luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/1998; Đào Trí Úc, Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhận và về lỗi trong việc xử lý trách nhiệm hình sự, Tạp c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ XUÂN GIANG
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về các dấu hiệu của lỗi cố ý và vô ý
theo Luật hình sự Việt Nam
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ XUÂN GIANG
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về các dấu hiệu của lỗi cố ý và vô ý
theo Luật hình sự Việt Nam
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN LUYỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Xuân Giang
Trang 4CỐ Ý VÀ LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7 1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi trong luật hình sự Việt Nam 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm của dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý theo quy
định của Luật hình sự Việt Nam 15 1.2.1 Lỗi cố ý phạm tội 16 1.2.2 Lỗi vô ý phạm tội 20 1.3 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong quá trình phát triển của
luật hình sự Việt Nam 25 1.3.1 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ
trước khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 25 1.3.2 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ
1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 28 1.3.3 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 31 1.3.4 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 36 Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ LỖI
VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 38 2.1 Một số vấn đề thực tiễn liên quan dến dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi
vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 38
Trang 52.2 Thực tiễn định tội danh liên quan đến dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi
vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 52 2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt liên quan đến dấu hiệu lỗi cố
ý và lỗi vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 59Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 65 3.1 Phương hướng hoàn thiện dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong
luật hình sự Việt Nam 65 3.1.1 Hoàn thiện khái niệm lỗi, lỗi cố ý, lỗi vô ý 65 3.1.2 Hoàn thiện quy định về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong cấu
thành tội phạm 71 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và
lỗi vô ý trong Luật hình sự Việt Nam 75 3.2.1 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của chủ thể
tiến hành tố tụng hình sự 75 3.2.2 Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật
hình sự về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý 83 3.2.3 Tăng cường trao đổi, nghiên cứu pháp luật nước ngoài về dấu
hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự 89 KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mô tả tỉ lệ số cấu thành tội phạm có quy định
trong nội dung dấu hiệu lỗi cố ý phạm tội, lỗi vô
ý phạm tội và không quy định dấu hiệu lỗi 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lỗi là một vấn đề phức tạp và quan trọng được nhiều ngành luật quan tâm nghiên cứu Trong luật hình sự Việt Nam, chế định lỗi có vị trí vô cùng đặc biệt, thể hiện trong nguyên tắc có lỗi – một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Lỗi cho phép xác định rằng, tội phạm không chỉ là kết quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội - biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan mà còn là sự nhận thức, là hệ quả của thái độ tâm lý của chủ thể - biểu hiện bên trong Người phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không chỉ đơn thuần là người đã có hành vi khách quan gây thiệt hại cho
xã hội mà còn vì họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó Với nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc “truy tội khách quan”, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ dựa trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ Nguyên tắc có lỗi xuất phát
từ chính chức năng giáo dục của luật hình sự Luật hình sự đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội, chủ yếu để giúp họ nhận
ra lỗi lầm của mình, cải tạo và sớm trở hành người lương thiện, nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng xã hội Đó cũng chính là mục đích quan trọng của hình phạt Chức năng giáo dục không thể thực hiện được khi truy cứu trách nhiệm hình sự của một người mà họ không có lỗi vì như vậy cũng trái với nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam Theo đó, lỗi được ghi nhận ngay tại khái niệm tội phạm tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 Đồng thời trong đó, Điều 9 và Điều 10 đã xác định và phân biệt hai hình thức lỗi là cố ý phạm tội và vô ý phạm tội Cố ý phạm tội gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp
Vô ý phạm tội gồm vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả Mỗi tội phạm chỉ được thực hiện bằng hình thức lỗi hoặc cố ý hoặc vô ý Tuy nhiên, trên thực tế,
Trang 8liên quan đến nội dung này, còn có trường hợp nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa thống nhất về lý luận, dẫn tới hạn chế trong hoạt động thực tiễn
cũng như nghiên cứu khoa học Đây là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về các dấu hiệu của lỗi cố ý và vô ý theo Luật hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý đều được nghiên cứu về mặt lý luận trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu về lỗi cố ý và lỗi vô ý ở những khía cạnh khác nhau, cụ thể: Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học:
Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn, NXB Tư pháp, Hà Nội; Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển I: “Những vấn đề chung”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (1994), Nguyên tắc công bằng trong Luật hình
sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân; Lê Thị Thu Thủy (2003), Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Lan Anh (2011), Những vấn
đề lý luận và thực tiễn về lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc
sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Nhuần (2001),
Lỗi cố ý trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoài ra, dấu hiệu lỗi cố ý và vô ý cũng được nghiên cứu trong các bài
báo, tạp chí như: Nguyễn Ngọc Hòa, Đánh giá mức độ lỗi ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, Tạp chí Luật học, số 1/1996; Lê Cảm, Hoàn thiện chế định lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lý
Trang 9luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/1998; Đào Trí Úc, Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhận và về lỗi trong việc xử lý trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/1999; Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/1999; Nguyễn Văn Trượng,Xác định lỗi của người phạm tội trong tình trạng say rượu, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2001; Nguyễn Văn Hương, Lỗi cố ý gián tiếp và tội phạm có cấu thành hình thức, Tạp chí Luật học, số 4/2002; Nguyễn Thị Thu Hồng, Trao đổi về việc xác định lỗi trong các vụ án tai nạn giao thông, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2005;
Đỗ Đức Hồng Hà, Các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người phản ánh mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18/2005; Lê Văn Luật, Áp dụng nguyên tắc lỗi trong các tội “Vi phạm an toàn giao thông”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12/2006; Đinh Thế Hưng, Yếu tố lỗi trong dấu hiệu định khung hình phạt gây thương tích và hành hung để tẩu thoát trong một số tội xâm phạm sở hữu, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2006; Đỗ Văn Chỉnh, Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phản ánh cách thức thực hiện tội phạm và mức độ lỗi của người phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2009; Lê Văn Luật, Xác định lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 16/2011; Hoàng Quảng Lực, Bàn
về nhận thức Yếu tố lỗi trong xét xử án hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24/2012; Văn Thị Hồng Nhung, Xác định lỗi như thế nào để xét xử cho đúng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2013; Lê Văn Luật, Bàn về một số nội dung khái niệm lỗi hình sự trong Bộ luật hình sự hiện hành áp dụng trong công tác xét xử, Tạp chí Nghề Luật
Khi nghiên cứu tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự (Phần riêng –
Trang 10Phần các tội phạm), các tác giả đều có sự nhận thức về dấu hiệu lỗi – cố ý hay
vô ý Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và sâu sắc về lỗi cố ý và vô ý dưới góc độ lý luận
và thực tiễn áp dụng Do đó cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu toàn diện, hệ thống về vấn đề này để xây dựng thống nhất lý luận về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi
vô ý, góp phần thiết thực trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về các dấu hiệu của lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Luật Hình sự Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ pháp lý
hình sự
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm
sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng dấu hiệu lỗi
cố ý và vô ý trong luật hình sự Việt Nam, qua đó đề xuất phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Về mặt lý luận, trên cơ sở đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, tác giả làm sáng tỏ về khái niệm lỗi, các đặc điểm của lỗi
cố ý và lỗi vô ý, sự hình thành và phát triển dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam Về mặt thực tiễn, đánh giá việc áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong việc định tội danh, và quyết định hình phạt
Từ đó kiến nghị các phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Trang 11Chí Minh và quan điểm về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, kết hợp với tri thức của các ngành khoa học khác như luật học, tâm lý học, xã hội học, thống kê học… để nhận thức và luận chứng các vấn đề nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chung của nhiều ngành khoa học, như: Phương pháp
so sánh, tổng hợp, phân tích, thống kê… để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Trong luận văn, tác giả đã tập trung nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học và có hệ thống những vấn đề và thực tiễn về lỗi cố ý và vô ý theo quy định của luật hình sự Việt Nam Cụ thể:
1) Phân tích những vấn đề lý luận về các dấu hiệu của lỗi cố ý và lỗi vô ý theo quy định của luật hình sự Việt Nam như: khái niệm lỗi, cơ sở lý luận của lỗi; khái niệm, đặc điểm của lỗi cố ý và lỗi vô ý; quá trình hình thành và phát triển của dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta
2) Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan xét xử liên quan đến dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý về định tội danh, quyết định hình phạt trong giai đoạn hiện nay
3) Đề xuất phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu cụ thể, thống nhất, đề cập một cách có
hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về các dấu hiệu của lỗi cố ý và lỗi
vô ý theo luật hình sự Việt Nam Ngoài ra, luận văn đã xác định đúng đắn những vấn đề về lỗi cố ý và vô ý trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xét xử
Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn, sinh viên, học viên cao học cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn nghiên cứu,
áp dụng pháp luật hình sự
Trang 128 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý
trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật
hình sự Việt Nam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu
hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ
LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi trong luật hình sự Việt Nam Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [11, Điều 8]
Như vậy, một trong những nguyên tắc quan trọng được thể hiện trong khái niệm tội phạm đó là “nguyên tắc có lỗi” Đây là nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự Việt Nam Hay nói cách khác, người phải chịu trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi khách quan gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà còn vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó Nguyên tắc này cũng khẳng định, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc “quy tội khách quan”, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ dựa trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ Nguyên tắc có lỗi thể hiện chính sách hình sự tiến bộ, đúng đắn, thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người, là cơ sở đảm bảo cho vấn
đề trách nhiệm hình sự có khả năng khách quan thực hiện được mục đích của
Trang 14hình phạt quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999: “… không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” [11, Điều 27]
Hiện nay, đề cập đến khái niệm lỗi, có nhiều cách diễn đạt khác nhau:
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [15]
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Theo đó, lỗi trong luật hình sự, trước hết được hiểu là quan hệ giữa người phạm tội với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan những đòi hỏi của xã hội đã được thể hiện qua các đòi hỏi cụ thể của luật hình
sự Sự phủ định chủ quan này tồn tại trên cơ sở và trong sự thống nhất với sự phủ định khách quan là sự gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo
vệ của luật hình sự Cũng như quan hệ giữa khách quan và chủ quan, sự phủ định khách quan có thể tồn tại độc lập không cần có sự phủ định chủ quan nhưng sự phủ định chủ quan chỉ tồn tại khi có sự phủ định khách quan [15] Điều này khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa lỗi – dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm với hành vi khách quan của tội phạm – dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm Chỉ có thể nói đến hành vi khách quan – hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi hành vi đó đi liền với lỗi, và ngược lại, không thể nói đến lỗi khi không có hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội Hay nói cách khác, lỗi được đề cập với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ quan của tội phạm là lỗi của cá nhân, lỗi của một con người cụ thể khi người
đó thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 15Lỗi là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội Chủ thể bị coi
là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu họ đã lựa chọn hành vi đó trong khi có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [7, tr.87-88]
Như vậy, dù dưới góc độ nào thì lỗi cũng là điều kiện quan trọng để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự của một cá nhân về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của họ Tại sao lại như vậy? Trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Bởi vì, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình xuất phát từ thực tế, hành vi của con người có tính tất yếu đồng thời có tính tự do Tính tất yếu của hành vi con người thể hiện ờ chỗ hành vi được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời những điều kiện xã hội mà được hình thành một cách có quy luật, là kết quả của sự tác động giữa những điều kiện xã hội và con người Tuy vậy, xử sự của con người không phải có tính tất yếu tuyệt đối Chủ nghĩa Mác – Lênin tuy thừa nhận tính tất yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự do và tất yếu, giữa quy luật và hoạt động của con người, chủ nghĩa Mác – Lênin cũng không phủ nhận tự do ý chí của con người Mọi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng con người nhờ hoạt động ý thức có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình
Trang 16Đó là tự do của con người Quan điểm này không những bác bỏ thuyết định mệnh cho rằng quy luật là tuyệt đối, con người chỉ là công cụ của hoàn cảnh mà còn bác bỏ cả thuyết duy ý chí đã dề cao ý chí của con người giữ vai trò quyết định, phủ nhận quy luật và tính tất yếu Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định xử
sự của con người có tính quy định trước nhưng đối với chính xử sự của mình con người vẫn có tự do, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật tự nhiên và xã hội đã nhận thức được Xử sự của con người tuy chịu sự tác động của điều kiện kinh tế, xã hội nhưng không phải là kết quả trực tiếp của riêng điều kiện kinh tế, xã hội vì “mọi sự tác động của một hiện tượng lên một hiện tượng khác đều bị khúc xạ bởi các thuộc tính bên trong của hiện tượng bị tác động” Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ Để thỏa mãn bất kỳ nhu cầu nào trong đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải quyết và việc lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lí trí và ý chí Chính vì vậy, trong những điều kiện khách quan giống nhau, mỗi người có thể lựa chọn biện pháp xử sự khác nhau Con người khi đã có quyền lựa chọn là có
tự do Tự do ý chí là khả năng tâm lý của con người có thể tự mình lựa chọn và thực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định Người đã lựa chọn biện pháp xử sự trái pháp luật khi có thể xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội thì phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình Tự do ý chí là cơ sở để lên án người có hành vi trái pháp luật Có nghĩa là, tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do Người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội trong khi có tự do thì có nghĩa họ là người có lỗi Do đó, trách nhiệm chỉ đặt ra cho người có lỗi [15, tr.129-131]
Có thể thấy rằng, luật hình sự với tư cách là một trong những ngành luật cơ bản nhất xuất hiện nay ngay từ thời cổ đại - mặc dù thời kỳ này, chưa được xác định với tính chất là ngành khoa học như hiện nay Theo đó, triết
Trang 17học đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của khoa học luật hình sự nói chung và chế định lỗi nói riêng Vì vậy, các trường phái tồn tại trong lịch
sử triết học cũng đóng vai trò nhất định đối với khoa học luật hình sự hiện đại
Cụ thể: Về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đức ngay từ những năm
70 của thế kỷ XVII, thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình (Pufendort) Trong thời kỳ khai sáng, khoảng thế kỷ thứ XVIII, nhà luật học Cesare Beccaria đã nêu quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở một mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là: 1) Vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại; 2) Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi Theo quan điểm triết học duy tâm – chủ quan của nhà triết học nổi tiếng người Đức Kant
I thì: 1) Tự do ý chí là ở chỗ - trong tất cả các hành vi của chủ thể chính nó là pháp luật; 2) Sự buộc tội và hình sự là một dạng của trách nhiệm đạo đức, mà
cơ sở của nó coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực hiện Còn theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen thì: 1) Sự hiện diện của ý chí và lí trí chính là điều kiện chung của sự buộc tội; 2) Lỗi là
ở trong sự khẳng định rằng, chủ thể là người biết suy nghĩa đã nhận thức và
đã mong muốn… [4, tr.419-421] Ông đã từng khẳng định: “Tự do là nhận thức được cái tất yếu, tất yếu sẽ mù quáng khi con người chưa nhận thức được nó” [9, tr.192] Bên cạnh đó, những đại diện xuất sắc của trường phái
triết học duy tâm đã xây dựng thành hệ thống lý luận các nguyên tắc, chế định… trong đó đã đề cập đến nguyên tắc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự Trường phái này cho rằng, cần phân biệt ý định độc ác (cố ý) với sự không thận trọng (vô ý) như là hai hình thức lỗi chủ yếu Bên cạnh đó, những người đại diện cho trường phái cổ điển trong khoa học luật hình sự thì lỗi và
Trang 18trách nhiệm hoàn toàn dựa trên ý chí tự do tuyệt đối của con người, mà người này trong những điều kiện hoàn toàn như nhau có thể lựa chọn bất kỳ quyết định nào không trái với mình Đặc biệt là Bernher A – nhà hình sự học người Đức thuộc trường phái này đã coi cơ sở của việc buộc tội về hình sự là ý chí hoặc tự do của con người, được thể hiện trong sự hành động tùy tiện của cá nhận và phù hợp với động cơ, quyết tâm và ý định bên trong của người đó Còn nhà hình sự học người Đức nổi tiếng Phơbách A trong thời kỳ đầu đã coi
là sự buộc tội không phụ thuộc vào tự do ý chí, nhưng sau đó đã thay đổi quan điểm và thừa nhận tự do ý chí là điều kiện của sự buộc tội do lỗi Những nhà nghiên cứu thuộc trường phái xã hội học trong khoa học luật hình sự cho rằng: 1) Lỗi của chủ thể được coi là tình trạng nguy hiểm của người đó; 2) Ba phạm trù (lỗi, tình trạng năng lực, và tình trạng không có năng lực) chính là các tiêu chí của tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi…
Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, khẳng định tội phạm với tư cách là một phạm trù lịch sử, một hiện tượng xã hội Tội phạm chỉ xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn gay gắt làm nảy sinh đấu tranh giai cấp Theo đó, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Khi con người lựa chọn một hành vi phù hợp với những chuẩn mực của xã hội để đạt được mục đích, thỏa mãn nhu cầu của mình thì
đó là hành vi hợp pháp Ngược lại, nếu trong quá trình thực hiện hành vi, con người lại lựa chọn hành vi sai lệch với các chuẩn mực xã hội, trái pháp luật thì hành vi đó là bất hợp pháp, và tất nhiên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Hoạt động của con người bị chi phối bởi các quy luật khách quan nhưng nhờ hoạt động có ý thức, con người nhận thức và áp dụng các quy luật
đó để thực hiện mục đích của mình Mặt khác, con người là thực thể sinh vật với bộ óc thông minh và hoàn thiện nhất, do đó, tất cả những gì tác động đến con người, thúc đẩy hành vi của con người đều phải thông qua bộ óc Hoạt
Trang 19động của con người không chỉ là kết quả tác động trực tiếp của các điều kiện lịch sử mà còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động tâm lý Theo đó, tự do tồn tại khi con người có quyền lựa chọn một xử sự phù hợp với các quy luật Ngược lại, con người sẽ bị tước bỏ sự tự do khi họ xử sự không phù hợp với quy luật Xử sự của con người mang tính quy luật nhưng không có nghĩa là mang tính tuyệt đối Khi sống trong cùng một xã hội, có người thực hiện tốt các trách nhiệm của một thành viên trong xã hội, cũng có người phạm tội, có người không phạm tội, có người thực hiện tội phạm lần đầu, cũng có người thực hiện tội phạm nhiều lần… Đó cũng chính là tự do của con người Sự tự
do của con người phụ thuộc vào các điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể cũng như bản chất của chế độ xã hội Vì vậy, con người tồn tại trong xã hội phải dựa trên cơ sở sự tự do của mình, đáp ứng những đòi hỏi có tính quy luật của xã hội – chính là pháp luật và đạo đức xã hội Đây cũng chính là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, phù hợp với sự tự do của cá nhân, qua đó nhằm bảo đảm sự tự do của cá nhân khác Triết học Mác – Lênin nghiên cứu con người với hai vai trò chính: một là, sản phẩm của tự nhiên; hai là, bộ phận của những quan hệ xã hội không thể tách rời khỏi xã hội Các Mác cũng chỉ ra rằng: Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng sẵn có mà bản chất của con người được thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội Hay nói cách khác, bản chất của con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội Con người là một thực thể sinh vật có ý thức, thông qua nhận thức của mình, con người tiếp nhận các vật xung quanh tạo nên mối quan hệ đối với xung quanh
và qua đó xác định hành vi của mình Chính vì thế, khi xác định một hành vi
là tội phạm, cần thiết phải xem xét trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi, tức là trách nhiệm chỉ đặt ra khi có lỗi Đây cũng chính là
cơ sở khoa học của nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự Việt Nam dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 20Dưới góc độ tâm lý học, yếu tố lỗi được đề cập khi nghiên cứu về cấu trúc tâm lý bên trong của hành vi phạm tội Hành vi phạm tội là trường hợp cá biệt của hành vi con người, theo đó cũng là hành vi có ý thức – thể hiện sự nhận thức và ý chí của chủ thể Ý chí của hoạt động tâm lý con người luôn luôn được xuất phát từ nhận thức, con người quyết định hành động trên cơ sở
đó Một cá nhân ngay từ khi mới sinh ra, rõ ràng chưa xuất hiện tâm lý phạm tội, tuy nhiên qua quá trình trưởng thành, hình thành nhân cách, với sự mở rộng tầm nhìn (có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực), trong những tình huống cụ thể, do nhận thức hạn chế, cũng có khi không hiểu hết bản chất của vấn đề, chủ thể không tự kiềm chế trước tình huống, dẫn tới những hành động trái với các chuẩn mực, khi mà chính chủ thể không tính đến hậu quả do mình gây ra đối với xã hội Theo đó, quá trình hình thành nhân cách – những phẩm chất mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân, được thể hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi cụ thể và nó được bộc lộ một cách đầy đủ nhất ở những thời điểm và trong những hoàn cảnh cụ thể đòi hỏi chủ thể phải thể hiện khả năng ứng xử và quyết định lựa chọn phương thức hành động của mình, có ảnh hưởng quan trọng đến việc quyết định lựa chọn hành vi, xử sự của cá nhân
Sự phát triển của nhân cách, của năng lực hành vi hay năng lực ứng xử của chủ thể là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển tư duy Trong quá trình hình thành nhân cách, những cá nhân sinh sống trong những môi trường tiêu cực có thể hình thành khuynh hướng chống đối xã hội, tuy nhiên không phải mọi trường hợp có khuynh hướng chống đối xã hội là sẽ thực hiện hành vi phạm tội và ngược lại Điều đó thể hiện sự tương tác qua lại giữa các yếu tố thuộc về cá nhân với các yếu tố thuộc về môi trường trong từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau Nghiên cứu lỗi dưới góc độ tâm lý là một vấn đề không đơn giản Đặc biệt với những tình huống thực tế đa dạng bởi vì khi đánh giá thái độ chủ quan của cá nhân,
Trang 21không chỉ dựa vào biểu hiện khách quan của hành vi mà còn phải căn cứ vào diễn biến, trạng thái tâm lý bên trong của người đó Trong luật hình sự Việt Nam, lỗi được coi là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và nguyên tắc
có lỗi là một nguyên tắc cơ bản, đặc trưng Người phải chịu trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam, không phải chỉ đơn thuần là có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó cũng như hậu quả do hành vi đó gây nên [6]
1.2 Khái niệm, đặc điểm của dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Như vậy, người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội sẽ được coi là có lỗi nếu khi thực hiện hành vi họ nhận thức được và có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có đủ điều kiện lựa chọn và thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Lỗi với bản chất là thái độ tâm lý nội tại của con người,
vì vậy lỗi có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau, có lỗi nặng, có lỗi nhẹ,
có lỗi cố ý, có lỗi vô ý Theo đó, căn cứ đặc điểm cấu trúc tâm lý của yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi, luật hình sự Việt Nam xác định hai hình thức lỗi là cố ý phạm tội và vô ý phạm tội Cố ý phạm tội bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Vô ý phạm tội bao gồm vô ý vì quá tự tin và vô ý
do cẩu thả Yếu tố lý trí thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội như thế nào, thấy trước khả năng gây ra hậu quả của hành vi hoặc không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội do sơ xuất, cẩu thả mặc dù người phạm tội có thể hoặc có trách nhiệm cần phải thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình Yếu tố lý trí xác định năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở nhận
Trang 22thức – người phạm tội mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra hoặc cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Trong chế định lỗi, yếu tố lý trí và ý chí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thiếu một trong hai yếu tố thì không bị coi là có lỗi Hay nói cách khác, nếu chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi của mình nhưng lại không điều khiển được hành vi
đó thì họ không có lỗi và ngược lại
1.2.1 Lỗi cố ý phạm tội
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định cụ thể về hai hình thức lỗi cố ý:
Điều 9 Cố ý phạm tội
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [11, Điều 9]
Nội dung cơ bản của chế định lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố là lý trí
và ý chí Theo đó, sự kết hợp khác nhau giữa ý thức và ý chí tạo nên các hình thức khác nhau của lỗi Một người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự chống đối xã hội cao hơn trường hợp lỗi vô ý, do đó trách nhiệm hình
sự và hình phạt áp dụng đối với họ sẽ nghiêm khắc hơn Cố ý phạm tội theo quy định của luật hình sự Việt Nam gồm hai trường hợp Một là, chủ thể phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra Những trường hợp này, được gọi là cố ý trực tiếp Ví dụ: Hành vi
Trang 23cướp tài sản, hành vi trộm cắp tài sản, hành vi hiếp dâm… Hai là, chủ thể phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng lại có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Những trường hợp này, được gọi là cố ý gián tiếp Ví dụ: Hành vi dùng dao đâm bừa vào người khác…
Để phân biệt hai hình thức lỗi cố ý phạm tội: Cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, không chỉ là yếu tố chủ quan – bên trong của tội phạm mà còn cả yếu tố khách quan – yếu tố bên ngoài Bởi vì tội phạm là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan Ngoài việc nghiên cứu các thành tố của hoạt động tâm lý còn đồng thời chú ý đến những đặc điểm khách quan thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội được phản ánh trong cấu thành tội phạm như tính chất thực tế của hành vi, đặc điểm của đối tượng tác động, những điều kiện khách quan khác như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm… thực hiện tội phạm Đó cũng là cơ sở quan trọng để phân biệt, xác định giữa cố ý phạm tội hay vô ý phạm tội, cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp…
Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là sự nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành
vi đang thực hiện trên cơ sở nhận thức những tình tiết khách quan của nó – những tình tiết tạo nên tính gây thiệt hại của hành vi Những tình tiết đó, có thể là mặt thực tế của hành vi, là đặc điểm của đối tượng tác động của tội phạm, là những điều kiện khách quan như công cụ, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội… Đối với những tội phạm có cấu thành vật chất, trong mặt
Trang 24khách quan của tội phạm ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội còn có hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Vì vậy, người thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp không những nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra mà ngay khi thực hiện hành vi cũng đã thấy trước được hậu quả của nó Thấy trước hậu quả của hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi Người phạm tội có thể dự kiến hành vi tất nhiên sẽ gây ra hậu quả hoặc dự kiến hành
vi có thể gây ra hậu quả Đối với những tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, do vậy vấn đề có thấy trước hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra khi xem xét lý trí của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Nếu hậu quả được quy định là tình tiết định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc được xem là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt thì việc khẳng định người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp đối với hậu quả đó cũng đòi hỏi phải xác định người phạm tội thấy trước hậu quả này Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
và thấy trước hậu quả của hành vi đó là hai nội dung của yếu tố lí trí có liên quan chặt chẽ với nhau Thấy trước hậu quả của hành vi là kết quả và sự cụ thể hóa sự nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Ngược lại, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở cho việc thấy trước hậu quả của hành vi Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh Điều đó có nghĩa hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích – phù hợp với sự mong muốn của người đó Ở đây, sở dĩ không đặt ra vấn đề mong muốn hay không mong muốn hành vi, bởi vì khi đã nhận thức được tính chất của hành vi mà vẫn thực hiện thì chứng tỏ chủ thể mong muốn thực hiện hành vi đó Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc cho nên việc kiểm tra ý chí của người phạm tội đối với hậu quả
Trang 25đã thấy trước là điều cần thiết để có thể khẳng định được đó có là lỗi cố ý trực tiếp hay không Ở các tội có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc cho nên việc xác định ý chí đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội không được đặt ra Muốn xác định người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp chỉ cần xác định người đó đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà vẫn thực hiện hành vi đó Nếu hậu quả nguy hiểm cho xã hội được quy định là tình tiết định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc dược xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt thì việc chứng minh đó là lỗi cố ý trực tiếp đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng đòi hỏi phải xác định được ý chí của người phạm tội đối với hậu quả đó
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức
để mặc cho hậu quả xảy ra Nghiên cứu hình thức lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp có thể thấy trong hai trường hợp cố ý, lí trí của người có lỗi về cơ bản không có gì khác nhau Sự phân biệt chủ yếu dựa trên yếu tố ý chí
Trường hợp lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội mong muốn hậu quả xảy
ra, còn đối với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn mà chỉ có
ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Hay nói cách khác, đối với người có lỗi cố ý gián tiếp, hậu quả xảy ra hay không đều không có ý nghĩa, không xảy ra cũng được và nếu xảy ra cũng chấp nhận Bên cạnh sự phân biệt về yếu tố ý chí, yếu
tố lí trí cũng có điểm khác biệt Đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, có thể thấy trước hậu quả tất nhiên xảy ra, cũng cũng thể thấy trước hậu quả có thể xảy ra Đối với lỗi cố ý gián tiếp, sự thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội chỉ có thể là sự thấy trước hậu quả đó có thể xảy a Không
Trang 26thể có trường hợp người phạm tội đã thấy trước hậu quả tất nhiên phải xảy ra
mà có thái độ để mặc, không mong muốn hậu quả đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Thái độ có ý thức để mặc cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra chỉ có thể có được trong trường hợp thấy trước cả hai khả năng – khả năng hậu quả xảy ra và khả năng hậu quả không xảy ra Do vậy, đối với lỗi
cố ý gián tiếp, về mặt lý trí người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Về mặt ý chí, người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội đã thấy trước không phù hợp với mục đích của họ Người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm mục đích khác Để đạt được mục đích này mà người phạm tội đã chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình có thể gây ra Người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình mà họ đã thấy trước
1.2.2 Lỗi vô ý phạm tội
So sánh với lỗi cố ý, lỗi vô ý là sự phủ định chủ quan ít nghiêm trọng hơn
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định cụ thể về hai hình thức lỗi vô ý:
Điều 10 Vô ý phạm tội
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó [11, Điều 10]
Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp về mặt lí trí, người phạm
Trang 27tội có thể nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra Đây là đặc điểm thể hiện sự tương đồng giữa lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin với lỗi cố ý, mặc dù sự tương đồng chỉ là tương đối – Đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội Tuy nhiên, người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá tự tin thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội
có thể xảy ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra Như vậy,
sự thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở đây thực chất là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng xảy ra hậu quả đó Đối với người phạm tội ở trường hợp vô ý vì quá tự tin khả năng hậu quả xảy ra và khả năng hậu quả không xảy ra đều là khả năng thực tế nhưng người phạm tội đã tin vào khả năng hậu quả không xảy ra khi quyết định thực hiện xử sự của mình Chính từ sự tin tưởng của người phạm tội mà họ đã không nhận thức được một cách đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Về ý chí, người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Sự không mong muốn này có điểm khác so với sự không mong muốn ở trường hợp lỗi cố ý gián tiếp Đối với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn nhưng
đã chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi Đối với lỗi vô ý vì quá tự tin, sự không mong muốn hậu quả của người phạm tội gắn liền với việc người đó đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Mặt khác, trong trường hợp này, người phạm tội đã tính toán, cân nhắc và cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Sự cân nhắc, tính toán này
có thể dựa vào những căn cứ như tin tưởng vào sự khéo léo, sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kỹ thuật của mình hoặc tin vào những tình tiết khách quan bên ngoài khác Như trường hợp A là người thợ săn đi săn bắt thú trong rừng, vì quá tin vào khả năng của mình A đã dùng súng bắn vào nơi
Trang 28phát ra tiếng động vì nghĩ là thú rừng, nhưng không ngờ bắn trúng vào chị B đang đi đốn củi trong rừng, làm chị B bị thương nặng… Sự tin tưởng của người phạm tội tuy có căn cứ nhưng những căn cứ đó đều không thực sự vững chắc Người phạm tội đã không đánh giá đúng tình hình thực tế Sự tin tưởng của họ là sự tin tưởng quá mức so với thực tế Lỗi của người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá tự tin chính là ở chỗ đã quá tin tưởng đó Người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin do không thận trọng khi đánh giá, lựa chọn xử sự nên đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Lỗi vô ý do cẩu thả là một trong hai hình thức của lỗi vô ý Mặc dù, Bộ luật hình sự không trực tiếp quy định tên gọi của hai hình thức lỗi vô ý, nhưng
về mặt lý luận, các nhà nghiên cứu thừa nhận hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin
và vô ý do cẩu thả Trường hợp lỗi vô ý do cấu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình đã gây ra Đây
là dấu hiệu phân biệt lỗi vô ý do cẩu thả với các hình thức lỗi khác Với các trường hợp khác, người phạm tội đều thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, tuy mức độ thấy trước khác nhau Còn với lỗi vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi của mình gây ra có thể do nhiều khả năng như: Người phạm tội không nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mình và như vậy không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra Ví dụ: Do vội vàng, y tá A khi phát nhầm thuốc cho bệnh nhân B
đã không nhận thức được hành vi của mình là hành vi phát nhầm và do đó cũng không nhận thức được hành vi của mình có khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Hoặc, người phạm tội tuy nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mình nhưng lại hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình (hoàn toàn không nghĩ đến khả năng hậu quả xảy ra) như trường hợp, X đi đổ xăng xe máy, đã
Trang 29bật lửa châm thuốc để hút ngay chỗ cấp phát xăng, khi đó X có thể hoàn toàn không nghĩ đến khả năng gây hỏa hoạn Bên cạnh đó, người phạm tội trong trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả với địa vị cụ thể của mình có nghĩa vụ phải thấy và có đủ điều kiện để có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra Người phạm tội đã không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình chỉ vì cẩu thả, thiếu sự thận trọng cần thiết Lỗi của người phạm tội là ở chỗ đã cẩu thả, thiếu thận trọng khi xử sự Trong xã hội, với vai trò là chủ thể của các mối quan hệ: quan hệ giữa con người – con người, con người – với thế giới xung quanh, mỗi cá nhân cần thiết phải tôn trọng lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của những cá nhân khác Mỗi người không những không được cố ý xâm phạm đến lợi ích đó mà trong xử sự của mình đòi hỏi phải có sự thận trọng cần thiết nhằm tránh gây
ra những thiệt hại cho xã hội Đây là đòi hỏi khách quan của xã hội, nó trở thành những quy tắc của đời sống Các quy tắc này có thể được pháp luật hóa hoặc không được pháp luật hóa nhưng qua kinh nghiệm, được xã hội thừa nhận, áp dụng, vì vậy, cá nhân tồn tại trong xã hội có nghĩa vụ phải chấp hành Những quy tắc đó thuộc những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy tắc trong giao thông vận tải, quy tắc săn bắn, quy tắc phòng hỏa, quy tắc
an toàn lao động, quy tắc hành chính, quy tắc nghề nghiệp… Người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả là người về khách quan đã gây ra những thiệt hại cho
xã hội qua việc vi phạm quy tắc nhất định của cuộc sống chung xã hội Về chủ quan, người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc mà họ đã vi phạm Với địa vị cụ thể của mình, họ thấy được hành vi không cẩn thận, không tuân thủ những quy tắc đã được đặt ra sẽ gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Như trường hợp, với địa vị là công dân trong
xã hội, chủ thể phải thấy được việc dùng lửa không cẩn thận trong khi đun nấu có thể dẫn đến hỏa hoạn gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội; người phát
Trang 30thuốc cho bệnh nhân phải thấy được việc phát thuốc không cẩn thận có thể dẫn đến phát nhầm và do vậy có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội…
Bộ luật hình sự quy định đối với trường hợp lỗi vô ý do cẩu thả, người phạm tội “phải thấy” có nghĩa là người đó phải có nghĩa vụ tuân thủ quy tắc
mà họ đã vi phạm, nhưng họ đã không tuân thủ Nghĩa vụ này, phát sinh từ địa vị pháp lý của chủ thể Do có nghĩa vụ đó, mà họ buộc phải thấy được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả không những “phải thấy” mà còn “có thể thấy” trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình “Có thể thấy” ở đây có nghĩa là người phạm tội có đủ điều kiện khách quan (hoàn cảnh cụ thể bên ngoài) cũng như điều kiện chủ quan (trình độ nhận thức, nghiệp vụ, kinh nghiệm…) để có thể thấy trước hành vi vi phạm của mình có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Khi xác định lỗi của người phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả cần chú ý đến người đã đến độ tuổi nhất định, có năng lực trí tuệ bình thường thì mới có thể biết được những quy tắc an toàn thông thường Đặc biệt, đối với một số hoạt động có tính chất chuyên môn, sự hiểu biết về các quy tắc bảo đảm an toàn đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, học hỏi nhất định Do vậy, việc xác định các đặc điểm chủ quan của người phạm tội về trình đội nghiệp vụ là điều kiện cần thiết để xác định lỗi vô ý vì cẩu thả
Như vậy, đối với lỗi vô ý, người phạm tội đã lựa chọn và thực hiện hành
vi, vì không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc thấy trước nhưng tin hậu quả đó không xảy ra và do vậy cũng không nhận thức đươc hành vi sẽ thực hiện là hành vi phạm tội Do tính chất như vậy cho nên những hành vi vô ý nói chung chỉ có tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi
đã gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nhất định Đó cũng là
cơ sở quan trọng thể hiện chính sách của luật hình sự Việt Nam khi quy định
Trang 31những cấu thành tội phạm có dấu hiệu lỗi vô ý nói chung được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm vật chất Đối với cấu thành tội phạm hình thức có dấu hiệu lỗi vô ý chỉ là những trường hợp cá biệt như cấu thành tội phạm của tội vô
ý làm lộ bí mật nhà nước quy định tại Khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm
1999 hay cấu thành tội phạm của tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự quy định tại Khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 1999
Ngoài ra, về mặt lý luận, trong luật hình sự Việt Nam còn có quy định
về trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) được quy định đối với những tình tiết khách quan khác nhau Theo đó, hỗn hợp lỗi chỉ có thể xảy ra ở những cấu thành tội phạm tăng nặng của những tội phạm cố ý mà tình tiết tăng nặng là những hâu quả nguy hiểm nhất định cho xã hội và lỗi của người phạm tội đối với những hậu quả đó là lỗi vô ý, như trong cấu thành cơ bản của tội hiếp dâm quy định tại Khoản 1 Điều 111 của Bộ luật hình sự có dấu hiệu là lỗi cố ý, nhưng tại Điểm c Khoản
3 Điều 111 với cấu thành tội phạm tăng nặng có tình tiết tăng nặng là hậu quả chết người và lỗi đối với hậu quả này là vô ý Hay cũng tương tự đối với ý 2 Khoản 3 Điều 104 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác – cố ý gây thương tích… vô ý với hậu quả chết người; điểm a Khoản 4 Điều 133 về tội cướp tài sản…
1.3 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam
1.3.1 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam thời
kỳ trước khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Nghiên cứu lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam thời kỳ trước khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tập trung chủ yếu qua quá trình hình thành, phát triển và suy vong của Nhà nước phong kiến Trong
đó, dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý được thể hiện rõ nét thông qua hai bộ luật có
Trang 32giá trị pháp lý thống nhất là Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) – đây là những văn bản quý giá, chứa đựng trình độ lập pháp, giá trị văn minh của đất nước và con người Việt Nam
Quốc triều hình luật – Bộ luật Hồng Đức được coi là Bộ luật cổ có giá trị quan trọng và chính thống nhất của triều đại nhà Lê cũng như trong lịch sử của pháp luật phong kiến nước ta Theo đó, Bộ luật không quy định nội dung
cụ thể của lỗi cố ý và vô ý, thậm chí không xác định chế định lỗi độc lập, đồng thời cũng không quy định về tội phạm cố ý hay vô ý Nhưng tại Điều 47
đã khẳng định rõ chính sách của triều đại cũng như quan điểm xử phạt đối với loại hành vi mà có sự khác biệt về “cố ý” hay “lầm lỡ” (vô ý):
… những người phạm tội tuy tên gọi giống nhau, nhưng phải phân biệt sự phạm tội vì lầm lỡ hay cố ý; phải xét tội nặng nhẹ
mà thêm bớt, không nên câu nệ để hợp với ý nghĩa việc xét xử hình án: tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt người cố ý không kể tội nhẹ… [10, Điều 47]
Điều này cũng được cụ thể hóa tại các tội phạm cụ thể quy định trong
Bộ luật: “… những quan viên, quân đội phạm tội nếu vì sơ xuất lỗi lầm, từ tội lưu trở xuống thì cho chuộc bằng tiền” [10, Điều 14]; tội vô ý gây thương tích hay vô ý làm chết người bị xử phạt nhẹ hơn tội cố ý tương ứng: “vì chơi đùa mà làm người khác bị thương hay chết thì xử nhẹ hơn tội đánh người bị thương hay chết người hai bậc”… [10, Điều 498] Đó cũng là những quy
định cụ thể để các quan xét xử trong quá trình áp dụng pháp luật, đặc biệt trong những trường hợp các tình tiết của vụ án hay hành vi phạm tội chưa có
sự phân hóa hình phạt đối với lỗi cố ý hay vô ý
Trải qua quá trình lịch sử, vương triều Nguyễn (triều đại phong kiến cuối cùng của nước ta) được xây dựng và phát triển Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) ra đời đã kế thừa và tiếp tục khẳng định phần lớn những giá trị
Trang 33quý báu của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) Bộ luật Gia Long cũng không trực tiếp quy định về dấu hiệu lỗi với tư cách là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, không có sự phân biệt giữa trường hợp “có lỗi” gắn liền với “có tội” và phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp “không có lỗi” là “không có tội” mà chỉ phân biệt giữ trường hợp phạm tội cố ý (cố tâm)
và trường hợp phạm tội vô ý (do lầm lỡ, lơ đễnh, lơ là, vô tâm) để xác định loại và mức hình phạt trong luật và định hướng trong xét xử Bộ luật Gia Long cũng đề cao nguyên tắc “nghiêm trị người cố ý phạm tội và khoan hồng người vô ý phạm tội” Tại Điều 15 quy định về Tội không thể tha:
… phàm phạm mười tội ác, giết người, ăn trộm đồ quan, trộm bạo… cướp người, buôn người, xúi xiểm giết người, cố ý thêm bớt tội phạm, biết sự việc mà cố ý dung túng… những loại ấy đều là thực phạm, đều cố tâm phạm tội dù gặp dịp ân xá cũng không được tha Còn những người phạm tội vì lầm lẫn, nghĩa là giết người, làm
bị thương người bởi vô ý, làm cháy nhà bởi vô ý, lơ là làm hư vật quan… lơ đễnh không khéo trói để sảy tù… đều là vô tâm mà phạm tội thì được ân xá và giảm tội như giáng từ tội chết xuống tội lưu, tội lưu qua tội đồ… ;… phàm cố ý bỏ hư chế thư và ấn tín… thì xử chém Nếu làm rơi mất chế thư, thánh chỉ, ấn tín thì bị phạt 90 trượng, đồ hai năm rưỡi… [14, Điều 61];
…phàm vâng lệnh chế thư để thực hiện mà cố ý làm sai, không làm thì bị phạt 100 trượng Làm sai lạc ý của vua (vô ý) thì giảm ba bậc tội… [14, Điều 60]
Rõ ràng, Bộ luật không trực tiếp quy định khái niệm lỗi cố ý và vô ý nhưng đây cũng là những quy định khá cụ thể liên quan đến việc phân biệt lỗi cố
ý hay vô ý, từ đó có ý nghĩa trong việc xác định hình phạt đối người phạm tội
Như vậy, có thể thấy trong lịch sử luật hình sự phong kiến, nhìn chung,
Trang 34do kỹ thuật lập pháp còn hạn chế, đơn giản, xuất phát từ các quan hệ xã hội phong kiến, nên nhìn chung quy định về chế định lỗi nói riêng và luật hình sự nói chung còn đơn giản, chưa mang tính khái quát cao Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, cũng đã nghiên cứu vai trò của yếu tố chủ quan – thái độ tâm lý bên trong, hay lỗi của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội
1.3.2 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam thời
kỳ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, theo đó đất nước ta bước vào một thời kỳ mới Đây là giai đoạn mà tình hình kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều biến động Nhà nước non trẻ mới được hình thành, thù trong giặc ngoài đe dọa, nhiều thế lực thù địch nhòm ngó Chính vì vậy, trong những năm đầu nhiệm vụ chủ yếu
là bảo vệ được thành quả cách mạng vừa giành được Luật hình sự lúc này là
vũ khí quan trọng của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống thực dân, đế quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật hình sự Tuy nhiên, xuất phát
từ yêu cầu cấp bách từ thực tiễn nên các văn bản luật hình sự vẫn chưa được quy định thống nhất, chưa có khái niệm về tội phạm, nên cũng chưa có chế định riêng về lỗi, cũng như xác định hình thức lỗi (vô ý hay cố ý) Tuy nhiên, trong các pháp lệnh và sắc lệnh được ban hành vẫn chứa đựng quy định cụ thể
về hành vi cũng như lỗi của người thực hiện hành vi đó Theo đó, các văn bản cũng xác định về hành vi cố ý và hành vi vô ý phạm tội như giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản hay sơ xuất để lộ bí mật quốc gia, không cẩn thận gây tai nạn làm người khác bị thương hoặc làm chết người, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa…
Trang 35Sau thắng lợi của cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, với sự thống nhất cả nước chung tay xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, theo đó, các văn bản pháp luật trong đó có pháp luật hình sự cũng được ban hành Từ thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành một số văn bản hướng dẫn và giải thích phần nào về lỗi – thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với một số loại tội phạm điển hình Như Sắc lệnh số 267/ SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 có quy định về tội phạm và hình phạt trong các trường hợp
cụ thể nhưng không ghi nhận hình thức lỗi tương ứng Tuy vậy, để phù hợp với tình hình thực tế, sắc lệnh cũng quy định một số tội phạm do “thiếu trách nhiệm” – lỗi vô ý: Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu,
để lộ bí mật nhà nước, để xảy ra tai nạn làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của nhà nước, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù
Công văn 949/NCLP ngày 25 tháng 11 năm 1969 Sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn của Tòa án nhân dân tối cao quy định về tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn: “Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm hại nền an toàn giao thông vốn thuộc
về loại tội khinh xuất hoặc sơ xuất… Người lái xe có hành vi vi phạm nghiêm trọng là do thiếu tinh thần trách nhiệm không chú ý kiểm tra an toàn của phương tiện vận chuyển, phóng bừa, vượt ẩu, không tuân thủ luật lệ giao thông vận tải” Trong đó, có đề cập đến “hỗn hợp lỗi” – nhưng không giống như quy định hiện hành, mà đây là trường hợp cả nạn nhân và lái xe là người
có lỗi hay tai nạn hoàn toàn do lỗi của nạn nhân gây ra nhưng lái xe vẫn bị xử phạt Hay trong Công văn 452/HS2 ngày 10 tháng 8 năm 1970 có hướng dẫn
để phân biệt giữa tội cố ý gián tiếp làm chết người với tội vô ý vì quá tự tin làm chết người Trường hợp vô ý vì quá tự tin làm chết người can phạm
Trang 36không mong muốn, mặc dù thấy trước hậu quả làm chết người có thể xảy ra, can phạm chủ quan tự tin vào một điều kiện cụ thể tưởng rằng có thể làm cho hậu quả không xảy ra, nhưng sự tin tưởng đó không có cơ sở đầy đủ: Mặt khách quan rất giống nhau: cũng là một hành vi làm chết người khác Nhưng mặt chủ quan, và tính chất nguy hiểm cho xã hội, thì rất khác nhau Ở tội vô ý làm chết người, không những can phạm không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, hoặc không có thái độ thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà còn không thấy được trước hậu quả đó mà đáng lẽ phải thấy và có thể thấy, hoặc tuy có thấy trước hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm cho hậu quả không xảy ra Theo đó, trong Công văn cũng phân biệt giữa cố ý gián tiếp làm chết người với vô ý vì quá tự tin làm chết người; phân biệt giữa trường hợp định giết người này nhưng lại làm chết người khác (sai lầm) Hay tại Bản tổng kết số 10/NCLP ngày 08 tháng 1 năm 1986, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xử lý tội
“thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm quy tắc an toàn giao thông gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản”, Tòa án giải thích: “thiếu tinh thần trách nhiệm” thể hiện dưới các hình thức như: Bị cáo thấy trước khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng, nhưng vì chủ quan, thiếu thận trọng, nhẹ dạ tin vào những tình tiết, những biện pháp phòng ngừa không đầy đủ, cho nên hậu quả tai hại xảy ra Đây là hình thức lỗi sơ xuất vì quá tự tin; Bị cáo không thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nhưng đáng lẽ phải thấy và có thể thấy trước khả năng đó, vì đã được học tập về bảo hộ lao động, huấn luyện về phương pháp làm việc an toàn nên hậu quả tai hại xảy ra do thiếu sự chú ý cần thiết Đây là hình thức lỗi sơ xuất vì cầu thả; Bị cáo thấy trước khả năng gây
ra thiệt hại nghiêm trọng Một mặt, họ không chắc chắn rằng tác hại sẽ xảy ra, mặt khác họ cũng không tin rằng nhất định nó sẽ xảy ra Họ cũng không mong muốn gây ra hậu quả tác hại hay bất cứ một hậu quả xấu nào nói chung,
Trang 37nhưng họ cứ thực hiện hành vi vi phạm với ý nghĩ rằng nếu hậu quả tác hại xảy ra thì cũng thôi Đây là thái độ vô trách nhiệm, làm bừa, làm ẩu Bên cạnh
đó, Bản tổng kết còn phân biệt giữa khái niệm lỗi trong tội vi phạm quy tắc an toàn lao động và khái niệm lỗi sơ xuất
Như vậy, có thể thấy, pháp luật hình sự trong thời kỳ này đã bắt đầu đề cập đến việc phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý, cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp,
vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả, tuy nhiên các quy định chỉ dừng lại ở mức độ hướng dẫn trong các văn bản dưới luật như các công văn, báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao Chế định lỗi không được quy định một cách rõ ràng, khái quát và thống nhất trong một văn bản pháp luật cụ thể
1.3.3 Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
10 năm sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ lịch sử mới – đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến tới xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự thay đổi của kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật cũng có những bước phát triển mới đặc biệt là pháp luật hình sự Từ những văn bản riêng lẻ, lần đầu tiên các quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện dưới dạng Bộ luật Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đã kế thừa và phát triển những thành tựu trong lịch sử lập pháp Việt Nam Chương 3 Điều 8 Khoản 1 Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1985 khi đề cập đến khái niệm tội phạm đã xác định rõ hai hình thức lỗi -
cố ý phạm tội và vô ý phạm tội: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Theo đó, định nghĩa pháp lý về lỗi cố ý và vô ý lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Bộ luật hình
sự Việt Nam tại Điều 9 và Điều 10:
Trang 38Cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Người phạm tội do cẩu thả mà không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước
b) Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
Sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985 đã khẳng định tính có lỗi là một trong những đặc điểm quan trọng của tội phạm hay nói cách khác lỗi là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ quan của mọi cấu thành tội phạm Bên cạnh
đó, các nhà lập pháp hình sự cũng xác định hai hình thức lỗi là cố ý phạm tội (Điều 9) và vô ý phạm tội (Điều 10) Tại Phần các tội phạm quy định nhiều tội danh với hình thức lỗi cố ý và vô ý, phân biệt rõ cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý do cẩu thả Đó là những quy định cần thiết trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt, cũng như góp phần quan trọng trong nghiên cứu lý luận hình sự
Bộ luật hình sự năm 1985 với 12 chương và khoảng 200 Điều luật thuộc Phần các tội phạm, trong đó có khoảng 180 điều luật về tội phạm do lỗi
cố ý và hơn 20 điều luật về tội phạm do lỗi vô ý đã khẳng định vai trò quan trọng của chế định lỗi Có những tội phạm, hình thức lỗi được quy định ngay trong tên gọi của tội danh: Tội cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước (Điều 92); Tội cố ý không giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 107); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 109); Tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác
Trang 39(Điều 223); Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 263)… Nhiều tội phạm, trong Điều luật không quy định trực tiếp về hình thức lỗi nhưng cấu thành tội phạm lại phản ánh rõ ràng hình thức lỗi: Tội giết người (Điều 101); Tội cướp tài sản của công dân (Điều 151); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 139); Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186)… Đặc biệt đối với các tội phạm do lỗi vô ý, Bộ luật hình sự năm 1985 quy định thường là cấu thành tội phạm vật chất, thể hiện dưới dạng: Tội vô ý/ vi phạm… gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 104; Điều 140; Điều 186; Điều 194 - 197; Điều 233…)
Ngoài ra, trong giai đoạn này, Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự như: Nghị quyết số 04 – HĐTPTANDTC/NQ về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, trong đó bao gồm nhiều trường hợp có vướng mắc về hình thức lỗi liên quan đến định tội danh và quyết định hình phạt: Hành
vi “phá hủy công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải” (Điều 94) giống với hành vi: “đào, phá công trình giao thông”… (Điều 187 Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng) ở chỗ cả hai tội đều không có mục đích chống chính quyền nhân dân Nhưng hai tội này khác nhau ở chỗ: Đối với tội phá hủy… (Điều 94), hành vi được thực hiện cố ý và hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc (như hành vi đóng đinh dài ở chỗ tiếp giáp hai đoạn đường ray nhưng xe lửa không trật bánh hoặc đổ) Đối với tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187), đối tượng của tội phạm có tính chất quan trọng thấp hơn đối tượng của tội phạm “phá hủy…” hành vi là do cố ý, bị cáo không muốn hậu quả xảy ra nhưng hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc (như: cắt ngang đường giao thông quốc lộ
để thoát nước nhưng không có biện pháp báo hiệu, phòng ngừa cần thiết, gây nên tai nạn làm xe chở hành khách bị lật đổ, nhiều người chết và bị
Trang 40thương)…” Hay trường hợp, tội vô ý làm chết người (Điều 104) Hành vi vô
ý gây thiệt hại đến tính mạng của người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể (Các điều 186, 187, 188…): Hành vi do cẩu thả hoặc quá tự tin
mà làm chết người, thì nói chung bị xử lý về tội vô ý làm chết người (Điều
194 Khoản 1) như: người đi săn ban đêm do lầm lẫn mà bắn chết người; Hành
vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (như: công nhân mắc đường dây dẫn điện do làm việc không cẩn thận gây chết người qua đường) hoặc vi phạm quy tắc hành chính (như: chặt cây công cộng trái quy định của
co quan có thẩm quyền, làm gẫy cành cây, đứt dây điện, gây chết người qua đường…) thì bị xử lý theo quy định của Điều 104 Khoản 2; Hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể mà điều luật quy định riêng (như các Điều 186, 188, 190…) thì
bị xử lý theo điều luật tương ứng Thí dụ: lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tại chết người bị xử lý theo Điều 186 về tội phạm quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng Hoặc: Tội bức tử (Điều 105) tội phạm được thực hiện do cố ý, chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm cho nạn nhân tự sát, không mong muốn, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp) và cũng có thể do cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả Tội cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 107) là… cố ý bỏ mặc, dẫn đến chết người Theo khoản 2, người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm (như: cùng đi tắm ở sông, người biết bơi đùa nghịch làm người không biết bơi bị chới với sắp chìm mà không cứu vớt) hoặc là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp, có nghĩa vụ phải cứu giúp (như thủy thủ đang đi tàu trên sông, trên biển đối với người đang vật vờ trên mặt nước, bác sĩ đối với bệnh nhân đang cần cấp cứu…) Đối với trường hợp điều khiển phương tiện giao thông vận tải gây tai nạn rồi bỏ chạy, cố ý không giúp người bị nạn để trốn tránh trách nhiệm thì xử lý theo Điều 186, khoản 2, điểm b (Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông