1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT QUAN điểm CHỦ NGHĨA mác lê NIN về QUY LUẬT mâu THUẪN, ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN của QUY LUẬT đối với QUÁ TRÌNH hội NHẬP QUỐC tế ở VIỆT NAM

28 713 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 218 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân sự vật hiện tượng; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới.

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ LÝ LUẬN VẬN DỤNG

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Một số quan niệm về mâu thuẫn 5 1.1 Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn 5 1.2 Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin 7

3.1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài 11

3.2 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản 12

3.3 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu 12

3.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng 13

II

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT

MÂU THUẪN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựngnhững mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫntrong bản thân sự vật hiện tượng; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đốilập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đicủa cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới

Bàn về quy luật mâu thuẫn (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các

mặt đối lập), V.I.Lênin khẳng định: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện

chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” 1 Như vậy, quy luật mâu thuẫn là một

trong ba quy luật quan trọng nhất, là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật

Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giớikhách quan và là chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, cơ sởgiúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù củaphép biện chứng duy vật Nắm được linh hồn của quy luật mâu thuẫn sẽ giúp

ta hình thành thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn, tư duy khoa học đểkhám phá bản chất của sự vật và giải quyết đúng đắn, tận gốc các mâu thuẫnnảy sinh trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng

Chặng đường gần một thế kỷ lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từthắng lợi này đến thắng lợi khác, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sángtạo chủ nghĩa Mác-Lênin, quy luật mâu thuẫn nói riêng vào thực tiễn cáchmạng Việt Nam để giải quyết các mâu thuẫn đặt ra trong quá trình đi lên củađất nước, đặc biệt trong quá trình thời kỳ đổi mới Với đường lối đổi mớiđược Đảng khởi xướng từ năm 1986 đến nay, đã từng bước chuyển nền kinh

tế Việt Nam từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu vào quốc tế, từng bước khẳng định vịthế của Việt Nam trên trường quốc tế Đó là một đường lối đúng đắn, sáng tạophù hợp với xu thế phát triển Tuy vậy, trong quá trình đổi mới, chúng ta đã

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1981, t.29, tr.240.

Trang 4

gặp không ít khó khăn Nguyên nhân là do trong xã hội vẫn còn tồn tại nhữngquan niệm không đúng về mâu thuẫn, về các mặt đối lập, coi đó là hiện tượngbất bình thường cần phải loại trừ; hoặc có những sai lầm cực đoan, không chútrọng tới bản chất trái ngược của các mặt đối lập và kết hợp không đúngnguyên tắc giữa chúng, dẫn tới những nguy cơ của cách mạng Việt Nam:

Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán

bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí Nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Trong bốn nguy cơ trên, có hai nguy cơ bên trong rất nguy hại và nó

chính là chỗ dựa để cho những nguy cơ từ bên ngoài tấn công vào Đảng Vìvậy, việc giải quyết mâu thuẫn trở nên khó khăn, làm ảnh hưởng đến việc kếthợp các mặt đối lập một cách đúng đắn “kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại” nhằm đem lại những lợi ích thiết thực trong sự nghiệp đổi mớicủa nước ta hiện nay nói chung, quá trình hội nhập quốc tế nói riêng là yêucầu bức thiết đặt ra, đòi hỏi Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạtquan niệm biện chứng về mâu thuẫn, trên cơ sở quy luật mâu thuẫn để giảiquyết các mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài trong quá trình hộinhập quốc tế: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoàbình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nướcViệt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh trong quá trình hội nhập quốc tế củanước ta Từ thực tế đặt ra và để tiếp cận, tìm hiểu quy luật mâu thuẫn của chủnghĩa duy vật biện chứng và ý nghĩa của nó đối với quá trình hội nhập quốc tế

của Đảng ta, tác giả chọn: “Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quy

luật mâu thuẫn Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật đối với quá trình hội nhập ở Việt Nam” làm bài tiểu luận

Trang 5

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN

1 Một số quan niệm về mâu thuẫn: Mâu thuẫn là phạm trù của phép

biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên trong của mọi sự vận động, gốc rễ của

sự sống, nguyên lý của sự phát triển

1.1.Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn

Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển Vấn đềnày sớm được các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu và có nhữngphỏng đoán thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyênnhân của sự hình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật

Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một trong chín trường phái triết họccủa Trung Quốc thời cổ đại Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là thuyết thể hiệnquan niệm duy vật chất phác về tự nhiên và ở đó cũng thể hiện tư tưởng biệnchứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc thời cổđại Nó giải thích nguồn gốc của quá trình biến hóa của vạn vật Các triết giatrong trường phái này cho rằng thế giới các hiện tượng và sự vật vẫn chứađựng hai yếu tố vừa đối lập nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa bao hàmtương tác lẫn nhau Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thốngnhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa Âm

- Dương không phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau,động lực của mọi vận động, phát triển

Vấn đề mâu thuẫn trong tư tưởng của phương Đông cổ đại càng đượclàm rõ trong triết học Ấn Độ cổ đại Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thể hiện

tư tưởng biện chứng khi thừa nhận thế giới, vũ trụ là sự thống nhất mâu thuẫn,thống nhất của các mặt đối lập Họ cho rằng thế giới vũ trụ không phải là cái

gì đó thuần nhất, đơn giản mà là bao trùm trong đó hai mặt đối lập vừa bấtbiến vừa biến đổi, vừa đứng im vừa vận động, vừa trong trạng thái thăngbằng, ổn định, vừa trong trạng thái không cân bằng, không ổn định Thế giới

Trang 6

sự vật và hiện tượng luôn luôn biến đổi theo chu trình sinh - trụ - dị - diệt(hoặc thành - trụ - hoại - không) theo luật nhân quả Phật giáo khẳng định tồntại là vô thường, luôn luôn biến đổi Các nhà triết học Ấn Độ đã không chútrọng đến quá trình giải quyết mâu thuẫn để tạo ra động lực phát triển cả vềmặt lý luận cũng như vận dụng vào thực tiễn

Hêraclit là nhà biện chứng lỗi lạc nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại - ngườiđược Lênin coi là nhà sáng lập ra phép biện chứng đã cho rằng: mọi sự vậtđều là sự thống nhất của các mặt đối lập, mọi cái đồng nhất luôn luôn tồn tạitrong sự khác biệt đó, cái hài hòa của những cái căng thẳng, đối lập: đối lậpgiữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống và chết… Ông coi đó là sự “tươngphản”, “tương hành” trong vũ trụ Hêraclit khẳng định đấu tranh là nguồn gốccủa mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt trong “sự sống” củamọi sự vật đang biến đổi Trong các công trình của mình, tư tưởng của ôngphản ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,

đó là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán trongquá trình vận động của nguyên tử Ông diễn tả sự vận động của thế giới vậtchất như là một quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, vận động là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản chất

là bất động, đã vận động được là nhờ va chạm”

Trong triết học cổ điển Đức, phép biện chứng đã trở thành một lý luậnđược xây dựng một cách có hệ thống Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của

nền triết học cổ điển Đức Theo nhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ

là một thiên tài sáng tạo, mà còn là nhà triết học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại” Cống hiến lớn nhất của

Hêghen là phép biện chứng, mặc dù đó là phép biện chứng duy tâm Hêghen

đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đưa ra cách thức giải quyết mâu thuẫn.Trong “học thuyết về bản chất” của “khoa học logic”, Hêghen đã triển khaimâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ và coi đó là quy luật bên

Trang 7

trong của bản chất Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng baohàm sự khác biệt và mâu thuẫn Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vậnđộng, là nguyên lý của phát triển Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triếthọc của ông không phải là mâu thuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinhthần thế giới, ý niệm tuyệt đối Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc

và lợi ích giai cấp mà ông đại diện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giảiquyết mâu thuẫn Vì thế, dẫn đến kết cục hệ thống triết học của ông mâuthuẫn với phép biện chứng của ông

Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởngphương Tây trước Mác Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phầnquan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phươngpháp luận Cantơ có đóng góp cho phép biện chứng ở phương diện, ông xemmâu thuẫn là thuộc về bản chất, tính quy định của tư duy Song, ông cũng bộc

lộ những hạn chế: mới chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng, trong lý tínhcon người, chưa nhìn thấy được mâu thuẫn có trong toàn bộ đời sống hiệnthực khách quan Cantơ cũng chưa đề xuất các giải pháp để giải quyết mâuthuẫn nên chưa thấy được động lực của việc nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn.Triết học cổ điển Đức dù chỉ trải qua một giai đoạn lịch sử tương đốingắn nhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học, là cơ

sở tiền đề để các nhà triết học sau này kế thừa những tư tưởng biện chứng,nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại

1.2.Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX trướcyêu cầu đòi hỏi bức thiết của thực tiễn chính trị - xã hội và là quá trình pháttriển hợp quy luật của triết học và của nhận thức khoa học

Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biệnchứng trong lịch sử triết học; bằng việc tổng kết từ thực tế lịch sử loài người,các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn

Trang 8

lên một tầm cao mới Theo đó, mâu thuẫn là phạm trù dùng để chỉ các mặt

đối lập có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng tồn tại trong một sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn trong phép biện chứng, trước hết được cấu thành bởi

các mặt đối lập Đó là những mặt (những thuộc tính, sự vật, hệ thống sự

vật ) có những đặc điểm, những thuộc tính có khuynh hướng biến đổi tráingược nhau tồn tại một cách khách quan trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.Nhưng sự đối lập giữa các mặt không phải là nội hàm chính của khái niệmmâu thuẫn biện chứng, cũng như mâu thuẫn không phải được tạo dựng từnhững sự đối lập bất kỳ Trái lại, chỉ những mặt đối lập nằm trong sự liên hệ,

sự tác động qua lại với nhau mới tạo thành mâu thuẫn Đặc trưng đó cho thấy

sự khác biệt rất cơ bản giữa quan điểm duy vật biện chứng và quan điểm duytâm, siêu hình về mâu thuẫn cũng như sự khác biệt về chất giữa mâu thuẫnbiện chứng với các loại mâu thuẫn khác

2 Nội dung cơ bản của quy luật

Việc nghiên cứu thực chất mối quan hệ biện chứng giữa các mặt đối lập

và vai trò của chúng đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng cho

phép chúng ta vạch ra quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

(hay còn gọi tắt là quy luật mâu thuẫn)

Hai mặt đối lập tuy có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưngchúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại trong sự thống nhất của

chúng Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi

có nhau của mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy tồn tại của mặt kia làm tiền đề Nói cách khác, cũng có thể xem sự thống nhất của hai mặt đối lập

là tính không thể tách rời nhau của hai mặt đó C.Mác giải thích: “Giai cấp vôsản và sự giàu có là hai mặt đối lập Với tính cách như vậy, chúng hợp thànhmột chỉnh thống nhất nào đó Là chế độ tư hữu, là sự giàu có, chế độ tư hữu

không thể không duy trì sự tồn tại của bản thân nó, do đó cũng không thể

không duy trì sự tồn tại của mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản Trái lại,

Trang 9

với tư cách là giai cấp vô sản, giai cấp vô sản buộc phải thủ tiêu bản thânmình, do đó tiêu diệt cả cái mặt đối lập của nó - tức là chế độ tư hữu - đangchi phối nó và làm cho nó thành giai cấp vô sản”2.

Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, “đồng

nhất” với nhau Đó là một biểu hiện khác về sự thống nhất của các mặt đối

lập Do có sự “đồng nhất” này mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến mộtlúc nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hoá sang mặt đối lập kia (khi xét vềmột vài đặc trưng nào đó) Ví dụ: sự phát triển của kinh tế trong chủ nghĩa tưbản phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, nhưng lại tạo ra tiền đề cho sự thaythế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội

Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang

nhau của chúng Tồn tại trong sự gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng lại có khuynh

hướng vận động trái ngược nhau, do đó, đến một lúc nào đó trong quá trình pháttriển của mâu thuẫn, tương quan giữa các mặt đối lập là cân bằng và chúng cóvai trò, tác dụng ngang nhau đối với sự vật Trong thực tế, tình hình này thườngđược biểu hiện ra ở điều kiện tương đối “hoà bình”, trước khi xảy ra những thayđổi có tính chất bước ngoặt trong tiến trình phát triển của sự vật

Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn tác động qua lại

với nhau, “đấu tranh” với nhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động

qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa chúng.

Như vậy, trong một mâu thuẫn, “đấu tranh” giữa các mặt đối lập là mặt

đối lập với sự “thống nhất” của chúng Sự thống nhất duy trì tính nương tựa

vào nhau, đồng nhất và tác dụng ngang nhau, còn đấu tranh lại phá vỡ hiện

trạng ấy bằng việc làm gia tăng sự khác nhau và đối lập giữa các mặt của

mâu thuẫn Do vậy, các mặt đối lập đấu tranh và chuyển hoá lẫn nhau là hết

sức phong phú và đa dạng Tính phong phú và đa dạng này, một mặt là do

tính chất của mâu thuẫn, mặt khác là do tính chất của điều kiện lịch sử trong

2 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.2, tr.54.

Trang 10

đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định Song, bất cứ cuộcđấu tranh nào cũng hướng tới sự phá vỡ sự thống nhất cũ để thiết lập sự thốngnhất mới cao hơn và bất cứ sự chuyển hoá nào cũng không phải là sự chuyểnđổi vị trí giản đơn giữa hai mặt đối lập

Với tính cách là hai trạng thái đối lập nhau trong biện chứng của mâuthuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ vớinhau Sự thống nhất duy trì sự đứng im, sự ổn định tạm thời của mâu thuẫn,

do đó, nó là cơ sở, tiền đề cho đấu tranh, chuyển hoá của các mặt đối lập Sự

đấu tranh trực tiếp quy định sự vận động, sự phát triển không ngừng của mâu

thuẫn, do đó, nó vừa là thực chất, vừa là nội lực quy định sự thay thế lẫn

nhau của các trình độ thống nhất Điều đó cũng có nghĩa, sự thống nhất của

các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối Khi xem xét các mối quan hệ như vậy, V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất ( )

của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” 3

Như vậy, trong phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn xét về thực chất, là

sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Nhưng không phải sự thống

nhất thuần tuý mà là sự thống nhất gắn bó hữu cơ với đấu tranh; cũng khôngphải là sự đấu tranh chung chung mà là sự đấu tranh gắn bó hữu cơ với sự

thống nhất mới là nguyên nhân chân chính, cuối cùng cho sự vận động, biến

đổi của mọi mâu thuẫn nói chung, do đó, cũng là nguyên nhân chân chính cuốicùng cho sự vận động, biến đổi của từng sự vật, hiện tượng nói riêng C.Mác

viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng

nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp giữa hai mặt ấy thành một phạm trù mới” 4

3 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t.29, tr 379-380.

4 C.Mác và Ph ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.4, tr 191

Trang 11

Sự vận động, phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định

và tính thay đổi Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy địnhnhững tính chất ấy của sự vật Khi coi “thống nhất” như là một trường hợpđặc biệt của “đấu tranh” thì hoàn toàn có thể định nghĩa: “Sự phát triển là mộtcuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”5

Qua một số vấn đề nêu trên, có thể rút ra thực chất quy luật thống nhất và

đấu tranh của các mặt đối lập như sau: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng

những mặt đối lập cấu thành những mâu thuẫn nội tại; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển

3 Phân loại mâu thuẫn

Mâu thuẫn trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy hết sức đa

dạng Tính đa dạng của các mâu thuẫn được quy định một cách khách quanbởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện mà trong đó sự tác động qualại giữa các mặt đối lập được triển khai, bởi trình độ tổ chức của hệ thống (sựvật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại

3.1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh

hướng đối lập của cùng một sự vật Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật

là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác Vídụ: sự tác động qua lại giữa đồng hoá và dị hoá của một sinh vật là mâu thuẫnbên trong, sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường - khi xét cơ thể làmột sự vật - là mâu thuẫn bên ngoài Song, việc phân chia mâu thuẫn thànhmâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ là tương đối Do vậy, để xácđịnh một mâu thuẫn nào đó là mâu thuẫn bên trong hay mâu thuẫn bên ngoài,trước hết cần xác định phạm vi sự vật cần xem xét

5 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t.29, tr 379

Trang 12

Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vậnđộng, phát triển của sự vật Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bênngoài luôn vận động trong sự tác động lẫn nhau Mỗi bước giải quyết mâu thuẫnnày lại tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn kia Vì thế, phải đồng thời giảiquyết cả mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài Coi trọng giải quyết mâuthuẫn bên trong và chú ý thoả đáng giải quyết mâu thuẫn bên ngoài Trong thực

tế, ở những điều kiện cụ thể, đôi khi việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài lại cóvai trò đặc biệt với sự tồn tại và phát triển của sự vật Giải quyết mối quan hệhữu cơ mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài trong sự nghiệp cách mạng,

Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng: "Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là

yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bên vững và xây dựng nên kinh tế độc lập, tự chủ Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả"6

3.2 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định

sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trìnhtồn tại của sự vật

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào

đó của sự vật, nó quy định sự vận động, phát triển của một mặt nào đó của sự vật

3.3 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát

triển nhất định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết mâuthuẫn khác ở cùng giai đoạn (những mâu thuẫn thứ yếu) Sự phát triển hơnnữa của sự vật, sự chuyển hoá của nó sang giai đoạn tồn tại khác phụ thuộcvào việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu mới nảy sinh

6 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H 2011, tr.102

Trang 13

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau,trong đó, mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức biểu hiện nổi bật củamâu thuẫn cơ bản hay là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản

ở một giai đoạn nhất định; việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiệngiải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản

3.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập

đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau Ví dụ:mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa địa chủ và nôngdân, giữa tư sản và vô sản

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng,

khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời Thídụ: mâu thuẫn giữa các tầng lớp nông dân, giữa các bộ phận công nhân khácnhau, giữa lao động trí óc và lạo động chân tay, giữa thành thị và nông thôn

ở nước ta hiện nay

Phân biệt mâu thuẫn đối kháng với mâu thuẫn không đối kháng có ýnghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp giải quyết mâu thuẫn Mọi

ý định dùng phương pháp giải quyết loại mâu thuẫn này vào việc giải quyếtmâu thuẫn có bản chất khác nhau đều là sai lầm

Tóm lại, trong quá trình nhận thức mâu thuẫn, trước hết chúng ta nhận

thức sự vật như một thực thể đồng nhất Tiếp đó, khi phân tích sâu hơn ta pháthiện ra sự khác nhau, trong những khác nhau đó lại thấy những đối lập, nghiêncứu sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, ta biết được mâu thuẫn của nó vàbiết được nguồn gốc của sự vận động, sự phát triển

Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập; theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó; nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn; tìm hiểu những điều kiện làm cho những mặt đó biến đổi; đánh giá đúng tính chất và vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn trong từng giai đoạn; xem những mặt đối lập đó có những yếu tố gì; xem mâu thuẫn đó có gì giống với những mâu thuẫn khác và có những đặc điểm gì riêng, khác với những mâu thuẫn khác Giải quyết mâu thuẫn cần phải

Trang 14

có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp, biết kết hợp các mặt đối lập một cách linh hoạt, sáng tạo Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn; tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế Và mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điều kiện; cũng không để cho việc giải quyêt mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, phải cố gắng tạo điều kiện thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn, những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất!

Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hìnhthức cụ thể khác nhau) Đối với các mâu thuẫn khác nhau phải có phươngpháp giải quyết khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn và nhữngđiều kiện cụ thể Phải tôn trọng mâu thuẫn, có biện pháp giải quyết thích hợpvới từng mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn, tích cực tìm tòi, phát hiệnmâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc,

khuynh hướng của sự vận động và phát triển V.I.Lênin cho rằng: “Sự phân

đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó

là thực chất… của phép biện chứng” 7

Với nhãn quan chính trị thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại, Nguyễn ÁiQuốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy được những mâu thuẫn cơ bản đangtồn tại trong lòng xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Những mâuthuẫn ấy đã tôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm cho dân tộc ta con đường cứunước đúng đắn Sau bao năm bôn ba tìm được cứu nước, ôm ấp khát vọng

“độc lập cho tổ quốc tôi, hạnh phúc cho đồng bào tôi” đã đưa Người đến vớichủ nghĩa Mác-Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của thời đại, chiếc

“cẩm nang” thần kì cứu nước, cứu dân mà bấy lâu nay dân tộc ta hằng khaokhát Nên Bác khẳng định: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cầnthiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta8

7 V.I.Lê-nin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr378.

8 HCM, TT, T10 Nxb CTQG, H.2000, tr.127

Ngày đăng: 08/10/2016, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w