Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự lý luận và thực tiễn 1. Tính cấp thiết của đề tài. Hoạt động thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế. Theo quy định tại Điều 106, Hiến pháp năm 2013 thì “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Hoạt động thi hành án một mặt đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế. Mặt khác, nó còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hiệu quả của hoạt động thi hành án có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đến pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi. Do đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành án được sử dụng. Cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động thường xuyên được thực hiện trong công tác thi hành án dân sự. Áp dụng khi các bản án, quyết định không được tự nguyện thi hành. Hiệu quả hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác thi hành án. Nhận thấy tầm quan trọng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Nhà nước đã quan tâm và xây dựng khung pháp lý cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế như xây dựng Luật thi hành án dân sự với quy định riêng về biện pháp cưỡng chế. Việc cưỡng chế thi hành án còn được cụ thể hơn trong nghị định của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người có thẩm quyền thi hành án vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Vấn đề hiện nay của việc thi hành án dân sự là số việc phải thi hành tồn đọng rất lớn. Điều này dẫn đến suy giảm hiệu lực của bản án cũng như tính tối cao của pháp luật. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là việc cơ quan thi hành án dân sự gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành dứt điểm vụ việc. Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: trình độ chuyên môn của Chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án còn hạn chế, không cập nhật kiến thức mới. Mặt khác, là do chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như các cơ quan hữu quan khác trong quá trình tổ chức cưỡng chế thi hành án. Hoạt động cưỡng chế thi hành án tác động sâu rộng đến các quan hệ xã hội của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong bản án. Do đó, vấn đề cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án phải được nghiên cứu ký lưỡng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự. Với tất cả những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Lý luận và thực trạng tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum” làm đề tài của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG TẠI HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ THANH BÌNH Lớp : B15K19.3 – PHKT
Giảng viên hướng dẫn : Th.S LÊ HỒNG PHƯỚC
Kon Tum, tháng 10 năm 2018
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 3
1.1.Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự 3
1.2 Đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 3
1.3 Phân loại các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 5
1.4 Căn cứ của việc quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 5
KÊT LUẬN CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM 8
2.1 Giới thiệu về đơn vị thực tập 8
2.1.1 Đặc điểm tình hình huyện Kon Plông 8
2.1.2 Vị trí, chức năng và cơ cấu tổ chức của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông 9
2.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông 10
2.1.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện Kon Plông trong thi hành án dân sự 10
2.2 Thực trạng pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 11
2.2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 11
2.2.2 Thực trạng quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 15
2.3 Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kon Plông 20
KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 25
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 26
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 26
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 26
KÊT LUẬN CHƯƠNG 3 29
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hoạt động thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhànước trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trênthực tế Theo quy định tại Điều 106, Hiến pháp năm 2013 thì “Bản án, quyết định củaTòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức cá nhân tôntrọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Hoạt độngthi hành án một mặt đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế Mặtkhác, nó còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân Hiệu quả của hoạt động thi hành án có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhândân đến pháp luật Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay,không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thểđược tổ chức thi hành một cách thuận lợi Do đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành ánđược sử dụng
Cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động thường xuyên được thực hiện trongcông tác thi hành án dân sự Áp dụng khi các bản án, quyết định không được tựnguyện thi hành Hiệu quả hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự ảnh hưởng trựctiếp đến hiệu quả công tác thi hành án
Nhận thấy tầm quan trọng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Nhànước đã quan tâm và xây dựng khung pháp lý cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chếnhư xây dựng Luật thi hành án dân sự với quy định riêng về biện pháp cưỡng chế.Việc cưỡng chế thi hành án còn được cụ thể hơn trong nghị định của chính phủ quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thi hành án dân sự Tuy nhiên,trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người có thẩmquyền thi hành án vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc
Vấn đề hiện nay của việc thi hành án dân sự là số việc phải thi hành tồn đọngrất lớn Điều này dẫn đến suy giảm hiệu lực của bản án cũng như tính tối cao của phápluật Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là việc cơ quan thihành án dân sự gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng biện phápcưỡng chế để thi hành dứt điểm vụ việc Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyênnhân: trình độ chuyên môn của Chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án cònhạn chế, không cập nhật kiến thức mới Mặt khác, là do chưa có sự phối hợp đồng bộ,chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như các cơ quan hữu quan khác trongquá trình tổ chức cưỡng chế thi hành án
Hoạt động cưỡng chế thi hành án tác động sâu rộng đến các quan hệ xã hội củangười được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quantrong bản án Do đó, vấn đề cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án phải đượcnghiên cứu ký lưỡng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời bảo đảmquyền lợi hợp pháp của đương sự
Với tất cả những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự - Lý luận và thực trạng tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum” làm
Trang 52 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở kế thừa và làm rõ những vấn đề lý luận về các biện pháp cưỡng chếthi hành án dân sự, bài sẽ đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thihành án dân sự nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án qua thực tiễn tại huyệnKon Plông, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các biệnpháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án trongthời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này đi sâu nghiên cứu, phân tích về các biện pháp thi hành án dân sự từ cơ sở lýluận, từ các quy định của pháp luật hiện hành đến thực trạng áp dụng các biện phápcưỡng chế thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án tại cơ quan thi hành
án dân sự
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu các quy định của pháp luật về vấn đề thi hành án dân sựtrong một số văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự năm 2015; Luật Thi hành án dân sựnăm 2008; Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản phápluật khác có liên quan Trong đó, tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quyđịnh về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và thực trạng áp dụng các biện phápcưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn huyện Kon Plông Bên cạnh đó, cũng họctập, rút ra những kinh nghiệm cho cá nhân nhằm phục vụ tốt cho công việc sau này
4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận (Pháp luật về thi hành án dân sự và các vănbản pháp luật liên quan đến công tác thi hành án dân sự);
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ thi hành án;
- Phương pháp quan sát (Thực tiễn thực tập tại đơn vị);
- Phương pháp so sánh áp dụng pháp luật vào thực tiễn
- Và một số phương pháp khác như tìm hiểu qua sách, báo, internet
5 Bố cục đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của bàicó 03 chương với các nội dung cơ bản gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Chương 2 Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự tạihuyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật và nângcao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Để giải quyết vấn đề đặt ra không những phải có kiến thức, năng lực mà cònphải có kinh nghiệm thực tế Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu nhưng do trình độ vàkinh nghiệm còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rấtmong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn Chân thành cảm ơn!
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1.Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự.
Việc cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện khi người phải thi hành ánđược Chấp hành viên giải thích, thuyết phục tự nguyện thi hành án những vẫn tìm mọicách trì hoãn, trốn tránh để không tự nguyện thi hành, khi đó buộc cơ quan thi hành ánphải tổ chức cưỡng chế theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 9, Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sungnăm 2014 thì người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thihành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự Theo quyđịnh tại Điều 45 và Điều 46, Luật thi hành án dân sự cũng quy định sau khi hết thờigian tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án có điều kiệnthi hành mà không thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành
án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án, thì Chấp hànhviên có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Như vậy có thể hiểu khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thihành án dân sự dùng quyền lực của nhà nước, nhằm buộc người phải thi hành án dân
sự thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa
án Cưỡng chế thi hành án dân sự do chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự quyếtđịnh áp dụng theo thẩm quyền, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiệnthi hành án, đã được thông báo hợp lệ, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án màkhông tự nguyện thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành ándân sự tẩu tán, hủy hoại tài sản Cách hiểu này tuy chỉ mang tính tương đối nhưng nóđã xác định được:
Chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là Chấp hành viên cơquan thi hành án dân sự được trao quyền áp dụng trong từng vụ việc thi hành án dân
Phương tiện của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là quyền lực Nhà nướcđược quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự
Mục đích của áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là ngăn chặnngười phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản và đảm bảo quyền và lợi ích chínhđáng của Nhà nước, các tổ chức và công dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự antoàn xã hội
1.2 Đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
- Cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và
Trang 7hành án dân sự phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện Ở nước ta, thẩm quyền tổchức cưỡng chế thi hành án dân sự thuộc về cơ quan Thi hành án dân sự.
- Cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.Mọi hành vi gây cản trở, chống đối việc cưỡng chế thi hành án dân sự đều có thể bịphạt tiền hoặc bị đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hìnhsự
- Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải căn cứ căn cứ vào
nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thihành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự vàtình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thihành án
- Biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng sau khi hết thời hạn tự nguyện thihành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủyhoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Ngoài ra, Chấp hành viên không được tổchức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước vàsau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách là ngườiphải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh,chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương
- Đối tượng của cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của ngườiphải thi hành án và được thực hiện trong trường hợp người phải thi hành án có điềukiện thi hành
- Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, ngoài việc phải thựchiện các nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án còn phảichịu chi phí cưỡng chế thi hành án
- Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự không những có hiệu lực vớingười phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực cả với cá nhân, cơ quan tổ chức cóliên quan
- Việc tổ chức cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành
án và các chi phí cần thiết khác Chấp hành viên phải ước tính giá trị tài sản để làm cơsở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Trường hợp người phải thi hành
án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tàisản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị củatài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thihành án
- Để thực hiện cưỡng chế thi hành án, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự đều phải tuân thủ thủ tục và một số nguyên tắc chung như: xác minh điều kiện thihành án của người phải thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế; xây dựng kế hoạchcưỡng chế; thông báo hợp lệ các văn bản quyết định về thi hành án dân sự cho đương
sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các cơ quan hữu quan theo luật định; Tuânthủ các quy định của pháp luật về thời hạn, thời hiệu trước, trong và sau khi cưỡngchế
Trang 81.3 Phân loại các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
Theo quy định tại Điều 71, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về những biệnpháp cưỡng chế thi hành án dân sự bao gồm:
1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của ngườiphải thi hành án
2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do ngườithứ ba giữ
4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án
5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việcnhất định
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nêu trên chỉ được tiến hành khi cócác điều kiện sau:
- Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiệnhành vi theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc có liên quan đếntài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết địnhcủa trọng tài thương mại
- Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án là những người mà Chấp hànhviên đã xác minh được người đó có tài sản Tài sản của người phải thi hành án có thể
là động sản, bất động sản và kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, vốn góp,…theo quy định tại Mục 6, Luật Thi hành án dân sự năm 2008
- Hết thời gian tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tựnguyện thi hành Thời gian tự nguyện thi hành án được quy định tại Điều 45, Luật Thihành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành
án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Nếu trong thời gian
tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án mà không đạt được kết quả nhưmong muốn thì Chấp hành viên phải dùng đến quyền lực của nhà nước tức là áp dụngcác biện pháp cưỡng chế để buộc người có nghĩa vụ phải thi hành theo đúng bản án,quyết định của Tòa án và quyết định của cơ quan Thi hành án
- Chưa hết thời gian người phải thi hành án tự nguyện thi hành nhưng cần ngănchặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Trong thờigian tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án, nếu Chấp hành viên nhận thấycần phải ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án thì Chấp hành viên có quyền ra quyết định áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chếthi hành án được quy định tại Chương IV, Luật Thi hành án dân sự năm 2008; theoquy định tại Khoản 2, Điều 45, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014
1.4 Căn cứ của việc quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
Theo quy định tại Điều 106, Hiến pháp năm 2013 thì “Bản án, quyết định củaTòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.”
Trang 9Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phánquyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc ngườicó nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúngcác nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyếtđịnh của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế Mặc dùcưỡng chế thi hành án không được Nhà nước khuyến khích nhưng người chấp hànhviên cần phải xác định đến thời điểm nào khi mà việc giáo dục, thuyết phục hay nóicách khác khi nào biện pháp tự nguyện không đạt kết quả thì việc áp dụng biện phápcưỡng chế thi hành án là cần thiết để vừa giải quyết dứt điểm vụ việc, vừa có tác dụnggiáo dục, răn đe những đối tượng phải thi hành án khác.
Quyền lợi của người phải thi hành án là một nội dung rất nhạy cảm, đối vớinhững vụ việc thi hành án thì các tranh chấp giữa người phải thi hành án và ngườiđược thi hành án thường có giá trị không nhỏ Trong xu thế mở cửa, hội nhập pháttriển kinh tế quốc tế, các tranh chấp phát sinh không chỉ trong phạm vi trong nước mà
cả nước ngoài Vì vậy, số việc phải thi hành án đang ngày càng lớn về giá trị tiền phảithi hành
Xuất phát từ sự phức tạp, tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng về quyền lợi củađương sự, Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định hếtsức chặt chẽ về điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế Tránhtình trạng cưỡng chế một cách bừa bãi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợiích của Nhà nước và công dân, gây mất lòng tin của nhân dân đối với cơ quan Nhànước Hiệu quả của việc cưỡng chế thi hành án dân sự là cơ sở, tiền đề cho sự thànhcông và hiệu quả của một vụ thi hành án về tài sản khi đương sự không tự nguyện thihành Trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, không phải bản án, quyếtđịnh có hiệu lực nào của cơ quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hànhmột cách thuận lợi Do đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được sử dụng
Trang 10KÊT LUẬN CHƯƠNG 1
Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòihỏi sự tôn trọng pháp luật từ mọi chủ thể, ngược lại quyền và lợi ích của mọi cá nhân,
tổ chức cần phải được bảo vệ tối đa bằng pháp luật Khi quyền và lợi ích hợp pháp củamình bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết,hoạt động xét xử phải kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật Đồng thời, các phánquyết của Tòa án phải được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để, kịp thời mới bảo vệ đượcquyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Công tác thi hành án dân sự nói chung và các biện pháp cưỡng chế thi hành ándân sự nói riêng cũng chỉ nhằm mục đích chung nói trên Hiệu quả của việc cưỡng chế
là cơ sở, tiền đề cho sự thành công của một vụ thi hành án dân sự khi đương sự không
tự nguyện thi hành Song qua nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy rằng trong quátrình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gặp rất nhiều khó khăn,nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế Cụ thể như: cơ chếquản lý, hoạt động thi hành án dân sự còn chồng chéo, sự phối hợp giữa các cơ quan tổchức trong việc cưỡng chế còn chưa tốt, các quy định của pháp luật về các biện phápcưỡng chế thi hành án dân sự chưa chặt chẽ, còn có thiếu sót
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung vàquá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giátrị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảođảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tínhnghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội,tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước
Các quy định về biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự đã có nhiềuđiểm mới hơn, chi tiết và cụ thể hơn so với các quy định trước đây Việc nhận thứcđúng về biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là điều kiện rất cần thiết để các cơquan nhà nước và nhân dân nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt độngthi hành án dân sự, để từ đó nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật,hình thành thói quen
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHÊ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM.
2.1 Giới thiệu về đơn vị thực tập.
2.1.1 Đặc điểm tình hình huyện Kon Plông.
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới Kon Tum có vị trí địa lý đặcbiệt, phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia có chung 275 km đường biên giới,phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnhGia Lai Phần lớn diện tích nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắcxuống nam và từ đông sang tây, với diện tích tự nhiên là 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diệntích toàn quốc Tỉnh Kon Tum gồm có 10 đơn vị hành chính, gồm: 01 Thành phố KonTum và 09 huyện là: Đăk Hà, Đăk Tô, Ngọc Hồi, Đăk Glei, Sa Thầy, Tu MơRông, Kon Rẫy, Kon Plông và Ia H’Drai
Nhìn chung, Kon Tum vẫn nằm trong nhóm những tỉnh nghèo và khó khăn nhấtcủa cả nước, kinh tế còn chậm phát triển, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, cơ sở vậtchất phục vụ cho sản xuất còn ở quy mô nhỏ và ít
Huyện Kon Plông là một huyện của tỉnh Kon Tum, đây là huyện miền núi nằmở phía Đông Bắc tỉnh Kon Tum Huyện Kon Plông nằm trên Quốc lộ 24 nối tỉnh KonTum với các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải Trung bộ Phía Đông giáp tỉnh QuảngNgãi; Phía Tây giáp huyện Tu Mơ Rông; Phía Tây Nam giáp huyện Kon Rẫy; PhíaNam giáp huyện KBang, tỉnh Gia Lai; Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam Trên địa bànhuyện có tổng số 09 đơn vị hành chính xã với 89 thôn và 117 làng
Hiện nay trên địa bàn huyện có 3 dân tộc cùng sinh sống là dân tộc Xơ Đăng,Hre và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc tại chỗ là dân tộc Xơ Đăng có hai nhánh là dântộc Ka Dong và Mơ Nâm Trên địa bàn huyện có 03 tôn giáo chính là Công giáo (52
hộ tại xã Măng Bút), Phật giáo (06 hộ tại xã Đắk Long) và Tin Lành (100 hộ tại xãMăng Cành, Đắk Tăng và Đắk Nên)
Về phát triển kinh tế của huyện chủ yếu là phát triển nông, lâm, thủy sản, ngànhcông nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu tập trung vào khai thác cát, đá, sỏi, huyện còncó quy hoạch phát triển thuỷ điện trên địa bàn với 08 dự án, sản xuất rượu sim,
Về văn hoá các dân tộc với môi trường sống còn lưu giữ được nét sinh hoạt,văn hóa truyền thống bản địa, với những nhạc cụ dân dang lâu đời như: đàn, sáo dọc,trống, chiêng, cồng và ống gõ, giàn ống; trang phục bản địa; văn hóa kiến trúc nhàrông, nhà dài, gắn với không gian núi rừng thiên nhiên là tiềm năng rất lớn để khaithác tạo thành các điểm du lịch cộng đồng mang đậm nét đặc sắc bản địa núi rừngMăng Đen
Huyện Kon Plông có 09 xã bao gồm: Đăk Long, Măng Cành, Măng Bút, NgọcTem, Đăk Ring, Đăk Nên, Đăk Tăng, Xã Hiếu, Pờ Ê Chi cục Thi hành án dân sựhuyện Kon Plông nằm trong khu hành chính thuộc xã Đăk Long, nằm trên tỉnh lộ 676con đường liên thông giữa các xã về kinh tế
Trang 122.1.2 Vị trí, chức năng và cơ cấu tổ chức của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông.
Theo quy định tại Điều 6, Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 củaThủ tướng Chính phủ về vị trí, chức năng và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thi hành ándân sự cấp huyện thì:
1 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện là cơ quan trực thuộc Cục Thi hành ándân sự cấp tỉnh, thực hiện chức năng thi hành án dân sự, đôn đốc thi hành án hànhchính và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
2 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện có Chi cục trưởng đồng thời là Thủtrưởng cơ quan Thi hành án dân sự, Phó Chi cục trưởng đồng thời là Phó Thủ trưởng
cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp, Thẩmtra viên thi hành án, Thư ký thi hành án và công chức khác
3 Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện chịu trách nhiệm trướcCục trưởng Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt độngcủa Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành ándân sự cấp huyện chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sựcấp huyện và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách
4 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện chịu sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dâncấp huyện theo quy định tại Điều 174 Luật Thi hành án dân sự, có trách nhiệm báo cáovới Ủy ban nhân dân cùng cấp về chủ trương, biện pháp tăng cường công tác thi hành
án dân sự, công tác đôn đốc thi hành án hành chính trên địa bàn và thực hiện báo cáocông tác thi hành án dân sự, công tác đôn đốc thi hành án hành chính trước Hội đồngnhân dân cùng cấp theo quy định của pháp luật
Hiện nay, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kon Plông gồm có 09 đồng chí,trong đó có có 01 đồng chí Chi cục trưởng, 02 đồng chí chấp hành viên sơ cấp, 04đồng chí công chức khác (Kế toán, Thủ Kho, Kĩ Thuật viên Máy tính, Thư ký), 03đồng chí hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 củaChính phủ (01 hợp đồng bảo vệ cơ quan, 01 hợp đồng bảo vệ kho vật chứng, 01 hợpđồng tạp vụ)
Được khái quát bằng sơ đồ sau:
Chi cục trưởng
Phó chi cục trưởng Chấp hành viên Thư ký thi hành án
Bảo vệ
Trang 132.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kon Plông đượcthực hiện theo quy định tại Điều 16, Luật thi hành án dân sự năm 2008, như sau:
Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35của Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quyđịnh của Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt độngđược giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành ántheo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy địnhtại khoản 1 và khoản 2, Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân theo quy định củapháp luật, báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu
Ngoài các nhiệm vụ được nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện KonPlông còn thực hiện một số nhiệm vụ khác được cấp ủy, chính quyền địa phương giaocho
2.1.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện Kon Plông trong thi hành án dân sự.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện Kon Plông trong thi hành
án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 174, Luật thi hành án dân sự năm
2008, như sau:
Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân
sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợpgiữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự
Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởngđến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiễm Thủ trưởng, Phó thủtrưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương
Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện báo cáo công tác thi hành án dân
sự ở địa phương, cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyệntrước khi trình bày Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật của Luật Thi hành
Trang 142.2 Thực trạng pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
2.2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Trên cơ sở quy định tại Điều 46, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Điều 13,Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ thì hết thời gian tự nguyệnthi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thihành án thì bị cưỡng chế Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật,không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngàytrước và sau tết Nguyên đán, các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách,nếu họ là người phải thi hành án, các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêmtrọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương
Có ba căn cứ để cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 70, Luật Thihành án dân sự năm 2008 là: Bản án, quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết địnhcưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏatài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời của Tòa án Để thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự cần phải tuân thủ nhữngnguyên tắc chung theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự như:
- Xác minh điều kiện thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế
Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là điều kiện bắt buộc và quyết định choviệc thực hiện cưỡng chế thành công hay không Công tác xác minh điều kiện thi hành
án dân sự phải được thực hiện một cách khoa học, toàn diện, đầy đủ, chi tiết tới từngnội dung và phù hợp theo đúng yêu cầu đặt ra
Xác định được vai trò và tầm quan trọng của công tác xác minh điều kiện thihành án, việc xác minh điều kiện thi hành án đã được quy định cụ thể tại Điều 44, LuậtThi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 17, Điều 1, Luật Thihành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014), Điều 9, Nghị định số 62/2015/NĐ-CPngày 18/7/2015 của Chính phủ Theo đó, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thờihạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thìChấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay Người phải thi hành án phải kêkhai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành ánvới cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình
- Lựa chọn biện pháp cưỡng chế
Nội dung này được quy định tại Khoản 1, Điều 13, Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ Theo đó, Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản
án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điềukiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực
tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thíchhợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thihành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130, LuậtThi hành án dân sự năm 2008 Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải
Trang 15hợp quy định tại Khoản 4, Điều 24, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 củaChính phủ Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơnnhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia đượchoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn cóquyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án.
- Xác định loại tài sản không được kê biên, cưỡng chế
Theo quy định tại Điều 87, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì các loại tàisản không được kê biên, cưỡng chế bao gồm:
1 Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốcphòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổchức
2 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và giađình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và giađình;
c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiệnsinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình
3 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sởsản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực,thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơsở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chốngcháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường
- Xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án
Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 72, Luật Thi hành án dân sự 2008(đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 29, Điều 1, Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổsung năm 2014):
1 Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cầnhuy động lực lượng
2 Kế hoạch cưỡng chế thi hành án có các nội dung chính sau đây:
a) Tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế;
b) Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;
c) Thời gian, địa điểm cưỡng chế;
d) Phương án tiến hành cưỡng chế;
đ) Yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế;
e) Dự trù chi phí cưỡng chế
Trang 163 Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơquan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án Cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp hành viên.
4 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chếcủa cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kếhoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế
Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữgìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cảntrở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi códấu hiệu phạm tội
- Thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án
Thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì:
Việc thông báo phải được thực hiện trong 03 ngày làm việc kể từ ngày ra vănbản trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việcthi hành án
Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức đó là:
+ Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, các nhân khác theo quy địnhcủa pháp luật;
+ Thực hiện niêm yết công khai;
+ Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Việc thông báo phải được thực hiện dưới các hình thức cụ thể, phù hợp với tínhchất đặc điểm của từng vụ việc thi hành án, từng đối tượng được thông báo
- Chi phí cưỡng chế thi hành án
Theo quy định tại Điều 73, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi,
bổ sung tại Khoản 30, Điều 1, Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014) vàĐiều 43, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ thì có 03 đốitượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án đó là: Người phải thi hành án, ngườiđược thi hành án và ngân sách nhà nước
Người phải thi hành án phải chịu các chi phí cưỡng chế thi hành án sau:
+ Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;
+ Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế,phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thihành án;
+ Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí địnhgiá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
+ Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyểntài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chithuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;
+ Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;
Trang 17+ Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệcưỡng chế thi hành án.
Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau:
+ Chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại,trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá;
+ Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án,quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ
Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau:+ Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá;
+ Chi phí xác minh điều kiện thi hành án;
+ Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
+ Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theoquy định của pháp luật
Việc thông báo dự trù chi phí cưỡng chế phải được thực hiện trước ngày cưỡngchế được ấn định ít nhất là 03 ngày trừ trường hợp phải áp dụng cưỡng chế ngay
- Xác định, phân chia, xử lý tài sản đối với tài sản thuộc sở hữu chung
Việc xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án được thực hiện theoquy định tại Điều 74, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung tạiKhoản 31, Điều 1, Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014):
1 Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sửdụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấphành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữuchung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sảnchung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không cóthỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuậnkhông được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo chongười được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản,phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủtục tố tụng dân sự
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành
án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phầnquyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tàisản chung theo thủ tục tố tụng dân sự
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án
2 Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của cácchủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện phápcưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảmđáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối