuận lợi cho buôn bán đường biển
I-Đời
sống
kinh tế
+ Ngành KT chính là nông nghiệp Biết làm thủy lợi, đắp đê ngăn lũ, đào kênh máng dẫn nước vào ruộng Thu hoạch lúa ổn định hằng năm theo mùa vụ Ngoài ra còn phát triển chăn nuôi gia súc
+ Ngành KT chính là thủ công nghiệp (luyện kim, đồ mĩ nghệ, đồ gốm, làm rượu nho, dầu ô liu) và thương nghiệp (xuất khẩu các mặt hàng thủ công, rượu nho, dầu ô liu, nhập lúa mì và súc vật) Ngoài
ra còn trồng trọt cây lưu niên như nho, ô liu, cam,
- Quý tộc là tầng lớp có nhiều của cải và quyền thế, bao gồm vua, quan lại và tăng lữ
- Nô lệ là những người hầu hạ, phục dịch cho quý tộc; thân phận không khác gì con vật
+ 2 giai cấp chính
- Giai cấp chủ nô: gồm các chủ xưởng thủ công, thuyền buôn, trang trại , rất giàu và có thế lực về chính trị, sở hữu nhiều nô
lệ
- Giai cấp nô lệ: với số lượng rất đông, là lực lượng lao động chính trong xã hội, bị chủ nô bóc lột và đối xử rất tàn bạo
Trang 8Tổ chức
xã hội
+ Tổ chức bộ máy nhà nước do
vua đứng đầu (vua có quyền đặt
ra luật pháp, chỉ huy quân đội, xét
xử những người có tội, được coi
là đại diện của thần thánh ở dưới
trần gian)
+ Bộ máy hành chính từ TW đến
địa phương: giúp việc cho vua, lo
thu thuế, xây dựng cung điện, đền
tháp và chỉ huy quân đội (vẽ sơ đồ)
+ Tổ chức bộ máy nhà nước do giai cấp chủ nô bầu ra, làm việc theo thời hạn Giai cấp thống trị
là chủ nô, nắm giữ mọi quyền hành (tuy có dân chủ hơn so với
xã hội cổ đại phương Đông) + Bộ máy hành chính phân ra theo các thành bang, có sự phân quyền hơn so với xã hội cổ đại phương Đông
29 hoặc 30 ngày); biết làm đồng
hồ đo thời gian bằng bóng nắng
mặt trời
+ Sáng tạo chữ viết, gọi là chữ
tượng hình (vẽ mô phỏng vật thật
để nói lên suy nghĩ của con
người); viết trên giấy Pa-pi-rút,
trên mai rùa, thẻ tre và các tấm
+ Kiến trúc: xây dựng các công
trình kiến trúc đồ sộ như Kim tự
tháp ở Ai Cập, thành Ba-bi-lon ở
Lưỡng Hà
+ Biết làm lịch và dùng lịch dương, chính xác hơn: 1 năm có
365 ngày và 6 giờ, chia thành 12 tháng
+ Sáng tạo ra hệ chữ cái a, b, c gồm 26 chữ, gọi là hệ chữ cái La-tinh, đang được dùng phổ biến hiện nay
+ Khoa học phát triển cao, đặt nền móng cho các ngành khoa học sau này Một số nhà khoa học nổi tiếng như: Ta-lét, Pi-ta-
go, Ơ-cơ-lít (Toán học); mét (Vật lí); Pla-tôn, A-ri-xtốt (Triết học); Hê-rô-đốt, Tu-xi-đít (Sử học); Stơ-ra-bôn (Địa lí) + Kiến trúc và điêu khắc với nhiều công trình nổi tiếng như: đền Pác-tê-nông ở A-ten; đấu trường Cô-li-đê ở Rô-ma, tượng Lực sĩ ném đĩa, thần Vệ nữ ở Mi-lô
Trang 9Ác-si-2 Một số thuật ngữ, khái niệm lịch sử
a Thế nào là “tư liệu lịch sử”, “tư liệu truyền miệng”, “tư liệu hiện vật” và
“tư liệu chữ viết”?
Tư liệu lịch sử là tất cả những dấu tích của con người trong quá khứ được
lưu giữ, truyền lại dưới nhiều dạng khác nhau giúp chúng ta hiểu biết và dựng lại được lịch sử
Tư liệu truyền miệng là những câu chuyện, những lời mô tả được truyền từ
đời này sang đời khác ở rất nhiều dạng khác nhau
Tư liệu hiện vật là những di tích, đồ vật của người xưa còn lưu giữ được
trong lòng đất hay trên mặt đất
Tư liệu chữ viết là những bản ghi, sách vở chép tay hay được in, khắc bằng
chữ viết
b Xã hội nguyên thủy là gì?
Lịch sử xã hội loài người bắt đầu từ xã hội nguyên thủy Thời kỳ này
chiếm phần lớn thời gian của lịch sử nhân loại, nó bắt buộc tất cả các dân tộc phải đi qua vì đó là thời thơ ấu của họ
Xã hội nguyên thủy là chế độ xã hội đầu tiên của lịch sử loài người Trong
xã hội đó, do việc kiếm sống chủ yếu là săn bắt, hái lượm, phụ thuộc vào thiên nhiên; mọi sản phẩm của cộng đồng được chia đều cho mọi người, không có sự phân biệt kẻ giàu, người nghèo và không có phân biệt giai cấp, áp bức bóc lột
Tổ chức xã hội còn hết sức sơ khai theo chế độ thị tộc, bộ lạc
c Em hiểu như thế nào về các khái niệm: “chế độ thị tộc”, “thị tộc mẫu hệ” ,
“thị tộc phụ hệ”và “bộ lạc”?
Trải qua hàng triệu năm phát triển, bầy người nguyên thủy tiến lên một
cộng đồng mới cao hơn: Công xã thị tộc hay còn gọi là Chế độ thị tộc
Chế độ thị tộc: là tổ chức của những người có cùng quan hệ lâu dài, cùng
huyết thống đã họp thành một nhóm riêng cùng sống trong một hang động hay
mái đá, hoặc trong một vùng nhất định nào đó
Trang 10Thị tộc mẫu hệ hay còn gọi là Thị tộc mẫu quyền: là chế độ của những
người cùng huyết thống, hôn nhân đã tuân theo chế độ ngoại tộc hôn, qui định nam nữ trong thị tộc là ruột thịt, nên không được kết hôn với nhau Nhưng là vì hôn nhân tập thể (quần hôn) làm cho con cái chỉ biết mặt mẹ nên theo họ mẹ Tất cả tôn người mẹ lớn tuổi nhất lên làm chủ
Trong thị tộc mẫu hệ, kinh tế hái lượm vẫn là chủ yếu Người nguyên thủy thời kỳ này cho rằng vạn vật đều có linh hồn
Chế độ mẫu hệ là thời kỳ hưng thịnh nhất của xã hội nguyên thủy Nó kéo dài khoảng 18.000 năm trong lịch sử, đến nay chế độ mẫu hệ vẫn còn nhiều tàn
dư ở một số dân tộc trên thế giới
Thị tộc phụ hệ hay còn gọi là Thị tộc phụ quyền: Ham muốn của người
nguyên thủy cũng như con người về sau là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động Khoảng 4.000 năm trước công nguyên con người đã tìm ra đồng Người nguyên thủy đã phát minh ra cung tên mà tầm quan trọng của nó được F Ăng-ghen đánh giá như phát minh ra súng của thời cận đại Các ngành nghề thủ công, chăn nuôi … cũng phát triển một cách mạnh mẽ Một cuộc phân công lao động và sự chuyển biến vị trí giữa đàn ông và đàn bà bắt đầu Thị tộc mẫu quyền nhường chỗ cho thị tộc phụ quyền (trong đó, quyền lực của người cha - đàn ông trong bộ lạc được đề cao)
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng ổn định Ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản (chiềng, chạ), các làng bản vùng cao cũng nhiều hơn trước Dần dần hình thành các cụm chiềng, chạ hay làng bản, có quan hệ chặt
chẽ với nhau được gọi là bộ lạc
d Xã hội “chiếm hữu nô lệ” là gì?
Là xã hội có hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, trong đó giai cấp chủ nô thống trị và bóc lột giai cấp nô lệ
Trang 11LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X
Chủ đề 1 BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ NƯỚC TA
1 Những dấu tích của Người tối cổ và Người tinh khôn được tìm thấy ở Việt Nam đã nói lên điều gì?
Dấu tích là cái còn lại của thời xa xưa, của quá khứ tương đối xa được con
người hiện tại phát hiện, khai quật để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu về lịch sử xã hội loài người
Các nhà khảo cổ qua nhiều đợt thăm dò, khảo sát và khai quật đã tìm thấy
các dấu tích của Người tối cổ và Người tinh khôn trên khắp đất nước Việt Nam
Điều đó đã khẳng định Việt Nam cũng là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại có con người xuất hiện từ rất sớm và rất phát triển
Ở các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn); Núi Đọ (Thanh Hóa);
Xuân Lộc (Đồng Nai) đã tìm thấy những chiếc răng của Người tối cổ, những
mảnh đá được ghè đẽo ở nhiều cỗ, có hình thù rõ ràng, dùng để chặt, đập; có niên đại cách đây 40 - 30 vạn năm
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã khẳng định: Người tối cổ vẫn còn
những dấu tích của loài vượn (trán thấp và bợt ra phía sau, mày nổi cao, xương hàm nhô ra phía trước, trên người còn một lớp lông bao phủ ); đã hoàn toàn đi bằng hai chân, hai chi trước đã biết cầm nắm, hộp sọ đã phát triển, thể tích sọ não lớn, biết sử dụng và chế tạo công cụ
Dấu tích Người tinh khôn giai đoạn đầu được tìm thấy ở mái đá Ngườm
(Thái Nguyên), Sơn Vi (Phú Thọ) Đó là những chiếc rìu bằng hòn cuội, được ghè đẽo thô sơ, có hình thù rõ ràng; có niên đại khoảng 3 - 2 vạn năm cách ngày
nay Sang giai đoạn phát triển, đó là những công cụ được mài ở lưỡi như rìu
ngắn, rìu có vai, một số công cụ bằng xương, bằng sừng, đồ gốm, được tìm thấy
ở Hòa Bình, Bắc Sơn (Lạng Sơn), Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long (Quảng Ninh) , có niên đại từ 12.000 đến 4.000 năm cách ngày nay
Qua các dấu tích đã khẳng định Người tinh khôn đã có sự phát triển, tiến bộ hơn hẳn Người tối cổ về đặc điểm cấu tạo cơ thể và trình độ chế tạo công cụ sản
Trang 12xuất, đồ dùng sinh hoạt Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể giống như con người ngày nay, xương cổ nhỏ hơn Người tối cổ, bàn tay nhỏ, khéo léo, các ngón tay
linh hoạt, hộp sọ và thể tích não phát triển (1.450 cm3), trán cao, mặt phẳng, cơ thể gọn và linh hoạt
Cũng thông qua các dấu tích, ta còn nhận biết được sự phát triển của Người tinh khôn so với Người tối cổ
Về đời sống vật chất:
Người tinh khôn thường xuyên cải tiến và đạt được những bước tiến bộ về
chế tác công cụ sản xuất cũng như đồ dùng sinh hoạt Từ thời Sơn Vi, con người
đã biết ghè đẽo các hòn cuội thành rìu; đến thời Hòa Bình - Bắc Sơn họ đã biết dùng các loại đá khác nhau để mài thành các loại công cụ như rìu, bôn, chày Họ còn biết dùng tre, gỗ, xương, sừng làm công cụ và biết làm đồ gốm; biết trồng trọt (rau, đậu, bí, bầu ) và chăn nuôi Nhờ nghề nông và chăn nuôi phát triển,
họ đã chủ động được lương thực, thực phẩm, dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào thiên nhiên Hơn nữa, cùng với công cụ sản xuất tiến bộ kéo theo năng suất lao động tăng, đời sống ngày càng ổn định và nâng cao
Về tổ chức xã hội:
Người tinh khôn đã biết sống thành từng nhóm trong các hang động, ở
những vùng thuận tiện, thường định cư lâu dài ở một số nơi (Hòa Bình - Bắc Sơn) Cũng do sự tiến bộ của công cụ sản xuất, kinh tế phát triển nên đời sống không ngừng được nâng cao, dân số ngày càng tăng, dần dần đã hình thành các mối quan hệ xã hội và đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần:
Họ đã biết chế tác và sử dụng những đồ trang sức; biết vẽ những hình mô tả cuộc sống tinh thần của mình Rồi đã hình thành một số phong tục tập quán và tín ngưỡng: thể hiện trong mộ táng có chôn theo lưỡi cuốc đá Như vậy là trong thời kì nguyên thủy, con người đã bắt đầu quan tâm đến đời sống tinh thần thể hiện ở việc làm đẹp bản thân và bày tỏ tình cảm với người chết Đó là một bước tiến đáng kể trong sự phát triển tinh thần của loài người
Trang 13Chủ đề 2 THỜI KÌ VĂN LANG - ÂU LẠC
I Thời kì Văn Lang - Âu Lạc đã có những chuyển biến như thế nào trong đời sống kinh tế, xã hội? 1 Trình độ sản xuất, chế tác công cụ của người Việt cổ đã có sự phát triển, tiến bộ như thế nào?
Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau
đó tiếp tục mở rộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất bãi ven sông
Qua các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Lung Leng (Kon Tum), có niên đại cách đây 4.000 - 3.500 năm, các nhà khảo cổ đã phát hiện hàng loạt công cụ: rìu đá, bôn đá được mài nhẵn toàn bộ, có hình dáng cân xứng; những đồ trang sức, những loại đồ gốm khác nhau như bình, vò, vại, bát, đĩa Những mảnh gốm thường in hoa văn hình chữ S nối nhau, đối xứng, hoặc in những con dấu nổi liền nhau Điều đó chứng tỏ người Việt cổ đã đạt được trình độ cao về mặt chế tác công cụ sản xuất và đồ trang sức, đồ dùng sinh hoạt
Đặc biệt, người Việt cổ ở Phùng Nguyên (Phú Thọ) và Hoa Lộc (Thanh Hóa) còn phát minh ra thuật luyện kim (kim loại được dùng đầu tiên là đồng)
Kỹ thuật luyện kim phát triển mạnh, cư dân Lạc Việt đã biết làm ra những công cụ sản xuất bằng kim loại như rìu đồng và quan trọng nhất là lưỡi cày đồng và lưỡi hái bằng đồng ảnh hưởng mạnh đến sinh hoạt nông nghiệp Lưỡi cày thời ấy có hình cánh bướm hoặc hình tam giác Và xuất sắc đặc biệt là dân Lạc Việt đã đúc nên những chiếc đồng phức tạp đòi hỏi một trình độ kỹ thuật văn hóa cao
Những dụng cụ sinh hoạt như mâm đồng, đục, kim khâu, dao, lưỡi câu, chuông và đồ trang sức cũng được sản xuất với số lượng đáng kể Ngoài ra, đã
có nghề luyện sắt và nghề gốm
Thuật luyện kim ra đời đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc trong chế tác công
cụ sản xuất, đồ trang sức, dụng cụ sinh hoạt và cả vũ khí của người Việt cổ, làm cho sản xuất và đời sống sinh hoạt xã hội có bước phát triển cao hơn hẳn
Trang 142 Sự ra đời nghề nông trồng lúa nước của người Việt cổ có ý nghĩa, tầm quan trọng như thế nào?
Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau
đó tiếp tục mở rộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất bãi ven sông
Trên các vùng cư trú rộng lớn ở đồng bằng ven sông, ven biển và vùng thung lũng ven suối, người Việt cổ đã phát hiện ra cây lúa và nghề trồng lúa nước ra đời Thoạt tiên đó là những giống lúa hoang Về sau được thuần dưỡng
để trở thành hạt gạo dẻo thơm Qua các di chỉ Phùng Nguyên - Hoa Lộc, các nhà khoa học phát hiện hàng loạt lưỡi cuốc đá được mài nhẵn toàn bộ ; tìm thấy gạo cháy, dấu vết thóc lúa bên cạnh các bình, vò đất nung lớn… Chứng tỏ cây lúa nước đã dần dần trở thành cây lương thực chính của con người
Sự ra đời nghề nông trồng lúa nước có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình tiến hóa của con người : từ đây, con người có thể định cư lâu dài ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn ; cuộc sống trở nên ổn định hơn, phát triển hơn cả về vật chất và tinh thần
3 Trình bày những biểu hiện về sự chuyển biến xã hội thời Văn Lang - Âu Lạc ?
Từ khi thuật luyện kim được phát minh và nghề nông trồng lúa nước ra đời, con người phải chuyên tâm làm một công việc nhất định Sự phân công lao động đã được hình thành cụ thể :
Phụ nữ làm việc nhà, thường tham gia sản xuất nông nghiệp và làm đồ gốm, dệt vải vì người Việt cổ không chỉ độc canh cây lúa mà còn trồng các loại rau củ, cây trái như khoai, đậu, trồng dâu, nuôi tằm Nam giới, một phần làm nông nghiệp, đi săn, đánh cá ; một phần chuyên hơn làm công việc chế tác công
cụ, đúc đồng, làm đồ trang sức…, về sau, được gọi chung là nghề thủ công
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống con người ngày càng ổn định ; ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản (chiềng, chạ), các làng bản ở vùng cao cũng nhiều hơn trước Dần dần hình thành các cụm chiềng, chạ hay làng bản có quan hệ
chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc Vị trí của người đàn ông trong sản xuất và
gia đình, làng bản ngày càng cao hơn Chế độ phụ hệ dần dần thay thế cho chế
độ mẫu hệ
Trang 15II Nước Văn Lang đã ra đời và phát triển như thế nào?
1 Trình bày những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam?
Vào khoảng các thế kỉ VIII - VII TCN, ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, đã hình thành những bộ lạc lớn Sản xuất phát triển, mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo đã nảy sinh
và ngày càng tăng thêm
Việc mở rộng nghề nông trồng lúa nước ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn thường xuyên phải đối mặt với hạn hán, lũ lụt Vì vậy, cần phải có người chỉ huy đứng ra tập hợp nhân dân các làng để giải quyết vấn đề thủy lợi bảo vệ sản xuất, mùa màng và đời sống
Ngoài mâu thuẫn, xung đột giữa kẻ giàu và người nghèo như đã nói ở trên thì các làng bản khi giao lưu với nhau cũng có xung đột Đó là xung đột giữa người Lạc Việt với các bộ tộc người khác và cả giữa các bộ lạc Lạc Việt với nhau Để có cuộc sống yên ổn, cần phải có một thế lực đủ sức giải quyết, chấm dứt các xung đột đó
Như vậy là để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển sản xuất, làm thủy lợi và giải quyết các vấn đề xung đột chính là những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam
2 Trình bày những hiểu biết của em về nước Văn Lang ?
Thời gian và địa bàn thành lập :
Bộ lạc Văn Lang cư trú trên vùng đất ven sông Hồng là vùng có nghề đúc đồng phát triển sớm, dân cư đông đúc Bộ lạc Văn Lang là một trong những bộ lạc hùng mạnh nhất thời đó
Vào khoảng thế kỉ VII TCN ở vùng Gia Ninh (Phú Thọ), thủ lĩnh của bộ lạc Văn Lang đã dùng tài trí khuất phục được các bộ lạc khác và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Bạch Hạc (thuộc Phú Thọ ngày nay), đặt tên nước là Văn Lang
Trang 16Tổ chức nhà nước Văn Lang :
Sơ đồ tổ chức bộ máy Nhà nước Văn lang
Chính quyền TW gồm (vua, lạc hầu, lạc tướng) ; ở địa phương (chiềng,
chạ) ; đơn vị hành chính : nước - bộ (chia nước làm 15 bộ, dưới bộ là chiềng,
chạ) ; Vua nắm mọi quyền hành trong nước, đời đời cha truyền con nối và đều
gọi là Hùng Vương
Nhà nước Văn Lang tuy chưa có luật pháp, quân đội, nhưng đã là một tổ
chức chính quyền cai quản cả nước
Đời sống vật chất :
Nước Văn Lang là một nước nông nghiệp, thóc lúa đã trở thành lương thực
chính, ngoài ra, cư dân còn trồng khoai, đậu, cà, bầu, bí, chuối, cam…
Nghề trồng dâu, đánh cá, chăn nuôi gia súc và các nghề thủ công như làm
đồ gốm, dệt vải, xây nhà, đóng thuyền…đều được chuyên môn hóa
Nghề luyện kim đạt trình độ kĩ thuật cao Cư dân cũng bắt đầu biết rèn sắt
Thức ăn chính của người Văn Lang là cơm nếp, cơm tẻ, rau, cà, thịt, cá,
biết làm mắm và dùng gừng làm gia vị Họ ở nhà sàn mái cong hình thuyền hay
mái tròn hình mui thuyền làm bằng gỗ, tre, nứa, lá Làng, chạ thường gồm vài
chục gia đình, sống ven đồi, ven sông, ven biển Họ đi lại bằng thuyền Về trang
phục, nam đóng khố mình trần, nữ mặc váy, áo xẻ giữa, có yếm che ngực, tóc
cắt ngắn hoặc bỏ xõa, búi tó hoặc tết đuôi sam Ngày lễ họ thích đeo các đồ
trang sức như vòng tay, khuyên tai, đội mũ cắm lông chim hoặc bông lau
HÙNG VƯƠNG LẠC HẦU - LẠC TƯỚNG
(trung ương)
LẠC TƯỚNG
(bộ)
LẠC TƯỚNG (bộ)
Trang 17Cư dân Văn Lang có một số phong tục tập quán : như hôn nhân, thờ cúng
tổ tiên (truyện Tấm Cám ; Bánh chưng, bánh giầy…)
III Nước Âu Lạc đã ra đời và phát triển như thế nào?
1 Hoàn cảnh ra đời và tổ chức nhà nước Âu Lạc?
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần (hoàn cảnh ra đời nhà nước Âu Lạc)
Năm 218 TCN, nhà Tần đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi Sau
4 năm chinh chiến, quân Tần kéo đến vùng Bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt cùng sống với người Âu Việt, vốn có quan hệ gần gũi với nhau từ lâu đời
Cuộc kháng chiến bùng nổ Thủ lĩnh Âu Việt bị giết, nhưng nhân dân Âu Việt và Lạc Việt không chịu đầu hàng Họ tôn người kiệt tuấn tên là Thục Phán lên làm tướng, ngày ở trong rừng, đêm ra đánh quân Tần
Năm 214 TCN, người Việt đã đại phá quân Tần, giết được Hiệu úy Đồ Thư Kháng chiến thắng lợi
Sự ra đời của Nhà nước Âu Lạc:
Sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, năm 207 TCN, Thục Phán buộc vua Hùng nhường ngôi cho mình và sáp nhập hai vùng đất cũ của người
Âu Việt và Lạc Việt thành một nước mới, đặt tên nước là Âu Lạc Thục Phán
tự xưng An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh - Hà Nội)
Bộ máy nhà nước thời An Dương Vương không có gì thay đổi so với thời Hùng Vương Tuy nhiên, quyền hành của Nhà nước đã cao và chặt chẽ hơn trước Vua có quyền thế hơn trong việc trị nước
Trang 182 Tình hình sản xuất và đời sống xã hội thời Âu Lạc đã có sự thay đổi và tiến
bộ như thế nào ?
Trong nông nghiệp, lưỡi cày đồng đã được cải tiến và dùng phổ biến hơn Lúa gạo, khoai, đậu, củ, rau… làm ra ngày một nhiều Chăn nuôi, đánh cá, săn bắn đều phát triển
Các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt, làm đồ trang sức đều tiến bộ Các ngành luyện kim và xây dựng đặc biệt phát triển Việc chế tác công cụ sản xuất bằng đồng và sắt đã đạt đến trình độ kĩ thuật cao Giáo, mác, mũi tên đồng, rìu đồng, cuốc sắt, rìu sắt được sản xuất ngày càng nhiều
Đặc biệt về xây dựng có thể kể đến công trình thành Cổ Loa Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, An Dương Vương cho xây dựng ở Phong Khê một khu thành đất rộng hơn nghìn trượng, có ba vòng khép kín với chu vi khoảng 16.000 m như hình trôn ốc, sau này gọi là Loa thành hay thành
Cổ Loa Các vòng thành đều có hào bao quanh và thông nhau Bên trong thành Nội là nơi ở, làm việc của An Dương Vương và các Lạc hầu, Lạc tướng
Ở vào thời điểm cách đây hơn 2.000 năm, khi mà trình độ kĩ thuật chung còn rất thấp kém thì công trình thành Cổ Loa là một biểu tượng rất đáng tự hào của nền văn minh Việt cổ
3 Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà năm 179 TCN, Nhà nước Âu Lạc thất bại ? Diễn biến chính cuộc kháng chiến :
Vào năm 207 TCN, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà cắt đất ba quận lập thành nước Nam Việt, rồi đem quân đánh xuống Âu Lạc
Quân dân Âu Lạc với thành cao, hào sâu, vũ khí tốt và tinh thần chiến đấu dũng cảm đã giữ vững được nền độc lập
Triệu Đà biết không thể đánh bại được, bèn vờ xin hàng và dùng mưu kế li gián, chia rẽ nội bộ Âu Lạc
Năm 179 TCN, Triệu Đà lại sai quân sang đánh chiếm nước ta, An Dương Vương do chủ quan không đề phòng, lại mất hết tướng giỏi nên bị thất bại nhanh chóng Nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Triệu
Nguyên nhân thất bại của Âu Lạc :
Do An Dương Vương chủ quan, thiếu cảnh giác, nội bộ bị chia rẽ, li gián,
mất đoàn kết Nhớ lại Truyện nỏ thần (đơn giản hóa sự thực về âm mưu cướp
nước Âu Lạc của Triệu Đà)
Trang 19Chủ đề 3 THỜI KÌ BẮC THUỘC VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP
I Khái niệm ‘‘thời Bắc thuộc’’ :
Thời Bắc thuộc là một khái niệm lịch sử chỉ khoảng thời gian từ sau thất bại của An Dương Vương năm 179 TCN, nước ta bị Triệu Đà thôn tính và sáp nhập vào nước Nam Việt Từ đó nhân dân ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị cho đến khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 mới kết thúc, tất cả tổng cộng hơn 1.000 năm
II Chính sách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc đối với nước ta :
Sáp nhập nước ta vào lãnh thổ của các triều đại PK phương Bắc, xóa tên nước ta và chia thành các quận huyện của chúng
Tổ chức bộ máy cai trị tàn bạo, hà khắc do người phương Bắc đứng đầu
Ra sức bóc lột dân ta bằng các thứ thuế, nhất là thuế muối, thuế sắt…và bắt cống nạp những sản vật quý như ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai…
Cho người phương Bắc (người Hán) sang ở lẫn với dân ta, bắt dân ta phải
từ bỏ những phong tục của cha ông mà tuân theo phong tục tập quán của họ, âm mưu đồng hóa dân tộc ta Đây là chính sách hết sức thâm độc nhằm làm thay đổi lối sống, văn hóa của một dân tộc khác theo lối sống, văn hóa của dân tộc mình
III Các triều đại PK phương Bắc đã đô hộ nước ta và các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời Bắc thuộc :
1 Nhà Triệu (207 - 111 tr.CN)
Sau thất bại của An Dương Vương năm 179 TCN, Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vào Nam Việt, chia Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân
2 Nhà Tây Hán (còn gọi là Tiền Hán, 206 tr.CN - 25 s.CN)
Nhà Tây Hán lấy được Nam Việt vào năm 111 tr.CN, đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ Bộ rồi chia ra quận và huyện để cai trị
Đứng đầu mỗi quận là chức Thái Thú và một Đô úy coi việc quân sự, ngoài ra còn có quan Thứ sử để giám sát các quận
Tại các huyện, nhà Tây Hán vẫn cho các Lạc tướng trị dân và có quyền thế tập như cũ Dân Việt phải nộp cho chính quyền đô hộ những của quý, vật lạ
Trang 20như đồi mồi, ngọc trai, sừng tê, ngà voi, lông chim trả, các thứ thuế muối, thuế sắt
3 Nhà Đông Hán (còn gọi là Hậu Hán, 25-220)- Cuộc khởi nghĩa của Hai
Bà Trưng (40-43)
Trước nhà Đông Hán còn có nhà Tần, nhưng triều đại này rất ngắn ngủi, không để lại dấu ấn gì rõ rệt trên đất Việt Nhà Đông Hán lên thay thế nhà Tần vào năm 25 sau Công Nguyên Chính dưới triều đại này đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 - 43)
Hai Bà là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (vùng Ba Vì - Tam Đảo) Tương truyền rằng bà Man Thiện, mẹ của Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn dòng dõi Hùng Vương Hai bà mồ côi cha sớm, được mẹ nuôi nấng và dạy cho nghề trồng dâu nuôi tằm cùng rèn luyện võ nghệ Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên
Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú
Tô Định là người bạo ngược, tham lam "thấy tiền giương mắt lên" Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết
Tháng Ba năm 40 sau Công Nguyên, Trưng Trắc và Trưng Nhị tiếp tục sự nghiệp, dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, trên vùng đất Mê Linh với lời thề:
"Một xin rửa sạch quốc thù, Hai xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này" (Thiên Nam ngữ
lục)
Cuộc khởi nghĩa Mê Linh lập tức được sự hưởng ứng ở khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố Các cuộc khởi nghĩa địa phương được quy tụ về đây thống nhất lại thành một phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi Đặc biệt trong hàng ngũ nghĩa quân có rất nhiều phụ nữ như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn, Nàng Tía, Ả Tắc, Ả Di Từ Mê Linh, nghĩa
Trang 21quân đánh chiếm lại thành Cổ Loa rồi ồ ạt tiến đánh thành Luy Lâu Hoảng sợ trước khí thế của nghĩa quân, quan lại của nhà Đông Hán bỏ chạy Tô Định bỏ
cả ấn kiếm, cắt tóc, cạo râu trốn chạy về nước Chỉ trong một thời gian ngắn, hai Bà Trưng đã thu phục 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập Hai bà lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh
"Đô kỳ đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta" (Đại
Nam quốc sử diễn ca)
Năm 42, nhà Hán cử Phục Ba tướng quân Mã Viện đem hai vạn quân cùng hai ngàn thuyền, xe sang xâm lược nước Việt Hai bà đem quân đến đánh quân Hán ở Lãng Bạc nhưng vì lực lượng yếu hơn nên bị thua Hai bà phải lui về Cẩm Khê (Vĩnh Yên, Vĩnh Phú) và cầm cự gần một năm Bị bại trận, hai bà chạy về Hát Môn gieo mình xuống sông Hát tự vẫn (43) Hằng năm dân gian lấy ngày 6 - 2 Âm lịch làm ngày kỷ niệm hai Bà Trưng
Sau khi đàn áp thành công cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, Mã Viện đem đất Giao Chỉ về lệ thuộc lại nhà Đông Hán như cũ đóng phủ trị tại Long Biên Để đàn áp tinh thần quật khởi của dân Việt, Mã Viện cho thu hết đồ đồng
xứ Việt dựng một cột đồng ở chỗ phân địa giới Trên cột đồng có khắc sáu chữ:
"Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", có nghĩa là nếu cây trụ đồng này đổ thì dân
Giao Chỉ bị diệt vong Có thuyết cho rằng, do dân Việt cứ mỗi lần đi ngang qua, đều bỏ vào chân cột một hòn đá, vì thế trụ đồng bị lấp dần đi Về sau không còn biết vị trí của chiếc trụ đồng nữa là vì vậy
Các chức Thái thú, Thứ sử vẫn được duy trì nhưng chế độ Lạc tướng cha truyền con nối bị bãi bỏ Chính sách cai trị của người Hán ngày càng hà khắc, quan cai trị tham nhũng tàn ác Dân Việt cực khổ điêu đứng, lên rừng kiếm châu báu, xuống bể mò ngọc trai để cung phụng cho chính quyền đô hộ Dân quận Hợp Phố chịu nặng nề cảnh mò ngọc nên bỏ xứ đi phiêu tán rất nhiều
Trang 22Nhà Hán chủ trương đồng hóa dân Việt Họ cho di dân Hán sang ở lẫn với dân Việt, lấy vợ Việt Tuy thế người Việt vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình Đến đầu thế kỷ thứ ba, Giao Chỉ có Thái thú Sĩ Nhiếp, là người tôn trọng Nho học, giúp dân giữ lễ nghĩa và giữ gìn được an ninh xã hội Vào năm 203, Sĩ Nhiếp dâng sớ lên vua nhà Đông Hán, xin đổi Giao Chỉ thành Giao Châu Từ đấy có tên Giao Châu
4 Nhà Đông Ngô (thời Tam Quốc, 229-280)- Cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (248)
Nhà Đông Hán mất ngôi thì nước Trung Hoa lâm vào tình trạng phân liệt của thời Tam Quốc, gồm có ba nước là Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô Đất Giao Châu thuộc về Đông Ngô Chính dưới chế độ này đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (248)
Hai thế kỷ sau cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (còn gọi là Triệu Thị Trinh) cùng người anh là Triệu Quốc Đạt, một Hào trưởng lớn ở miền núi thuộc quận Cửu Chân
Triệu Thị Trinh là người có sức khỏe, gan dạ và có chí khí, Bà vẫn thường
nói: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh đạp đường sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì thiếp người ta" Bà theo anh khởi
nghĩa lúc mới 19 tuổi, lập căn cứ tại vùng Thanh Hóa ngày nay
Năm 248, nghĩa quân tấn công quân Ngô, Bà Triệu đem quân ra trận cưỡi voi, mặc áo giáp vàng tự xưng là Nhụy Kiều tướng quân Nghĩa quân đánh phá nhiều thành quách làm đối phương phải khiếp sợ Thứ sử Giao Châu là Lục Dận đem quân đàn áp Đánh nhau trong sáu tháng, nghĩa quân mai một dần Bà Triệu đem tàn quân đến núi Tùng (Thanh Hóa) và tự sát ở đấy
Vào năm 264, nhà Ngô chia đất Giao Châu ra, lấy Nam Hải, Thương Ngô
và Uất Lâm làm Quảng Châu, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đặt trị sở ở Long Biên Đất Giao Châu này là lãnh thổ của Việt Nam về sau
Trang 235 Nhà Tấn (265-460) và Nam Triều (Tống, Tề, Lương, 420-588) cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542 - 602)
Nhà Tấn là một triều đại không được ổn định vì nhiều thân vương cát cứ tại các địa phương đánh nhau liên tục Quan lại sang cai trị Giao Châu phần nhiều là người tham lam, cộng vào đó là sự kiểm soát lỏng lẻo của chính quyền trung ương, tạo nên cảnh tranh giành quyền lực không ngớt Phía Nam lại có nước Lâm Ấp thường sang quấy nhiễu Đất Giao Châu loạn lạc không dứt Sau thời nhà Tấn, Trung Hoa lại phân liệt ra thành Bắc triều và Nam triều Giao Châu phụ thuộc vào Nam triều trải qua các nhà Tống, Tề, Lương
Vào nửa đầu thế kỷ thứ 6, đất Giao Châu nằm dưới sự thống trị của nhà Lương Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư, nổi tiếng tham lam, tàn ác Có được một cây dâu cao một thước, người dân cũng phải đóng thuế Thậm chí có người nghèo khổ, phải bán vợ, đợ con, nhưng cũng phải đóng thuế
Lý Bí, một người quê ở huyện Thái Bình (không phải thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay mà là vùng Bắc Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) đứng lên chiêu tập dân chúng Ông đã từng giữ một chức quan nhỏ với nhà Lương, cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp, nhưng không làm được việc gì đáng kể, bèn bỏ quan trở về quê nhà và cùng người anh là Lý Thiên Bảo mưu khởi nghĩa Ông được nhiều người theo Trong đó có Thủ lĩnh đất Chu Diên (vùng Đan Phượng-Từ Liêm, thuộc Hà Tây và ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục (?-571) đem lực lượng của mình theo về Ngoài ra còn có những nhân vật nổi tiếng khác cũng kéo đến giúp sức như Tinh Thiều, Phạm Tu, Lý Phục Man Mùa xuân năm 542, Lý Bí tiến quân vây thành Long Biên Quân Lương đầu hàng còn Tiêu Tư thì trốn thoát về được Trung Hoa Cuộc khởi nghĩa thành công Vua nhà Lương vội đưa quân sang nhưng bị đánh bại
Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, lấy niên hiệu là Thiên Đức, Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch, dựng điện Vạn Xuân để vua quan có nơi hội họp Nhà vua còn cho dựng chùa Khai Quốc (sau này là chùa Trấn Quốc ở Hồ Tây, Hà Nội)
Trang 24Năm 545, nhà Lương sai một tướng tài là Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Vạn Xuân Lý Nam Đế cùng các tướng sĩ chống không được, phải về vùng rừng núi Vĩnh Phú cố thủ; lấy hồ Điền Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú) làm nơi thao luyện quân lính Chẳng bao lâu, lực lượng trở nên mạnh mẽ Trần Bá Tiên nhiều lần đem quân đánh phá nhưng không được Về sau, nhân một cơn lũ dữ dội tràn vào vùng căn cứ, Trần Bá Tiên theo dòng lũ, thúc quân tiến đánh, Lý Nam Đế phải rút về động Khuất Lão (còn gọi
là động Khuất Liêu, là tên một khu đồi hiện nằm bên hữu ngạn sông Hồng, ở giữa hai xã Văn Lang và Cổ Tiết thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phúc) Sau nhiều năm lao lực, Lý Nam Đế bị bệnh mù mắt, giao binh quyền lại cho Triệu Quang Phục và mất vào năm 548
Triệu Quang Phục đánh nhau mấy lần với Trần Bá Tiên nhưng đều thất bại, bèn lấy đầm Dạ Trạch (Hải Hưng) làm căn cứ Đầm Dạ Trạch nằm ven sông Hồng, chu vi không biết là bao nhiêu dặm Giữa đầm có một bãi đất cứng Ngoài ra, bốn bề là bùn lầy, người ngựa không thể nào đi được, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc, lấy sào đẩy trên cỏ, nước mà di chuyển Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi và áp dụng kế "trì cửu", tức là đánh lâu dài làm tiêu hao lực lượng của địch quân Căn cứ địa được giữ hoàn toàn bí mật, ban ngày
im hơi, không nấu nướng, ban đêm đột kích ra đánh phá trại địch Vì thế dân chúng tôn xưng ông là Dạ Trạch Vương
Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương Năm 550, nhân lúc nhà Lương suy yếu, Triệu Quang Phục kéo quân về chiếm thành Long Biên, làm chủ được đất nước
Đến năm 557, Lý Phật Tử, một người cùng họ với Lý Nam Đế, đem quân đánh và đòi chia hai đất nước cùng Triệu Việt Vương Để tránh cảnh chiến tranh, Triệu Việt Vương đành chấp thuận, nhưng bất ngờ bị Lý Phật Tử đánh
úp, chạy đến cửa biển Đại Nha (Hà Nam Ninh) gieo mình xuống biển tự tử Năm 571; Lý Phật Tử chiếm cả nước
Trang 25Sau khi lấy được thành Long Biên, Lý Phật Tử xưng đế hiệu là Lý Nam
Đế Để phân biệt Lý Phật Tử với Lý Bí, sử sách gọi Lý Phật Tử là Hậu Lý Nam
Đế (571-602) Trong khi ấy nhà Tùy (589-618) đã thống nhất và ổn định được nước Trung Hoa Vua nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân sang đánh Vạn Xuân Lưu Phương không cần dụng binh, cho người đi chiêu hàng được Lý Phật Tử Từ đấy Vạn Xuân trở thành Giao Châu của nhà Tùy
6 Nhà Đường (618-907)-Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722) và của Phùng Hưng (trong khoảng 766-779)
Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa chỉ được 28 năm thì bị nhà Đường lật
đổ vào năm 618 Nhà Đường cai trị Giao Châu cay nghiệt nhất trong các chính quyền đô hộ Những sản vật quý giá của Giao Châu bị vơ vét đưa về phương Bắc Trong số đó, có quả vải là lại trái cây mà giới quyền quý nhà Đường rất ưa chuộng Về mặt chính trị, nhà Đường sửa lại toàn bộ chế độ hành chính, phân chia lại châu quận, đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ, chia ra làm 12 châu, 59 huyện
Dưới đời nhà Đường, dân Việt liên tiếp nổi dậy, hai cuộc khởi nghĩa có tính chất rộng lớn nhất là của Mai Thúc Loan và của Phùng Hưng
Mai Thúc Loan quê ở làng muối Mai Phụ, thuộc huyện Thiên Lộc, Châu
Hoan (Hà Tĩnh ngày nay) Thuở nhỏ, nhà nghèo, Mai Thúc Loan theo mẹ sống
ở làng Ngọc Trừng, huyện Nam Đàn Ông là người mạnh khỏe, có nước da đen bóng
Năm 722, nhân dịp dân phu gánh vải sang cống cho nhà Đường, bị hành
hạ, nhiều người bỏ xác dọc đường, lòng oán thán dâng cao, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân phu gánh quả vải nổi lên giết quan quân áp tải và cùng ông phất cờ khởi nghĩa Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nghệ An), một vùng hiểm trở có sông Lam rộng và núi Đụn cheo leo làm căn cứ Tại đây ông cho xây thành Vạn An, gồm nhiều đồn lũy, dài cả ngàn mét Ông xưng đế, lấy thành Vạn An làm Kinh đô Ông thường được gọi là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai) vì nước da đen của ông
Trang 26Để lập thành một mặt trận liên hoàn chống quân Đường, Mai Hắc Đế liên kết với các nước Cham-pa, Chân Lạp và cả Ma-lai-xi-a Sau khi quy tụ được nhiều lực lượng, Mai Hắc Đế cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống Bình (Hà Nội) Quan đô hộ là Quang Sở Khách chống không lại,
bỏ thành chạy trốn Mai Hắc Đế giành lại độc lập cho đất nước Nhưng được ít lâu, nhà Đường sai Dương Tu Húc đem 10 vạn quân, theo lộ trình xưa của Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt, thình lình tấn công bản doanh của Mai Hắc Đế Mai Hắc Đế chống không lại, phải vào rừng cố thủ Ông bị bệnh và chết ở đấy Quân Đường, sau khi thắng trận, đem dân Việt ra giết vô số Thây người không kịp chôn, chất cao thành gò
Tuy thắng được Mai Hắc Đế và vẫn còn ham thích quả vải của đất Việt, nhưng nhà Đường không còn dám bắt dân Việt cống quả vải nữa Để nhớ ơn của Mai Hắc Đế, dân gian có câu truyền tụng:
"Cống vải từ nay Đường phải dứt Dân nước đời đời hưởng phước chung"
Hơn 40 năm sau cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế là cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng
Phùng Hưng vốn gia đình giàu có ở xã Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, tỉnh
Hà Tây), thuộc dòng dõi Quan Lang Theo truyền thuyết, Phùng Hưng có hai người em cùng sinh ba là Phùng Hải và Phùng Dĩnh Cả ba anh em đều có sức khỏe hơn người, tay không bắt được hổ
Vào khoảng năm 767, anh em họ Phùng phất cờ khởi nghĩa Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo còn Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng Họ đặt đại bản doanh tại Đường Lâm Hào kiệt theo về rất đông Họ làm chủ cả miền trung du và miền núi Bắc Bộ Vài năm sau, thấy lực lượng đã mạnh, Phùng Hưng cho quân tiến vây thành Tống Bình Theo kế của Đỗ Anh Hàn, cũng người xã Đường Lâm, Phùng Hưng cho người đi khắp nơi, phao lên
là sắp lấy được thành Tống Bình, đồng thời tiến hành vây thành rất ngặt Cứ đến đêm, quân khởi nghĩa nổi lửa, đánh chiêng, đánh trống, reo hò ầm ĩ để uy hiếp tinh thần đối phương Quan Đô hộ là Cao Chính Bình lo sợ đổ bệnh rồi chết Phùng Hưng chiếm được thành, đem lại độc lập cho đất nước
Trang 27Phùng Hưng cai trị đất nước trong bảy năm thì mất Dân chúng vô cùng thương tiếc, tôn ông là danh hiệu là “Bố Cái Đại Vương” "Bố" có nghĩa là cha,
"Cái" có nghĩa là mẹ, ví công ơn của Phùng Hưng đối với Tổ quốc như công ơn của cha mẹ đối với con cái Dân chúng lập đền thờ ông ở ngay xã Đường Lâm Không những được thờ ở quê nhà, Bố Cái Đại Vương còn được thờ tại làng Triều Khúc Ở đây ông được thờ làm Thành hoàng tại ngôi đình Lớn Hằng năm đều có lễ hội tưởng nhớ đến chiến công của ông
Sau khi Phùng Hưng mất, nội bộ thân thuộc của ông không giữ được sự đoàn kết Dân chúng muốn tôn Phùng Hải lên nối nghiệp, nhưng có một tướng
là Bồ Phá Lạc, là người vũ dũng và có nhiều thuộc hạ, không đồng ý, muốn lập con của Phùng Hưng là Phùng An lên Bồ Phá Lạc đem quân chống lại Phùng Hải Phùng Hải tránh giao tranh, lui về vùng rừng núi, rồi sau đó đi đâu, chẳng
ai rõ, Phùng An lên nối nghiệp Chẳng bao lâu, nhà Đường sai Triệu Xương đem quân sang, vừa đánh vừa chiêu dụ Thấy thế không chống được, Phùng An phải đầu hàng Xứ Giao Châu lại lệ thuộc nhà Đường lần nữa
IV Quá trình phát triển kinh tế, sự phân hóa xã hội, sự truyền bá văn hóa phương Bắc và cuộc đấu tranh gìn giữ văn hóa dân tộc thời Bắc thuộc đã diễn ra như thế nào?
Về kinh tế :
Mặc dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ và cai trị, bóc lột tàn bạo, tình hình kinh tế nước ta vẫn có những bước phát triển đáng kể từ công nghiệp đến nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
Về công nghiệp, tuy còn hạn chế về kĩ thuật, nhưng nghề sắt vẫn phát triển : các công cụ như rìu, mai, cuốc, dao… ; vũ khí như kiếm, giáo, mác…làm bằng sắt vẫn được chế tác và sử dụng phổ biến
Về nông nghiệp, nhân dân ta đã biết đắp đê phòng lụt, dùng sức kéo trâu,
bò, trồng lúa hai vụ một năm và tiếp tục nghề trồng dâu, nuôi tằm, chăn nuôi các loại gia súc lấy thịt và sức kéo, phân bón
Các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, nghề dệt…vẫn được phát triển
Trang 28Về thương nghệp, các sản phẩm nông nghiệp và thủ công không bị sung làm đồ cống nạp mà được mua bán, trao đổi ở các chợ làng Chính quyền đô hộ giữ độc quyền về ngoại thương
Sự phân hóa xã hội :
Xã hội có sự thay đổi và phân hóa sâu sắc theo sơ đồ sau:
Thời Văn Lang - Âu Lạc Thời kì bị PK phương Bắc đô hộ
Đưa người phương Bắc (Hán) sang ở lẫn với dân ta, bắt dân ta phải theo phong tục tập quán của họ Trong tầng lớp quý tộc ngoài hào trưởng người Việt nay xuất hiện thêm các địa chủ người Hán
Ngoài nông dân công xã, nay có thêm tầng lớp nông dân lệ thuộc (là những nông dân bị địa chủ cướp hết ruộng đất phải lệ thuộc và làm thuê cho chúng)
Tầng lớp nô tì ngày càng đông thêm do chính sách cai trị, bóc lột và cướp đoạt ruộng đất của bọn quan lại, địa chủ người Hán
Sự truyền bá văn hóa phương Bắc (Hán) và cuộc đấu tranh gìn giữ văn hóa dân tộc :
Chính quyền đô hộ mở một số trường học dạy chữ Hán tại các quận, huyện
và tiến hành du nhập Nho giáo, Đạo giáo…và những luật lệ, phong tục của người Hán vào nước ta
Trang 29Nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh bảo vệ tiếng nói, chữ viết, phong tục và nếp sống của dân tộc ; đồng thời cũng tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa Trung Quốc và các nước khác nhằm gìn giữ bản sắc và làm phong phú thêm nền văn hóa của mình
Chủ đề 4 BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ Ở ĐẦU THẾ KỈ X
Họ Khúc đặt nền móng tự trị (906-923) Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng (938)
Đến cuối đời nhà Đường, tình hình xáo trộn của Trung Hoa tạo thời cơ cho Khúc Thừa Dụ xây nền tự chủ (906), đưa đất nước thoát khỏi vòng nô lệ kéo dài cả ngàn năm
(Khúc Thừa Dụ 906-907 ; Khúc Hạo 907-917 ; Khúc Thừa Mỹ 917-930 ; Dương Đình Nghệ 931-937)
Vào đầu thế kỉ thứ 10, nhà Đường trở nên suy yếu Lợi dụng thời cơ này, Khúc Thừa Dụ (?-907), một hào trưởng cư trú lâu đời ở Hồng Châu (Hải Hưng) nổi lên, tự xưng là Tiết độ sứ (906) Nhà Đường bắt buộc phải công nhận sự việc ấy và còn phong thêm tước "Đồng binh Chương sự" cho ông nữa Sử cũ chép rằng Khúc Thừa Dụ tính tình khoan hòa, nhân ái nên được nhiều người theo về
Nhà Đường, dù trên danh nghĩa, phong tước và công nhận Khúc Thừa Dụ, nhưng thực chất là không thể kiểm soát được đất Giao Châu nữa Khúc Thừa
Dụ làm chủ đất nước, xây dựng chính quyền tự chủ, khởi đầu cho nền độc lập của nước nhà
Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ một năm thì mất, con là Khúc Hạo lên nối nghiệp cha được mười năm (907-917) Trong mười năm này, Khúc Thừa Hạo cho sửa đổi các khu vực hành chính, cắt đặt người trông coi mọi việc cho đến tận đơn vị xã, định lại mức thuế ruộng đất và miễn bỏ các lao dịch nặng nề
Trang 30Trong khi ấy, tại Trung Hoa, một Tiết độ sứ họ Lưu chiếm lấy vùng Quảng Châu, lập nên nước Nam Hán
Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối chức Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ giao hảo cùng nhà Lương (đã thay nhà Đường làm chủ Trung Hoa) Vua Nam Hán lấy cớ ấy cho quân sang đánh họ Khúc Khúc Thừa Mỹ không chống cự được, bị bắt đưa về Quảng Châu (930) Quân Nam Hán chiếm đóng thành Đại La
Kế tục sự nghiệp của họ Khúc là Dương Đình Nghệ (?-937), một người làm quan dưới đời Khúc Thừa Mỹ Sau khi Khúc Thừa Mỹ bị bắt, Dương Đình Nghệ dấy binh ở làng Ràng (Dương xá, Thanh Hóa), vốn là quê của ông Các hào trưởng như Ngô Quyền, Đinh Công Trứ đem lực lượng của mình gia nhập hàng ngũ của Dương Đình Nghệ
Năm 931, Dương Đình Nghệ tiến quân đánh thành Đại La, Thứ sử Giao Châu là Lý Tiến chống không lại, chạy về Quảng Châu (Trung Hoa) thì bị vua Nam Hán giết chết Một toán quân Nam Hán được cử sang để đàn áp quân của Dương Đình Nghệ, nhưng bị đánh tan, phải bỏ chạy về Trung Hoa Thắng lợi, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ Cai quản đất nước được sáu năm thì Dương Đình Nghệ bị một thuộc tướng là Kiều Công Tiễn sát hại
Ngô Quyền (897-944), tướng tài và đồng thời là con rể của Dương Đình
Nghệ, đang cai quản Châu Ái, đem quân đi trừng phạt Kiều Công Tiễn
Ngô Quyền là người cùng quê với Phùng Hưng, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây), đã từng theo Dương Đình Nghệ từ buổi ban đầu
và có uy tín lớn với dân chúng
Trước sự tiến công của Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn lo sợ, vội vàng đi cầu cứu nhà Nam Hán Vua Nam Hán nắm cơ hội thực hiện mộng xâm lăng, bèn phong cho con là Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ, sai đem thủy quân đi trước còn bản thân mình sẽ theo đường bộ tiếp ứng
Năm 938, Ngô Quyền chiếm được thành Đại La, bắt được Kiều Công Tiễn
và đem bêu đầu trên thành Dù biết tin Kiều Công Tiễn đã bị giết chết và Ngô
Trang 31Quyền đã làm chủ thành Đại La, quân Nam Hán vẫn tiến công Ngô Quyền bèn bày thế trận thủy chiến, cho cắm cọc trên sông Bạch Đằng, chờ địch Tháng 12 năm ấy, Hoằng Tháo đem thủy binh tiến ồ ạt vào sông Bạch Đằng Nhân lúc triều cường, Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra đánh, nhử quân Hoằng Tháo lọt qua trận địa cọc ngầm đã đóng sẵn xuống lòng sông Khi thủy triều xuống mạnh, trận địa cọc ngầm nổi lên, Ngô Quyền thúc đại quân ra đánh Chiến thuyền của Nam Hán nặng nề, không thoát được, bị cọc đâm vỡ rất nhiều Hoằng Tháo bị giết tại trận, toàn bộ đội thủy quân bị tiêu diệt Vua Nam Hán nghe tin bại trận
và tin Hoằng Tháo bị giết chết, thương khóc thảm thiết rồi rút về nước
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt hoàn toàn ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, khẳng định nền độc lập lâu dài của
tổ quốc
Đánh đuổi quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa Ngô Vương đặt ra các chức quan văn võ, qui định triều nghi, lập bộ máy chính quyền mang tính chất tập quyền
Trang 32LỚP 7
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI
Chủ đề 1 XÃ HỘI PHONG KIẾN CHÂU ÂU (PHƯƠNG TÂY)
1 Trình bày sự hình thành xã hội PK châu Âu ?
Cuối thế kỉ V, người Giéc-man xâm chiếm, tiêu diệt các quốc gia cổ đại phương Tây, thành lập nhiều vương quốc mới : Ăng-glô Xắc-xông, Phơ-răng, Tây Gốt, Đông Gốt
Trên lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã chiếm ruộng đất của chủ nô, đem chia cho nhau; phong cho các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầu tước Những việc làm của người Giéc-man đã tác động đến xã hội, dẫn tới
Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu
2 Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến?
Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như một vương quốc thu nhỏ
Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng
cỏ, đầm lầy của lãnh chúa Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp
tô thuế, ngoài ra còn phải nộp nhiều thứ thuế khác Lãnh chúa bóc lột nông nô,
họ không phải lao động, sống sung sướng, xa hoa
Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tự cung, tự cấp, đóng kín của một lãnh chúa
Trang 333 Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ?
Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do :
- Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán, giao thương với bên ngoài
- Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng hóa ra những nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất
- Từ đấy hình thành các thị trấn rồi phát triển thành thành phố, gọi là thành thị trung đại
Hoạt động và vai trò của các thành thị trung đại :
Cư dân chủ yếu của thành thị là thợ thủ công và thương nhân, họ lập ra các phường hội, thương hội để cùng nhau sản xuất và buôn bán
Hoạt động trên của các thành thị trung đại đã có vai trò thúc đẩy sản xuất, làm cho xã hội PK phát triển
4 Chủ nghĩa tư bản ở châu Âu được hình thành như thế nào ?
Từ cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do nhu cầu phát triển sản xuất cùng những tiến bộ về kĩ thuật hàng hải như: la bàn, hải đồ, kĩ thuật đóng tàu đã thúc đẩy những cuộc phát kiến lớn về địa lí như: B Đi-a-xơ đến cực Nam châu Phi (1487) ; Va-xcô đơ Ga-ma đến Tây Nam Ấn Độ (1498) ; C Cô-lôm-bô tìm
ra châu Mĩ (1492) ; Ph Ma-gien-lăng đi vòng quanh trái đất (1519 - 1522) Các cuộc phát kiến địa lí đã thúc đẩy thương nghiệp phát triển, đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho những quý tộc, thương nhân Đó là quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy (tạo ra số vốn đầu tiên và những người lao động làm thuê) Tầng lớp này trở nên giàu có nhờ cướp bóc của cải, tài nguyên và buôn bán, trao đổi ở các nước thuộc địa Họ mở rộng sản xuất, kinh doanh, lập đồn điền, bóc lột sức lao động người làm thuê, giai cấp tư sản ra đời Cùng đó là
Trang 34giai cấp vô sản được hình thành từ những người nông nô bị tước đoạt ruộng đất, buộc phải vào làm thuê trong các xí nghiệp của tư sản
Từ những tiền đề và điều kiện vừa nêu trên, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được hình thành, ra đời ngay trong lòng xã hội phong kiến châu Âu
5 Em hiểu gì về phong trào Văn hóa Phục hưng ?
Vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do sự kìm hãm, vùi dập của chế độ phong kiến đối với các giá trị văn hóa Sự lớn mạnh của giai cấp tư sản có thế lực về kinh tế nhưng không có địa vị chính trị, xã hội nên đấu tranh giành địa vị chính trị, xã hội, mở đầu bằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa
Cuộc đấu tranh đó phát triển thành “phong trào Văn hóa Phục hưng” :
Đó là sự phục hưng những tinh hoa giá trị tinh thần của nền văn hóa cổ Hi Lạp
và Rô-ma, đồng thời phát triển nó ở tầm cao hơn (sáng tạo nền văn hóa mới của giai cấp tư sản)
Phong trào diễn ra với các nội dung: lên án nghiêm khắc Giáo hội Ki-tô, đả phá trật tự xã hội phong kiến ; đề cao những giá trị con người, đề cao khoa học
tự nhiên, xây dựng thế giới quan duy vật Có thể kể tên những nhân vật lịch sử
và danh nhân văn hóa tiêu biểu như : nhà thiên văn học Cô-péc-ních, nhà toán học và triết học xuất sắc R Đê-các-tơ, họa sĩ Lê-ô-na đơ Vanh-xi, nhà soạn kịch U Sếch-xpia
Phong trào Văn hóa Phục hưng đã có ý nghĩa thức tỉnh và phát động quần chúng đấu tranh chống lại xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu ; đồng thời mở đường cho sự phát triển văn hóa ở một tầm cao mới của châu Âu và nhân loại
Trang 35Chủ đề 2 XÃ HỘI PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG
1 So sánh quá trình hình thành và phát triển của xã hội PK ở các nước phương Đông và phương Tây để rút ra những điểm khác biệt ?
Xã hội PK phương Đông :
- Hình thành sớm, vào thời kì trước CN (như Trung Quốc), phát triển chậm, mức độ tập quyền cao hơn so với xã hội PK phương Tây
- Quá trình khủng hoảng, suy vong kéo dài và sau này rơi vào tình trạng lệ thuộc hoặc trở thành thuộc địa của CNTB phương Tây
Xã hội PK phương Tây :
- Ra đời muộn (thế kỉ V), nhưng phát triển nhanh
- Xuất hiện CNTB trong lòng chế độ PK
- Lúc đầu quyền lực của nhà vua bị hạn chế trong lãnh địa, mãi đến thế kỉ
XV khi các quốc gia PK thống nhất, quyền lực mới tập trung trong tay nhà vua
2 Trình bày những nét chính về cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ PK ?
Cơ sở kinh tế chủ yếu của chế độ PK là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chăn nuôi và một số nghề thủ công Sản xuất nông nghiệp đóng kín ở các công
xã nông thôn (phương Đông) hay các lãnh địa (phương Tây)
Tư liệu sản xuất, ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nông dân hay nông nô sản xuất
Xã hội gồm hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân lĩnh canh (phương Đông), lãnh chúa phong kiến và nông nô (phương Tây) Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân và nông nô bằng địa tô
Riêng ở xã hội PK phương Tây, từ thế kỉ XI, công thương nghiệp phát triển mạnh
Trang 36LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX
Chủ đề 3 BUỔI ĐẦU ĐỘC LẬP THỜI NGÔ - ĐINH - TIỀN LÊ (Thế kỉ X)
I Những nét chính về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của buổi đầu độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê ?
Ngô Quyền chỉ ở ngôi được sáu năm Lúc sắp mất, Ngô Quyền đem con là Ngô Xương Ngập ủy thác cho người em vợ là Dương Tam Kha Dương Tam Kha là con của Dương Đình Nghệ, em của bà Dương Hậu Nhưng khi Ngô Quyền mất rồi Dương Tam Kha phản bội lòng tin của Ngô Quyền, cướp lấy ngôi, tự xưng là Bình Vương (945-950) Ngô Xương Ngập phải chạy trốn vào núi Dương Tam Kha bèn bắt người con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn làm con nuôi Ngô Xương Văn, trong một dịp đi hành quân dẹp loạn, đem quân trở ngược lại bắt được Dương Tam Kha, giáng Kha xuống bậc công
Ngô Xương Văn xưng vương và cho người đi rước anh về cùng làm vua Không bao lâu Ngô Xương Ngập bệnh chết (954) Thế lực nhà Ngô ngày một suy yếu, khắp nơi loạn lạc Trong một chuyến đi dẹp loạn (965), Xương Văn bị trúng tên chết Kể từ đấy, nhà Ngô không còn là một thế lực trung tâm của đất nước nữa Con của Xương Văn là Ngô Xương Xí trở thành một trong 12 sứ quân
Trang 37Từ đó đất nước trải qua một thời kỳ nội chiến tranh quyền khốc liệt mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân Sau nhờ Đinh Bộ Lĩnh (924-979) đánh thắng tất cả các sứ quân, đất nước mới thoát cảnh nội chiến
2 Nhà Đinh (968-980) - Đại Cồ Việt
Đinh Tiên Hoàng 968-979 ; Đinh Tuệ (Đinh Toàn) 980
Sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình)
Đồng thời với gian đoạn này, ở Trung Hoa, nhà Tống làm chủ đất nước và tiêu diệt nước Nam Hán (970) Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang thông hiếu Đến năm 972 nhà vua sai Đinh Liễn đem quà sang cống Vua Tống bèn phong cho Đinh Tiên Hoàng làm An Nam Quận vương và Đinh Liễn làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ
Đinh Tiên Hoàng đặt ra những luật lệ hình phạt nặng nề như bỏ phạm nhân vào dầu hay cho hổ báo xé xác
Quân đội dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã được tổ chức chặt chẽ, phân ra làm các đơn vị như sau:
Đạo = 10 quân; Quân = 10 lữ ; Lữ = 10 tốt; Tốt = 10 ngũ ; Ngũ = 10 người
Năm 979, nhân lúc Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn say rượu, nằm ở sân điện, một tên quan hầu là Đỗ Thích giết chết cả hai Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi
Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, đình thần tìm bắt được Đỗ Thích và đem giết chết đi rồi tôn người con nhỏ là Đinh Tuệ (Đinh Toàn), mới sáu tuổi lên làm vua Quyền bính ở cả trong tay Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn Lê Hoàn lại có quan hệ chặt chẽ với người vợ góa của Đinh Tiên Hoàng
là Dương Thái Hậu nên uy thế rất lừng lẫy Các công thần cũ của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem quân vây đánh Lê Hoàn nhưng bị Lê Hoàn tiêu diệt và giết cả
Trang 383 Nhà Tiền Lê (980-1009)
Lê Đại Hành 980-1005 ; Lê Long Việt 1005 ; Lê Long Đĩnh 1005-1009
Nhà Tống lợi dụng sự rối ren trong triều nhà Đinh, chuẩn bị cho quân sang xâm lược Đại Cồ Việt Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn (áo bào của vua Đinh Tiên Hoàng - tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) cho Lê Hoàn và cùng quan lại, quân lính tôn Lê Hoàn lên làm vua
Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê Để có thời gian chuẩn bị, nhà vua phái sứ giả qua xin hòa hoãn cùng nhà Tống Đồng thời nhà vua gấp rút bày binh bố trận Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ, vào đánh Đại Cồ Việt Lê Đại Hành một mặt cho quân chặn đánh toán quân bộ ở Chi Lăng (Lạng Sơn) Tướng Hầu Nhân Bảo, cầm đầu toán quân bộ, mắc mưu trá hàng của Lê Hoàn, bị chém chết; quân sĩ bị diệt quá nửa, tan rã Toán quân thủy bị chặn ở Bạch Đằng, nghe tin thất bại, bèn tháo chạy về nước
Dù chiến thắng, Lê Đại Hành vẫn giữ đường lối hòa hoãn, cho thả các tù binh về nước, đồng thời cho người sang nhà Tống xin triều cống Thấy thế không thắng được Lê Đại Hành, vua Tống đành chấp thuận, phong cho ông làm Tiết độ sứ
Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất thắng lợi đã biểu thị ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt
Không còn lo lắng việc chống Tống nữa, Lê Đại Hành sửa sang mọi việc trong nước Ông mở mang kinh đô Hoa Lư, củng cố bộ máy chính quyền trung ương, sắp xếp các đơn vị hành chính Để khuyến khích hoạt động nông nghiệp,
Lê Đại Hành làm lễ cày ruộng Tịch điền, mở đầu cho tục lệ này ở đất nước Về đối ngoại, nhà vua tuy thần phục nhà Tống và chịu lệ cống, nhưng hoàn toàn không lệ thuộc gì cả
Lê Hoàn làm vua được 24 năm, mất năm 1005, thọ 65 tuổi
Sau khi Lê Đại Hành mất, Thái tử Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị Long Đĩnh sai người giết chết Các hoàng tử đánh nhau trong 8 tháng để tranh
Trang 39ngôi Cuối cùng Lê Long Đĩnh diệt được các hoàng tử khác và lên ngôi vua cai trị đất nước
Lê Long Đĩnh là người hoang dâm, không thiết gì việc xây dựng đất nước, chỉ lo đến việc ăn chơi Do bị bệnh hoạn, mỗi khi thiết triều, Lê Long Đĩnh
không thể ngồi được mà phải nằm, nên sử sách gọi ông ta là Lê Ngọa Triều Lê
Long Đĩnh lại rất tàn ác, đặt ra nhiều hình phạt dã man để mua vui Lê Long Đĩnh ở ngôi 4 năm (1005-1009) thì chết Triều đình đưa người dòng họ khác là
Lý Công Uẩn lên ngôi vua
B Về kinh tế:
Thời kì này, quyền sở hữu ruộng đất nói chung thuộc về làng xã, theo tập tục chia nhau cày cấy, nộp thuế, đi lính và làm lao dịch cho nhà vua Việc đào vét kênh mương, khai khẩn đất hoang được chú trọng, nên nông nghiệp ổn định và bước đầu phát triển; nghề trồng dâu tằm cũng được khuyến khích; nhiều năm được mùa
Đã xây dựng một số công trường thủ công: từ thời Đinh đã có những xưởng đúc tiền, chế tạo vũ khí, may mũ áo xây cung điện, chùa chiền Các nghề thủ công truyền thống cũng phát triển như dệt lụa, làm gốm
Nhiều trung tâm buôn bán và chợ làng quê được hình thành Nhân dân hai nước Việt - Tống thường qua lại trao đổi hàng hóa ở vùng biên giới
Tóm lại, thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, nước ta đã bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ trong điều kiện đất nước đã độc lập, các triều vua đã có một số biện pháp khuyến nông như đào vét kênh, vua tổ chức lễ cày Tịch điền; về thủ công nghiệp, các thợ lành nghề không còn bị bắt đưa sang Trung Quốc nên kinh tế đã có sự phát triển
C Về văn hóa xã hội:
Xã hội chia thành 3 tầng lớp: tầng lớp thống trị gồm vua, quan văn võ (cùng một số nhà sư); tầng lớp bị trị mà đa số là nông dân tự do, cày ruộng công làng xã; tầng lớp cuối cùng là nô tì (số lượng không nhiều)
Trang 40Nho học chưa tạo được ảnh hưởng, giáo dục chưa phát triển Đạo Phật được truyền bá rộng rãi, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhà sư được nhân dân quý trọng Nhiều loại hình văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đua thuyền tồn tại và phát triển trong thời gian này
II Trình bày ngắn gọn công lao của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn?
Ngô Quyền: Người tổ chức và lãnh đạo quân dân ta làm nên chiến thắng
trên sông Bạch Đằng năm 938 Đó là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc đối với nước
ta, mở ra kỉ nguyên độc lập, tự chủ của đất nước
Ngô Quyền xưng vương, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, đã khẳng định nước ta có giang sơn, bờ cõi riêng, do người Việt làm chủ và tự quyết định vận mệnh của mình
Đinh Bộ Lĩnh: Là người có công lớn trong việc dẹp “Loạn 12 sứ quân”
Vì trước nguy cơ ngoại xâm mới (mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Tống) đòi hỏi phải nhanh chóng thống nhất lực lượng để đối phó Đó cũng là nguyện vọng của nhân dân ta thời bấy giờ Đinh Bộ Lĩnh đã hoàn thành sứ mệnh lịch
sử đó
Việc Đặt tên nước (là Đại Cồ Việt), chọn kinh đô và không dùng niên hiệu của hoàng đế Trung Quốc đã khẳng định đất nước ta là “nước Việt lớn”, nhà Đinh có ý thức xây dựng nền độc lập, tự chủ
Lê Hoàn: Là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân
Tống lần thứ nhất năm 981 giành thắng lợi, có ý nghĩa to lớn
Thắng lợi ấy đã biểu thị ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt
Trong giai đoạn lịch sử củng cố bảo vệ nền độc lập và buổi đầu xây dựng đất nước, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn là những vị anh hùng dân tộc, được nhân ta kính trọng, biết ơn, nhiều nơi lập đền thờ