Phần lớn các khối u buồng trứng được chẩn đoán trong thai kỳ là lành tính. Sự xuất hiện của khối u ác tính buồng trứng trong thai kỳ rất hiếm. Với siêu âm chẩn đoán tiền sản định kỳ, phát hiện ra một khối u buồng trứng trong thời gian mang thai hiếm gặp. Bài viết này sẽ xem xét độ xuất hiện, chẩn đoán, xử trí và kết cục ở những phụ nữ được chẩn đoán là có khối u buồng trứng trong thời kỳ mang thai.
Trang 1Xử trí U buồng trứng trong Thai kỳ
Phan Văn Quyền*
Tóm tắt
Phần lớn các khối u buồng trứng được chẩn đoán trong thai kỳ là lành tính Sự xuất hiện của khối u ác tính buồng trứng trong thai kỳ rất hiếm Với siêu âm chẩn đoán tiền sản định
kỳ, phát hiện ra một khối u buồng trứng trong thời gian mang thai hiếm gặp Đa số là các u
cơ năng tự tan vào tam cá nguyệt thứ hai và không cần điều trị Hầu hết các khối u ít ảnh hưởng xấu đến kết cục thai kỳ; tuy nhiên, chưa có các xử trí chuẩn thích hợp cho những trường hợp này Báo cáo này sẽ xem xét độ xuất hiện, chẩn đoán, xử trí và kết cục ở những phụ nữ được chẩn đoán là có khối u buồng trứng trong thời kỳ mang thai
Từ khóa: khối u buồng trứng, mang thai, phẫu thuật
Độ xuất hiện
Khối u buồng trứng có thể gặp với tỉ lệ
2,3-4,1%l của tổng số các lần mang thai
(hình 1) Sử dụng siêu âm qua âm đạo
trong 3 tháng đầu tiên để đánh giá sự phát
triển và sự bất thường của bào thai đã giúp
chẩn đoán khối u buồng trứng trong thời
kỳ mang thai đã tăng lên trong những thập
kỷ gần đây Phần lớn các u này nhỏ (<5
cm) và thường gặp là hoàng thể hoặc các u
nang chức năng khác và tự tan biến vào
tam cá nguyệt thứ hai Hầu hết các khối u
này đều không có triệu chứng và tự tan đi
mà không cần điều trị.2 Triệu chứng đau
bụng liên quan đến u xoắn, khối u to dần,
hoặc vỡ xảy ra trong 3-28% trường hợp
Phần lớn các khối u buồng trứng tồn tại
dai dẳng được chẩn đoán trong thai kỳ là
các khối u lành tính, chỉ có 1-3% là ác
tính
Bernhard và cộng sự2 trong một nghiên
cứu trên gần 20.000 siêu âm sản khoa, đã
xác định được 422 (2,3%) bệnh nhân có
khối u buồng trứng Đa số 320 (76%) bệnh
nhân có u nang đơn giản <5 cm, những u
nang này không có triệu chứng và không
gây bất kỳ kết cục bất lợi nào Số 102 bệnh
nhân còn lại có khối u phức tạp hoặc
đường kính > 5 cm
* Hội Phụ Sản TP.HCM, DĐ: 0908221454, Email:
thanhhtran@yahoo.com
Mặc dù có nhiều hình ảnh đáng lo ngại hơn nhưng 70 trong số 102 ca (69%) phức tạp hoặc u to đều tự tan mà không có sự cố nào
Sau ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng là bệnh ung thư phụ khoa thường gặp thứ hai lúc
Hình 1 U buồng trứng lúc mang thai
mang thai, tỷ lệ mắc là 1/12.000-47.000 trường hợp mang thai Nghiên cứu của Mạng lưới quốc tế về Ung thư, Vô sinh và Mang thai (INCIP : International Network
on Cancer, Infertility and Pregnancy) đã ghi nhận tần suất ung thư trong thai kỳ ở các nước Châu Âu,3 trong số hơn 1.000 trường hợp ung thư được chẩn đoán trong thai kỳ, ung thư buồng trứng chiếm 5% trong tất cả các trường hợp
Trang 2Tổng quan về ngừa thai ngay sau sinh
Huỳnh Phạm Vĩnh Uyên*, Võ Minh Tuấn**
Việc áp dụng một biện pháp tránh thai
(BPTT) trong thời gian 1-2 năm đầu
sau sinh giúp giảm nguy cơ có thai
ngoài ý muốn trước thời điểm dự kiến
có con tiếp theo hoặc phải sinh thêm
con ngoài ý muốn dù không muốn sinh
thêm con Có gần 50% số phụ nữ Việt
Nam không áp dụng một BPTT nào
vào thời điểm mang thai ngoài ý muốn,
tần suất phá thai liên tiếp là 31,7%.10
Có thai ngoài ý muốn sẽ làm tăng tỷ lệ
phá thai hằng năm hoặc tăng số phụ nữ
có khoảng cách giữa 2 lần sinh ngắn
Khoảng cách giữa 2 lần mang thai ngắn
đem đến nhiều kết cục bất lợi như thiếu
máu trong thai kỳ, trẻ nhẹ cân, tăng tỉ
suất tử vong chu sinh.2 Việc có thai
sớm này càng nguy hiểm hơn trên các
đối tượng có vết mổ cũ lấy thai do tăng
nguy cơ vỡ tử cung, vị trí nhau bám bất
thường Con của các bà mẹ sinh liên
tiếp không được nuôi dưỡng và chăm
sóc phù hợp theo nhu cầu cần thiết nên
dễ bị suy dinh dưỡng và mắc nhiều
bệnh
Để làm giảm các biến chứng
nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sức
khỏe của bà mẹ và trẻ em, Tổ chức Y tế
Thế giới đã đưa ra khuyến cáo thời gian
tối thiểu giữa 2 lần mang thai là 24
tháng Như vậy, khoảng thời gian sau
sinh mở rộng đặc biệt được quan tâm vì
khoảng cách an toàn giữa 2 lần mang
thai sẽ làm giảm tỷ lệ có thai ngoài ý
muốn, đồng thời giảm tỷ lệ tử vong mẹ
cũng như tử vong con, với định nghĩa
khoảng thời gian là thời gian một năm
*Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM
**Bộ môn Sản ĐHYD TP.HCM,
Email: drvo_obgyn@yahoo.com.vn
tính từ thời điểm sinh Như vậy, trong thời gian sau sinh mở rộng, việc đề cao
áp dụng một BPTT tạm thời an toàn, hiệu quả có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng sức khỏe của bà
mẹ và trẻ em Phụ nữ sau sinh được cung cấp ngay một BPTT trong thời gian còn nằm viện, thì điều này sẽ giúp kéo dài khoảng cách giữa 2 lần sinh và nâng cao sức khỏe của bà mẹ và trẻ em,
mang lại rất nhiều lợi ích cho chính cá nhân, gia đình và xã hội
Các biện pháp tránh thai hiện đại trong thời gian sau sinh mở rộng
Tuy BPTT được thực hiện sau sinh nhưng các thai phụ phải có kế hoạch ngừa thai sau khi sinh trong thời gian mang thai và nên được bắt đầu ngừa thai ngay sau sinh, càng sớm càng tốt.3
Ở một số phụ nữ không cho con bú mẹ,
sự rụng trứng có thể xảy ra trước khi người phụ nữ nhận biết rằng mình có nguy cơ mang thai trở lại, khách hàng
có thể có thai lại trước khi xuất hiện chu kì kinh đầu tiên
Các BPTT tạm thời được áp dụng trong khoảng thời gian sau sinh mở rộng bao gồm: kiêng quan hệ, dụng cụ
tử cung (DCTC) chứa đồng, DCTC chứa levonorgestrel (LNG), que cấy Implanon, thuốc ngừa thai chỉ chứa progestin, bao cao su, vô kinh bằng cho con bú mẹ, mũ chụp cổ tử cung (CTC), màng ngăn âm đạo, thuốc ngừa thai dạng viên phối hợp, miếng dán, vòng
âm đạo, Depo-Provera
Y học chứng cứ về ngừa thai sớm ngay sau sinh
Một nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia
Trang 367 phụ nữ (12,3%) có sử dụng một
BPTT sau sinh, trong số các BPTT
được sử dụng thì que cấy (38,8%), tiêm
(32,8%), DCTC (23,9%), thuốc ngừa
thai dạng viên kết hợp (1,5%) Một
nghiên cứu khảo sát trên 27 quốc gia
trong 4 năm từ 1993-1996:14 12 nước ở
vùng Cận Sahara, châu Phi; 7 nước ở
Mỹ La Tinh, 6 nước ở châu Á, 2 nước
ở Đông Âu Trong khoảng thời gian sau
sinh mở rộng (từ 0-12 tháng sau sinh)
có 65% phụ nữ trong 27 quốc gia khảo
sát chưa được đáp ứng nhu cầu ngừa
thai cần thiết (Bảng 1) Tỷ lệ này phân
bố 54% ở châu Mỹ La Tinh, 62% ở
châu Á, 74% ở các nước cận Sahara
châu Phi Trong số các phụ nữ có áp
dụng BPTT thì một phần ba số này là
dùng BPTT tự nhiên (10%), tỷ lệ phụ
nữ áp dụng BPTT tự nhiên thay đổi tùy
thuộc vào từng khu vực, nói chung tỷ lệ
chiếm khoảng 50% ở các phụ nữ sống
ở châu Phi, tuy nhiên ở châu Á và châu
Mỹ La Tinh chiếm khoảng ¼ Hai phần
ba phụ nữ không áp dụng một BPTT nào trong một năm đầu sau sinh, 40% trong số này nói rằng họ có dự định sẽ ngừa thai trong 12 tháng kế tiếp, 35% phụ nữ ở vùng Trung Đông, 41% Cận Sahara châu Phi
Tại các nước ở châu Á, 20% phụ nữ
ở Uzbekistan muốn ngừa thai trong 12 tháng kế tiếp, Bangladesh là 58% Cho đến khoảng ¾ thời gian trong một năm đầu sau sinh, tỷ lệ phụ nữ áp dụng BPTT tăng, giảm số phụ nữ không ngừa thai Do vậy, số phụ nữ mong muốn ngừa thai cũng giảm, tỷ lệ phụ nữ muốn ngừa thai là 54% trong khoảng từ sau sinh đến 3 tháng đầu giảm 31% trong khoảng thời gian 9-12 tháng sau sinh
Bảng 1 Tỷ lệ phụ nữ có nhu cầu ngừa thai và thực sự sử dụng BPTT trong
thời gian hậu sản mở rộng theo từng quốc gia. 14
Nhu cầu ngừa thai chưa được đáp ứng (%) Sử dụng BPTT sau sinh (%) Muốn có thai lại trong 2 năm tới
CẬN SAHARA CHÂU
Trang 4Nhu cầu ngừa thai chưa được đáp ứng (%) Sử dụng BPTT sau sinh (%) Muốn có thai lại trong 2 năm tới
Kết quả một nghiên cứu khác cũng cho
thấy kết quả hoàn toàn tương tự về việc
ý định ngừa thai và hành động ngừa
thai sau sinh rất khác nhau Mặc dù
44% trong số 423 phụ nữ chờ sinh trả
lời có ý định sử dụng một BPTT sau
sinh, nhưng chỉ có 3% số phụ nữ này
thật sự áp dụng BPTT.1 Các BPTT
được dùng sau sinh là bao cao su
(38,3%); DCTC (11,5%) Lớn tuổi và
có nhiều con là hai yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định áp dụng BPTT sau sinh
Bên cạnh đó, trình độ học vấn của phụ
nữ cũng như kiến thức về kế hoạch hóa
gia đình (KHHGĐ) được cung cấp bởi
nhân viên y tế làm tăng ý định áp dụng
BPTT sau sinh (với p lần lượt là 0,03
và 0,01)
Một số BPTT tạm thời được coi là
không ảnh hưởng đến sữa mẹ:19 BCS,
mũ chụp CTC, màng ngăn âm đạo,
DCTC chứa đồng Một số BPTT được
xác nhận là không ảnh hưởng đáng kể
đến chất lượng và số lượng sữa mẹ:
phương pháp chỉ chứa progestin
(Depo-provera, thuốc viên chỉ chứa progestin,
que cấy Implanon, DCTC Mirena)
Mặc dù thuốc ngừa thai dạng viên
phối hợp, miếng dán, vòng âm đạo là
các BPTT có thể làm giảm chất lượng
và số lượng sữa mẹ nếu dùng trước khi
cho con bú, thì BPTT này thuộc bảng
phân loại 2 theo Danh mục Tiêu chuẩn
đủ điều kiện y tế Tuy nhiên các BPTT
này như ngừa thai dạng viên phối hợp liều thấp vẫn có thể được sử dụng nếu dùng BPTT này sau khi đã bắt đầu cho
bú mẹ vì sữa mẹ không bị ảnh hưởng Viện nhi khoa Mỹ khuyến cáo dùng thuốc ngừa thai dạng viên phối hợp liều thấp khi trẻ không phụ thuôc hoàn toàn vào sữa mẹ và không sớm hơn 3-6 tuần sau sinh Cơ chế tác động của thuốc ngừa thai dạng viên phối hợp, vòng đặt
âm đạo và miếng dán là ức chế phóng noãn (90% đến 95% thời gian) Ngoài
ra, viên thuốc ngừa thai gây đặc chất nhầy cổ TC, ngăn cản sự xâm nhập của tinh trùng và đi vào đường sinh dục trên Nội mạc tử cung mỏng, không đồng bộ, ức chế sự làm tổ của phôi Chậm nhu động vòi tử cung tham gia vào quá trình ngừa thai
Các phương pháp ngừa thai chỉ chứa progestin gồm có thuốc ngừa thai dạng viên chỉ chứa progestin, Depo-Provera, và DCTC chứa LNG (mirena), que cấy Implanon Cơ chế ngừa thai của các BPTT thuộc nhóm này chủ yếu làm đặc chất nhầy cổ tử cung làm cản trở tinh trùng di chuyển lên đường sinh dục trên Thuốc chỉ hạn chế một phần
sự rụng trứng, có khoảng 40% các phụ
nữ sử dụng vẫn có rụng trứng bình thường, cho nên không có đủ hiệu quả
Trang 5quả làm đặc chất nhầy cổ tử cung chỉ
xảy ra trong khoảng 2-4 giờ sau uống
thuốc ngừa thai dạng viên chỉ chứa
progestin và kéo dài khoảng 22 giờ
Một đứa trẻ mới sinh có thể sẽ
chiếm toàn bộ thời gian của bà mẹ Vì
thế, biện pháp ngừa thai càng tiện lợi
càng tốt cho người mẹ, như là phương
pháp ngừa thai có tác dụng lâu dài-có
thể hồi phục (LARC) Phương pháp
ngừa thai có tác dụng lâu dài-có thể hồi
phục bao gồm DCTC chứa đồng,
DCTC chứa LNG, que cấy Implanon
Nếu sử dụng LARC dưới 4 tuần sau
sinh, trong khi DCTC chứa đồng thuộc
phân nhóm 1, thì DCTC chứa LNG và
que cấy Implanon thuộc phân nhóm
2.6,18 Bên cạnh các phương pháp ngừa
thai có tác dụng lâu dài-có thể hồi
phục, thuốc ngừa thai chỉ chứa
progestin, bao cao su (BCS), màng
ngăn âm đạo là các BPTT tạm thời có
thể được áp dụng trong thời gian hậu
sản mở rộng
Cơ chế chủ yếu của DCTC chứa
đồng là giết chết tinh trùng và do đó
ngăn cản sự thụ tinh Cơ chế này được
giải thích theo 2 cách sau Đầu tiên,
DCTC là một vật thể lạ được đặt vào
buồng tử cung, khởi động các phản ứng
viêm, qua cả 2 đường dịch thể và tế
bào Bên cạnh đó, nguyên tố đồng được
quấn xung quanh thân chữ T làm tăng
đáp ứng viêm Phản ứng viêm vô trùng
ở nội mạc tử cung gây thực bào tinh
trùng.19
Theo Danh mục Tiêu chuẩn đủ điều
kiện y tế trong Phân loại nội tiết tránh
thai trong tử cung và dụng cụ tử cung,
việc đặt DCTC có đồng ngay sau sinh
cho phụ nữ cho con bú cũng như không
được phân loại 1.18 Hai thời điểm đặt DCTC chứa đồng đều thuộc phân loại
1, tuy nhiên bất lợi lớn nhất của thời
phải chờ đợi 4-6 tuần và một số người
đã không quay lại để đặt DCTC.13 Đặt dụng cụ tử cung chứa đồng trong vòng
10 phút ngay sau sổ nhau là hiệu quả và
10 phút sau sổ nhau cho đến 4 tuần sau khi sinh thuộc phân loại 2.19
DCTC chứa đồng, không chứa nội tiết tố nên thoát khỏi các giả thuyết ảnh hưởng đến sự tiết sữa mẹ cũng như không ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Điều này mang tới sự khác biệt giữa DCTC chứa đồng và DCTC chứa LNG cũng như que cấy Implanon khi
mà còn khá nhiều nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục tiến hành để chứng minh nội tiết trong 2 loại DCTC không ảnh
Đặt DCTC chứa đồng ngay sau sổ nhau đồng nghĩa với việc cung cấp ngay một BPTT an toàn hiệu quả kéo dài mà không cần phải chờ đợi 4-6 tuần sau sinh lại để được tư vấn và đặt DCTC, và không cần áp dụng một phương pháp ngừa thai nào trong vòng
10 năm kế hoặc ít nhất cho đến thời
điểm đặt DCTC này giúp tháo bỏ các rảo cản làm giảm số đặt DCTC sau sinh như phải quay lại cơ sở y tế để đặt DCTC Bên cạnh đó việc đặt DCTC chứa đồng ngay sau sổ nhau không gây
ra các khó chịu do quá trình đặt DCTC gây ra Cách thức này hoàn toàn tương
tự với mô hình dự án ngừa thai St Louis CHOICE, phương pháp ngừa thai
có hồi phục có hiệu quả (LARCs) được cung cấp ngay trong ngày người phụ nữ
Trang 6đến tư vấn tại bệnh viện19 đã cho thấy
các kết quả khả quan với 75% phụ nữ
trong nghiên cứu đã chọn các phương
pháp LARCs (so với tỷ lệ trung bình
trên toàn quốc - khoảng 10% trong năm
2011); 72% trẻ vị thành niên chọn
LARCs: hơn 40% trẻ từ 14-17 tuổi
chọn que cấy; hơn 40% trẻ từ 18-20
tuổi chọn dụng cụ tử cung; tỷ lệ mang
thai ở trẻ vị thành niên giảm còn 3.4%
so với mức trung bình toàn quốc
(15.8%); tỷ lệ phá thai trong nhóm
tham gia dự án CHOICE thấp hơn hẳn
so với tỷ lệ của vùng và của toàn quốc
Bên cạnh các BPTT tạm thời, triệt sản
nữ là một biện pháp ngừa thai vĩnh
viễn, an toàn, thích hợp cho những phụ
nữ trên 30 tuổi, có hai con sống khỏe
mạnh, con nhỏ nhất trên 3 tuổi và
không có nhu cầu có thêm con nữa
Hiện nay trong chương trình kế hoạch
hóa gia đình nhằm hạ thấp tỉ lệ gia tăng
dân số, biện pháp triệt sản nữ đã được
thực hiện ở các tuyến dưới, ngay cả đến
tuyến xã Tỷ lệ triệt sản chung của dân
số Việt Nam từ 2004-2013 có xu hướng
giảm dần và thấp nhất vào năm 2013
với tỉ lệ triệt sản là 2,8%.16 Trong một
số trường hợp như mổ lấy thai lần thứ 3
trở lên, các phụ nữ cần được tư vấn về
lựa chọn phương pháp tránh thai an
toàn và có hiệu quả kéo dài, trong đó tư
vấn triệt sản là một trong các phương
pháp ngừa thai thường được các nhân
viên y tế đề cập đến Tuy nhiên, theo
tác giả Trương Quốc Dũng17 thực hiện
nghiên cứu trên 150 sản phụ mổ lấy
thai > 2 lần và có đủ điều kiện triệt sản
tại bệnh viện Từ Dũ, 34% sản phụ
không đồng ý triệt sản sau khi nghe tư
vấn Một trong những lý do khiến nhân
viên y tế rất e dè khi tư vấn về triệt sản
là những phụ nữ triệt sản sau này có thể
hối tiếc quyết định này Tổng quan hệ
thống cho thấy phụ nữ trẻ dưới 30 tuổi tại thời điểm triệt sản có nhiều khả năng sẽ hối tiếc về quyết định triệt sản sau đó Sử dụng MEDLINE và EMBASE, theo 19 bài báo nghiên cứu
về mối liên quan giữa độ tuổi của phụ
nữ triệt sản về sự hối tiếc sau này, hoặc
có yêu cầu phẫu thuật nối tai vòi hoặc
có yêu cầu trong thụ tinh ống nghiệm Phụ nữ quyết định triệt sản ở tuổi 30 tuổi hoặc trẻ hơn thì có nguy cơ tỏ ra hối tiếc cao gấp hai lần so với những phụ nữ trên 30 Những người trong nhóm tuổi này có mong muốn nối lại tai vòi cao gấp 3,5-18 lần và yêu cầu làm thụ tinh nhân tạo cao gấp 8 lần 9 Trong số những phụ nữ lớn tuổi (30 tuổi trở lên), nguy cơ hối tiếc sau khi triệt sản rất thay đổi giữa các nghiên cứu từ 5,9% 8 đến 20%.11
Tài liệu tham khảo
1 Adegbola O, Okunowo A (2009) Intended postpartum contraceptive use among pregnant and puerperal women at a university teaching hospital Arch GynecolObstet 280: 987-992
2 Cleland J, Agudelo AC, Peterson H, Ross J, Tsui AO (2012) Family planning, contraception and health Lancet 380: 149-156
3 Committee Opinion No 670 (2016) Immediate postpartum long-acting reversible contraception American College of Obstetricians and Gyne- cologists Obstet Gynecol;128:e32–7
4 Committee Opinion No 670 (2016) Immediate postpartum long-acting reversible contraception American College of Obstetricians and Gyne- cologists Obstet Gynecol;128:e32–7.
5 Committee Opinion No 670 (2016) Immediate postpartum long-acting reversible contraception American College of Obstetricians and Gyne- cologists Obstet Gynecol;128:e32–7.
6 Curtis, K.M., Tepper, N.K., Jatlaou, T.C., Berry-Bibee, E., Horton, L.G., Zapata, L.B et al (2016) U.S medical eligibility criteria for contraceptive use MMWR Recomm Rep; 65:1–104
7 Grimes DA, Lopez LM, Schulz KF, Van Vliet
HA, Stanwood NL (2010) Immediate post-partum insertion of intrauterine devices Cochrane Database of Systematic Reviews, Issue 5 Art No.: CD003036 DOI: 10 1002/14651858.CD003036.pub2 (Systematic
Trang 78 Hillis SD 1, Marchbanks PA , Tylor LR , Peterson
HB (1999) Poststerilization regret: findings
from the United States Collaborative Review of
Sterilization. Obstet Gynecol ;93(6):889-95
9 Kathryn M Curtis, Anshu P Mohllajee, et als
(2006) Regret following female sterilization at a
young age: a systematic review Contraception ;
Volume 73, Issue 2, 205–210.
10 Ngo TD, Keogh S, Nguyen TH, Le HT, Pham
KH, Nguyen YB (2014) Risk factors for repeat
abortion and implications for addressing
unintended pregnancy in Vietnam Int J
Gynaecol Obstet;125(3):241-6 doi:
10.1016/j.ijgo.2013.11.014 Epub 2014 Mar 5
Regret Among Women in Metropolitan
Montreal Family Planning Perspectives, Vol
20, No 5, p 222-227
12 Nigussie AT, Girma D, Tura G (2016)
Postpartum Family Planning Utilization and
Associated Factors among Women who Gave
Birth in the Past 12 Months, Kebribeyah Town,
Somali Region, Eastern Ethiopia J Women's
Health Care 5: 340 doi:
10.4172/2167-0420.1000340
13 Norman D Goldstuck Petrus S Steyn (2013)
Intrauterine contraception after cesarean
section and during lactation: a systematic
review International Journal of Women’s
Health; 5: 811–818
use, intention to use and unmet need during the extended postpartum period IntPerspect Sex Reprod Health 21: 20-27
15 Subhi R, Ahmed H, Mawlood Z (2011) Spacing effects on maternal-child health TMJ 2011; 17 (2):1-6.)
16 Tạ Xuân Lan và Nguyễn Thị Ngọc Khanh (1999) Thái độ xử trí đối với sản phụ có sẹo
mổ lấy thai cũ tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh 1993-1994 Tạp chí thông tin y dược; Tr 157-161
17 Trương Quốc Dũng, Nguyễn Hồng Hoa (2017)
Tỉ lệ từ chối triệt sản trong lúc mổ lấy thai ở sản phụ có tiền căn mổ lấy thai 2 lần và các yếu tố liên quan Y học TP.Hồ Chí Minh Phụ bản tập 21, số 1, tr.108-12
18 World Contraceptive Use 2012 (United Nations publication, POP/DB/CP/ Rev2012); 2013 Update for the MDG Database: Contraceptive Prevalence (United Nations publication,
POP/DB/CP/A/MDG2013); and 2013 Update for the MDG Database: Unmet Need for Family Planning (United Nations pub- lication,
POP/DB/CP/B/MDG2013)
19 Zieman M, Hatcher RA., Allen A Z., Lathrop E,
Haddad L Managing Contraception( 2016)
Tiger, Georgia: Bridging the Gap Foundation,
2016 Hướng Dẫn Ngừa Thai (Ấn bản tiếng Việt), 2016