Những khó khăn vướng mắc được thể hiện trong việc xác định như thế nào là quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân đối với hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÙNG BÍCH NGỌC
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN
NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60.38.30 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN
THÂN, QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH
VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ
09
1.1.2.1 Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản 14 1.1.2.2 Thiệt hại trong quan hệ nhân thân là yếu tố không định
lượng được một cách trực tiếp
15
1.2.2 Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh 17
1.3 Đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân đối với hình
ảnh
19
1.3.1 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân
không gắn với tài sản
1.3.4 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân
được bảo hộ vô thời hạn
21
1.3.5 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ
khi có yêu cầu
22
1.3.6 Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm các hành vi
xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền
22
1.4 Giới hạn của quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá
nhân
23
1.4.1 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong
trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba hoặc đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh
23
Trang 31.4.2 Phân biệt quyền nhân thân đối với hình ảnh và quyền đối
với từng hình ảnh cụ thể
27
1.5 So sánh quyền nhân thân đối với hình ảnh với một số
quyền nhân thân khác
1.7.2 Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm
hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người
vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm
41
1.7.3 Yêu cầu người xâm phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người xâm phạm bồi thường thiệt hại
44
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI
VỚI HÌNH ẢNH VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
50
2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật dân sự
2005 về bảo vệ quyền nhân thân và quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân
50
2.2 Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh
trong một số trường hợp cụ thể
54
2.2.3 Người nghi can, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự 67
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền nhân
thân đối với hình ảnh
69
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh các thiết bị quay phim, chụp ảnh ngày càng trở nên phổ biến và hiện đại, cùng sự trợ giúp của internet, hình ảnh được phát tán rộng với tốc độ lớn, không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới Việc ngăn chặn và truy tìm thủ phạm trở nên khó khăn hơn Có thể nói chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm về hình ảnh lại cao như hiện nay Bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân bị xâm phạm hình ảnh Vì vậy, câu hỏi về quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh được đặt ra Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã có những quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, nhưng việc hiểu và áp dụng các quy định đó trong giải quyết trên thực tế còn nhiều bất cập Những khó khăn vướng mắc được thể hiện trong việc xác định như thế nào là quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân; mức độ bồi thường khi bị xâm phạm được xác định như thế nào; các hình thức áp dụng để hạn chế và bảo vệ quyền này ra sao;… Trong thực tiễn, các quy định của pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh còn có những quy định đan xen vào nhau gây ra những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và gây khó khăn trong quá trình xét xử cho các cơ quan
xét xử Do vậy, việc nghiên cứu “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam”
nhằm làm rõ những quy định của pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam là đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn Qua nghiên cứu đề tài, tác giả cũng muốn xác định vai trò quan trọng của quyền nhân thân nói chung cũng như quyền nhân thân đối với hình ảnh nói riêng Đồng thời, hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân, nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy định này trong pháp luật dân sự Việt Nam
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong các công trình khoa học pháp lý ở Việt Nam từ trước đến nay, quyền nhân thân đã được đề cập đến nhiều nhưng chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện và làm rõ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay Ở những khía cạnh khác nhau, cũng đã có những công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài này đã được một số tác giả đề cập đến như đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do ThS Lê Đình
Nghị làm Chủ nhiệm đề tài: “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền
nhân thân trong pháp luật dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008
Trong đề tài khoa học này, các tác giả đã đưa ra một số khía cạnh có liên quan
đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh như bài "Quyền nhân thân
liên quan đến cá biệt hoá cá nhân: quyền của cá nhân đối với họ tên, dân tộc, hình ảnh" của ThS Nguyễn Minh Oanh, "Bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005" của TS.Nguyễn Công Bình, ; Luận văn của Tiến sỹ
Lê Đình Nghị: “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008 Trong luận án Tiến sỹ Lê Đình
Nghị, quyền nhân thân đối với hình ảnh được đề cập đến là một phần trong
quyền bí mật đời tư; Luận văn của Thạc sỹ Lê Thị Hoa: “Quyền nhân thân liên
quan đến thân thể của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005”,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006 có sự phân loại quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh thuộc nhóm quyền khác biệt với quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân Một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý
như: “Sự phát triển của pháp luật dân sự liên quan đến các quy định về quyền
nhân thân” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 3/2007) đã khái quát được quá trình
hình thành và phát triển các quy định về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự;
“Quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật một số nước phương Tây
– đối chiếu với pháp luật Việt Nam” (Chu Tuấn Đức, Tạp chí nhà nước và pháp
luật, số 4/2008) đã phân tích những quy định pháp lý về quyền của cá nhân đối với hình ảnh trên cơ sở pháp luật của các nước Phương Tây và so sánh, đối
chiếu quy định này tại Việt Nam; “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”
Trang 6(TS Bùi Đăng Hiếu, Tạp chí luật học, số 7/2009) đã phân tích khái niệm quyền nhân thân và phân loại các quyền nhân thân thành các nhóm quyền khác nhau Tuy nhiên, những công trình trên không nghiên cứu riêng và có tính hệ thống về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
Nhận thức được vấn đề này, đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ một cách chuyên
sâu, toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc, hệ thống, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như làm rõ nội dung, ý nghĩa các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; chỉ ra những điểm phù hợp với đời sống xã hội và những điều phải bổ sung các quy định về quyền nhân thân đối với hình ảnh, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam về quyền nhân thân đối với hình ảnh nói riêng và quyền nhân thân của cá nhân nói chung Đồng thời giúp các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc nhận thức đúng đắn và toàn diện khi giải quyết những tranh chấp liên quan tới quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, Luận văn phải hoàn thành một số
Trang 7dân sự Việt Nam về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh;
*Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh Tìm hiểu việc áp dụng pháp luật về vấn đề này qua hoạt động thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ Luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong thực tiễn hiện nay bao gồm: khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh; đặc điểm của quyền nhân thân đối với hình ảnh; nội dung của quyền nhân thân đối với hình ảnh; biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh; biểu hiện cụ thể của hành vi xâm phạm tới quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau đây: + Phương pháp phân tích và so sánh pháp luật: xem xét bản chất pháp lý quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, phân biệt quyền này với các quyền nhân thân khác và so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của các nước liên quan tới quyền nhân thân đối với hình ảnh
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích: được sử dụng để phân tích, tổng hợp các quan điểm, các quy định của pháp luật liên quan tới quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh từ đó rút ra những kết luận
+ Phương pháp phân tích tình huống và lựa chọn giải pháp: phân tích, đánh giá những tình huống phát sinh trong thực tiễn và đưa ra một số kiến nghị,
đề xuất liên quan tới quy định pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
5 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam - một vấn đề mới,
đã và đang gặp nhiều vướng mắc từ thực tiễn xét xử Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:
Trang 8Thứ nhất: Lần đầu tiên quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh được
nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn
Thứ hai: Quá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những tồn tại, vướng mắc
trong công tác thi hành pháp luật dân sự về quyền nhân thân của cá nhân gắn với hình ảnh của mình Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam trên cả hai phương diện
lý luận và thực tiễn
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân, quyền nhân thân đối với hình ảnh và các biện pháp bảo vệ
Chương II: Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 9CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN,
QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ 1.1 Lý luận chung về quyền nhân thân
1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân
Con người là chủ thể của xã hội, giá trị của con người luôn được coi là giá trị cao nhất và việc thừa nhận các giá trị của con người chính là việc thừa nhận các quyền của con người Đây được coi là một tiến bộ lớn trong lịch sự phát triển nhà nước của xã hội Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam, quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Trong những quyền con người được ghi nhận và bảo vệ đó có quyền nhân thân - một trong những quyền dân sự của cá nhân và được cụ thể hóa trong các quy định của Bộ luật dân
sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng
Trang 10đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó, mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định khác Theo cách hiểu này, quyền nhân thân là quyền con người được toàn quyền hưởng từ khi người đó sinh ra và
có toàn quyền tự định đoạt như quyền sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền được học hành, (ii) dưới giác độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân
sự gắn liền với mỗi cá nhân để bảo đảm địa vị pháp lý của mỗi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân thể hiện các quyền con người về dân sự trong sự bảo hộ của nhà nước và pháp luật Ở đây, quyền nhân thân đã được quy định thành điều luật
và mỗi cá nhân trong xã hội có quyền được hưởng và được nhà nước bảo vệ khi
có bất kỳ hành vi nào xâm phạm tới quyền nhân thân của họ Việc làm này đảm bảo tính răn đe và tránh được sự lợi dụng của những người cố tình sử dụng hình ảnh, tên tuổi, uy tín của những người khác, ở đây là những người nổi tiếng hoặc
có tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội Hay theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
1999 thì ˝Giá trị nhân thân của cá nhân và tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp do pháp luật quy định ˝[22, Tr.105] Cách giải thích của từ điển thuật ngữ luật học lại cho rằng quyền nhân thân chỉ là những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ còn những giá trị nhân thân không được ghi nhận thì sẽ không được coi là quyền nhân thân Điều này dường như có vẻ đã bó hẹp quyền nhân thân của con người Tóm lại, điểm chung của các nhà làm luật đều cho rằng quyền nhân thân của cá nhân là những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ nhằm đảm bảo địa vị pháp lý của mỗi cá nhân trong xã hội, mỗi người có quyền nhân thân riêng và không ai được phép xâm phạm tới quyền đó
Bộ luật dân sự 2005 quy định quyền nhân thân tại Điều 24, như sau:
"Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển
Trang 11giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" Với quy định
này, ta thấy quyền nhân thân được nhận định ở hai khía cạnh: quyền nhân thân
là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân; và quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác
Thứ nhất, Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân
Trước hết, chúng ta cần hiểu như thế nào là quyền dân sự Quyền dân sự được hiểu là ˝những quyền công dân được thể hiện trong mối quan hệ giữa các cá nhân và được bảo đảm bằng pháp luật dân sự˝ [23, Tr.6]
hoặc ˝quyền dân sự là cách
xử sự được phép của chủ thể trong quan hệ dân sự Quyền dân sự hiểu theo nghĩa rộng là quyền của chủ thể được pháp luật quy định như là nội dung của năng lực pháp luật của chủ thể đó Như vậy, các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự khác nhau thì có các quyền dân sự khác nhau Quyền dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là quyền của chủ thể trong quan hệ dân sự nhất định mà chủ thể đó đang tham gia; quyền tự mình thực hiện những hành vi nhất định, quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm˝ [22, Tr.104]
Vì vậy, quyền nhân thân là một khái niệm được bao hàm trong khái niệm quyền dân sự
Thứ hai, Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác nghĩa là
quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó có quyền thực hiện hoặc do người đại diện của họ thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật quy định Quyền nhân thân không thể định đoạt (chuyển giao) được cho người
Trang 12khác nghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch như mua bán, trao đổi, tặng cho, Trên thực tế, tính không thể định đoạt của quyền nhân thân của cá nhân chỉ là tương đối, bởi trong một số trường hợp, quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật như quyền nhân thân gắn liền với tài sản được phép chuyển giao như tác giả của tác phẩm có thể được chuyển giao cho người thừa kế Trong nghiên cứu mới đây
về quyền nhân thân, có quan điểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ sở tức là quyền nhân thân gốc và quyền nhân thân phái sinh Quyền nhân thân cơ sở tức là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó không thể chuyển nhượng như quyền đối với hình ảnh hoặc quyền đối với đời tư Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mại như việc những người nổi tiếng ký những hợp đồng sử dụng hình ảnh của mình với các cơ quan báo chí, xuất bản [23, Tr.10]
Nếu so sánh quyền nhân thân do luật dân sự điều chỉnh với quyền nhân thân không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có sự khác biệt Quyền nhân thân được điều chỉnh bởi luật hành chính là các quy định về trình tự, thủ tục để xác định các danh hiệu cao quý của Nhà nước; tặng thưởng các loại huân, huy chương; công nhận các chức danh Còn theo luật hình sự, quyền nhân thân được điều chỉnh dưới khía cạnh bảo vệ các giá trị nhân thân bằng quy định những hành vi nào xâm phạm đến những giá trị nhân thân nào thì được coi là tội phạm, như tội vu khống, tội làm nhục người khác, Khác với sự điều chỉnh của các ngành luật trên, luật dân sự điều chỉnh quyền nhân thân bằng các quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, giới hạn của các quyền nhân thân đó và các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân đó[21]
Với việc Bộ luật dân sự 2005 quy định hai yếu tố để phân biệt quyền nhân thân như phân tích trên, thực sự chưa làm rõ định nghĩa về quyền nhân thân Để phân biệt quyền nhân thân với quyền tài sản thì hai yếu tố này đã đủ để nhận biết quyền nhân thân Vì quyền tài sản là quyền xử sự của các cá nhân thông qua một tài sản, định giá được và chuyển giao được (Điều 181 BLDS 2005) Nhưng
để phân biệt quyền nhân thân với quyền tài sản mang tính nhân thân thì hai yếu
Trang 13tố này không đủ để phân biệt Vì bản chất quyền tài sản mang tính nhân thân là quyền không định giá được, không chuyển giao được và gắn liền với mỗi cá nhân, như quyền cấp dưỡng; quyền thừa kế; quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín Và những thuộc tính này của quyền tài sản mang tính nhân thân cũng được quy định đối với quyền nhân thân theo định nghĩa tại Điều 24 BLDS 2005 Chính vì lý do đó, việc quy định hai yếu tố của quyền nhân thân theo luật định chưa đủ phân biệt quyền nhân thân với quyền tài sản mang tính nhân thân
Nếu đối tượng của quyền tài sản là những tài sản có thể định giá được bằng tiền thì đối tượng của quyền nhân thân là những giá trị nhân thân, giá trị tinh thần gắn liền với cá nhân đó, không thể định giá được Khi những giá trị nhân thân, giá trị tinh thần bị xâm phạm thì cá nhân cũng chỉ được bồi thường nhằm bù đắp một phần nào đó tinh thần cho cá nhân bị xâm phạm Quyền nhân thân luôn hướng tới những giá trị tinh thần như quyền đối với họ tên; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền tự do đi lại, tự do cư trú Tất cả những quyền này liên quan mật thiết đến những nhu cầu cần có của một cá nhân sống trong xã hội Và bất cứ ai cũng không được phép xâm phạm Đây là điểm quan trọng nhằm phân biệt quyền nhân thân và quyền tài sản mang tính nhân thân Vì đối tượng của quyền nhân thân là những giá trị tinh thần của chủ thể còn đối tượng của quyền tài sản mang tính nhân thân là những giá trị tài sản gắn liền với bản thân cá nhân đó như quyền yêu cầu cấp dưỡng; quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật Trường hợp pháp luật có quy định quyền nhân thân mà theo đó một chủ thể có thể chuyển giao được cho người khác, như Điều
738 BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân của tác giả trong đó có quy định tác giả có quyền "cho phép người khác công bố tác phẩm" Thực chất quyền công bố tác phẩm là quyền tài sản mang tính nhân thân vì nó mang tính công bố giá trị tác phẩm, mang dấu ấn của tác giả – tức là những giá trị tài sản gắn liền với tác giả chứ không phải quyền nhân thân của tác giả Mà ở đây, quyền nhân thân của tác giả chính là quyền đứng tên cho tác phẩm đó, quyền đặt tên cho tác phẩm đó
Trang 14Ngoài ra, quy định của Bộ luật dân sự 2005 về quyền nhân thân "chỉ gắn liền với mỗi cá nhân" (Điều 24) Quy định này dẫn tới cách hiểu chỉ cá nhân mới
có quyền nhân thân còn các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự thì không
có quyền nhân thân Điều này mẫu thuẫn với quy định tại chương IV về pháp nhân trong Bộ luật dân sự 2005 Vì theo những quy định tại chương này thì pháp nhân cũng có những đặc điểm thể hiện quyền nhân thân của pháp nhân như tên gọi (họ, tên); quốc tịch; trụ sở; khai sinh (thành lập); khai tử (phá sản); danh dự;
uy tín Do đó, điều này đã minh chứng rằng không chỉ cá nhân mà pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác đều có quyền nhân thân Nói một cách khác là quyền nhân thân gắn liền với mỗi chủ thể
Với những phân tích trên đây, chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về quyền
nhân thân như sau: "Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với những giá trị
tinh thần của mỗi chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác, không định giá được bằng tiền, trừ trường hợp do pháp luật quy định"
1.1.2 Đặc điểm của quyền nhân thân
Quyền thân thân là một quyền dân sự đặc biệt nên cũng có đặc điểm riêng Trong khoa học pháp lý, việc nghiên cứu các đặc điểm của quyền nhân thân là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh của pháp luật Trên thực tiễn, để xem xét các đặc điểm của quyền nhân thân người ta thường đặt chúng trong mối tương quan với các quyền tài sản bởi vì đây là hai nhóm quyền chính của quyền dân sự đồng thời giữa chúng có những điểm khác biệt rất căn bản
Quyền nhân thân có những đặc điểm sau:
1.1.2.1 Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản
Đối tượng của quyền nhân thân là những giá trị tinh thần – bản thân là các giá trị phi tài sản "Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền"[32]
Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản thể hiện
hai khía cạnh là không có yếu tố tiền bạc và không thể là đối tượng để trao đổi, mua bán, tặng cho Do đó, đây là đặc điểm khác biệt tiếp theo giữa quyền nhân thân với quyền tài sản Vì quyền tài sản luôn mang tính chất tài sản, nên luôn
Trang 15xác định được bằng một giá trị vật chất nhất định Dựa trên nguyên tắc đền bù ngang giá
1.1.2.2 Thiệt hại trong quan hệ nhân thân là yếu tố không định lượng được một cách trực tiếp
Vì quyền nhân thân là quyền dân sự ghi nhận những giá trị tinh thần của con người Đối với mỗi cá nhân giá trị đó không có chuẩn mực chung, cũng không có tiêu chí chung Khi quyền nhân thân bị xâm phạm, các thiệt hại vật chất được xác định cụ thể chỉ những thiệt hại tinh thần mới không thể xác định chính xác Nhưng đặc trưng này không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đã gây ra đối với những thiệt hại về tinh thần Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được xác định là người thực hiện hành vi vi phạm phải bù đắp phần nào những tổn thất tinh thần đã gây ra cho người bị thiệt hại Thiệt hại về tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người, thể hiện bằng việc con người phải chịu những lo lắng, đau đớn về tinh thần Sự đau khổ này ở từng người thể hiện cũng không giống nhau Còn đối với quyền tài sản, do đối tượng của quyền tài sản là tài sản – những giá trị vật chất, có thể dùng những đại lượng
cụ thể để cân đo đong đếm được Khi tài sản bị thiệt hại bao nhiêu thì được bồi thường bấy nhiêu
1.2 Khái niệm quyền nhân thân với hình ảnh
1.2.1 Hình ảnh
Trên thực tế hiện nay, khi tìm kiếm định nghĩa về hình ảnh, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng chưa có một định nghĩa nào thật sự ngắn gọn dễ hiểu đối với khái niệm này Việc hiểu “hình ảnh” là gì phụ thuộc chủ yếu vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một cách thức định nghĩa riêng phù hợp với chuyên môn của chính ngành đó Theo từ điển Tiếng Việt, của Viện ngôn ngữ học 2000, giải thích hình ảnh ˝là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt" Trong triết học, hình ảnh được coi “là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm
Trang 16giác, tri giác và biểu tượng; ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán
và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan; về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình kí hiệu khác nhau”[21] Đối với định nghĩa hình ảnh của triết học, ta thấy rằng các nhà triết học đã chỉ ra được những thuộc tính cơ bản của hình ảnh nhưng vẫn là sự phân tích trên từng mặt riêng biệt Điều này có sự khác biệt tương đối với cách định nghĩa hình ảnh của nhiếp ảnh
và mỹ thuật Nếu như nhiếp ảnh coi “hình ảnh” là sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức sự vật bằng mắt và chỉ gồm hai yếu tố cơ bản là hình dáng của vật thể và sắc độ của hình ảnh, thì mỹ thuật lại xem “hình ảnh” như là sự diễn tả hay tái hiện một vật, một người trong nghệ thuật tạo hình Nếu như trong nhiếp ảnh,
vẻ bên ngoài của vật thể mẫu được chú ý đề cao thì trong mỹ thuật, ngoài việc sao chép vẻ bên ngoài của vật mẫu, hình ảnh còn phải thể hiện được cái tinh thần của mẫu Qua những định nghĩa trên, tựu trung lại ta có thể tạm hiểu hình ảnh chính là sự sao chép lại những hình ảnh, biểu tượng, có thể được nhận thức bằng chính tư duy của con người hoặc bằng các cách thức sao chụp nguyên mẫu Tuy nhiên, hình ảnh không tồn tại độc lập với đối tượng của sự phản ánh Mặc
dù hình ảnh khách quan về mặt nội dung khi phản ánh chân thực đối tượng song hình ảnh không bao giờ có thể hàm chứa hết các thuộc tính và quan hệ của đối tượng, nguyên mẫu Hình ảnh không chỉ đơn thuần là sự sao chép nguyên mẫu
mà qua sự sao chụp đó còn phải gây được sự chú ý với con mắt nhìn, thể hiện được nội dung, lột tả được tinh thần của vật mẫu, thể hiện cá tính nghệ thuật và dấu ấn riêng
Khái niệm ˝Hình ảnh của cá nhân˝ bao gồm mọi hình thức tác phẩm ghi lại hình dáng của con người cụ thể như chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa Đứng về mặt ˝quyền sở hữu trí tuệ˝ thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác phẩm, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao chép, họa hình ) Nhưng đứng về
Trang 17mặt ˝quyền nhân thân của con người˝ thì ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người đó
Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến hình ảnh của con người Hình ảnh của cá nhân có thể được hiểu là sự tái hiện lại vẻ bề ngoài của một người bằng cách thức nào đó có thể ghi lại và gây ấn tượng thị giác cho những người khác Khi được mọi người nhìn vào hình ảnh tái hiện đó có thể nhận diện được rằng đó là ai Do đó, hiện nay pháp luật đã bắt đầu đặt ra những quy định cụ thể về quyền nhân thân đối với hình ảnh Vậy quyền nhân thân đối với hình ảnh là gì?
1.2.2 Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh
Nhà nước ta luôn đề cao nguyên tắc bảo vệ quyền tự do của công dân Nhưng từ khi Quốc Hội thông qua BLDS 1995 đã quy định quyền đối với hình ảnh (Điều 31); quyền bí mật đời tư (Điều 34); quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33) Đây là dấu mốc quan trọng trong sự phát triển pháp luật dân sự của Việt Nam Nếu trong Bộ luật dân sự Pháp, chỉ quy định quyền của cá nhân đối với đời tư (Điều 9, Bộ luật dân sự Pháp) và sử dụng án lệ trong quá trình xét xử thì trong BLDS của Việt Nam, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh đã được quy định trực tiếp, cụ thể ngay trong luật Tiếp tục kế thừa BLDS 1995, BLDS 2005 đã bổ sung một số nội dung cho điều luật quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh Đó là việc sử dụng hình ảnh của người dưới mười lăm tuổi phải được cha, mẹ hoặc người đại diện của người đó đồng ý, nhằm điều chỉnh hiện tượng một số lịch in hình trẻ em mà không xin
cha, mẹ, vợ, chồng, con Việc sử dụng hình ảnh để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có ảnh bị nghiêm cấm [28, Tr.45-46]
Nếu đối chiếu với luật của nước ngoài thì cơ chế pháp luật của Việt Nam khá hoàn chỉnh Cá nhân được bảo vệ hình ảnh dưới nhiều hình thức, dù là tranh vẽ, ảnh chụp hoặc quay phim Điều quan trọng là hình ảnh phải lấy từ một người và giống với người đó
[26, Tr.77]
Giống như quy định của một số nước, quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam chỉ bảo vệ hình ảnh của cá nhân mà người trong ảnh có thể bị nhận
Trang 18dạng, không phụ thuộc vào việc ảnh có khuân mặt hay có ghi tên của cá nhân
đó Trừ trường hợp vì lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thì việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó Thực tế, hầu như mọi người chưa nhận thức rõ quyền đối với hình ảnh của chính bản thân mình đồng thời chưa triệt để bảo vệ hình ảnh của cá nhân khi có hành vi xâm phạm của người khác
Theo Điều 31 BLDS 2005 quy định:
″1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình
2 Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác
3 Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.″
Qua Điều 31 Bộ luật dân sự Việt Nam nhận thấy rằng khung pháp lý chưa đưa ra khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh Đây được xem là một trong những khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quan tới hình ảnh của cá nhân Cũng như đối với giới luật học thì khái niệm này cũng chưa được đề cập một cách khái quát nên việc hiểu quyền nhân thân đối với hình ảnh còn rất mơ hồ và không ai nhận thấy giá trị thật của quyền này đem lại Quyền đối với hình ảnh có thể là quyền của cá nhân đối với diện mạo bên ngoài của mình như hình dáng khuôn mặt, cử chỉ, điệu bộ Ngay cả hình ảnh chụp một người từ phía sau vẫn có thể vi phạm quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh nếu qua hình ảnh đó có thể nhận
ra người này nhờ vào hình thể, tư thế và kiểu tóc của anh ta Hoặc quyền đối với hình ảnh của cá nhân có thể hiểu là hình ảnh được tạo nên bởi sự công nhận của công chúng và gắn liền với hình ảnh của cá nhân; như hình ảnh người đàn bà đẹp gắn liền với nữ diễn viên Julia Robert Bộ luật dân sự chỉ đưa ra một khía cạnh của quyền nhân thân đối với hình ảnh, quy định mọi cá nhân có quyền đối
Trang 19với hình ảnh của mình mà không quy định rõ quyền đối với hình ảnh là như thế nào Nhưng có thể thấy theo bản chất pháp lý thì cách hiểu thứ nhất về quyền đối với hình ảnh hợp lý với khái niệm quyền nhân thân của cá nhân Vì quyền nhân thân của cá nhân là quyền mà mọi cá nhân đều có quyền hưởng Còn cách hiểu quyền đối với hình ảnh được công chúng công nhận thì chỉ giới hạn trong một bộ phận cá nhân trong xã hội, ở đây chỉ là những người nổi tiếng bao gồm diễn viên, nhà chính trị, Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền tuyệt đối của cá nhân nên chỉ có cá nhân đó mới có quyền quyết định việc thay đổi hình ảnh hay vẻ bề ngoài của mình; như cắt một kiểu tóc, trang điểm khuôn mặt, phong cách thời trang là sự lựa chọn của chính cá nhân đó (trừ những người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì việc làm này phải có sự đồng ý của người đại diện của họ là cha, mẹ, vợ, chồng, con ) Hình ảnh thường để lại dấu ấn nhiều hơn trong trí nhớ của con người; như một học vị tiến
sỹ được ghi danh thì người ta chỉ biết tên của tiến sỹ đó mà không biết được mặt của người đó trông như thế nào, nên thường khi đưa tên tuổi của một ai đó, cơ quan báo chí thường đăng kèm với hình ảnh của người đó để mọi người biết được rằng người này chính là vị tiến sỹ được nhắc đến Chỉ trong một số trường hợp, việc đăng tải hình ảnh gây ảnh hưởng tới tên tuổi, danh dự, nhân phẩm của người đó thường không được đăng tải hoặc có được đăng tải thì sẽ làm nhoè khuôn mặt để nhằm tránh được sự quấy nhiễu, làm phiền của xã hội đối với người đó; như hình ảnh một cô gái HIV nói về cuộc đời của cô; hình ảnh cháu
bé bị kẻ xấu xâm hại tình dục
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi có thể hiểu quyền nhân thân đối
với hình ảnh của cá nhân "là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân liên quan
đến việc tạo dựng, sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh theo ý chí của chính
cá nhân đó"
1.3 Đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân đối với hình ảnh
Quyền đối với hình ảnh thuộc một trong những quyền nhân thân của cá nhân Ngoài việc mang những đặc điểm của quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân đối với hình ảnh cũng có những đặc điểm riêng biệt
Trang 20Quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân có những đặc điểm sau:
1.3.1 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản
Đặc tính không gắn với tài sản là một trong những đặc tính cơ bản để phân biệt quyền nhân thân không gắn với tài sản với quyền nhân thân gắn với tài sản (quyền đứng tên tác giả, quyền đặt tên cho tác phẩm) Vì quyền nhân thân đối với hình ảnh luôn gắn với chính hình ảnh bản thân của người đó và mỗi một chủ thể có một hình ảnh riêng biệt Mỗi chủ thể được công nhận một cách vô điều kiện với quyền nhân thân gắn với hình ảnh Hình ảnh bên ngoài của cá nhân là yếu tố nhận dạng cá nhân đó, không phải là một loại tài sản để đem ra giao dịch Điều này hoàn toàn khác với quyền tài sản đối với hình ảnh, vì quyền tài sản đối với hình ảnh nghĩa
là hình ảnh của cá nhân được sử dụng trong giao dịch thương mại, quảng cáo Quyền này được phép mang ra kinh doanh nhằm thu lại lợi nhuận cho bản thân cá nhân Do
đó, khi sử dụng hình ảnh của cá nhân vào mục đích quảng cáo thì cần phải có sự đồng ý của cá nhân đó Quyền nhân thân đối với hình ảnh được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó
1.3.2 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân
Đặc tính quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân Đặc điểm này nhằm phân biệt giữa quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và quyền đối với hình ảnh của pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác Vì hình ảnh của pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác được pháp luật thừa nhận thông qua cơ chế bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ hay nói cách khác là nhãn hiệu được bảo hộ Còn quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân thì chỉ thuộc duy nhất cá nhân đó Xã hội rất phong phú, mỗi người có một hình dạng, đặc điểm, hình ảnh không ai giống ai, mỗi người chỉ có một Nếu có thì cũng chỉ là tương đồng chứ không có sự hoàn toàn giống nhau Như những cặp sinh đôi, nhìn thì tưởng hoàn toàn giống nhau nhưng nếu xem xét kỹ thì vẫn có những điểm đặc trưng chỉ thuộc về người đó Vì vậy, hình ảnh của cá nhân là một đặc tính không thể tách rời khỏi cá nhân đó
1.3.3 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá biệt hóa chủ thể
Trang 21Cùng với quyền của cá nhân đối với họ tên và dân tộc, quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân Đây là những quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với bản thân cá nhân đó Quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân là những quyền nhân thân ghi nhận những đặc điểm của mỗi cá nhân, là cơ sở
để xác định những dấu hiệu cơ bản của quyền cá biệt hóa của cá nhân trong quan hệ
xã hội nói chung và trong quan hệ dân sự nói riêng Quyền cá biệt hóa chủ thể được thể hiện dưới hình thức các công cụ cá biệt hóa khác nhau ở mỗi chủ thể như mỗi người có tên gọi, hình ảnh và các yếu tố lý lịch khác nhau Tập hợp các công cụ cá biệt hóa đó ở mỗi chủ thể sẽ cho ra sự hình dung bên ngoài về chủ thể đó khác biệt
với các chủ thể khác Quyền ˝thể hiện mình˝ được bảo vệ một cách tuyệt đối trước sự
xâm phạm của bất kỳ chủ thể nào khác và được bảo vệ theo yêu cầu của chủ thể có quyền Chính vì lý do đó, mà đại đa số các giấy tờ tùy thân hoặc các bằng cấp của cá nhân bao giờ cũng có ảnh bên cạnh họ tên của cá nhân Điều này lý giải tại sao hình ảnh của cá nhân có vai trò quan trọng trong việc nhận biết, nhận dạng một cá nhân và
là một trong những yếu tố không thể thiếu của quyền cá biệt hóa chủ thể Tôn trọng tính cá biệt của một người còn có nghĩa là bảo vệ nhân cách của họ không bị làm sai lệch
1.3.4 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân được bảo hộ
vô thời hạn
Hình ảnh được hiểu là sự tái hiện lại vẻ bề ngoài của một người bằng cách thức nào đó có thể ghi lại và gây ấn tượng thị giác cho người khác Khi mọi người nhìn vào hình ảnh tái hiện đó có thể nhận diện được rằng đó là ai Cùng với các đặc điểm riêng biệt của quyền nhân thân như không thể chuyển giao được cho các chủ thể khác, là một bộ phận của quyền chủ thể của cá nhân, Có thể thấy rằng, hình ảnh của cá nhân không những gắn liền với cá nhân đó khi người đó còn sống mà gắn với bản thân người đó cả khi đã mất Quyền nhân thân đối với hình ảnh liên quan đến những dấu ấn về hình ảnh gắn liền với người đó và không thể thay thế được Quyền nhân thân đối với hình ảnh được bảo hộ vô thời hạn nghĩa là thời hạn được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn Ngay cả sau khi một người đã chết thì người thân thích (bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng, con) được quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm tới hình
Trang 22ảnh của người đã khuất
1.3.5 Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ khi có yêu cầu
Khi quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm thì cá nhân
có hình ảnh bị xâm phạm phải là người đánh giá xem quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình có bị xâm phạm hay không, tự quyết định có yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm hay không Nhà nước sẽ chỉ can thiệp và bảo vệ khi có yêu cầu Vì hiện nay, với việc phát tán hình ảnh rộng rãi mà hầu như không có sự đồng ý của cá nhân
có hình ảnh hoặc cá nhân có hình ảnh bị phát tán không hề biết hình ảnh của mình đã
bị sử dụng dẫn đến rất nhiều vụ việc xâm phạm tới hình ảnh của cá nhân, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng cho những người đó Tuy nhiên, số vụ mà tòa án giải quyết thì không nhiều vì chỉ khi nào có yêu cầu của chủ thể quyền thì Tòa án mới can thiệp Yêu cầu ở đây có thể là của chính chủ thể quyền (đương sự) hay của những người đại diện của chủ thể quyền Do đó, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh được bảo vệ khi có yêu cầu từ phía người có quyền liên quan
1.3.6 Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền
Nếu dựa vào đặc điểm của hành vi xâm phạm có thể phân loại quyền nhân thân thành ba nhóm: (i) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào chính chủ thể quyền; (ii) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào các chủ thể khác (không phải là chủ thể quyền); (iii) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền Đối với nhóm thứ nhất đó là hành vi xâm phạm tác động trực tiếp vào chủ thể quyền gây ra những hậu quả là những tổn thất liên quan đến tính mạng, sức khỏe, thân thể, cho chính chủ thể quyền Nhóm thứ hai thì hành vi xâm phạm tác động vào các chủ thể khác làm ảnh hưởng đến sự đánh giá, nhìn nhận của các chủ thế khác đối với chính chủ thể quyền như tung tin sai
sự thật nhằm xâm phạm danh dự, uy tín của cá nhân; Nhóm thứ ba được hiểu
là hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan tới chính chủ thể có quyền như thư tín, chỗ ở, sách báo, [ 39]
Chúng ta thấy rằng, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân gián tiếp đã xâm phạm tới quyền nhân thân của cá nhân đối với
Trang 23hình ảnh Khi quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm dẫn tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm Đồng nghĩa với việc
cá nhân đó phải gánh chịu những tổn thất trực tiếp do hành vi xâm phạm đó gây
ra Khắc phục những hậu quả này, chủ thể có hành vi bị xâm phạm tác động tới quyền được yêu cầu buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai và được bồi thường một khoản tiền nhằm bù đắp một phần nào đó thiệt hại về tinh thần của mình
1.4 Giới hạn của quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân tuyệt
đối của cá nhân, không thể chuyển giao Tuy nhiên, quyền này cũng có một vài ngoại
lệ Mục này nhằm phân tích một số giới hạn của quyền nhân thân đối với hình ảnh
khi được áp dụng trong thực tiễn
1.4.1 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba hoặc đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh
Trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba
Bản thân quyền nhân thân đối với hình ảnh là một quyền tuyệt đối của cá nhân Quyền này hoàn toàn được bảo vệ một cách vô điều kiện khi cá nhân có hình ảnh thấy rằng hình ảnh của mình bị xâm phạm Thực tế, nhiều văn bản luật dù chặt chẽ đến mấy cũng không thể giải quyết thỏa đáng được tất cả những vấn đề rắc rối phát sinh hàng ngày trong cuộc sống Bởi vậy, quyền nhân thân đối với hình ảnh không nằm ngoài ngoại lệ này Theo Bộ luật dân sự 2005 tại Điều 31 thì ˝cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình˝ Như quy định tại điều luật này dẫn đến cách hiểu
là cá nhân hoàn toàn được phép định đoạt những gì mình muốn với hình ảnh của mình, không một ai được quyền ngăn cản hay được phép xâm phạm Điều này cũng dẫn đến nhiều cá nhân có cách hành xử làm mất chuẩn mực chung Xã hội là một cộng đồng người, việc hành xử như thế nào cũng phải nằm trong chuẩn mực xã hội
đó Chính vì lẽ đó, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trường hợp xung đột với quyền lợi chung Nghĩa là quyền đối với hình ảnh có sự khác biệt về giá trị văn hóa, quan điểm và yếu tố xã hội góp phần làm nảy sinh các
Trang 24xung đột với các quyền lợi chung của cộng đồng Cá nhân không thể viện dẫn quyền nhân thân đối với hình ảnh nếu họ chỉ có mặt trong một bức ảnh chụp phong cảnh hoặc ảnh chụp các buổi tụ tập đông người như mít tinh, biểu tình, Ở đây, người chụp ảnh không nhằm ghi hình đương sự mà ghi hình phong cảnh hoặc các sự kiện đang diễn ra Đương sự chỉ là một bộ phận bổ trợ trong phong cảnh hoặc sự kiện đó Trường hợp người chụp ảnh tập trung mô tả đương sự, trong đó phong cảnh và sự kiện chỉ đóng vai trò làm nền thì vấn đề quyền nhân thân đối với hình ảnh sẽ được đặt ra (đương sự bị chụp cận cảnh và tách hẳn với bối cảnh xung quanh)[38] Tại Việt Nam không có quy định cụ thể nào phân biệt rõ hình ảnh bắt buộc xin phép cá nhân
và hình ảnh được phép chụp hình Ví dụ đối với hình ảnh được công bố nhằm mục đích truy nã Đó là những hình ảnh chung pháp luật của các nước đều cho phép đăng hình tội phạm bị truy nã để phục vụ cho việc truy bắt tội phạm Vì đây là những đối tượng nguy hiểm cho xã hội, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên việc cơ quan hành pháp được quyền đăng hình tội phạm bị truy nã giúp người dân nhận biết được kẻ nguy hiểm đồng thời giúp trong việc phát hiện tội phạm này Tuy nhiên, cũng nên hiểu một cách đúng đắn về vấn đề này, tránh cách hiểu cứ có hành vi phạm tội là cơ quan nào cũng được phép đăng hình Như vụ dán ảnh 5 người lấy trộm hàng hóa của Siêu thị Intimex Nghệ An (thuộc Chi nhánh Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam tại Nghệ An) đóng trên địa bàn phường Trung Đô, TP Vinh (Nghệ An) vào một tấm bảng lớn có nội dung là dòng chữ: "Các đối tượng lấy cắp hàng hóa tại Siêu thị Intimex Nghệ An" Ảnh được in màu, phía dưới ảnh có chú thích họ tên, quê quán rõ ràng của từng người, có ảnh còn ghi cả ngày tháng năm sinh và nơi người đó đang theo học Nhưng không có thông tin họ đã lấy những gì và lấy bao nhiêu, từ khi nào
Việc làm của Siêu thị Intimex là hoàn toàn không đúng, dán ảnh như thế không khác là truy nã Mà những vụ ăn cắp phát hiện được đều nhỏ nên không thể cấu thành tội phạm và khởi tố Quy định đăng hình truy nã tội phạm chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được ra quyết định đối với những tội phạm gây nguy hiểm cho xã hội Cũng theo Điều 24 Luật bản quyền Đức năm 1907, các cơ quan có thẩm quyền được phép công khai đăng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự đồng ý của người
đó vì lý do bảo vệ pháp luật hoặc an ninh công cộng Thậm chí, Luật Tố tụng hình sự
Trang 25Đức (StPO) còn cho phép đăng hình tìm kiếm nhân chứng Đối với nước ngoài, đã
có luật cho nhà nhiếp ảnh (photographier’s right) Trong luật này phân định rõ giới hạn mà nhiếp ảnh gia được phép chụp hình mà không cần sự xin phép của cá nhân
đó Như chụp ảnh trên đường, bãi biển, bãi đỗ xe, công viên, là người chụp ảnh hoàn toàn được quyền chụp ảnh mà không cần phải xin phép Việc bắt buộc phải xin phép chụp ảnh quy định ở nước ngoài là khi nhiếp ảnh gia có nhu cầu chụp ảnh tư gia của cá nhân đó hoặc chụp ảnh cá nhân đó nhằm mục đích kinh doanh thương
mại Nhưng ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào nên việc ″thích là chụp″ diễn ra tràn lan Đặc biệt là chụp ảnh đăng bài của các báo hoặc sử dụng hình ảnh ″chùa″
của người nổi tiếng vào việc quảng cáo cho cửa hàng
Không chỉ vậy, quyền nhân thân đối với hình ảnh còn xung đột với quyền lợi chung ở khía cạnh quyền được riêng tư hay theo ngôn ngữ xã hội gọi là ˝chủ nghĩa tự sướng˝ Quyền được riêng tư luôn là lý do đầu tiên và gần như là duy nhất đưa ra để
biện minh cho những hình ảnh ˝nóng˝ của tất cả những người dù nổi tiếng hay không
nổi tiếng lỡ bị lọt ra ngoài Họ thấy rằng đó là trào lưu và thường nghĩ rằng mình sẽ trở thành người nổi tiếng, được nhiều người biết đến
Đặc biệt là đối với những người lãnh đạo có ảnh hưởng đến cộng đồng chung, những hành động của họ gần như trở thành cách xử sự để người dân nhìn nhận và đánh giá, do đó họ cần phải xử sự mẫu mực cho cộng đồng và xã hội Như Tống thống là một chức sắc, thực sự là bộ mặt của một đất nước nên những hành động của ông/bà luôn nhận được sự quan tâm, theo dõi sát sao Khi hình ảnh của Tổng thống gây phản cảm thì gần như công dân của đất nước đó sẽ cho rằng đó là điều làm xấu
đi bộ mặt đất nước mình đối với các quốc gia khác trên thế giới Do đó, hiện nay các nhà chính trị thường rất cẩn trọng từ lời ăn, tiếng nói, hình ảnh khi xuất hiện trước công chúng
Ngoài ra, trường hợp xung đột với người thứ ba ở đây, tác giả muốn đề cập đến khía cạnh đối với những bức ảnh chụp chung với mọi người như chụp với bạn
bè, gia đình, hoặc với những người nổi tiếng Vậy với quy định khá chặt chẽ của luật dẫn tới những bức ảnh được đăng bởi bạn bè, gia đình của mình thì có cần phải được phép đăng hình này hay không Điều đó theo luật quy định thì hoàn toàn là
Trang 26đúng Việc đăng ảnh cần phải xin phép những người có mặt trong bức hình đó Nhưng điều luật nào cũng có những giới hạn và ngoại lệ Trong trường hợp này quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh cũng đã bị giới hạn Vì theo quan điểm của tác giả khi chúng ta đứng vào bức ảnh đó, chụp chung với mọi người thì mặc nhiên thừa nhận là chúng ta đã chấp nhận là người đó được phép đăng ảnh của mình Việc này không gây thiệt hại gì cho người có mặt trong bức ảnh Ví dụ như, khi ta cùng với bạn bè đi chơi và chụp chung với nhau những bức ảnh để kỷ niệm thì việc làm này là hoàn toàn do ý chí tự nguyện của chúng ta Vì nếu chúng ta không thích như vậy thì chúng ta có thể hành xử khác như là không đứng vào khuôn ảnh hoặc từ chối chụp ảnh Tuy nhiên đối với những bức ảnh chụp lén lút thì ta vẫn hoàn toàn có quyền không cho phép đăng tải lên
Đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân đều được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Khi hành vi xâm phạm xảy ra thì hai bên có thể tự thỏa thuận Nguyên tắc hòa giải luôn được pháp luật dân sự khuyến khích Và chỉ khi hai bên không thống nhất ý chí được với nhau thì tranh chấp mới xảy ra và phát sinh thủ tục tố tụng Tòa
án là cơ quan xét xử các vụ việc này và Tòa án chỉ thực sự tiến hành xét xử khi có đơn yêu cầu của đương sự Đấu tranh, bảo vệ hình ảnh của mình trước hết phải là nghĩa vụ, quyền của chính người đó Thực tế, chúng ta cũng chưa xử lý tốt việc truy xét hay tìm ra manh mối kẻ phát tán nhưng hầu như những vụ bị phát tán hình ảnh (đặc biệt là hình ảnh khoả thân) lên mạng thì không thấy người gây ra hành vi nhận trách nhiệm Hầu hết các trường hợp bị phát tán hình ảnh đều bảy tỏ trạng thái sốc và không thể ngờ tới Điều này đã gây ra tâm lý ngại không muốn khơi ra của chính người bị hại, đã khiến những kẻ phát tán hình ảnh vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và có cơ hội sẽ thực hiện tiếp Nạn nhân không tự mình viết đơn tố cáo, đề nghị
cơ quan điều tra, xử lý thì những vụ việc trên chỉ dừng lại ở quan hệ dân sự, các bên
tự thoả thuận và giải quyết Vì vụ án, vụ việc dân sự xảy ra thường ngày rất nhiều, Tòa án không thể giải quyết được tất cả Cũng như Tòa án không thể tìm hiểu được
ai bị xâm phạm quyền dân sự mà xét xử giúp họ Nếu chủ thể nào cần sự phân xử của Tòa án thì buộc phải có yêu cầu thì Tòa mới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 27cho họ Hiện nay, xã hội có quá nhiều vụ xâm phạm hình ảnh của cá nhân như chụp ảnh lén lút, quay lén đời sống riêng tư và đăng tải lên internet với phản ứng dây chuyền cực nhanh và không thể kiểm soát nổi thì việc tìm ra kẻ phát tán hình ảnh cũng khó xác định Những hành vi phát tán này đã làm ảnh hưởng đến truyền thống văn hoá nói chung Trong đó, các văn bản pháp luật đã quy định rõ việc xử lý những người xâm phậm quyền nhân thân đối với hình ảnh dẫn tới xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân như Điều 31 BLDS 2005 quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải đuợc người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý nếu người đó đã chết Nếu vi phạm đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành và có thể bị truy cứu về tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ với các chế tài nghiêm khắc Do đó, không thể nói pháp luật không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà do chính đương sự từ bỏ quyền này của mình Quyền nhân thân đối với hình ảnh là một quyền cơ bản của con người nên cá nhân có toàn quyền
xử sự đối với hành vi xâm phạm tới hình ảnh của mình Nhưng một khi đương sự từ
bỏ quyền này của mình thì mặc nhiên quyền nhân thân đối với hình ảnh đó của họ cũng bị từ bỏ Vì chủ thể tự nguyện từ bỏ thì hình ảnh cũng được từ bỏ
1.4.2 Phân biệt quyền nhân thân đối với hình ảnh và quyền đối với từng hình ảnh cụ thể
Điểm khác nhau cơ bản giữa quyền nhân thân đối với hình ảnh và quyền đối với từng hình ảnh cụ thể là quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân tồn tại vô thời hạn còn quyền đối với từng hình ảnh cụ thể sẽ chấm dứt khi hình ảnh đó được
sử dụng đúng mục đích mà người có quyền đối với hình ảnh đó đã đồng ý Ví dụ như người mẫu Mai Phương Thuý đồng ý chụp bộ ảnh mùa xuân cho bộ lịch, đây gọi là quyền đối với từng hình ảnh trong bộ ảnh lịch của Mai Phương Thuý Quyền đối với
bộ ảnh lịch này của Mai Phương Thuý sẽ chấm dứt sau khi bộ ảnh này được chụp xong theo như đúng thoả thuận của Mai Phương Thuý về việc chụp bộ ảnh này Ngay sau đó, bộ ảnh lịch này có thể được sử dụng mà không cần sự đồng ý của Mai Phương Thuý Như việc nhà báo sử dụng một bức ảnh trong số bộ ảnh lịch của người mẫu Mai Phương Thuý để làm hình ảnh mang tính chất minh hoạ cho bài viết
Trang 28của mình thì nhà báo đó không cần phải có sự đồng ý của Mai Phương Thuý mà chỉ cần sự chấp nhận của cơ quan, đơn vị đã chụp bộ ảnh lịch này Vì chụp ảnh mỗi con người là không giống nhau từ cử chỉ, dáng điệu, cách ăn mặc, cách trang điểm, tạo điểm nhấn khác biệt của từng bức ảnh đối với một cá nhân Hình ảnh cụ thể là hình ảnh được chụp và trở thành một sản phẩm vật chất Quyền đối với từng hình ảnh cụ thể là việc cá nhân có quyền tự do định đoạt đối với từng bức ảnh phản chiếu lại hình ảnh của mình Thường mọi người vẫn nhầm lẫn quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh có thể đem ra trao đổi được Thực chất là không phải Vì hình ảnh
mà cá nhân đem ra giao dịch là quyền tài sản đối với hình ảnh Hình ảnh sau khi được chụp, vẽ, trở thành một tài sản và cá nhân được phép bán quyền đối với hình ảnh cụ thể đó Còn ngược lại, quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân không phải là một loại tài sản nên không thể định đoạt được, không được phép chuyển giao
Ở đây cần phải dung hòa đặc điểm không thể định đoạt của quyền nhân thân với giao dịch dân sự về hình ảnh Việc chuyển giao quyền đối với từng bức ảnh cụ thể được thể hiện rõ nét ở khía cạnh những người nổi tiếng ký hợp đồng sử dụng hình ảnh của mình với các cơ quan thông tin, xuất bản Ở Pháp, họ phân biệt quyền nhân thân cơ
sở với quyền nhân thân phái sinh Quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân không thể chuyển nhượng được quyền đối với hình ảnh của cá nhân Tức là quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mại Tức là việc người nổi tiếng ký hợp đồng đồng ý cho phép sử dụng hình ảnh của mình là quyền nhân thân phái sinh Quyền nhân thân phái sinh là quyền đối với từng bức ảnh
cụ thể nhằm khai thác danh tiếng của mình để thu lợi nhuận Tác giả cũng thấy rằng việc phân biệt quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ sở và quyền nhân thân phái sinh là hoàn toàn hợp lý nhằm phân biệt rõ quyền nhân thân gắn liền với cá nhân và quyền nhân thân được phép chuyển giao
Để làm rõ hơn cho phần này, tác giả xin đưa vụ khiếu kiện giữa Công ty nhiếp ảnh Noi Picture và ca sỹ Thanh Lam liên quan đến việc sử dụng hình ảnh trong
album Nơi bình yên Theo những thông tin mà Noi Picture gửi báo chí có ghi: tất cả hình ảnh Thanh Lam dùng trong album Nơi bình yên đều là hình ảnh của Noi Picture
Trang 29có bản quyền rõ ràng cho những hình ảnh này Noi Picture cho biết theo thoả thuận trước đó của Nhiếp ảnh gia người Pháp Boris Zulian (làm tại Noi Picture) và ca sỹ Thanh Lam, số ảnh này sẽ được sử dụng vào mục đích ảnh tư liệu cá nhân của Thanh Lam, không phát hành rộng rãi nên chi phí là không lớn Do đó, Noi Picture yêu cầu một số tờ báo dùng hình ảnh của Thanh Lam minh họa cho bài viết phải gỡ xuống nhằm tránh trách nhiệm liên quan trước khi Noi Picture chính thức khởi kiện ca sỹ
Thanh Lam Khi Thanh Lam dùng hình ảnh này để đưa vào album Nơi bình yên, Noi
Picture cho rằng Thanh Lam đã vi phạm hợp đồng vì bản quyền đối với số hình ảnh này không thuộc về ca sỹ Thanh Lam nữa Noi Picture cũng khẳng định đang giữ trong tay hợp đồng ghi rõ thỏa thuận giữa nhiếp ảnh gia người Pháp Boris Zulian và Thanh Lam Nhưng khi yêu cầu công khai hợp đồng thì đại diện của Noi Picture lại không có bằng chứng đưa ra
Về phía ca sỹ Thanh Lam thì cho rằng không làm điều gì sai thoả thuận và Noi Picture đang thực hiện một vụ kiện vô lý Theo lời Thanh Lam thì Thanh Lam
đã thuê Boris Zulian chụp hình và trả tiền theo đúng thoả thuận chứ không phải theo như Noi Picture bảo là Boris Zulian bỏ chi phí để chụp ảnh cho Thanh Lam Và Thanh Lam cho rằng số ảnh đó thuộc quyền sở hữu của mình, không phải thuộc về
Boris Zulian Không những vậy, trong phần bìa đĩa Nơi bình yên, chị đã tỏ rõ thiện
chí khi yêu cầu thiết kế ghi phần hình ảnh: Boris Zulian/Noi Picture
Căn cứ cho khiếu kiện của mình là yêu cầu báo chí không được dùng hình ảnh của Thanh Lam vào bài viết, đại diện Noi Picture cho rằng, theo quy định của các công ty nước ngoài, nhân vật được chụp chỉ là một phần nhỏ trong tác phẩm, còn người sáng tạo hình ảnh (nhiếp ảnh gia) là người có quyền sở hữu hình ảnh đó Nhưng thực tế tại Việt Nam, quy định trên là không được áp dụng Theo Luật sư Phạm Thanh Bình, công ty Luật Hồng Hà (Hà Nội), cho rằng: theo pháp luật Việt Nam, hình ảnh mang tính cá nhân thì thuộc quyền sở hữu của chủ nhân bức ảnh, và nhiếp ảnh gia phải có trách nhiệm xin phép chủ sở hữu nếu muốn đăng tải Trừ những hình ảnh mang tính chất nghệ thuật như ảnh lãnh tụ, ảnh quảng bá nghệ thuật, thì quyền sở hữu mới thuộc về nhiếp ảnh gia Và ca sỹ Thanh Lam sử dụng
số ảnh này vào tác phẩm âm nhạc của mình là mang dấu ấn cá nhân nên Noi Picture
Trang 30không có lý do gì để kiện Thanh Lam hay buộc chị không được dùng số ảnh này là bất hợp lý
Quan điểm cá nhân cho vấn đề này, thứ nhất, nếu ca sỹ Thanh Lam và Công
ty Noi Picture có thoả thuận hoặc hợp đồng bằng văn bản thì sẽ tuân thủ theo những
điều khoản hai bên đã thoả thuận Hoặc thứ hai, nếu không có thoả thuận, cũng như
Thanh Lam đã trả tiền cho Noi Picture để thực hiện việc chụp ảnh thì quyền sở hữu những bức ảnh này thuộc về ca sỹ Thanh Lam là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật (Điều 39 LSHTT 2005)
Xét thấy rằng, quy định của pháp luật về vấn đề quyền nhân thân đối với hình ảnh cũng như quy định vấn đề quyền đối với từng hình ảnh cụ thể còn thiếu chặt chẽ
Do đó, thực tiễn áp dụng thường phát sinh mâu thuẫn giữa các ngành luật cũng như xảy ra khiếu kiện vì không đủ căn cứ để xét xử
1.5 So sánh quyền nhân thân đối với hình ảnh với một số quyền nhân thân khác
Từ Bộ luật dân sự 1995 đến Bộ luật dân sự 2005, quyền nhân thân đối với hình ảnh đã được quy định thành một điều luật riêng Điều này thể hiện sự coi trọng của pháp luật đối với hình ảnh của cá nhân Nằm trong mối tương quan với các quyền nhân thân, quyền nhân thân đối với hình ảnh cũng có một số điểm tương đồng với các quyền nhân thân khác Phần này, tác giả chỉ tập trung phân biệt cũng như làm rõ mối liên quan giữa quyền nhân thân đối với hình ảnh với quyền bí mật đời tư, quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền tự do báo chí
Thứ nhất, Trong một số trường hợp, quyền nhân thân đối với hình ảnh có quan hệ chặt chẽ với quyền bí mật đời tư
Cũng như quyền nhân thân đối với hình ảnh, hiện nay chưa có quy định như thế nào là quyền bí mật đời tư trong BLSD 2005 Theo TS.Lê Đình Nghị, quyền bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin
đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận [36]
Tuy nhiên,
Trang 31nếu đối tượng trong ảnh chụp là một cá nhân, dù người đó không nổi tiếng thì người này cũng có đủ mọi quyền để phản đối việc sử dụng hình ảnh của mình Lúc này, quyền nhân thân đối với hình ảnh xuất phát từ quyền bí mật đời tư Trước khi có thể sử dụng hình ảnh liên quan phải đảm bảo rằng người được ghi hình không bị tổn hại đến đời sống cá nhân, hình tượng riêng và bản thân họ không phản đối việc sử dụng hình ảnh đó Ngược lại, với những bức ảnh vượt khỏi khuôn khổ đời tư, người có hình ảnh được chụp khi họ tham gia các buổi biểu tình, lễ hội công khai thì cá nhân đó có thể yêu cầu xử lý sao cho mình không thể bị nhận dạng trong bức ảnh đó Điều này thể hiện sự tôn trọng với cá nhân đó Quyền nhân thân đối với hình ảnh có đối tượng hẹp hơn quyền bí mật đời tư, đó là: quyền nhân thân đối với hình ảnh có đối tượng cụ thể - hình ảnh của chính cá nhân đó còn quyền bí mật đời tư có đối tượng là những thông tin, tài liệu về quá khứ liên quan đến cá nhân đó Một đặc điểm khác biệt nữa, tính
bí mật đời tư chỉ mang tính tuơng đối vì đứng dưới góc độ này đối với cá nhân
đó thì thông tin đó cần phải che đậy, giữ kín nhưng đứng dưới góc độ khác, đối với chủ thể khác thì những thông tin trên không cần che dấu Vì vậy bí mật đời
tư chỉ có cá nhân đó hoặc một số người hạn chế được biết Quan điểm xác định như thế nào là bí mật đời tư là do từng cá nhân trong xã hội Như có người không muốn tiết lộ thông tin đã từng có mối tình đẹp trong quá khứ, họ muốn giữ cho riêng bản thân nhưng có người nghĩ rằng việc nói với người bạn đời là không sao cả miễn là không ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của họ Do đó, quyền bí mật đời tư được xác định phải chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như thói quen sống, phong tục tập quán, công việc,
Thứ hai, quyền đối với hình ảnh còn có mối quan hệ mật thiết với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân
Bộ luật dân sự đề cập đến quyền nhân thân đối với danh dự, nhân phẩm,
uy tín nhưng cũng không nêu thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín Vì vậy, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành vi nào được coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành vi nào coi là xâm phạm hình ảnh Theo chúng tôi, danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các
Trang 32mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó Danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời
và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa Uy tín chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một
cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính, tin tưởng và tự nguyện nghe theo Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đến danh dự người đó Vì vậy, danh dự là một khái niệm rộng bao gồm uy tín và nhân phẩm Song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau đó là: danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa ngược lại nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với
cá nhân
Điểm khác biệt đầu tiên giữa quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền nhân thân đối với hình ảnh đó là quyền nhân thân đối với hình ảnh trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác Còn quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín phải
do chính cá nhân đó thực hiện, không ai có thể thực hiện thay họ Thứ hai, khác biệt với quyền nhân thân đối với hình ảnh, quyền bảo vệ danh dự, uy tín có thể của một cá nhân hoặc tổ chức còn quyền bảo vệ nhân phẩm giống quyền nhân thân đối với hình ảnh chỉ được áp dụng đối với cá nhân Thứ ba, hành vi xúc phạm tới quyền nhân thân đối với hình ảnh chỉ là đăng tải, quay phim, về hình ảnh của cá nhân đó còn hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm thường thể hiện bằng cách dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thoá mạ, khinh bỉ,
Trang 33thiếu văn hoá để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác khiến xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về cá nhân đó Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại Quyền nhân thân đối với hình ảnh và quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân có một số điểm khác nhưng hai quyền nhân thân này luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngay cả trong pháp luật dân sự cũng đã có một quy định riêng cho vấn đề này tại Khoản 3 Điều 31 BLDS 2005
"Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh" Vì vậy, nếu xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại tinh thần tối đa bằng mười (10) tháng lương tối thiểu chung và khi quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm thì vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được xác định bằng cách viện dẫn đến quy định về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và phải chứng minh được hành vi xâm phạm đó gây tổn thất tinh thần cho mình
Thứ ba, Các vụ kiện liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh hiện nay đều xuất phát từ xung đột với quyền tự do báo chí
Về căn cứ pháp lý, quyền nhân thân đối với hình ảnh được quy định trong
Bộ luật dân sự 2005 còn quyền tự do báo chí được quy định tại Điều 69 Hiến pháp nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,; Luật báo chí 1989; Luật sửa đổi, bổ sung năm 1999, Điều 2 quy định "Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng"; Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 quy định chi tiết thi hành luật báo chí, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật báo chí Trong hoạt động của mình, báo chí cung cấp rất nhiều thông tin, hình ảnh về mọi mặt của đời sống Đặc biệt, các bản tin truyền hình thường tập trung chủ yếu vào hình ảnh Vì phát sóng hình ảnh thì người xem mới hình dung ra
Trang 34được như trận báo đã càn quét ra sao, người dân miền Trung phải hứng chịu những gì Vì vậy, quyền tự do báo chí rất dễ xung đột với quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh Về nguyên tắc, hai quyền này có giá trị ngang nhau và việc xác định có hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân hay không tuỳ vào từng trường hợp cụ thể Khi một người nào đó đang ở trong phạm vi thông tin hợp pháp thì không thể phản đối việc ghi cũng như công
bố hình ảnh của mình như hoạt động của các cơ quan nhà nước; hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao; hay các sự kiện như thiên tai, lũ lụt, tai nạn Đối với những người của công chúng thì trong một số trường hợp thì quyền được thông tin chiếm ưu thế hơn Nhưng trong những trường hợp liên quan đến quyền được tôn trọng đời từ thì quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân chiếm ưu thế hơn Hiện nay, vẫn chưa có văn bản nào xác định cụ thể ranh giới giữa những gì được phép và những gì không được phép Tại các nước phương Tây, để bảo đảm nhu cầu thông tin của công chúng, đồng thời tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, báo chí và truyền hình thường chọn cách che mặt hoặc thay đổi giọng nói của đương sự khi không đạt được sự thoả thuận với người này
Với những phân tích trên đây, có thể nói rằng quyền nhân thân đối với hình ảnh có mối quan hệ mật thiết với các quyền nhân thân khác trong hệ thống quyền nhân thân Quyền nhân thân đối với hình ảnh liên quan tới giá trị tinh thần của cá nhân nên vai trò của quyền này thực sự có ý nghĩa lớn đối với đời sống tinh thần của cá nhân
1.6 Pháp luật của một số nước về quyền nhân thân đối với hình ảnh
Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng ta
đã phải hoàn thiện các văn bản pháp luật sao cho phù hợp chung với các nước trên thế giới Việc nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật của các nước tiến bộ sẽ là một kiến thức để đất nước ta học hỏi và đưa ra những giải pháp phù hợp với xã hội, văn hóa của đất nước ta Chính vì thế, tác giả cũng muốn đưa ra một vài quan điểm của một số nước trên thế giới về việc quy định quyền nhân thân đối với hình ảnh
Trang 351.6.1 Australia
Tại Australia, không có quy định về quyền nhân thân đối với hình ảnh mà quy định chung là quyền đối với hình ảnh Việc chụp ảnh một người mà chưa được sự chấp thuận của người đó không bị coi là bất hợp pháp Điều này hoàn toàn ngược với quy định của nước ta về quyền nhân thân đối với hình ảnh Lý giải cho quan điểm này, ở Australia, nếu một người có thể nhìn thấy bạn thì sau
đó họ đã có quyền chụp hình của bạn mà không cần quan tâm đến sự đồng ý của bạn Nếu bạn muốn ngăn chặn hành vi chụp hình, tốt nhất bạn nên dùng tay mình che đi ống kính máy ảnh Đó là cách mà những người nổi tiếng đã làm khi không muốn bị chụp hình trong nhiều thập kỷ nay Bạn chỉ được phép che đi ống kính máy ảnh chứ không được tự tiện tịch thu máy ảnh hoặc phim, hoặc dùng vũ lực với thợ chụp ảnh nhằm xóa những bức ảnh hoặc hủy film Ngay cả cảnh sát hoặc nhân viên an ninh cũng cần tiến hành những thủ tục về pháp lý trước khi thu giữ máy ảnh hoặc card máy ảnh kỹ thuật số Nếu bạn tấn công một
ai đó bằng vũ lực thì sẽ bị kết tội đe dọa dùng vũ lực Nếu bạn va chạm với họ thì sẽ bị kết tội ẩu đả hoặc tội hành hung Đó đều là tội phạm hình sự, và kết quả
là sẽ ghi vào lý lịch tư pháp, có thể bị phạt tiền và thậm chí phải ngồi tù
Những lý do sau đây giải thích vì sao chụp ảnh một người khi chưa được chấp thuận là hoàn toàn hợp pháp tại Australia:
(1) Hiến pháp liên bang New South Wales (NSW) và Hiến pháp bang tại Australia thiếu một đạo luật nhân quyền (Bill of Rights), do đó, ít nhất đối với việc bị chụp ảnh, không được bảo đảm tại Autralia
(2) Pháp luật về quyền nhân thân ở tiểu bang NSW và liên bang không áp dụng đối với những bức ảnh được chụp tự nhiên và tình cờ do nhiếp ảnh gia chụp (Đạo luật hiện hành chỉ quy định đối với công tác thu thập các thông tin cần thiết do cơ quan chính phủ hoặc các tập đoàn lớn thực hiện);
(3) Vào tháng 8 năm 2005, Bộ trưởng Tư pháp Chính quyền Liên bang đã nhận định ″ để quy định tất cả ảnh khi chụp phải được chấp thuận là một điều không thực tế Nếu giả sử có những quy định như vậy thì chúng ta đã không bao giờ có các bức ảnh làm chứng ″;
Trang 36(4) Tất cả các quy định hạn chế đối với việc chụp ảnh “không được phép” tại các bãi biển và bể bơi tại Úc đã phải hủy bỏ trong năm 2005 vì những quy định này không thể thi hành thực tế được;
(5) Hàng ngày công dân Úc đều bị chụp ảnh hàng chục lần mỗi ngày mà không được sự đồng ý, ví dụ khi vào nhà băng, siêu thị, cây ATM hoặc ga tàu,
Tại Australia cũng có trường hợp ngoại lệ phải được sự đồng ý của cá nhân thì mới được phép chụp ảnh, đó là:
(1) Tại nơi làm việc, người sử dụng lao động không được chụp ảnh nhân viên đang làm việc nếu chưa được sự chấp thuận của nhân viên;
(2) Không được chụp (hoặc công bố) ảnh của một người thuộc diện được bảo vệ danh tính theo phán quyết của tòa (ví dụ: bảo vệ nhân chứng, lệnh giữ kín);
(3) Theo Điều s21G của Đạo luật về các Vi phạm của Tiểu bang NSW, việc chụp ảnh bị cấm khi một người trong không gian riêng tư một cách hợp lý (ví dụ: trong toilet hoặc phòng thay đồ) “VÀ những bức ảnh đó có tính chất sex
VÀ chụp cho mục đích thỏa mãn về sex Lưu ý: ảnh chụp tại các bãi biển công cộng không thuộc quy định của s21G vì không có không gian riêng tư tại những địa điểm công cộng”
Công bố ảnh một người lên internet hoặc các phương tiện truyền thông khác khi chưa được chấp thuận chỉ được coi là phạm pháp tại Quebec hoặc Pháp Tại các quốc gia khác, việc công bố ảnh là hoàn toàn hợp pháp, với điều
Trang 37ảnh đó Nếu thợ chụp ảnh hoặc nhà xuất bản không có sự đồng ý của bạn (thường là dưới dạng một bản nhượng lại có ghi tên) mà đã sử dụng hình ảnh của bạn nhằm mục đích thương mại thì họ đã vi phạm quy định của đạo luật này
và phải chịu phạt
1.6.2 Pháp luật dân sự Pháp
Trong bộ luật dân sự của Pháp không có mục riêng quy định về quyền nhân thân Việc xét xử liên quan tới quyền nhân thân tại Pháp là thành quả từ án
lệ, chủ yếu là của Tòa Phá án và Tham Chính viên và ngày nay là Tòa án Châu
Âu về quyền con người Bộ Luật dân sự Pháp, tại Điều 8 (26/6/1889) quy định:
˝Mọi công dân Pháp đều được hưởng quyền dân sự˝ và Điều 9 (Số 70-643 ngày 17/7/1970) quy định: ˝Cá nhân có quyền được tôn trọng đời tư˝, được hiểu rằng quyền bí mật đời tư bao gồm cả quyền đối với hình ảnh Nghĩa rằng, trong Bộ luật dân sự Pháp không quy định chi tiết thành các quyền nhân thân cụ thể cho
cá nhân mà quy định thành một điều luật chung bao quát được quyền con người, quyền tự do của con người và quyền được tôn trọng của con người Lý giải cho vấn đề này là tại Pháp cùng với luật còn sử dụng án lệ trong xét xử vụ án Trong khi đó tại Việt Nam thì việc xét xử chỉ theo quy định của pháp luật Tại Pháp, ngay cả khi không có những văn bản pháp luật quy định cụ thể, trong một chừng mực nào đó, án lệ đã thay thế luật bằng cách đưa ra những nguyên tắc pháp luật
ổn định với các ngôn từ thống nhất Trong trường hợp xâm phạm quyền có hình ảnh, thông thường có những câu chữ thống nhất được sử dụng nhiều lần như
một quy định pháp luật được ghi tại phần đầu của bản án ˝Xét rằng mỗi cá nhân
đều có quyền được tôn trọng đời tư và có toàn quyền định đoạt đối với hình ảnh, một yếu tố nhân thân trong việc sử dụng hình ảnh đó, có quyền phản đối việc phát hành hình ảnh đó mà không có sự đồng ý rõ ràng và đặc biệt của mình ˝
Với cách làm như vậy, án lệ đã bổ sung những khoảng trống của luật và từ đó, thẩm phán xem xét cụ thể những sự việc mà hai bên nêu ra để xác định xem có hành vi xâm phạm quyền có hình ảnh hay không Không chỉ vậy, pháp luật Pháp còn bảo vệ quyền bí mật đời tư (gồm cả quyền đối với hình ảnh) của cá nhân bằng biện pháp khác như ngoài biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại Thẩm
Trang 38phán có thể quyết định mọi biện pháp như giao tài sản cho người khác quản lý,
kê biên tài sản và các biện pháp khác nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành
vi xâm phạm bí mật đời tư; trong trường hợp khẩn cấp, các biện pháp này có thể được quyết định theo thủ tục khẩn cấp, tạm thời Tại Điều 9-1 Bộ luật dân sự Pháp (2000-516 ngày 16/6/2000) quy định ˝ Mọi cá nhân đều có quyền được tôn trọng theo nguyên tắc vô tội˝, nghĩa rằng, trong trường hợp trước khi có quyết định xét xử của tòa án mà một người bị giới thiệu công khai như là người thực hiện những hành vi đang bị điều tra, thì ngoài quyết định yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người đó, thẩm phán còn có thể quyết định mọi biện pháp, kể cả theo thủ tục khẩn cấp tạm thời như yêu cầu cải chính và đăng thông báo, nhằm buộc chấm dứt hành vi vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội, chi phí phát sinh do
cá nhân hoặc pháp nhân có hành vi vi phạm đó thanh toán
1.6.3 Pháp luật Mỹ
Theo đạo luật chung tại Mỹ thì ai cũng được phép chụp ảnh những gì họ
muốn khi họ ở nơi công cộng hoặc những nơi được phép chụp ảnh Việc thiếu một đạo luật hay một quy định chặt chẽ cho việc chụp ảnh dẫn tới hoàn toàn hợp pháp cá nhân cho quyền được chụp ảnh, như khu vực công cộng, đường phố, công viên, Quy định của pháp luật Mỹ hoàn toàn trái ngược với các quy định của pháp luật Việt Nam Nếu quy định của pháp luật Việt Nam quy định rất chặt chẽ quyền phải xin phép trước khi chụp ảnh hoặc đăng ảnh thì tại Mỹ chỉ một số trường hợp ngoại lệ mới cần phải được sự cho phép:
+ Khu vực xung quanh trong ngôi nhà của cá nhân cần phải có sự đồng ý của
cá nhân đó Còn ngoài ranh giới của ngôi nhà thì việc chụp ảnh là hoàn toàn hợp pháp
+ Khu vực vũ khí quân sự hoặc kho quân sự thì Chỉ huy khu vực đó có quyền chấp thuận hay không khi họ cho rằng việc chụp ảnh này có ảnh hưởng tới việc bảo
vệ an ninh quốc gia Ngoài ra, Bộ Quốc Phòng Mỹ còn có lệnh cấm đối với những bức ảnh chỉ rõ các thiết bị vũ khí hạt nhân
+ Những khu vực mà cá nhân hoàn toàn hợp pháp khi cần sự riêng tư như phòng thay đồ, nhà vệ sinh công cộng, và trong nhà của cá nhân đó,
Trang 39Tại Mỹ, quy định rất cụ thể trường hợp hoàn toàn được coi là hợp pháp khi chụp ảnh, như:
+ Hiện trường tai nạn hoặc đám cháy được xem là mang giá trị thông tin + Những người nổi tiếng
+ Trẻ nhỏ
+ Cầu và các cơ sở hạ tầng khác
+ Khu trung cư và khu trung tâm thương mại
+ Công nghệ hiện đại và ngành dịch vụ công cộng như cấp nước, tàu hoả, + Phương tiện vận chuyển hiện đại như máy bay,
+ Hoạt động tội phạm
+ Cơ quan thi hành luật pháp
Theo quan điểm của Ủy ban phóng viên đối với Bản hướng dẫn về quyền riêng tư của Hội nhiếp ảnh gia Tổ chức Tự do báo chí: “Nếu đối tượng trong ảnh không có ý gì về việc giữ gìn sự riêng tư thì sẽ không có sự xâm phạm đời tư Ảnh chụp ở nơi công cộng hoàn toàn được miễn trách” Ngoài ra, yếu tố riêng tư còn được quy định theo Luật pháp Mỹ như sau: “Một người công bố rộng rãi những thông tin cá nhân của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi xâm hại quyền riêng tư của người bị hại, nếu vấn đề bị công bố được coi là gây phương hại đến đối tượng, hoặc không liên quan hợp lý để được công bố rộng rãi” Vì vậy mặc
dù đã quy định quyền chụp ảnh của nhiếp ảnh gia tương đối rõ ràng nhưng nếu việc đăng ảnh hoặc sử dụng vào mục đích thương mại hoặc nhằm phỉ báng thì sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi xâm phạm này
1.7 Các biện pháp bảo vệ
Theo quy định tại Điều 25 Bộ luật dân sự 2005 thì cá nhân có quyền nhân thân đối với hình ảnh nói riêng và quyền nhân thân nói chung bị xâm phạm có thể bảo vệ quyền nhân thân của mình theo các phương thức khác nhau như tự mình bảo vệ; yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc buộc người
vi phạm bồi thường thiệt hại
1.7.1 Tự mình bảo vệ
Biện pháp tự bảo vệ