1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn Chính trị ĐỘC QUYỀN: Hợp Tác Chiến Lược Việt Nam Ấn Độ Trong Quan Hệ Chính Trị Quốc Tế Hiện Nay

148 655 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 20,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 148 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỞ ĐÂU ...................................................................................................... ..1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM ÂN ĐỘ .............................. ..10 1.1.Cơ SỞ lý luận .............................................................................. ..10 1.2. CƠ sở thực tiễn ........................................................................... ..26 Chương 2: QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM ÂN ĐỘ TRÊN CÁC LĨNH VỰC TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2013 ..................... ..43 2.1. Trên lĩnh vực chínhtrị, đổi ngoại ............................................... ..43 2.2. Trên lĩnh Vực kinhtế .................................................................. ..57 2.3. Trên các lĩnh Vực khác ................................................................ ..74 Chương 3: TRIỂN VỌNG VỂ QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM ÂN ĐỘ ĐẾN NĂM 2020 VÀ KHUYẾN NGHỊ ................ ..93 3.1. Một số hướng ml tiên Và triển vọng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ấn Độ đến năm 2020 .............................................................. ..93 3.2. Một số khuyến nghị nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ấn Độ ................................................................... .. 104 KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO... .....117 PHỤ LỤC ................................................................................................. ..125 MỞ ĐẦU 1. Tính cap thiêt của đê tài Việt Nam và Àn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Ngay từ những thập ky đầu của thế kỷ xx, Việt Nam và Ấn Độ đã gắn bó trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi chế độ thực dân, giành độc lập dân tộc. Lãnh tụ vĩ đại của hai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tuớng Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghi truyền thống Việt Nam Ấn Độ, đuợc các thế hệ lanh đạo và nhân dân hai nuoc dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái. Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thể giới và khu vực những năm cuối thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI có nhiều biến động. Khu vực châu Á Thái Bình Dương, một mặt được đánh giá là “tương lai của thế giới trong thế kỷ XXI” nhưng đồng thời cũng đang trở thành một trong những điểm nóng bỏng nhất thế giới với nguy cơ xảy ra các cuộc xung đột luôn hiện hữu thì yêu cầu thúc đẩy họp tác quốc tế, da phương hóa, da dạng hóa trong chính sách ngoại giao của mỗi nước lại càng được đẩy mạnh. Chính vi lẽ đó mà quan hệ Việt Ân lại càng trở nên gắn bó và tin cậy. Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định ưu tiên phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống với Ãn Độ. về phần mình, Chính phủ Ân Độ luôn coi trọng Việt Nam là trụ cột trong Chính sách Hướng Đông. Hai nước cùng chung nhiều điểm tương đồng và hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị Đông Á (EAS), Tổ chức họp tác khu vực sông Mêkông sông Hằng (MGC), Hội nghị cấp cao Á Âu (ASEM). Sự hội tụ những lợi ích chính trị, kinh tế và chiến lược, cùng những khát vọng và mối quan tâm chung đã thúc đẩy quan hệ đối tác giữa hai nước. Và Năm 2007 đã 4 chứng kiến bước ngoặt mới trong lịch sử quan hệ này, khi hai bên ra Tuyên bổ chung chỉnh thức thiết lập quan hệ Đổi tác chiến lược. Có thể nói đây là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước đột phá mới trong quan hệ hai nước ở tầm vĩ mô, mở đường cho sự phát triển sâu rộng của quan hệ hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, vi sự phát triển bền vững và thịnh vượng, góp phần vào hòa bình, ổn định, họp tác, phát triển và phồn vinh của khu vực châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới. Chính vi lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hợp tác chiến lược Việt Nam Ẩn Độ trong quan hệ chinh trị quốc tế hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành chính trị học. 2. Tình hinh nghiên cứu đề tài Từ trước tới nay, quan hệ Việt Nam Ấn Độ đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, được đăng tải trên các tạp chí, ấn phẩm, sách trong và ngoài nước: Ở nước ngoài, có những cuốn sách viết về chính sách đối ngoại của Ấn Độ tiêu biểu như: NUayapalan, “Foreign Policy o f India ” (Chính sách đối ngoại của Ẩn Độ), Nxb Atlantic Publishers Dist, 2001. Tác giả đã giới thiệu về chính sách đối ngoại của Án Độ và vai trò của Án Độ trong các tổ chức quốc tế mà Ẩn Độ là thành viên. V.D. Chopra, “India ’s Foreign Policy in the 21st century (Chính sách ngoại giao của Ấn Độ trong thế kỷ 21), Nxb Kalpaz Publications, 2006. Công trình tập hợp 23 bài viết của 23 chuyên gia về các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong thế kỷ XXI. Atish Sinha và Madhup Mohta, “India Foreign Policy: Challenges and Opportunties ” (Chính sách đối ngoại của Án Độ: Thách thức và Cơ hội), Nxb Academic Foundation, 2007. Công trình đã giới thiệu các bài phân tích 5 của 50 chuyên gia vê chính sách đôi ngoại của một sô nước trên thê giới. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Ấn Độ. D.Suba Chandran and .Tabin J. Jacob, ‘Indian’s Foreign Policy: Old problems, New challenges” (Chính sách ngoại giao của Ấn Độ: vấn đề cũ, Thử thách mới), Nxb Macmillan, 2011. Tác giả phân tích chính sách đối ngoại của Ản Độ và chỉ ra những khó khăn, thử thách của chính sách đó trong giai đoạn hiện nay. Sumit Ganguly, India’s Foreign Policy: Retrospect and Prospect” (Chính sách ngoại giao của Ản Độ: Hồi ức và tương lai), Nxb OUP India, 2012. Tác giả phân tích sự thay đổi chính sách đối ngoại của Ản Độ từ năm 1947 đến nay. Trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ của Ẩn Độ đối với các nước láng giềng và những nước lớn trên thế giới..V . v. Ở trong nước, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về quan hệ Việt Nam Ẩn Độ có những sach, kỷ yếu và luận án tiêu biêu như sau: Geetesh Sharma Hà Duy (dich), Sách: Các quan hệ Việt Nam Ấn Độ từ thế kỷ I đến thế kỷ XXI, Nxb Lao động, 2006. Công trình giới thiệu các quan hệ Việt Nam Án Độ từ thế kỉ I đển thế kỷ XXI: Ảnh hưởng của Phật giáo, văn học dân gian của Ãn Độ tới Việt Nam; Công đóng góp của các nhà lãnh đạo của hai nước cho tình hữu nghị chung. Lê Quang Lân, sách: Giới thiệu thi trường Ân Độ, Nxb Công thương, 2010. Tác giả đã giới thiệu tổng quan về đất nước, kinh tế xã hội, kinh tế thương mại của Ẩn Độ; quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam Án Độ; hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN Ấn Độ và các văn kiện liên quan; một số ngành hàng của Ấn Độ. Ngô Xuân Bình (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Thuc đẩy quan hệ Việt Nam Ân Độ trong bổi cảnh mới, Nxb Từ Điển Bách Khoa, 2012. 6 Cong trình phân tích tương đôi đây đủ vê quan hệ Việt Nam An Độ trên các lĩnh vực và một số vấn đề phát triển của Ấn Độ hiện nay. Đào Việt Trung, sách: Ấn Độ và quan hệ Việt Nam Ấn Độ, Nxb Thế giới, 2013. Giới thiệu toàn cảnh về lịch sử, đất nước, con người cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế, giáo dục, văn hoá, văn học và điện ảnh Ấn Độ. Tập họp các bài viết về quan hệ giữa Việt Nam Ấn Độ, mối liên hệ sâu sắc về lịch sử và văn hoá, quan hệ hữu nghị truyền thống và họp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lên tầm cao đối tác chiến lược. về luận án có một số công trình tiêu biểu như: Nguyễn Công Khanh (1990), Quan hệ chính tri, kỉnh tế, khoa học, kỹthuật và văn hóa Việt Nam Ấn Độ từ 1976 1988. (Luận án tiến sĩ Lịch sử, Taskent Tiếng Nga). Luận án trình bày về quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, quan hệ văn hóa Việt Nam Ấn Độ từ năm 1976 đến 1988. Đinh Trung Kiên (1993), Quan hệ Việt Nam Ấn Độ (thời kỳ 1945 1975). (Luận án tiến sĩ lich sử, Hà Nội). Luận án trình bày về mối quan hệ Việt Nam Ấn Độ trong 30 năm (1945 1975). Hoàng Thị Điệp (2006), Quả trình phát triển quan hệ Việt Nam Ản Độ từ năm 1986 đến năm 2004. (Luận án tiến sĩ Lich sử). Luận án đã khái quát quan hệ Việt Nam Ấn Độ trước năm 1986. Quá trình phát triển quan hệ giữa 2 nước từ năm 1986 2004 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hoá, giáo dục. Những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam Án Độ. Ngoài ra còn cỏ nhieu bài viết đăng trên tạp chỉ như: “Việt Nam Ẩn Độ trong cuộc đẩu tranh vi độc lập dân tộc và tien bộ xã hội” của Vũ Dương Ninh (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 + 6, 1987); “Quan hệ chính trị Việt Nam Ấn Độ (1975 1996)” của Nguyễn Cảnh Huệ đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh, số 38 (1998); “Một vài nhận xét về quan hệ Việt Nam Ân Độ từ 1945 đến nay” của Nguyễn Cảnh Huệ (Tạp chí Nghiên 7 cứu Đông Nam Á, số 6, 2001); “Thực trạng và triển vọng quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Việt Nam Ăn Độ” của Vũ Dương Huân (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 43, 2002); “Vài nét về quan hệ Việt Nam Ấn Độ” của Nguyễn Cảnh Huệ (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 2004); “Vài nét về quan hệ Việt Nam Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Tất Giáp và Nguyễn Thị Thủy (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3, 2004); “Việt Nam trong chính sách hướng Đông của Ân Độ” của tác giả Võ Xuân Vinh (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, 2005); v.v. Những công trình này đã cung cấp cho độc giả những nét cơ bản về quan hệ Việt Nam Ản Độ trên một số lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, còn có nhung bài viết về quan hệ Việt Nam Ãn Độ được đăng tải trên những trang Website như: Website của Bộ Ngoại giao Việt Nam, http:www.moga.gov.vn; Website của Bộ Ke hoạch và Đầu tu Việt Nam, http:www.mpi.gov.vn; Website của Bộ Ngoại thương Việt Nam, http:wwwmoit.gov.vn; Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam, http:www.gso.gov.vn; v.v... Như vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về quan hệ Việt Nam Ấn Độ nhưng có thể do nhu cầu nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khác, khia cạnh này hay khia cạnh khác của mối quan hệ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về quan hệ họp tác chiến lược Việt Nam Àn Độ hiện nay. Ke thừa trên cơ sở tổng hợp có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố trước đây để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này. 3. Mục đích và nhiệm vu nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục dich của đề tài Luận văn làm rõ thực trạng về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Ãn Độ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; kinh tế và các lĩnh vực khác từ năm 2007 đến năm 2013 và đưa ra các dự báo về triển vọng quan hệ 8 Việt Nam Ẩn Độ đến năm 2020, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường mối quan hệ này trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ của đề tài Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành đối tác chiến lược Việt Nam Ắn Độ. Phân tích thực trạng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ản Độ trên các lĩnh vực: chính trị, đối ngoại, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, khoa học công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2007 đến nay. Phân tích một số hướng ưu tiên, từ đó đưa ra dự báo về quan hệ Việt Nam Àn Độ đến năm 2020 và đề xuất khuyến nghị nhằm góp phần tăng cường quan hệ đối tác chiến lược hai nước trong thời gian tới. 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng của quan hệ đối vuc tê, quôc phòng, văn hóa, khoa học công nghệ, đào tạo phát triên nguôn nhân lực... Vê thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của đê tài luận văn là nghiên cứu quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ẩn Độ từ năm 2007 đến năm 2013. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Mác Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đường lối đối ngoại. Cụ thể, luận văn được tiến hành dựa trên nguồn tư liệu gốc bao gồm: Các văn kiện, các văn bản cấp Nhà nước về đối 9 ngoai của Việt Nam và An Độ, các bản ký ket giữa hai nhà nước, các bài báo và tin tức thời sự về tình hình quan hệ Việt Nam Ấn Độ. 5.2. Phươngpháp nghiên cứu Đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp nghiên cứu quốc tế và chính trị quốc tế như: phương pháp phân tích tổng hợp, lô gic lịch sử và một số phương pháp xã hội như: thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh... 6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài Luận văn làm rõ thực chất sự vận động của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ấn Độ từ năm 2007 đến năm 2013 Dự báo về triển vọng phát triển của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ấn Độ đến năm 2020 và đề xuất một số khuyến nghị nhằm củng cố và tăng cường mối quan hệ này. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, củng cố lập trường tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể góp phần cung cấp tư liệu cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. 8. Ket cấu của đề tài Ngoài phần Mở đầu, Ket luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIEN HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM ẤN Độ 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Quan niệm về chỉnh trị quốc tế hiện nay và đối tác chiến lược 1.1.1.1. Quan niệm về chỉnh tri quốc tể hiện nay Khai niệm chính tri Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là để giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị theo nguyên nghĩa của nó, là những công việc Nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Cái quan trọng nhất trong chính trị, theo Lenin, là “tổ chức chính quyền nhả nước” 29, tri, chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc Nhà nước, các định hướng của Nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước... .Bất kỳ vấn đề xã hội nào cũng mang tính chính trị vi việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp đều gắn với lợi ích giai cấp, với vấn đề quyền lực 29, tri. Quan điểm trên đây về chính trị đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận với chính trị vừa với tư cách là một hình thức hoạt động xã hội đặc biệt, vừa với tư cách là một loại quan hệ xã hội đặc thù. Trong tính tổng hợp của cả hai phương diện đó, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội và vấn đề nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nước; là tổng họp những phương thức, những mục tiêu được ll quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để thực hiện đường lối đã được lựa chọn nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra. 29, tri Khái niệm chỉnh tri quốc tế Hàng ngày, ta thường được tiếp xúc hay nghe trên đài, truyền hình nhiều thông tin về tình hình chính trị quốc tế về mọi lĩnh vực. Các thông tin đó có thể là những cuộc viếng thăm, hội đàm, hội nghị của các tổ chức quốc tế, các ủy ban song và đa phương, các tổ chức văn hóa, kinh tế, giáo dục về các lĩnh vực cũng như xung đột chiến tranh, các chính sách đối ngoại giữa các quốc gia. Đặc điểm của những sự kiện này là có it nhất hai nhà nước của quốc gia tham gia. Các điều kiện của hai quốc gia này hoạt động vi mục đích và quyền lợi chính trị đối ngoại của nước họ một số vấn đề hoặc nội dung nhất định được trao đổi hay thảo luận. Từ những sự kiện và đặc điểm của nó ta có thể cho rằng đó chính là chính trị quốc tế. Chính trị quốc tế (chính tri thế giới) là nền chỉnh trị được triển khai trên quy mô toàn thế giới. Nó là sản pham của sự cộng tác qua lại giữa các chủ thê chỉnh trị quốc tế trong hoạt động vi các mục tiêu quốc gia, khu vực và quốc tế. Cũng chỉnh trong quá trình hoạt động thực hiện cac mục tiêu, lợi ích cục bộ và toàn cục của các chủ thể nàv mà đời sống chỉnh trị xã hội quốc tế được thiết lập 28; tr.7. Quốc gia là chủ thể chủ yếu của chỉnh trị quốc te: Quốc gia là thực thể nằm trong biên giới địa lý do chính quyền trung ương quản lý. Chính quyền của quốc gia có khả năng làm luật, đặt ra các quy tắc, các quy định trong phạm vi biên giới của mình, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình. Quốc gia là một thực thể pháp lý được pháp luật quốc tế công nhận và quốc gia tự quyết định chính sách của mình. Có nhiều hình thức về tên gọi của quốc gia (liên bang, vương quốc, nước...). 12 Quốc gia là chủ thể chủ yếu trong quan hệ chính trị quốc tế, bởi vi nó tham gia có mục đích, có khả năng thực hiện và có ảnh hưởng đối với quan hệ chính tri quốc tế. Bởi vi mọi hoạt động quốc tế cơ bản vẫn bắt nguồn từ các nhu cầu quốc gia, từ việc xác định lợi ích quốc gia trong từng thời kỳ, từng vụ việc cụ thể, từ các biện pháp thực hiện lợi ích quốc gia thông qua chính sách đối ngoại. Trong Quốc gia, nhà nước là chủ thế trung tâm, chi phối. Các chủ thể khác như đảng phái, các tổ chức chính trị xã hội...phai dựa vào nhà nước đế hoạt động và chịu sự tác động của nhà nước, thông qua hệ thống thuế, luật pháp. Trong thể giới hiện đại, vai trò của các tổ chức này ngày càng tăng song không thể tách rời chính sách đối ngoại của nhà nước, và về cơ bản là công cụ để phục vụ lợi ích quốc gia. Vai trò chủ thể quan hệ chính trị quốc tế của quốc gia lớn hơn và quan trọng hơn hẳn so với các chủ thể phi quốc gia. Những nhân tố tác động đến chính tri quốc tế hiện nay: Đó là các nhân to: Thời đại và toàn cầu hóa; Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế trí thức; Địa chính trị và khủng bố quốc tế... Những nhân tố này tạo ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực đối với các quốc gia dân tộc trên thế giới. Những tác động đó, bên cạnh việc đưa lại những thời cơ thuận lợi vuc thông tin liên lạc làm thu hẹp khoảng cách không gian giữa các quốc gia; đời sống xã hội được quốc tế hóa; hòa bình thế giới được đảm bảo; con người là mục tiêu trực tiếp của sự phát triển...thi mặt khác cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức với mỗi quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát triển: Đó là sự phân hóa, phân cực sâu sắc trong trình độ phát triển giữa các quốc gia, dân tộc; các cuộc khủng hoảng lan nhanh và rộng; xâm lược, bá quyền về văn hóa, tri thức tin học... Sự vận động mang tính quỵ luật của chính tri quốc tế Lợi ích quốc gia quyết định các quan hệ chỉnh trị quốc tế: Lợi ích quốc gia là tổng thể các lợi ích kinh tể, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ...của một quốc gia đặt trong mối quan hệ với các 13 quốc gia và chủ thể quan hệ quốc tế khác. Nó phản ánh nhu cầu và mục tiêu tồn tại và phát triển quốc gia trong quan hệ quốc tể. Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia là một bộ phận của nền chính trị thế giới và có mối liên hệ ngày càng chặt chẽ với nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích giữa các quốc gia ngày càng cao và xuất hiện lợi ích chung cho toàn nhân loại. Sự gia tăng các vấn đề toàn cầu nhu: chiến tranh hạt nhân, ô nhiễm môi truong, bệnh tật hiểm nghèo, gia tăng dân số, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế...cùng những thách thức an ninh phi truyền thống làm cho sự tùy thuộc lần nhau về lớn hơn khỏi cấp, dân tộc và bi chi phối bởi lợi ích giai cấp. Lợi ích của giai cấp tiến bộ phù hợp với lợi ích nhân loại. Sức mạnh quốc gia chi phổi đời sống chính tri quốc tể: Sức mạnh quốc gia là sức mạnh tổng họp của quốc gia, vô hình và hữu hình, bao gồm những nhân tố tự nhiên và những nhân tố xã hội, tác động và ảnh huởng ra bên ngoài nhằm thực hiện các lợi ích quốc gia. Đó là tổng họp các khả năng quân sự, kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, tư tưởng và việc vận dụng các khả năng đó trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh quốc gia bao hàm cả khả năng hiện tại và khả năng tiềm tàng. Hiện nay, trong hơn 200 quốc gia, có một số cường quốc có sức mạnh chi phối lớn đối với chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại như: G7 và BRICHS (Hoa Kỳ, Canada, Braxin, Nga, Anh, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Phi). 12 nước này chiếm 13 lãnh thổ và quá nửa dân số thế giới, hơn 70% GDP của cả thế giới. Đa số nước lớn là những cường quốc hàng đầu về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân sự. Có nước lớn là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Họp Quốc. Nhóm G7 là những nước tư bản phát triển nhất. Chỉnh trị quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp. 14 Sự đa dạng về chủ thể chính trị quốc tế: Trong thời hiện đại, quốc gia không còn đuợc coi là chủ thể duy nhất trong chủ thể chính trị quốc tế, bên cạnh quốc gia còn có hàng loạt các chủ thể phi quốc gia khác như công ty xuyên quốc gia (TNC), tổ chức quốc tế phi chính phủ (INGO), các tổ chức tôn giáo...và thậm chí là cả cá nhân. Trong đó, quốc gia vẫn là chủ thể cơ bản trong quan hệ quốc tế. Sự xuất hiện các chủ thể phi quốc gia này là sản phẩm của thời hiện đại và đang làm thay đổi quan hệ quốc tế. Sự nổi lên của chúng với vai trò ngày càng tăng, vừa bổ sung cho quốc gia, vừa làm xói mòn chủ quyền quốc gia. Chủ thể chính trị quốc tế có 4 đặc tnmg chính: 1) Có mục đích khi tham gia quan hệ quốc tế. 2) Có tham gia vào quan hệ quốc tế. 3) Có khả năng thực hiện quan hệ quốc tế. 4) Hành vi và quyết định có ảnh hưởng nhất định tới quan hệ quốc tế. Cac quan hệ lợi ích dan xen dẫn đến cac chủ thể vừa hợp tác vừa đấu tranh: Toàn cầu hóa đang tác động đến tất cả chủ thể quan hệ quốc tế, trong đó, hợp tác trở thành một xu thế tất yếu vi những lợi ích chung của mỗi quốc gia và vi lợi ích chung của toàn nhân loại trong quan hệ quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh hợp tác thì đấu tranh cũng là một trong hai mặt cùng tồn tại trong quan hệ quốc tế. Đây là một tất yếu khách quan. Nó đòi hỏi phải được nhận thức đúng và có sự kết hợp hài hòa khi xem xét đến các quyền lợi của mỗi quốc gia và cả cộng đồng. Tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến đổ v5 trong quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa quốc gia với cộng đồng quốc tế. Trong quá trình xem xét phải xuất phát từ nguyên tắc họp tác để đấu tranh và đấu tranh để họp tác chặt chẽ hơn, bền vững hơn. Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam Ân Độ đangvận động trong quan hệ chính trị quốc tế hiện nay. 1.1.1.2. Quan niệm về đổi tác chiến lược Trong thực tiễn chính trị quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh, bên cạnh những hình thức quan hệ vốn có trước đây giữa các quốc gia dân tộc, đã 15 xuất hiện những hình thức mới rất đa dạng về cấp độ và phong phú về nội dung. Nhiều nuoc trên thế giới, nhất là các nước lớn, thiết lập hình thức họp tác chiến lược, đối thoại chiến lược hoặc quan hệ đối tác chiến lược nhằm thúc đẩy hợp tác với nhau trên cả phuong diện song phương cũng như da phương. Được hình thành trên cơ sở các văn kiện ngoại giao nhà nước, thường là thông qua việc ký tuyên bố chung của nguyên thủ quốc gia, do đó xét về hình thức, thì các khuôn khổ quan hệ được xác lập như đã nêu trên có ý nghĩa cơ sở mang tính pháp lý chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm hợp tác chiến lược, đổi thoai chiến lược, quan hệ đối tác chiến lược, nhìn chung không được xác định một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng và thường được tiếp cận không giống nhau đối với từng mối quan hệ nhất định. Trên thực tế, do tính không rõ ràng của các khái niệm này và xuất phát từ lợi ích của mồi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể, cho nên một số khuôn khổ chiến lược được thiết lập còn mang tính hình thức, mức độ ổn định không cao và có thể chuyển hóa sang các trạng thái quan hệ khác. Từ thực tế diễn biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các nước lớn nói riêng những năm đầu thế kỷ XXI, có thể hiểu các khái niệm họp tác chiến lược, đối thoại chiến lược, quan hệ đối tác chiến lược trên một số nét khái quát nhất. Trước hết, hợp tác chiến lược là khái niệm chỉ sự phối họp hoạt động giữa hai hay nhiều nước trên cơ sở chia sẻ quan điểm gần gũi về một số các vấn đề đối ngoại quan trọng nhằm giải quyết những thách thức chung trong các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế...có liên quan đến lợi ích chiến lược của mỗi nước. Quan hệ họp tác chiến lược có đặc trưng chung ở tính ổn định tương đối trong một giai đoạn xác định. Khái niệm đổi thoai chiến lược trong quan hệ giữa các nước, xét về quy mô và cấp độ, thấp hơn so với hợp tác chiến lược. Đối thoại chiến lược chỉ sự 16 trao đôi quan điêm của các nước với nhau vê những vân đê có ý nghĩa chiên lược trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, từ đây có thể đi tới sự phối họp hành động giải quyết những vấn đề cụ thể trong quan hệ song phuong hoặc đa phương. Tính ổn định của quan hệ đối thoại chiến lược không cao, dễ bi thay đổi do những va chạm, mâu thuẫn về lợi ích quốc gia. Khái niệm đối tác chiến lược chỉ mối quan hệ on định lâu dài giữa hai nước có sự tương đồng trong quan điểm, nhận thức về lợi ích chiến lược tương hỗ, cũng như trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng. Dạng thức quan hệ đối tác chiến lược là không chỉ kết hợp chặt chẽ trong hợp tác chiến lược mà còn nhấn mạnh tới sự thay đổi những điểm chung mang tính chiến lược giữa hai bên trong hợp tác về an ninh, quốc phòng, trao đổi công nghệ cao...Theo cách hiểu này, hiện nay quan hệ Nga Trung, và trên một mức độ nhất định quan hệ Nga Ân đang tiến tới mối quan hệ với ý nghĩa của khái niệm “đối tác chiến lược” 17; tr. 1314. v ề quan hệ hợp tác chiến lược Việt Nam Ản Độ: Hàng năm hai nước đều có các cuộc gặp cấp cao. Năm 2000, để tạo khuôn khổ cho họp tác giữa hai nước trong thế kỷ XXI, với Tuyên bố Vieng Chăn, Ẩn Độ và Việt Nam đã di vào khuôn khổ họp tác khu vực sông Hằng và sông Mêkông, kết họp hợp tác song phương giữa hai nước với họp tác khu vực nhằm mang lại nhiều lợi ích hơn cho cả hai quốc gia. Tháng 5 năm 2003, Tổng Bi thư Nông Đức Mạnh sang thăm Ấn Độ. Chuyến thăm này đã danh dấu một cột mốc mới trong lịch sử quan hệ hai nước, thể hiện bằng việc hai bên đã ký Tuyên bổ chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện giữa hai nước bước vào thế kỷ XXI. Sau đó, vào tháng 7 năm 2007, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Ấn Độ. Thủ tướng hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đổi tác chiến lược Việt Ấn. Trong Tuyên bố chung, hai nước “nhất tri tổ chức đổi thoại 17 chiến lược ở cap Thứ trưởng Ngoại giao” 82. Ket quả là, cuộc họp đối thoại chiến lược Việt Nam Ấn Độ lần thứ nhất đã được tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ vào ngày 15 tháng 10 năm 2009. Cuộc họp đối thoại chiến lược thứ hai và tham vấn chính tri lần thứ năm Việt Nam Ấn Độ đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 8 năm 2011. Trong chuyến thăm tới Ấn Độ của Chủ tich nước Trương Tấn Sang vào tháng 10 năm 2011, hai nước đã “nhất trí tăng cường mạnh mẽ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện dựa trên các trụ cột chính là họp nhân lực” 42. thành của hai nước, giúp hai nước đẩy mạnh quan hệ họp tác sang các lĩnh vực khác như kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh, quốc phòng, văn hóa...nang quan hệ họp tác giữa hai nước lên một tầm cao mới với sự họp tác ngày càng phát triển toàn diện, chiến lược, thiết thực và hiệu quả hơn. Quan hệ Việt Nam ngoại của mỗi nước. 1.1.2.1. Việt Nam trong chỉnh sách đối ngoại của Ấn Độ Từ cuối những năm 80, Ãn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế và kéo theo đó là các cuộc khủng hoảng chính trị xã hội. Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến những hậu quả nặng nề. Cuộc sống nhân dân sa sút do lạm phát; Xu hướng 1y khai bùng phát ở nhiều địa phương; Tình trạng tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt dẫn tới sự thay đổi nội các thường xuyên. Tháng 6 năm 1991, Chính phủ Án Độ đã bắt tay ngay vào cuộc cải cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực đối ngoại, mục tiêu của chính sách đối ngoại của Ân Độ khi bước vào thời kỳ cải cách là nhằm phục vụ cho chương trình cải cách kinh tế, phát huy vai trò của Án Độ trong khu 18 Vực và trên toàn thê giới. Đê đạt được mục tiêu đó, An Độ đã điêu chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ. Theo đó, các nhà lãnh đạo Ân Độ đã xác định vi trí, vai trò của từng đối tác: Khu vực được chú trọng đầu tiên trong chính sách đối ngoại của Ẩn Độ là các nước láng giềng, tức khu vực Nam Á; Uu tiên thứ hai là các cường quốc lớn; Ưu tiên thứ ba là các nước láng giềng mở rộng bao gồm Tây Á, Trung Á, Đông Nam Á và Ân Độ Dương; Và cuối cùng là các đối tác còn lại của Án Độ trên thế giới. Tuy nhiên, vi Ân Độ gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhân tố quan trọng hơn nên ở những giai đoạn nhất định, các yếu tố kém quan trọng hơn đã trở thành đối tượng được uu tiên trong chính sách đối ngoại của nước này. Vi dụ, “khi Ân Độ vẫn đang tìm kiếm các thị trường mới và quan hệ với Mỹ vẫn chưa được hâm nóng...” thì “hợp tác gần gũi hơn với ASEAN được xem là một uu tiên mới” 43. Đứng trước tình hình khó khăn trong quan hệ với các nước lớn, các nước ở phía Tây và sự sụt giảm vai trò của Phong trào không liên kết, lựa chọn tốt nhất của Ản Độ là hướng tới châu Á Thái Bình Dương (CA TBD), khu vực mà ngay từ năm 1945, J.Nehru đã chỉ rõ rằng Thái Bình Dương có khả năng thay thế Đại Tây Dương trong tương lai như một trung tâm đầu não của thế giới. Trong sự điều chỉnh chung đó, chính sách đối ngoại Hướng Đông chiếm vi trí quan trọng, có ý nghĩa chiến lược với Ẩn Độ. Là khu vực nằm ở phía Đông và có mối liên hệ chặt chẽ và lâu đời về văn hóa với Ản Độ, Đông Nam Á được xác định là một trong những trọng tâm trong chính sách đối ngoại của An Độ. Chính sách “Hướng Đông” được các đời Thủ tướng Ấn Độ N.Rao, LK Gujal, A.B. Vakpayee, M. Singh xây dựng, kế thừa và phát triển. Chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ có 3 hướng tiếp cận: Thứ nhat, khôi phục các mối quan hệ với các nước đối tác ASEAN. Thứ hai, tăng cường các quan hệ hợp 19 tác kinh tế. Thứ ba, thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực quân sự nhằm tăng cường sự hiểu biết và các lợi ích về chính tri, chiến lược 44; tr.2. Nội dung chủ yếu của chính sách này được thể hiện rõ trong bài phát biểu của Thủ tướng Ấn Độ N. Rao trong chuyến thăm Singapore năm 1994 bao gồm những nét sau: (1) Mở rộng ảnh hưởng của Ản Độ ra biển, trong không gian và các lãnh thổ bên ngoài; (2) Tăng cường sự hiểu biết và giao lưu văn hóa; (3) Tận dụng các nguồn lực khổng lồ cho nhu cầu phát triển của đất nước; (4) Hội nhập và giải quyết các xung đột liên quan đến cácvấn đề cơ bản rộng lớn hơn như hàng rào thương mại, ổn định tài chính, tiền tệ, sự hỗ trợ của quốc tế và dòng đầu tu nước ngoài...; (5) Đẩy mạnh sự hợp tác và trao đổi trong quan hệ kinh tể chính trị về các vấn đề như nhân quyền, chuẩn mực về lao động, quản lý các nguồn lực và bảo vệ môi trường, tận dụng lợi ích của tự do hóa thông tin 36; tr. 58. Việc thực thỉ chính sach “Hướng Đông” của An Độ được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn một: Được Thủ tướng Ấn Độ N. Rao đưa ra vào đầu thập kỷ 90 và bước đầu còn dè dặt, mang tính thăm dò, chưa rõ nét. Trong giai đoạn này, chính sách “Hướng Đông” chú trọng tăng cường quan hệ mọi mặt với các nước ASEAN trong đó chủ yếu là các mối quan hệ về thương mại và đầu tư; tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và chủ động mở chiến dịch ngoại giao với khu vực Đông Nam Á và CA TBD; lấy ngoại giao kinh tế là trụ cột. Ẩn Độ coi trọng Đông Nam Á và coi Đông Nam Á làm “bàn đạp” tiến vào thi trường khu vực. 20 Giai đoạn hai: Được triên khai dưới thời Thủ tướng A.B. Vajpayee, được ngoại trưởng Ấn Độ Yashawant Sinha cho rằng đó là sự đánh dấu bởi những thỏa thuận nhằm di den những Hiệp định thương mại tự do và việc thiết lập các mối liên hệ kinh tế mang tính chất định chế giữa những nước trong khu vực và Án Độ. Đánh giá về vai trò của ASEAN trong tiến trình hội nhập của An Độ vào khu vực CA TBD, Thư ký đặc biệt của Bộ Ngoại giao Ấn Độ phụ trách chính sách hướng Đông giai đoạn 2002 2006, Rajiv Sikri, khẳng định: “Cần phải ghi nhớ rằng Ấn Độ đã không thể nổi lên trên vũ đài quốc tế cho tới khi có quan hệ thực sự với ASEAN và các nước Đông Á khác, trong đó các hội nghi cấp cao Án Độ ASEAN mang lại cơ hội hữu ích nhất. Quan hệ Ấn Độ ASEAN ở hội nghị cấp cao và tất cả những bước phát triển sau đó đã giúp Ấn Độ trở thảnh một bên đối thoại đáng tin cậy đối với các cường quốc. Nhật Bản và Hàn Quốc đã bắt đầu nhìn nhận An Độ một cách nghiêm túc hơn sau khi quan hệ Ấn Độ ASEAN đạt đến cấp thượng đỉnh” 46; tr.7. Với nhìn nhận đó, An Độ coi ASEAN là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách hướng Đông. Trong chỉnh sach đổi ngoại của Ân Độ nói chung và chính sách “Hướng Đông” nói riêng, Việt Nam luôn giữ một vi tri quan trọng. Điều này đã đượ• c các nhà lãnh đ•ạo Ẩn Đ• ộ nhiều lần nhấn m• ạnh và coi đâJ y là chủ trương nhất quán trong đường loi đối ngoại của mình. Trong diễn văn đọc trước Quốc hội ngày 2311980, khi xác định chính sách đối ngoại của Chính phủ mới, Tổng thống An Độ Nêlamxangiva Rêđi nêu rõ: “Tình hữu nghị với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhân tố thường xuyên trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa An Độ” 3. Còn thủ tướng I. Gandi nói: “Trước kia, chúng ta đồng tình với nhân dân Việt Nam. Ngày nay, chúng ta cũng đồng tình với họ và mãi đứng bên cạnh họ trong lúc gian khổ cũng như 21 hoa bình55 tướng A.B. Vagiơpai Khai “Lịch sử cũng như địa lý đã gắn kết chúng ta thành đối tác chiến lược trong thế kỷ mới; phấn đấu vi hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác bền vững giữa các quốc gia châu Á” 3. Trong chuyến thăm Việt Nam đầu năm 2013, Phó Tổng thống Mohammad Hamid Ansari cho biết, ở Ân Độ có nhiều các đảng phái chính trị, song tất cả các đảng phái đều ủng hộ các hoạt động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam Án Độ; khẳng định Ấn Độ coi Việt Nam là trụ cột trong chính sách hướng Đông của mình; sẵn sàng phối hợp với Việt Nam để thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác mà một bên có nhu cầu, một bên có thế mạnh cũng như các lĩnh vực hợp tác mà tiềm năng, lợi thế còn lớn 72. Trong chuyển thăm Ấn Độ tháng 11 năm 2013 của Tổng Bi thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Manmohan Singh tiếp tục khẳng định, Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong chính sách hướng Đông của An Độ và rất quan trọng trong mối liên ket Ấn Độ ASEAN; ủng hộ sự phát triển kinh tế của Việt Nam một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực CA TBD 52.

Trang 1

a(Va UaHAX]`MaM@AFa MA?LaW;M@a<YQM@aLBa RX:MaAa =BaW8<a<AB`Ma

0@"2?%@@ @

%@#9@0@"2@0#@!)@a a

Trang 2

1 APEC Asia-Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Duong

Maritime Forum

Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng

Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

Cooperation in Southeast Asia

Hiệp ước Thân thiện và Họp tác Đông Nam Á

giới

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cap thiêt của đê tài

Việt Nam và Àn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Ngay từ những thập ky đầu của thế kỷ x x , Việt Nam và Ấn Độ đã gắn bó trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi chế độ thực dân, giành độc lập dân tộc Lãnh tụ vĩ đại của hai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tuớng Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghi truyền thống Việt Nam - Ấn Độ, đuợc các thế hệ lanh đạo và nhân dân hai nuoc dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái

Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thể giới và khu vực những năm cuối thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI có nhiều biến động Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mặt được đánh giá là “tương lai của thế giới trong thế kỷ XXI” nhưng đồng thời cũng đang trở thành một trong những điểm nóng bỏng nhất thế giới với nguy cơ xảy ra các cuộc xung đột luôn hiện hữu thì yêu cầu thúc đẩy họp tác quốc tế, da phương hóa, da dạng hóa trong chính sách ngoại giao của mỗi nước lại càng được đẩy mạnh Chính vi lẽ đó mà quan hệ Việt - Ân lại càng trở nên gắn bó và tin cậy Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định ưu tiên phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống với Ãn Độ về phần mình, Chính phủ Ân Độ luôn coi trọng Việt Nam là trụ cột trong Chính sách Hướng Đông Hai nước cùng chung nhiều điểm tương đồng và hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị Đông Á (EAS), Tổ chức họp tác khu vực sông Mêkông - sông Hằng (MGC), Hội nghị cấp cao Á - Âu (ASEM) Sự hội

tụ những lợi ích chính trị, kinh tế và chiến lược, cùng những khát vọng và mối

quan tâm chung đã thúc đẩy quan hệ đối tác giữa hai nước Và Năm 2007 đã

Trang 4

chứng kiến bước ngoặt mới trong lịch sử quan hệ này, khi hai bên ra Tuyên

bổ chung chỉnh thức thiết lập quan hệ Đổi tác chiến lược Có thể nói đây là

một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước đột phá mới trong quan hệ hai nước ở tầm vĩ mô, mở đường cho sự phát triển sâu rộng của quan hệ hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, vi sự phát triển bền vững và thịnh vượng, góp phần vào hòa bình, ổn định, họp tác, phát triển và phồn vinh của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới

Chính vi lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hợp tác chiến lược Việt

Nam - Ẩn Độ trong quan hệ chinh trị quốc tế hiện nay” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ chuyên ngành chính trị học

2 Tình hinh nghiên cứu đề tài

Từ trước tới nay, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, được đăng tải trên các tạp chí, ấn phẩm, sách trong và ngoài nước:

Ở nước ngoài, có những cuốn sách viết về chính sách đối ngoại của Ấn

Độ tiêu biểu như:

- NUayapalan, “Foreign Policy o f India ” (Chính sách đối ngoại của Ẩn

Độ), Nxb Atlantic Publishers & Dist, 2001 Tác giả đã giới thiệu về chính sách đối ngoại của Án Độ và vai trò của Án Độ trong các tổ chức quốc tế mà

Ẩn Độ là thành viên

- V.D Chopra, “India ’s Foreign Policy in the 21st century "(Chính sách

ngoại giao của Ấn Độ trong thế kỷ 21), Nxb Kalpaz Publications, 2006 Công trình tập hợp 23 bài viết của 23 chuyên gia về các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong thế kỷ XXI

- Atish Sinha và Madhup Mohta, “India Foreign Policy: Challenges

and Opportunties ” (Chính sách đối ngoại của Án Độ: Thách thức và Cơ hội),

Nxb Academic Foundation, 2007 Công trình đã giới thiệu các bài phân tích

Trang 5

của 50 chuyên gia vê chính sách đôi ngoại của một sô nước trên thê giới Từ

đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Ấn Độ

- D.Suba Chandran and Tabin J Jacob, '‘'Indian’s Foreign Policy: Old

problems, New challenges” (Chính sách ngoại giao của Ấn Độ: vấn đề cũ,

Thử thách mới), Nxb Macmillan, 2011 Tác giả phân tích chính sách đối ngoại của Ản Độ và chỉ ra những khó khăn, thử thách của chính sách đó trong giai đoạn hiện nay

- Sumit Ganguly, "India’s Foreign Policy: Retrospect and Prospect”

(Chính sách ngoại giao của Ản Độ: Hồi ức và tương lai), Nxb OUP India,

2012 Tác giả phân tích sự thay đổi chính sách đối ngoại của Ản Độ từ năm

1947 đến nay Trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ của Ẩn Độ đối với các nước láng giềng và những nước lớn trên thế giới - V v

Ở trong nước, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về quan hệ Việt

Nam - Ẩn Độ có những sach, kỷ yếu và luận án tiêu biêu như sau:

- Geetesh Sharma - Hà Duy (dich), Sách: Các quan hệ Việt Nam - Ấn

Độ từ thế kỷ I đến thế kỷ XXI, Nxb Lao động, 2006 Công trình giới thiệu các

quan hệ Việt Nam - Án Độ từ thế kỉ I đển thế kỷ XXI: Ảnh hưởng của Phật giáo, văn học dân gian của Ãn Độ tới Việt Nam; Công đóng góp của các nhà lãnh đạo của hai nước cho tình hữu nghị chung

- Lê Quang Lân, sách: Giới thiệu thi trường Ân Độ, Nxb Công thương,

2010 Tác giả đã giới thiệu tổng quan về đất nước, kinh tế xã hội, kinh tế thương mại của Ẩn Độ; quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Án Độ; hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN - Ấn Độ và các văn kiện liên quan; một số ngành hàng của Ấn Độ

- Ngô Xuân Bình (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Thuc đẩy quan

hệ Việt Nam - Ân Độ trong bổi cảnh mới, Nxb Từ Điển Bách Khoa, 2012.

Trang 6

Cong trình phân tích tương đôi đây đủ vê quan hệ Việt Nam - An Độ trên các lĩnh vực và một số vấn đề phát triển của Ấn Độ hiện nay.

- Đào Việt Trung, sách: Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Nxb Thế

giới, 2013 Giới thiệu toàn cảnh về lịch sử, đất nước, con người cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế, giáo dục, văn hoá, văn học và điện ảnh Ấn Độ Tập họp các bài viết về quan hệ giữa Việt Nam - Ấn Độ, mối liên

hệ sâu sắc về lịch sử và văn hoá, quan hệ hữu nghị truyền thống và họp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lên tầm cao đối tác chiến lược

về luận án có một số công trình tiêu biểu như:

- Nguyễn Công Khanh (1990), Quan hệ chính tri, kỉnh tế, khoa học, kỹ

thuật và văn hóa Việt Nam - Ấn Độ từ 1976 - 1988 (Luận án tiến sĩ Lịch sử,

Taskent - Tiếng Nga) Luận án trình bày về quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, quan hệ văn hóa Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1976 đến 1988

- Đinh Trung Kiên (1993), Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ (thời kỳ 1945 -

1975) (Luận án tiến sĩ lich sử, Hà Nội) Luận án trình bày về mối quan hệ

Việt Nam - Ấn Độ trong 30 năm (1945 - 1975)

- Hoàng Thị Điệp (2006), Quả trình phát triển quan hệ Việt Nam - Ản

Độ từ năm 1986 đến năm 2004 (Luận án tiến sĩ Lich sử) Luận án đã khái

quát quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước năm 1986 Quá trình phát triển quan hệ giữa 2 nước từ năm 1986 - 2004 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học

- kĩ thuật, văn hoá, giáo dục Những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam - Án Độ

Ngoài ra còn cỏ nhieu bài viết đăng trên tạp chỉ như: “Việt Nam - Ẩn

Độ trong cuộc đẩu tranh vi độc lập dân tộc và tien bộ xã hội” của Vũ Dương

Ninh (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 + 6, 1987); “Quan hệ chính trị Việt

Nam - Ấn Độ (1975 -1996)” của Nguyễn Cảnh Huệ đăng trên Tạp chí Khoa

học Xã hội TP Hồ Chí Minh, số 38 (1998); “Một vài nhận xét về quan hệ

Việt Nam - Ân Độ từ 1945 đến nay” của Nguyễn Cảnh Huệ (Tạp chí Nghiên

Trang 7

cứu Đông Nam Á, số 6, 2001); “Thực trạng và triển vọng quan hệ hữu nghị

và hợp tác truyền thống Việt Nam - Ăn Đ ộ” của Vũ Dương Huân (Tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế, số 43, 2002); “Vài nét về quan hệ Việt Nam - Ấn Đ ộ” của Nguyễn Cảnh Huệ (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 2004); “Vài nét về

quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ X X ” của Nguyễn Tất

Giáp và Nguyễn Thị Thủy (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3, 2004); “Việt

Nam trong chính sách hướng Đông của Ân Đ ộ” của tác giả Võ Xuân Vinh

(Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, 2005); v.v Những công trình này đã cung cấp cho độc giả những nét cơ bản về quan hệ Việt Nam - Ản Độ trên một số lĩnh vực cụ thể

Ngoài ra, còn có nhung bài viết về quan hệ Việt Nam - Ãn Độ được

đăng tải trên những trang Website như: Website của Bộ Ngoại giao Việt

Nam, http://www.moga.gov.vn; Website của Bộ Ke hoạch và Đầu tu Việt Nam, http://www.mpi.gov.vn; Website của Bộ Ngoại thương Việt Nam, http://wwwmoit.gov.vn; Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam, http://www.gso.gov.vn/; v.v

Như vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về quan hệ Việt Nam -

Ấn Độ nhưng có thể do nhu cầu nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khác, khia cạnh này hay khia cạnh khác của mối quan

hệ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện

về quan hệ họp tác chiến lược Việt Nam - Àn Độ hiện nay Ke thừa trên cơ sở tổng hợp có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố trước đây để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này

3 Mục đích và nhiệm vu nghiên cứu của đề tài• • • O

3.1 Mục dich của đề tài

Luận văn làm rõ thực trạng về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Ãn Độ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; kinh tế và các lĩnh vực khác từ năm 2007 đến năm 2013 và đưa ra các dự báo về triển vọng quan hệ

Trang 8

Việt Nam - Ẩn Độ đến năm 2020, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường mối quan hệ này trong thời gian tới.

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau:

- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành đối tác chiến lược Việt Nam - Ắn Độ

- Phân tích thực trạng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ản Độ trên các lĩnh vực: chính trị, đối ngoại, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, khoa học công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2007 đến nay

- Phân tích một số hướng ưu tiên, từ đó đưa ra dự báo về quan hệ Việt Nam - Àn Độ đến năm 2020 và đề xuất khuyến nghị nhằm góp phần tăng cường quan hệ đối tác chiến lược hai nước trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng của quan hệ đối

vuc

tê, quôc phòng, văn hóa, khoa học công nghệ, đào tạo phát triên nguôn nhânlực

Vê thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của đê tài luận văn là nghiên cứu

quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ẩn Độ từ năm 2007 đến năm 2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

MácLenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đường lối đối ngoại Cụ thể, luận văn được tiến hành dựa trên nguồn tư liệu gốc bao gồm: Các văn kiện, các văn bản cấp Nhà nước về đối

Trang 9

ngoai của Việt Nam và An Độ, các bản ký ket giữa hai nhà nước, các bài báo

và tin tức thời sự về tình hình quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp nghiên cứu quốc tế và chính trị quốc tế như: phương pháp phân tích - tổng hợp, lô gic - lịch sử và một số phương pháp xã hội như: thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

- Luận văn làm rõ thực chất sự vận động của quan hệ đối tác chiến lược• • • • • C / A • •

Việt Nam - Ấn Độ từ năm 2007 đến năm 2013

- Dự báo về triển vọng phát triển của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2020 và đề xuất một số khuyến nghị nhằm củng cố và tăng cường mối quan hệ này

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, củng cố

lập trường tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc

nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể góp phần cung cấp tư liệu cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

8 Ket cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Ket luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 10

Chương 1

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIEN HÌNH THÀNH QUAN HỆ

ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN Đ ộ 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về chỉnh trị quốc tế hiện nay và đối tác chiến lược

1.1.1.1 Quan niệm về chỉnh tri quốc tể hiện nay

* Khai niệm chính tri

Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm

đó là để giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Chính trị theo nguyên nghĩa của nó, là những công việc Nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước

Cái quan trọng nhất trong chính trị, theo Lenin, là “tổ chức chính quyền nhả nước” [29, tri], chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc Nhà nước, các định hướng của Nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Bất kỳ vấn đề xã hội nào cũng mang tính chính trị

vi việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp đều gắn với lợi ích giai cấp, với vấn đề quyền lực [29, tri]

Quan điểm trên đây về chính trị đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận với chính trị vừa với tư cách là một hình thức hoạt động xã hội đặc biệt, vừa với• • • • C —2 • • • s

tư cách là một loại quan hệ xã hội đặc thù Trong tính tổng hợp của cả hai phương diện đó, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội và vấn đề nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nước; là tổng họp những phương thức, những mục tiêu được

Trang 11

quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để thực hiện đường lối đã được lựa chọn nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra [29, tri]

* Khái niệm chỉnh tri quốc tế

Hàng ngày, ta thường được tiếp xúc hay nghe trên đài, truyền hình nhiều thông tin về tình hình chính trị quốc tế về mọi lĩnh vực Các thông tin

đó có thể là những cuộc viếng thăm, hội đàm, hội nghị của các tổ chức quốc

tế, các ủy ban song và đa phương, các tổ chức văn hóa, kinh tế, giáo dục về các lĩnh vực cũng như xung đột chiến tranh, các chính sách đối ngoại giữa các quốc gia Đặc điểm của những sự kiện này là có it nhất hai nhà nước của quốc gia tham gia Các điều kiện của hai quốc gia này hoạt động vi mục đích và quyền lợi chính trị đối ngoại của nước họ - một số vấn đề hoặc nội dung nhất định được trao đổi hay thảo luận Từ những sự kiện và đặc điểm của nó ta có thể cho rằng đó chính là chính trị quốc tế

Chính trị quốc tế (chính tri thế giới) là nền chỉnh trị được triển khai

trên quy mô toàn thế giới Nó là sản pham của sự cộng tác qua lại giữa các chủ thê chỉnh trị quốc tế trong hoạt động vi các mục tiêu quốc gia, khu vực và quốc tế Cũng chỉnh trong quá trình hoạt động thực hiện cac mục tiêu, lợi ích cục bộ và toàn cục của các chủ thể nàv mà đời sống chỉnh trị - xã hội quốc tế được thiết lập [28; tr.7].

* Quốc gia là chủ thể chủ yếu của chỉnh trị quốc te: Quốc gia là thực

thể nằm trong biên giới địa lý do chính quyền trung ương quản lý Chính quyền của quốc gia có khả năng làm luật, đặt ra các quy tắc, các quy định trong phạm vi biên giới của mình, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ quốc tế của mình Quốc gia là một thực thể pháp lý được pháp luật quốc tế công nhận và quốc gia tự quyết định chính sách của mình Có nhiều hình thức

về tên gọi của quốc gia (liên bang, vương quốc, nước )

Trang 12

Quốc gia là chủ thể chủ yếu trong quan hệ chính trị quốc tế, bởi vi nó tham gia có mục đích, có khả năng thực hiện và có ảnh hưởng đối với quan hệ chính tri quốc tế Bởi vi mọi hoạt động quốc tế cơ bản vẫn bắt nguồn từ các nhu cầu quốc gia, từ việc xác định lợi ích quốc gia trong từng thời kỳ, từng vụ việc cụ thể, từ các biện pháp thực hiện lợi ích quốc gia thông qua chính sách đối ngoại Trong Quốc gia, nhà nước là chủ thế trung tâm, chi phối Các chủ thể khác như đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội phai dựa vào nhà nước

đế hoạt động và chịu sự tác động của nhà nước, thông qua hệ thống thuế, luật pháp Trong thể giới hiện đại, vai trò của các tổ chức này ngày càng tăng song không thể tách rời chính sách đối ngoại của nhà nước, và về cơ bản là công cụ

để phục vụ lợi ích quốc gia Vai trò chủ thể quan hệ chính trị quốc tế của quốc gia lớn hơn và quan trọng hơn hẳn so với các chủ thể phi quốc gia

* Những nhân tố tác động đến chính tri quốc tế hiện nay: Đó là các

nhân to: Thời đại và toàn cầu hóa; Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế trí thức; Địa chính trị và khủng bố quốc tế Những nhân tố này tạo ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực đối với các quốc gia dân tộc trên thế giới Những tác động đó, bên cạnh việc đưa lại những thời cơ thuận lợi

vucthông tin liên lạc làm thu hẹp khoảng cách không gian giữa các quốc gia; đời sống xã hội được quốc tế hóa; hòa bình thế giới được đảm bảo; con người là mục tiêu trực tiếp của sự phát triển thi mặt khác cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức với mỗi quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát triển: Đó là sự phân hóa, phân cực sâu sắc trong trình độ phát triển giữa các quốc gia, dân tộc; các cuộc khủng hoảng lan nhanh và rộng; xâm lược, bá quyền về văn hóa, tri thức tin học

* Sự vận động mang tính quỵ luật của chính tri quốc tế

Lợi ích quốc gia quyết định các quan hệ chỉnh trị - quốc tế: Lợi ích

quốc gia là tổng thể các lợi ích kinh tể, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia đặt trong mối quan hệ với các

Trang 13

quốc gia và chủ thể quan hệ quốc tế khác Nó phản ánh nhu cầu và mục tiêu tồn tại và phát triển quốc gia trong quan hệ quốc tể.

Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia là một bộ phận của nền chính trị thế giới và có mối liên hệ ngày càng chặt chẽ với nhau Cùng với

sự phát triển của xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích giữa các quốc gia ngày càng cao và xuất hiện lợi ích chung cho toàn nhân loại Sự gia tăng các vấn đề toàn cầu nhu: chiến tranh hạt nhân, ô nhiễm môi truong, bệnh tật hiểm nghèo, gia tăng dân số, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế cùng những thách thức an ninh phi truyền thống làm cho sự tùy thuộc lần nhau về

lớn hơn

khỏicấp, dân tộc và bi chi phối bởi lợi ích giai cấp Lợi ích của giai cấp tiến bộ phù hợp với lợi ích nhân loại

Sức mạnh quốc gia chi phổi đời sống chính tri quốc tể: Sức mạnh quốc

gia là sức mạnh tổng họp của quốc gia, vô hình và hữu hình, bao gồm những nhân tố tự nhiên và những nhân tố xã hội, tác động và ảnh huởng ra bên ngoài nhằm thực hiện các lợi ích quốc gia Đó là tổng họp các khả năng quân sự, kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, tư tưởng và việc vận dụng các khả năng

đó trong quan hệ quốc tế Sức mạnh quốc gia bao hàm cả khả năng hiện tại và khả năng tiềm tàng

Hiện nay, trong hơn 200 quốc gia, có một số cường quốc có sức mạnh chi phối lớn đối với chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại như: G7 và BRICHS (Hoa Kỳ, Canada, Braxin, Nga, Anh, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Phi) 12 nước này chiếm 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thế giới, hơn 70% GDP của cả thế giới Đa số nước lớn là những cường quốc hàng đầu về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân

sự Có nước lớn là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Họp Quốc Nhóm G7 là những nước tư bản phát triển nhất

- Chỉnh trị quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp.

Trang 14

Sự đa dạng về chủ thể chính trị quốc tế: Trong thời hiện đại, quốc gia không còn đuợc coi là chủ thể duy nhất trong chủ thể chính trị quốc tế, bên cạnh quốc gia còn có hàng loạt các chủ thể phi quốc gia khác như công ty xuyên quốc gia (TNC), tổ chức quốc tế phi chính phủ (INGO), các tổ chức tôn giáo và thậm chí là cả cá nhân Trong đó, quốc gia vẫn là chủ thể cơ bản trong quan hệ quốc tế Sự xuất hiện các chủ thể phi quốc gia này là sản phẩm của thời hiện đại và đang làm thay đổi quan hệ quốc tế Sự nổi lên của chúng với vai trò ngày càng tăng, vừa bổ sung cho quốc gia, vừa làm xói mòn chủ quyền quốc gia Chủ thể chính trị quốc tế có 4 đặc tnmg chính: 1) Có mục đích khi tham gia quan hệ quốc tế 2) Có tham gia vào quan hệ quốc tế 3) Có khả năng thực hiện quan hệ quốc tế 4) Hành vi và quyết định có ảnh hưởng nhất định tới quan hệ quốc tế.

- Cac quan hệ lợi ích dan xen dẫn đến cac chủ thể vừa hợp tác vừa đấu

tranh: Toàn cầu hóa đang tác động đến tất cả chủ thể quan hệ quốc tế, trong

đó, hợp tác trở thành một xu thế tất yếu vi những lợi ích chung của mỗi quốc gia và vi lợi ích chung của toàn nhân loại trong quan hệ quốc tế hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh hợp tác thì đấu tranh cũng là một trong hai mặt cùng tồn tại trong quan hệ quốc tế Đây là một tất yếu khách quan Nó đòi hỏi phải được nhận thức đúng và có sự kết hợp hài hòa khi xem xét đến các quyền lợi của mỗi quốc gia và cả cộng đồng Tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến đổ v5 trong quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa quốc gia với cộng đồng quốc tế Trong quá trình xem xét phải xuất phát từ nguyên tắc họp tác để đấu tranh và đấu tranh để họp tác chặt chẽ hơn, bền vững hơn

Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ân Độ đang vận động trong quan hệ chính trị quốc tế hiện nay

1.1.1.2 Quan niệm về đổi tác chiến lược

Trong thực tiễn chính trị quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh, bên cạnh những hình thức quan hệ vốn có trước đây giữa các quốc gia - dân tộc, đã

Trang 15

xuất hiện những hình thức mới rất đa dạng về cấp độ và phong phú về nội dung Nhiều nuoc trên thế giới, nhất là các nước lớn, thiết lập hình thức họp tác chiến lược, đối thoại chiến lược hoặc quan hệ đối tác chiến lược nhằm thúc đẩy hợp tác với nhau trên cả phuong diện song phương cũng như da phương.

Được hình thành trên cơ sở các văn kiện ngoại giao nhà nước, thường

là thông qua việc ký tuyên bố chung của nguyên thủ quốc gia, do đó xét về hình thức, thì các khuôn khổ quan hệ được xác lập như đã nêu trên có ý nghĩa

cơ sở mang tính pháp lý chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia Tuy nhiên, nội

hàm của các khái niệm hợp tác chiến lược, đổi thoai chiến lược, quan hệ đối

tác chiến lược, nhìn chung không được xác định một cách chi tiết, cụ thể, rõ

ràng và thường được tiếp cận không giống nhau đối với từng mối quan hệ nhất định Trên thực tế, do tính không rõ ràng của các khái niệm này và xuất phát từ lợi ích của mồi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể, cho nên một số khuôn khổ chiến lược được thiết lập còn mang tính hình thức, mức độ ổn định không cao và có thể chuyển hóa sang các trạng thái quan hệ khác

Từ thực tế diễn biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các nước lớn nói riêng những năm đầu thế kỷ XXI, có thể hiểu các khái niệm

họp tác chiến lược, đối thoại chiến lược, quan hệ đối tác chiến lược trên một

số nét khái quát nhất

Trước hết, hợp tác chiến lược là khái niệm chỉ sự phối họp hoạt động

giữa hai hay nhiều nước trên cơ sở chia sẻ quan điểm gần gũi về một số các vấn đề đối ngoại quan trọng nhằm giải quyết những thách thức chung trong các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế có liên quan đến lợi ích chiến lược của mỗi nước Quan hệ họp tác chiến lược có đặc trưng chung ở tính ổn định tương đối trong một giai đoạn xác định

Khái niệm đổi thoai chiến lược trong quan hệ giữa các nước, xét về quy

mô và cấp độ, thấp hơn so với hợp tác chiến lược Đối thoại chiến lược chỉ sự

Trang 16

trao đôi quan điêm của các nước với nhau vê những vân đê có ý nghĩa chiên lược trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau,

từ đây có thể đi tới sự phối họp hành động giải quyết những vấn đề cụ thể trong quan hệ song phuong hoặc đa phương Tính ổn định của quan hệ đối thoại chiến lược không cao, dễ bi thay đổi do những va chạm, mâu thuẫn về lợi ích quốc gia

Khái niệm đối tác chiến lược chỉ mối quan hệ on định lâu dài giữa hai

nước có sự tương đồng trong quan điểm, nhận thức về lợi ích chiến lược tương hỗ, cũng như trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng Dạng thức quan hệ đối tác chiến lược là không chỉ kết hợp chặt chẽ trong hợp tác chiến lược mà còn nhấn mạnh tới sự thay đổi những điểm chung mang tính chiến lược giữa hai bên trong hợp tác về an ninh, quốc phòng, trao đổi công nghệ cao Theo cách hiểu này, hiện nay quan hệ Nga - Trung, và trên một mức độ nhất định quan hệ Nga - Ân đang tiến tới mối quan hệ với ýnghĩa của khái niệm “đối tác chiến lược” [17; tr 13-14]

v ề quan hệ hợp tác chiến lược Việt Nam - Ản Độ: Hàng năm hai nước đều có các cuộc gặp cấp cao Năm 2000, để tạo khuôn khổ cho họp tác giữa

hai nước trong thế kỷ XXI, với Tuyên bố Vieng Chăn, Ẩn Độ và Việt Nam đã

di vào khuôn khổ họp tác khu vực sông Hằng và sông Mêkông, kết họp hợp tác song phương giữa hai nước với họp tác khu vực nhằm mang lại nhiều lợi ích hơn cho cả hai quốc gia Tháng 5 năm 2003, Tổng Bi thư Nông Đức Mạnh sang thăm Ấn Độ Chuyến thăm này đã danh dấu một cột mốc mới trong lịch

sử quan hệ hai nước, thể hiện bằng việc hai bên đã ký Tuyên bổ chung về

Khuôn khổ Hợp tác toàn diện giữa hai nước bước vào thế kỷ XXI Sau đó, vào

tháng 7 năm 2007, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức

Ấn Độ Thủ tướng hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đổi tác chiến

lược Việt - Ấn Trong Tuyên bố chung, hai nước “nhất tri tổ chức đổi thoại

Trang 17

chiến lược ở cap Thứ trưởng Ngoại giao” [82] Ket quả là, cuộc họp đối thoại

chiến lược Việt Nam - Ấn Độ lần thứ nhất đã được tổ chức tại New Delhi, Ấn

Độ vào ngày 15 tháng 10 năm 2009 Cuộc họp đối thoại chiến lược thứ hai và tham vấn chính tri lần thứ năm Việt Nam - Ấn Độ đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 8 năm 2011 Trong chuyến thăm tới Ấn Độ của Chủ tich nước Trương Tấn Sang vào tháng 10 năm 2011, hai nước đã “nhất trí tăng cường mạnh mẽ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện dựa trên các trụ cột chính là

họpnhân lực” [42]

thànhcủa hai nước, giúp hai nước đẩy mạnh quan hệ họp tác sang các lĩnh vực khác như kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh, quốc phòng, văn hóa nang quan hệ họp tác giữa hai nước lên một tầm cao mới với sự họp tác ngày càng phát triển toàn diện, chiến lược, thiết thực và hiệu quả hơn

Quan hệ Việt Nam ngoại của mỗi nước.

1.1.2.1 Việt Nam trong chỉnh sách đối ngoại của Ấn Độ

Từ cuối những năm 80, Ãn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế và kéo theo đó là các cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến những hậu quả nặng nề Cuộc sống nhân dân sa sút do lạm phát; Xu hướng 1y khai bùng phát ở nhiều địa phương; Tình trạng tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt dẫn tới sự thay đổi nội các thường xuyên

Tháng 6 năm 1991, Chính phủ Án Độ đã bắt tay ngay vào cuộc cải cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực Trong lĩnh vực đối ngoại, mục tiêu của chính sách đối ngoại của Ân Độ khi bước vào thời kỳ cải cách là nhằm phục

vụ cho chương trình cải cách k i nh tế, phát huy vai trò của Án Độ trong khu

Trang 18

Vực và trên toàn thê giới Đê đạt được mục tiêu đó, An Độ đã điêu chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ Theo đó, các nhà lãnh đạo Ân Độ đã xác định vi trí, vai trò của từng đối tác: Khu vực được chú trọng đầu tiên trong chính sách đối ngoại của

Ẩn Độ là các nước láng giềng, tức khu vực Nam Á; Uu tiên thứ hai là các cường quốc lớn; Ưu tiên thứ ba là các nước láng giềng mở rộng bao gồm Tây

Á, Trung Á, Đông Nam Á và Ân Độ Dương; Và cuối cùng là các đối tác còn lại của Án Độ trên thế giới Tuy nhiên, vi Ân Độ gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhân tố quan trọng hơn nên ở những giai đoạn nhất định, các yếu

tố kém quan trọng hơn đã trở thành đối tượng được uu tiên trong chính sách đối ngoại của nước này Vi dụ, “khi Ân Độ vẫn đang tìm kiếm các thị trường mới và quan hệ với Mỹ vẫn chưa được hâm nóng ” thì “hợp tác gần gũi hơn với ASEAN được xem là một uu tiên mới” [43] Đứng trước tình hình khó khăn trong quan hệ với các nước lớn, các nước ở phía Tây và sự sụt giảm vai trò của Phong trào không liên kết, lựa chọn tốt nhất của Ản Độ là hướng tới châu Á - Thái Bình Dương (CA - TBD), khu vực mà ngay từ năm 1945, J.Nehru đã chỉ rõ rằng Thái Bình Dương có khả năng thay thế Đại Tây Dương trong tương lai như một trung tâm đầu não của thế giới Trong sự điều chỉnh chung đó, chính sách đối ngoại Hướng Đông chiếm vi trí quan trọng, có ý nghĩa chiến lược với Ẩn Độ

Là khu vực nằm ở phía Đông và có mối liên hệ chặt chẽ và lâu đời về văn hóa với Ản Độ, Đông Nam Á được xác định là một trong những trọng tâm trong chính sách đối ngoại của An Độ

Chính sách “Hướng Đông” được các đời Thủ tướng Ấn Độ N.Rao, LK Gujal, A.B Vakpayee, M Singh xây dựng, kế thừa và phát triển Chính sách

“Hướng Đông” của Ấn Độ có 3 hướng tiếp cận: Thứ nhat, khôi phục các mối quan hệ với các nước đối tác ASEAN Thứ hai, tăng cường các quan hệ hợp

Trang 19

tác kinh tế Thứ ba, thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực quân sự nhằm tăng cường

sự hiểu biết và các lợi ích về chính tri, chiến lược [44; tr.2]

Nội dung chủ yếu của chính sách này được thể hiện rõ trong bài phát biểu của Thủ tướng Ấn Độ N Rao trong chuyến thăm Singapore năm 1994 bao gồm những nét sau:

(1) Mở rộng ảnh hưởng của Ản Độ ra biển, trong không gian và các lãnh thổ bên ngoài;

(2) Tăng cường sự hiểu biết và giao lưu văn hóa;

(3) Tận dụng các nguồn lực khổng lồ cho nhu cầu phát triển của đất nước;

(4) Hội nhập và giải quyết các xung đột liên quan đến các vấn đề cơ bản rộng lớn hơn như hàng rào thương mại, ổn định tài chính, tiền tệ, sự hỗ trợ của quốc tế và dòng đầu tu nước ngoài ;

(5) Đẩy mạnh sự hợp tác và trao đổi trong quan hệ kinh tể - chính trị về các vấn đề như nhân quyền, chuẩn mực về lao động, quản lý các nguồn lực và bảo vệ môi trường, tận dụng lợi ích của tự do hóa thông tin [36; tr 58]

Việc thực thỉ chính sach “Hướng Đông” của An Độ được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn một: Được Thủ tướng Ấn Độ N Rao đưa ra vào đầu thập kỷ

90 và bước đầu còn dè dặt, mang tính thăm dò, chưa rõ nét Trong giai đoạn này, chính sách “Hướng Đông” chú trọng tăng cường quan hệ mọi mặt với các nước ASEAN trong đó chủ yếu là các mối quan hệ về thương mại và đầu tư; tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và chủ động mở chiến dịch ngoại giao với khu vực Đông Nam Á và CA - TBD; lấy ngoại giao kinh tế là trụ cột Ẩn

Độ coi trọng Đông Nam Á và coi Đông Nam Á làm “bàn đạp” tiến vào thi trường khu vực

Trang 20

Giai đoạn hai: Được triên khai dưới thời Thủ tướng A.B Vajpayee,

được ngoại trưởng Ấn Độ Yashawant Sinha cho rằng đó là sự đánh dấu bởi những thỏa thuận nhằm di den những Hiệp định thương mại tự do và việc thiết lập các mối liên hệ kinh tế mang tính chất định chế giữa những nước trong khu vực và Án Độ

Đánh giá về vai trò của ASEAN trong tiến trình hội nhập của An Độ vào khu vực CA - TBD, Thư ký đặc biệt của Bộ Ngoại giao Ấn Độ phụ trách chính sách hướng Đông giai đoạn 2002 - 2006, Rajiv Sikri, khẳng định: “Cần phải ghi nhớ rằng Ấn Độ đã không thể nổi lên trên vũ đài quốc tế cho tới khi

có quan hệ thực sự với ASEAN và các nước Đông Á khác, trong đó các hội nghi cấp cao Án Độ - ASEAN mang lại cơ hội hữu ích nhất Quan hệ Ấn Độ - ASEAN ở hội nghị cấp cao và tất cả những bước phát triển sau đó đã giúp

Ấn Độ trở thảnh một bên đối thoại đáng tin cậy đối với các cường quốc Nhật Bản và Hàn Quốc đã bắt đầu nhìn nhận An Độ một cách nghiêm túc hơn sau khi quan hệ Ấn Độ - ASEAN đạt đến cấp thượng đỉnh” [46; tr.7]

Với nhìn nhận đó, An Độ coi ASEAN là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách hướng Đông

Trong chỉnh sach đổi ngoại của Ân Độ nói chung và chính sách

“Hướng Đông” nói riêng, Việt Nam luôn giữ một vi tri quan trọng Điều này

đã được các nhà lãnh đạo Ẩn Độ nhiều lần nhấn mạnh và coi đây là chủ• • • • J

trương nhất quán trong đường loi đối ngoại của mình Trong diễn văn đọc trước Quốc hội ngày 23/1/1980, khi xác định chính sách đối ngoại của Chính phủ mới, Tổng thống An Độ Nêlamxangiva Rêđi nêu rõ: “Tình hữu nghị với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhân tố thường xuyên trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa An Độ” [3] Còn thủ tướng I Gandi nói:

“Trước kia, chúng ta đồng tình với nhân dân Việt Nam Ngày nay, chúng ta cũng đồng tình với họ và mãi đứng bên cạnh họ trong lúc gian khổ cũng như

Trang 21

hệ hợp tác Việt Nam - Án Độ; khẳng định Ấn Độ coi Việt Nam là trụ cột trong chính sách hướng Đông của mình; sẵn sàng phối hợp với Việt Nam để thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác mà một bên có nhu cầu, một bên có thế mạnh cũng như các lĩnh vực hợp tác mà tiềm năng, lợi thế còn lớn [72] Trong chuyển thăm Ấn Độ tháng 11 năm 2013 của Tổng Bi thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Manmohan Singh tiếp tục khẳng định, Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong chính sách hướng Đông của An Độ và rất quan trọng trong mối liên ket Ấn Độ - ASEAN; ủng hộ sự phát triển kinh tế của Việt Nam - một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực CA - TBD [52].

1.1.2.2 Ấn Độ trong chính sach đối ngoại của Việt Nam

Vi trí quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của An Độ tất yểu không phải là quan hệ lợi ích một chiều Để có thể chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Ẩn Độ năm 1972 không chỉ do chủ quan từ phía Ân

Độ mà Việt Nam cũng tỏ rõ thiện chí đó Điều này xuất phát từ đường lối đối ngoại ở thời kỳ này của Việt Nam nhằm tranh thủ tối da sự giúp đỡ của quốc

tế đối với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986), trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “Xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những

Trang 22

điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nuớc ta” [9, t.47, tr.364] Từ đó, Đảng chủ trương phải biết kết họp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ họp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tồ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.

Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo co sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam - mở cửa

để thu hút nguồn vốn, thiết bi và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

Tháng 5 năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và

chính sách đổi ngoại trong tình hình mới, đề ra chủ trương kiên quyết mở

rộng quan hệ họp tác quốc te, ra sức da dạng hóa quan hệ đối ngoại Nghị quyết 13 của Bộ Chính tri thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng về nhiều vấn

đề then chốt thuộc lĩnh vực đối ngoại như: quan hệ chính trị quốc tế; mục tiêu đối ngoại; an ninh và phát triển; đoàn ket quốc tế và tập họp lực lượng trong quan hệ quốc tế của Việt Nam

Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị đánh dấu sự đổi mới tư duy quan hệ

quốc tể và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đổi ngoai của Đảng ta Sự chuyển hướng này đã đặt nền móng hình thành đường lối đổi ngoại độc lập tự

chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc te.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) đề

ra chủ trương “họp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên co sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [9, t.51, tr 114]

Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể Trong đó, trong quan hệ với các nước trong khu vực, Đảng chủ trương phát

Trang 23

triển quan hệ hữu nghị với các nước CA - TBD trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cương lĩnh xâv dựng đất nước trong then kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng thông qua, xác định quan hệ hữu nghị và hợp

tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng

Các hội nghị Trung ương (khóa VII) tiếp tục cụ the hóa quan điểm của Đại hội VII về lĩnh vực đối ngoại Trong đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 6 năm 1992) đã đưa ra bốn phương châm

xử lý các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam là:

(1) Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

(2) Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh da dạng hóa, daphương hóa quan hệ đối ngoại

(3) Nắm vững hai mặt họp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế

(4) Tích cực tham gia họp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 năm

1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập

tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, và da phương hóa quan hệ đối ngoại.

Như vậy, quan điểm, chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, sau đó được các Nghị quyết Đại hội và Hội nghị Trung ương từ khóa VI đến khóa VII phát triển đã hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, da dạng hóa, da phương hóa quan hệ quốc tế

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (tháng 6 năm 1996) đã xác định cụ thể

ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, da phương hóa, da dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng

Trang 24

đồng thể giới, phấn đấu vi hòa bình, độc lập và phát triển, họp tác nhiều mặt,

đa phuong và song phuong với các nuớc, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thuong luong” [6; tr.41 - 42]

Đại hội VIII xác dinh rõ hon quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác nhu: ra sức tăng Cuong quan hệ với các nuớc láng giềng và các nuớc trong tổ chức ASEAN; không ngừng củng cố quan hệ với các nuớc bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với các nuớc bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với các nuớc phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết với các nuớc đang phát triển, với Phong trào không liên kết; tham gia tích cực

và đóng góp cho hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tể

So với Đại hội VII, chủ truong đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm

mới: Một là, chủ truong mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác [6; tr 121]; Hai là, quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ; Ba là, lần đầu tiên, trên lĩnh

vực kinh tế đối ngoại, Đảng đua ra chủ truong thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tu ra nuớc ngoài

Cảm nhận đầy đủ “lực” và “thế” của đất nuớc sau 15 năm đổi mới, Đại hội IX đã đua ra phuơng châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nuớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vi hòa bình, độc lập và phát

Đại hội IX đánh dấu buớc phát triển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới

Tháng 11 năm 2001, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07 về Hội nhập kinh

tế quốc tế Nghị quyết đề ra 9 nhiệm vụ cụ thể và 6 biện pháp tổ chức thực

hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung uong khóa IX (5/1/2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bi tốt các điều kiện

Trang 25

trong nước để sớm gia nhập Tổ chức Thuong mại Thế giới (WTO); kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của các lợi ích cục bộ làm kìm hãm tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ x (tháng 4 năm 2006), Đảng nêu quan điểm: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, họp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phuong hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1 năm 2011) đề

ra chủ truong “triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” [10; tr.319-322] So với chủ trương đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ X: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, thì Đại hội XI đã thể hiện bước phát triển mới về tu duy đối ngoại - chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” lên “hội nhập quốc tể”

- hội nhập toàn diện, đồng bộ từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng

Như vậy, thực hiện đường loi đối ngoại rộng mở, da phương hóa, da dạng hóa, một mặt, chúng ta mở rộng quan hệ voi các đối tác mới, đồng thời chúng ta cũng chủ trương tăng cường quan hệ với các nước bạn truyền thống

mà trong đó, mối quan hệ họp tác toàn diện với Ấn Độ chiếm một vi trí quan trọng Báo cáo Chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: Chúng ta không ngừng tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với nước Cộng hòa Ân Độ, nước có vi trí đặc biệt quan trọng ở châu Á và trên thế giới, người bạn lớn đã luôn dành cho nhân dân ta những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình” [5; tr 147] Gần đây nhất, trong chuyến thăm Án Độ tháng l l năm 2013, Tổng Bi thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Việt Nam luôn coi trọng việc duy trì và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thong, hợp tác chiến lược với Ấn Độ” và

“Trong thòi kỳ mới, Việt Nam và Ãn Độ tiếp tục là những người bạn tin cậy,

Trang 26

gan bó bởi tình cảm hữu nghị và sự chia sẻ các giá tri và lợi ích tương đông; việc củng cố, tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Ân Độ là đòi hỏi khách quan của tình hình và phù họp với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân hai nước” [52].

1.2 Cơ sở thưc tiễn

1.2.1 Nhu cầu hợp tác chiến lược Việt Nam - Ân Độ • MT • • •

Một trong những cơ sở quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược Việt

Nam - Àn Độ là mối quan hệ truyền thong hữu nghị lâu đời: Việt Nam và Ân

Độ đã có quan hệ trên dưới 2000 năm và ảnh hưởng của văn hóa Án Độ đã để lại những dấu ấn đậm nét, tạo thành một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Việt Nam Bước sang thời kỳ hiện đại, với sự dày công vun đắp của các

vi tiền bối như Hồ Chí Minh, M.Gandi, I.Nehru , quan hệ hai nước phát triển sang một thời kỳ mới, ngày càng tốt đẹp Hai nước đã tích cực ủng hộ, giúp đỡ nhau trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước

Từ năm 1975 trở di, khi Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất di lên xây dựng chế độ mới, quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng, toàn diện trên mọi lĩnh vực Đây chính là cơ sở quan trọng thúc đẩy hai nước tiến tới thiết lập đối tác chiến lược trong thế kỷ XXI

Thứ hai, Việt Nam và Ấn Độ cỏ nhiều điểm tương đồng gần gũi Có thể

nói, Việt Nam và Ân Độ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa (hai nước cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ như tôn giáo, kiến trúc ), tương đồng

về lịch sử (cùng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ để giành độc lập, đều đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới hiện nay ), có trình độ phát triển tương tự nhau; có quan điểm chung về nhung vấn đề quan trọng của khu vực và quốc tế

Thứ ba, vi tri quan trọng và nhận thức của moi nước trong chỉnh sách

đổi ngoại: Những năm đầu thế kỷ XXI, Ẩn Độ là cường quốc mới nổi Vai trò

Trang 27

quốc tế của Ẩn Độ ngày càng nổi bật, không thể thiếu trong sinh hoạt quốc tế Cũng trong thời gian này, Việt Nam đã khẳng định được tầm quan trọng của mình trong sự nghiệp đổi mới Với sự kiện gia nhập WTO, các hoạt động tổ chức diễn đàn mà Việt Nam đảm nhiệm như APEC, ASEAN, các nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc, Mỹ lần lượt có những chuyến thăm Việt Nam, tăng trưởng kinh tế khá bền vững đã làm cho vi thế của Việt Nam tăng cao trên trường quốc tế Những yếu tố đó cho thấy Việt Nam có vai trò quan trọng

ở Đông Nam Á trong tương lai Điều đó khiến hai nước phải thúc đẩy họp tác chiến lược toàn diện

Thứ tư, yếu tổ Trung Quốc khiến cả Việt Nam và An Độ quan ngại Cả

Việt Nam và Ấn Độ đều có đường biên giới chung với Trung Quốc và đều xảy ra những xung đột trong lịch sử (Ẩn Độ - Trung Quốc (1962), Trung Quốc - Việt Nam (1979), thậm chí ngày nay vẫn còn tồn tại Mặc dù ở trên đất liền, Việt Nam và Trung Quốc đã thực hiện xong việc cắm mốc biên giới nhưng vấn đề mới nổi cộm hơn là vấn đề biển Đông Do vậy, An Độ và Việt Nam cần phải có họp tác chiến lược để kiềm chế Trung Quốc trong tương lai, hai nhà nước đều xác định lợi ích của nhau

Thứ năm, Ấn Độ thi hành và đẩy mạnh chỉnh sach “Hướng Đông” và

Việt Nam là trụ cột trong chính sách đó: Chính sách “Hướng Đông” được An

Độ thực hiện từ năm 1991 Trong đó, Đông Nam Á trở thành khu vực được

Ấn Độ quan tâm đặc biệt mà Việt Nam được coi là tâm điểm của khu vực được quan tâm đặc biệt đó Ấn Độ coi Việt Nam là cánh cửa đề mở rộng quan

hệ với các nước ASEAN và sau đó vươn ra khu vực Điều này được các nhà lãnh đạo Ấn Độ nhiều lần khẳng định Năm 1994, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, khi hội đàm với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng N Rao khẳng định: “An Độ ủng hộ công cuộc đổi mới của Việt Nam, coi Việt Nam là đối tác đặc biệt Vi vậy, An Độ mong muốn tăng cường họp tác với Việt Nam trên tất cả mọi lĩnh vực mà hai bên có tiềm năng” Gần đây, năm

Trang 28

2007, khi trả lời phỏng vấn phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Niu Delhi trước thềm chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng

Ân Độ Manmohan Singh nói: “Chúng tôi coi sự hợp tác với Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập với toàn khu vực Àn Độ và Việt Nam có chung các mục tiêu và thường có quan điểm tương đồng trong nhiều vấn đề quốc tế Chúng tôi hy vọng Việt Nam ủng hộ Ấn Độ tăng cường quan

hệ hợp tác và liên kết với khu vực ASEAN” [52]

Tóm lại, những lợi ích co bản và chủ yếu trên đối với mỗi nước là động lực rất quan trọng thúc đầy quan hệ Việt Nam - Án Độ trong những năm đầuthể kỷ XXI

1.2.2 Tinh hình thế giói và khu vực Châu A - Thái Bình Dương

1.2.2.1 Tình hình thế giới

Đặc điểm nổi bật và dễ nhận thấy nhất trong bối cảnh quốc tế những

năm đầu thế kỷ XXI đó ỉà tính phức tạp của quá trình hình thành trật tự thế

giới mới do những biến đổi sâu sắc về tương quan lực lượng thế giới, đặc biệt

sau sự kiện 11/9/2001 Đặc điểm này ngày càng bộc lộ rõ nét, đã và sẽ còn tiếp tục tác động mạnh trên nhiều mặt đến đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia dân tộc trên thế giới

Đầu thập niên 90 của thế kỷ x x , Liên Xô tan rã, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ làm cho cục diện thế giới và quan hệ quốc tế thay đổi một cách co bản Chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bi khủng hoảng sâu sắc, toàn diện Cơ cấu địa

- chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bi đảo lộn, cán cân so sánh lực lượng thế giới nghiêng về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản

Sau gần nửa thế kỷ tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới II, trật tự thế giới hai cực chấm dứt Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối

Trang 29

nghich nhau: Mỹ tham vọng thiêt lập trật tự thê giới đơn cực, trong khi Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nuớc lớn khác đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực Tuy nhiên, do những chuyển dịch trong tuơng quan so sánh lực lượng trên thế giới, trước hết là giữa các nước lớn, nên bước vào thập nhiên thứ hai của thế kỷ XXI, cục diện thế giới da cực ngày càng bộc lộ rõ nét hơn cùng với sự phát triển của xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế Tính chất và nội dung giao lưu quốc tế thay đổi nhanh chóng với vi trí ưu tiên hàng đầu thuộc về yếu tố kinh tế Phương thức tập họp lực lượng trong quan hệ quốc tế trở nên rất co động, linh hoạt, vừa có bước hợp tác vừa có đấu tranh.

Cach mạng khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt, thuc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, tác động sâu

sắc tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ quốc tế Tuy nhiên, những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắp hành tinh Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do những hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng có thể tiếp cận những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy co trở thành nơi thu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước phát triển

Cách mạng khoa học công nghệ khiến cho sự phát triển kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhân tố tri thức - trí tuệ, tạo ra bước ngoặt hình thành nền kinh tế tri thức Xu thế phát triển kinh tế tri thức ngày càng lôi cuốn và tác động mạnh mẽ đến tất cả các nước, tạo ra những thay đổi căn bản không chỉ trong đời sống kinh tế - xã hội, mà cả trong so sánh lực lượng cũng như vi thế quốc tế của mỗi quốc gia

Việt Nam và Ấn Độ cũng như nhiều quốc gia khác đang phải chạy đua

để gia tăng phát triển khoa học - công nghệ Việt Nam quyết tâm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước

Trang 30

phat triển De thực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệ với Ân Độ có một vi trí rất quan trọng, bởi tiềm năng to lớn của Ân Độ về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực công nghệ thông tin.

Toàn cầu hỏa kỉnh tế phát triển mạnh mẽ lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa kinh tế và cải cách thị

trường diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế và tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rất phong phú về nội dung, tạo điều kiện phát triển giao lưu văn hóa và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc Trước tình hình đó, cả Việt Nam và Ấn Độ đều phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ cơ hội, tìm kiếm vi trí có lợi nhất cho mình, đồng thời hạn chế thấp nhất những nguy co, thách thức Phát triển quan

hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ sẽ giúp hai nước có thể bổ sung, hồ trợ cho nhau trong quá trình tham gia toàn cầu hóa

Đấu tranh giai cấp, dân tộc có những biểu hiện mới với hình thức và nội dung đa dạng Nguy co chiến tranh thế giới bi đẩy lùi, song nhiều cuộc

chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc và tôn giáo chạy đua vũ trang, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên xảy ra ở nhiều nơi Lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội, các thế lực đế quốc ráo riết chống phá phong trào cách mạng thế giới, gia tăng “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ các nước

xã hội chủ nghĩa Các thế lực này bằng nhiều thủ đoạn như bao vây cấm vận kinh tế, gây bạo loạn, lật đổ hoặc trực tiếp phát động chiến tranh xâm lược, áp đặt sự lệ thuộc đối với các nước đang phát triển, đồng thời tìm cách dập tắt các cuộc đấu tranh của công nhân và lao động ở các nước tư bản phát triển, đẩy mạnh chống phá các phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trang 31

Các nước lớn là nhân to rat quan trọng đổi với sự phat triển của thế giới Một số cường quốc có sức chi phối lớn nền chính trị, kinh tế thế giới và

quan hệ quốc tế, trong đó Mỹ có uu thế khá nổi trội, tỏ rõ tham vọng “lãnh đạo” thế giới Sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn, các trung tâm tu bản quốc tế làm thu hẹp đáng kể khoảng cách chênh lệch thực lực kinh tế giữa họ Quan hệ giữa các nước lớn rất đa dạng về cấp độ và luôn thay đổi, chuyển hóa hết sức phức tạp, khó lường Các nước lớn vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp và vi lợi ích của mình nhìn chung đều tránh đối đầu trực diện với nhau

Nhân loại đứng trước nhieu vấn đề toàn cầu bức xúc mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thế tự giải quyết được nếu không có sự họp tác đa phương Những vấn đề toàn cầu cấp bách nhất de dọa sự sống và sự phát triển

bền vững của loài người trước hết là tình trạng ô nhiem môi trường, biến đổi khí hậu, sự bùng nổ dân số, những bệnh dịch hiểm nghèo, tội phạm quốc tế Nhung nỗ lực chung của cộng đồng quốc tể nhiều năm qua đã đưa lại một

số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễm HIV/AIDS, SARS, dịch cúm gia cầm Trên các lĩnh vực này, Việt Nam và An Độ hoàn toàn có điều kiện để tăng cường các quan hệ họp tác trong khuôn khổ song phương cũng như da phương

1.2.2.2 Tình hình khu vực Châu Á - Thải Bình Dương

Việt Nam và Ấn Độ là hai nước thuộc CA - TBD, do đó sự vận động, phát triển của quan hệ giữa hai nước cũng luôn chịu những tác động nhiều chiều từ những diễn biến của tình hình khu vực

Trước

hợpnhiều sự họp tác, nhiều tầng nấc khác nhau: từ cấp liên khu vực đến họp tác theo khối nước và song phương Sự họp tác khu vực chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế, gần đây có mở rộng ra các lĩnh vực chống khủng bố và an ninh Sự cạnh tranh gay gắt diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tu Trong

Trang 32

lĩnh vực chính trị, đi đôi với sự họp tác trong các nhóm nước có chung lợi ích,

là sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn

Xét trên nhiều góc độ, sự họp tác khu vực lớn nhất thế giới hiện nay làAPEC Den nay, APEC có 21 nền kinh tế thành viên từ 4 châu lục Dân sốcủa các nước APEC trên 2,6 tỷ người (chiếm gần 50% dân số thế giới), đónggóp gần 50% thương mại thế giới và hơn 60% GDP thế giới Ấn Độ đã nhiềulần bày tỏ mong muốn tham gia APEC và nhận được sự ủng hộ từ nhiều nướcthành viên ASEAN nhưng do chính sách hạn chế tiếp nhận thành viên mớicủa APEC nên Ẩn Độ vẫn là quốc gia đứng ngoài cuộc APEC chủ yếu hoạtđộng theo hướng tập họp lực lượng chính trị để tạo thế trong các cuộc đàmphán da biên và ổn định kinh tế khu vực Hướng hoạt động chính của APEC

là các vấn đề kinh tế, tuy nhiên gần đây, vấn đề chính trị và an ninh cũngthường xuyên được đưa vào chương trình nghi sự APEC được thành lập vớitầm nhìn dài hạn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự thịnh vượng cho khu vực

và thắt chặt quan hệ cộng đồng CA - TBD Các biện pháp được thực hiện làcắt giảm thuế và các rào cản thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu và xây dựngcác nền kinh tế hiệu quả APEC đang phấn đấu tạo dựng một môi trường đểlưu chuyển an toàn và hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và con người giữa các biêngiới thông qua phối họp chính sách và họp tác kinh tế, kỹ thuật De đạt được

mục tiêu dài hạn, Tuyên bổ Bôgô 1994 xác định mọi hoạt động của APEC

nhằm thực hiện 3 mục tiêu lớn:• • •

(1) Củng cố hệ thống thương mại da phương; APEC sử dụng đầy đủ các nguyên tắc và kết quả của WTO để thực hiện các vòng đàm phán nội bộ khối và phát triển những kết quả vi mục tiêu tự do hóa hơn trong nội bộ khối

(2) Tăng cường tự do hóa thương mại và đầu tu thông qua việc loại bỏ những hạn chế về thương mại và đầu tu, xúc tiến trao đổi hàng hóa, dịch vụ,

tu bản giữa các nền kinh tế Mốc thời hạn tự do hóa thương mại và đầu tu của

Trang 33

APEC là năm 2010 đôi với các thành viên phát triên và năm 2020 đôi với các thành viên đang phát triển.

(3) Tăng cường họp tác kinh tế - kỹ thuật giữa các nền kinh tế APEC nhằm đảm bảo cho các nền kinh tế này thực hiện có hiệu quả những cam kết

quốc tế và nâng cao khả năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh te

Cùng với quá trình hợp tác trong khuôn khổ APEC, sự hợp tác giữa các

nhóm nước ở khu vực CA - TBD và châu Á ngày càng gia tăng ASEAN có

xu hướng đẩy mạnh liên kết sâu rộng và toàn diện hơn để tăng sức mạnh như

một cộng đồng Một loạt chương trình đã được thông qua nhằm định hướng

cho tương lai họp tác ASEAN như Tầm nhìn ASEAN 2020, Chương trình hành động Hà Nội (1999 - 2004), Sáng kiến liên kết ASEAN (AIA) và Lộ

trình Hội nhập ASEAN (RIA) Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 9 (Ba-li, 2003), các nguyên thủ ASEAN đã thông qua Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II nhằm thành lập Cộng đồng ASEAN với ba trụ cột chính là họp tác an ninh chính trị, họp tác kinh tế và họp tác văn hóa xã hội đan xen và hồ trợ lẫn nhau

vi mục đích đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực

Trong mỗi lĩnh vực, ASEAN đã đưa ra các ý tưởng khá táo bạo, có tầm nhìn

xa nhằm thúc đẩy sự họp tác toàn diện, phù họp với bản sắc của ASEAN hướng tới một khu vực liên kết chặt chẽ hơn

Ngoài việc tăng cường quá trình họp tác, liên kết nội bộ, ASEAN cũng

đang mở rộng liên kết ra bên ngoài theo các mô hình khác nhau:

Một là, mở rộng quan hệ song phương: ASEAN họp tác với từng nước

Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), với Nga và Ấn Độ theo mô

hình ASEAN + 1 Họp tác ASEAN - Ẩn Độ có nhiều chuyển biến tích cực

khi năm 2003, Hiệp định khung về họp tác kinh tế toàn diện Ấn Độ - ASEAN

được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 Nhân kỷ niệm 20 năm

quan hệ đối thoại ASEAN - An Độ, hai bên đã ký và triển khai Hiệp định

Thương mại Hàng hóa (có hiệu lực từ tháng 1 năm 2010) và đang hướng tới

hoàn tất xây dựng khu vực mậu dich tụ do toàn diện (bao gồm thương mại

Trang 34

hang hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư) Ngoài ra, lãnh đạo hai nước ASEAN và Ẩn Độ đã nhất trí quyết định nâng quan hệ hai bên lên tầm đối tác chiến lược và thông qua Tuyên bố Tầm nhìn nhằm định hướng quan hệ ASEAN - Án Độ trong những thập kỷ tới trên tất cả các mặt.

v ề chính trị, an ninh, hai bên chia sẻ nhận thức chung về bảo đảm môitrường hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu

Hợptác Đông Nam Á (TAC), đồng thời tích cực tham gia và có những đóng góp quan trọng tại các khuôn khổ họp tác khu vực của ASEAN như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARE), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF)

Trong lĩnh vực kinh tế, Ấn Độ trở thành thi trường xuất khẩu lớn thứ

10 của ASEAN trong các năm 1993, 1996 và 2000 trong bối cảnh thương mại chiếm tới 87% GDP của Hiệp hội [48, tr 1-2] Giá trị xuất khẩu của ASEAN sang Ấn Độ ở các năm tương ứng kể trên là 1.484,0 triệu USD, 3.772,8 triệu USD và 6.555,6 triệu USD, giúp Ấn Độ ngày càng chiếm tỉ lệ cao hơn trong tổng xuất khẩu của ASEAN với tỷ phần lần lượt là 0,7%, 1,2% và 1,6% Năm

2000, Ấn Độ trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ 10 của ASEAN với giá trị thương mại song phương đạt 3.213,8 triệu USD, chiếm 0,9 tổng nhập khẩu của Hiệp hội [45; tr74-75] Án Độ hiện là đối tác thương mại lớn thứ sáu của ASEAN Năm 1998, Án Độ mới chỉ chiếm 1,2% tổng thương mại của ASEAN với giá trị thương mại hai chiều là 6,968 tỉ USD thì đến năm 2008, nền kinh tế lớn nhất Nam Á đã đóng góp tới 2,8% tổng thương mại của tổ chức này với giá trị thương mại song phương đạt 47,465 tỉ USD [79]

Hai là, họp tác theo mô hình ASEAN +3 bao gồm 10 nước ASEAN,

Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Một viễn cảnh hợp tác mới là hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á lấy họp tác Trung - Nhật làm nền tảng, với vai trò thúc đẩy của ASEAN

Trang 35

Sự phát triên hợp tác ở khu vực CA - TBD hiện nay còn có sự đóng góp của Tổ chức Họp tác Thượng Hải (SCO) được thành lập năm 2001 với 6 thành viên chính thức gồm Trung Quốc, Nga, Cadắcxtan, Kirghixtan, Tátgikixtan và Ưdơbêkixtan, bốn nước quan sát viên là Mông cổ, Pakixtan, Iran và Ẩn Độ Tổng diện tích của 6 nước SCO là trên 30 triệu km2, chiếm 3/5 đại lục Á - Âu; dân số vào khoảng gần 1,5 tỷ người, chiếm V a dân số thế giới với tổng GDP năm 2005 vượt 3.000 tỷ USD Khi thành lập cách đây 5 năm, SCO coi chống khủng bố và an ninh là chủ đề quan trọng hàng đầu, họp tác quân sự là sự thể hiện tấn công “tận gốc” chủ nghĩa khủng bố SCO là tổ chức an ninh và chính trị khu vực nhưng đang dần dần trở thành tổ chức kinh

tế khu vực

Quan hệ song phương giữa các nước lớn CA - TBD cũng tác động nhiều mặt đến họp tác và cạnh tranh trong quan hệ quốc tế ở khu vực với nhân tố Mỹ là trục chính Trước hết phải kể đến mối quan hệ truyền thống, chặt chẽ, toàn diện và có tính chiến lược giữa Mỹ với các nước đồng minh ở

CA - TBD là Nhật Bản, Hàn Quốc và Ôxtrâylia Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, khu vực CA - TBD ngày càng thể hiện rõ tính năng động cao của quá trình hội nhập khu vực Đặc điểm này có ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành một cấu trúc thế giới mới, công bằng hơn, đồng thời cũng tác động mạnh đến các quan hệ song phương, trong đó có quan hệ Việt Nam - An Độ.Vận động trong bối cảnh quốc tế và khu vực nêu trên, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ân Độ rõ ràng đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới đan xen nhau phức tạp Tính chủ đạo của xu thế hòa bình, họp tác, phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới, cuộc cạnh tranh mở rộng ảnh hưởng của các nước lớn cùng với nhu cầu họp tác giải quyết những vẫn đề toàn cầu bức xúc đang tạo ra nhiều xung lực mới cho việc củng cố, tăng cường quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam -

Ấn Độ trong tình hình mới

Trang 36

1.2.3 Khái quát quan hệ Việt Nam - Ân Độ trước tháng 7 năm 2007.

1.2.3.1 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1945 -1975

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biển phức tạp cũng nhu hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mặc dù quan hệ hai nước cũng gặp nhiều khó khăn nhưng xu hướng chung là quan hệ Việt Nam - Àn Độ ngày càng tốt đẹp

Từ năm 1945 đến năm 1956, là giai đoạn Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp trường ki gian khổ, là giai đoạn mà Án Độ gặp không it những khó khăn do mới giành độc lập, nhưng hai nước đã ủng hộ, cổ

vũ lẫn nhau Ấn Độ là một trong số it nước lúc bấy giờ nhiệt liệt chào mừng

sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta

Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Chính phủ

Ấn Độ đã bày tỏ sự ủng hộ, đồng tình Nhiều nơi trên khắp đất nước Ẩn Độ

đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành, biểu tình ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta Ngay sau ngày kêu gọi và phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Án Độ là J.Nê-ru đã bày tỏ thái độ ủng hộ

và tháng 1 năm 1947, những người yêu nước Ân Độ kêu gọi nhân dân Mỹ sát cánh vói nhân dân Đông Dương trong cuộc đấu tranh giành độc lập Cũng trong thời gian này, M.Gan-đi đã viết thư gửi cho nhân dân Việt Nam bày tỏ

sự ủng hộ Chính phủ Ấn Độ lấy ngày 21/1/1947 là “Ngày Việt Nam”

về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam, vui mừng trước những thắng lợi giành độc lập và chia sẻ những đau buồn của nhân dân Ân Độ khi lãnh tụ M.Gan-đi qua đời (30/8/1948) và tổ chức lễ truy điệu trọng thể tại Việt Nam

Từ cuối năm 1953 đến 1954, tình hình thế giới có nhiều biến đổi, trong quan hệ Ấn Độ - Liên Xô, Án Độ - Trung Quốc, về mặt khách quan đã tác động tích cực đối với quan hệ Việt Nam -Ãn Độ Trong thời gian này, Ản Độ

Trang 37

đã tham gia tích cực với cương vi là Chủ tịch Uy ban giám sát quôc tê vê việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, Ấn Độ đã tích cực để hiệp định này được thực hiện tốt, từ đó đem lại hòa bình cho Đông Dương và Việt Nam.

Tháng 10 năm 1954, chỉ mới một tuần sau khi Hà Nội được giải phóng, Thủ tướng Ấn Độ và con gái đã sang thăm Việt Nam - đây là chuyến thăm đầu tiên của nguyên thủ bên ngoài đến Việt Nam sau khi nước ta được giải phóng Sự kiện này có ý nghĩa to lớn - đã cổ vũ, động viên nhân dân ta, thể hiện sự thân thiết của hai lãnh tụ Nê-ru và Hồ Chí Minh, đồng thời thể hiện

sự coi trọng quan hệ giữa hai nước

Đáp lại sự kiện trên, tháng 4 năm 1955, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến thăm Ẩn Độ Trên co sở mối quan hệ tốt đẹp giữa Án Độ - Việt Nam,

tháng 2 năm 1956, hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao ở cap Tông lãnh sự.

Từ tháng 2 năm 1956 đến tháng 4 năm 1975, quan hệ hai nước có nhiều biến động do chi phối tình hình quốc tế Trong những năm 1956 - 1959, quan

hệ hai nước phát triển thuận lợi

Thái độ của Án Độ trong việc thi hành Hiệp định 1954 về Việt Nam là tích cực, quan hệ hai nước bắt đầu phát triển và tăng cường bằng những chuyến thăm lẫn nhau giữa các nhà lãnh đạo hai nước, đặc biệt là chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/1958) Tuy nhiên, do nhung xung đột Trung Quốc - Ấn Độ (1962) đã tác động tiêu cực đến quan hệ Việt Nam -

Ấn Độ, mối quan hệ hai nước xuống đến mức thấp nhất trong lich sử quan hệ hai nước

Từ giữa năm 1966 trở di, quan hệ hai nước bước vào giai đoạn tốt đẹp Đỉnh cao của mối quan hệ hai nước thời ki này là sự thiết lập quan hệ đầy đủ

giữa hai nước là thảng 1 năm 1972, Ân Độ nâng cấp quan hệ với Việt Nam

lên cấp Đại sứ Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử hai nước,

chấm dứt việc Ấn Độ giữ quan hệ “cân bằng” giữa hai miền Nam - Bắc, nghiêng hẳn về phía Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, bất chấp sự phản ứng chỉ

Trang 38

trich của Mỹ và chính quyên Sài Gòn, mở ra một giai đoạn mới phát triên tôt đẹp của quan hệ hai nuoc [20].

1.2.3.2 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1975 - 1991

Từ năm 1975 trở đi, do những thuận lợi của tình hình mỗi nước cũng nhu tình hình khu vực và quốc tế, đặc biệt là sự ra đời và thống nhất đất nước của Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Ân Độ phát triển một cách tốt đẹp và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhất là quan hệ chính trị

về quan hệ chỉnh tri: Quan hệ giữa hai Nhà nước - Chính phủ: đây là

mối quan hệ chủ đạo giữa hai nhà nước và phát triển ngày càng tốt đẹp Những chuyến thăm thường xuyên được tiến hành ở cấp nhà nước (1985,

1988, 1989, 4/1991), sự nhất trí cao của hai nước về vấn đề quan trọng của khu vực và thế giới, ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế như ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Họp quốc, ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam trong giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, ủng hộ Việt Nam trong việc bình thường hóa quan hệ với ASEAN

Quan hệ giữa Đảng Cộng sản và các tổ chức xã hội giữa Việt Nam - An Độ: mối quan hệ này cũng diễn ra tốt đẹp, các đảng phái hàng đầu của Ân Độ

và các tổ chức xã hội Ấn Độ đã ủng hộ chính phủ mình (An Độ) tăng cường ủng hộ quan hệ với Việt Nam

Các mối quan hệ khác: Trong giai đoạn này, hồ trợ kinh tế của An Độ

cho Việt Nam tái thiết đất nước đã mở ra một chương mới trong lịch sử quan

hệ song phương giữa hai nước Chẳng hạn hai nước đã ki những hiệp định như Hiệp định họp tác văn hóa (1976), Hiệp định thương mại và Hiệp định họp tác khoa học - công nghệ (1978), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và Hiệp định họp tác trong lĩnh vực khai khoáng, y te, môi trường An Độ giúp Việt Nam trong việc xây dựng Trung tâm nghiên cứu cây lúa nước, Ô Môn và Trung tâm bò sữa Sông Bé - Ân Độ cũng đào tạo rất nhiều sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam trên nhiều lĩnh vực

Trang 39

Ngoai ra từ năm 1977 - 1990, Việt Nam đã nhận được khoản tín dụng

ưu đãi trị giá 1549 triệu Rubi Ấn Độ với lãi xuất 5% trong 15 năm, cũng từ đó cho đến năm 1985, Việt Nam được vay 50 vạn tấn bột mi và gạo ngay cả khi

Ấn Độ đang gặp khủng hoảng luong thực trầm trọng cuối thập kỉ 70 thế kỉ XX Mối quan hệ kinh tế giữa hai nước, tuy còn khiêm tốn so với một số nước nhưng về cơ bản là phát triển trên cơ sở tin cậy, đoàn kết, giúp đỡ và hiểu biết lẫn nhau [19]

Tóm lại, quan hệ hai nước Việt Nam - Ản Độ trong giai đoạn này phát

triển toàn diện, đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vuc, những thành tựu đó đã góp phần giúp cho Việt Nam khắc phục những khó khăn trong những năm tháng khủng hoảng kinh tế - xã hội Đó cũng là cơ sở cả chiều rộng lẫn chiều sâu sau này

1.2.3.3 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2000

Sự tan rã của Liên bang Xô viết vào thập kỉ 90 thế kỉ x x đã làm thay đổi cục diện toàn cầu Sự chuyển biến sôi động của khu vực CA - TBD trong

đó có ASEAN và nội bộ hai nước đã tạo môi trường thuận lợi và nhiều cơ hội mới để thúc đẩy sự họp tác, quan hệ sâu và rộng giữa hai nước

Một năm sau chuyến thăm của Tổng thống An Độ đến Việt Nam (4/1991), Tổng Bi thư Đỗ Mười đã có chuyến thăm chính thức Ấn Độ (9/1992) Chuyến thăm này thực sự có ý nghĩa khi tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động to lớn Lãnh đạo hai quốc gia đã chủ trương Việt Nam và Ấn Độ cần phải thay đổi cơ che và phương thức họp tác nhằm đáp ứng tích cực, hiệu quả cho công cuộc đổi mới và cải cách ở mỗi nước

Tháng 9 năm 1993, Phó Tổng thống Ấn Độ R.K.Na-ra-y-a-nan thăm Việt Nam Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nhấn mạnh: Trong tình hình mới, Việt Nam và Ấn Độ cần tăng cường hơn nữa họp tác kinh tế, thương mại, khoa học - kỹ thuật và văn hoá để phục vụ tốt hơn nữa cho sự

Trang 40

phat triên của môi bên Phó Tông thông An Độ cũng khăng định: họp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Việt Nam và Ân Độ là tình cảm thiêng liêng và trách nhiệm của nhân dân hai nước [21].

Trong số những chuyến thăm cấp Nhà nước giữa Việt Nam - Ấn Độ, chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ N Rao (4/1994) được đánh giá

là sự kiện quan trọng, đánh dấu một bước tiến trong quan hệ giữa hai nước Hai bên đã chỉ ra những trở ngại trong hợp tác, đồng thời trao đổi về những phương hướng mới và những biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự họp tác nhiều mặt giữa hai quốc gia về kinh tế, thương mại, văn hoá và khoa học - kỹ thuật nhằm đưa mối quan hệ đó lên ngang tầm với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước

Từ giữa năm 1995, mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có dấu hiệu chững lại Tuy nhiên với sự nỗ lực của cả hai bên, mối quan hệ đó từng bước đã được phục hồi và phát triển Đầu năm 1997, với mong muốn thắt chặt quan hệ hữu nghị với Ấn Độ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có chuyến thăm đến Ấn Độ (3/1997) Đây là sự kiện quan trọng, mang lại nguồn sinh lực mới cho quan hệ giữa hai nước, đánh dấu một bước phát triển mới trong lich sử bang giao Việt Nam - Án Độ Ân Độ đánh giá cao Việt Nam đối với việc ủng hộ tích cực Ấn

Độ trở thành thành viên đối thoại đầy đủ của ASEAN, cũng như việc Án Độ tham gia ASEM

Năm 1999, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Ẩn Độ - đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên kể từ khi Việt Nam thống nhất (1975) và

từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ Trong các cuộc hội đàm, hai bên đã trao đổi ý kiến về việc củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống và sự họp tác nhiều mặt giữa Chính phủ và nhân dân hai nước, cũng như các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm

... công hơn, đồng thời tác động mạnh đến quan hệ song phương, có quan hệ Việt Nam - An Độ. Vận động bối cảnh quốc tế khu vực nêu trên, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ân Độ rõ ràng đứng trước... họp tác để đấu tranh đấu tranh để họp tác chặt chẽ hơn, bền vững

Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ân Độ vận động quan hệ trị quốc tế

1.1.1.2 Quan niệm đổi tác chiến. .. sở lý luận thực tiễn hình thành đối tác chiến lược Việt Nam - Ắn Độ

- Phân tích thực trạng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ản Độ lĩnh vực: trị, đối ngoại, kinh tế, quốc phịng, văn

Ngày đăng: 05/05/2017, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w